Với việc xây dựng một lí thuyết và một hệ phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ là thứ công cụ giao tiếp dùng để tương tác xã hội giữa người với người, ngữ pháp chức năng đã tỏ rõ ưu thế so với ngữ pháp truyền thống khi không chỉ chú ý đến mặt hình thức mà còn chú ý đến mặt chức năng của ngôn ngữ. “Ngữ pháp chức năng về cơ bản là ngữ pháp tự nhiên, với nét nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng đều có thể giải thích được trong mối quan hệ với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào” 18, tr.23. Như vậy, các hiện tượng ngôn ngữ đã được xem xét trên cả bình diện vừa độc lập vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau là kết học, nghĩa học và dụng học.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-o0o -NGUYỄN THỊ KIM LIÊN
CÂU QUAN HỆ SO SÁNH TRONG SỬ THI ÊĐÊ TRÊN BA BÌNH DIỆN KẾT HỌC – NGHĨA HỌC -
DỤNG HỌC
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ học
Mã số : 62.22.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ngữ pháp truyền thống khi đối mặt với những hiện tượng ngôn ngữ
sống động của tiếng Việt đã bộc lộ tất cả những bất lực và hạn chế của nó Vìvậy nhu cầu tìm một con đường mới cho ngôn ngữ học nói chung và ngữ pháphọc nói riêng lại được đặt ra và ngữ pháp chức năng đã ra đời như một xuhướng phát triển tự nhiên.Với mô hình nghiên cứu ngôn ngữ trên cả ba phươngdiện vừa độc lập vừa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: ngữ pháp, ngữ nghĩa,ngữ dụng, rất nhiều vấn đề lớn của ngôn ngữ học đã được giải quyết
1.2 Câu biểu hiện sự tình so sánh là một trong những kiểu câu quan hệ
có tần số xuất hiện cao trong nhiều văn bản tiếng Việt Và kiểu câu này cũng
có tần số xuất hiện nhiều trong sử thi Êđê Tuy nhiên, chưa có công trình nào
đi sâu nghiên cứu về kiểu câu này trong sử thi Êđê đặc biệt là nghiên cứudưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng
1.3 Khan Dam Săn và Khan Dam Kteh Mlan là những bản sử thi Êđê nổitiếng, là các bản trường ca bất hủ của dân tộc Êđê Nghiên cứu câu quan hệ sosánh trong sử thi Êđê một mặt giúp hiểu thêm về tiếng Êđê, về bản sắc vănhoá của người Êđê Đồng thời, góp thêm một cái nhìn để hiểu rõ hơn ngữpháp tiếng Êđê ở phạm vi câu quan hệ so sánh
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về câu quan hệ và câu quan hệ so sánh
Trước ngữ pháp chức năng, đã có nhiều công trình Việt ngữ học quantâm nghiên cứu về câu quan hệ, tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ tập trungvào bình diện ngữ pháp hình thức của kiểu câu này Ở bình diện này, phần lớncác nhà nghiên cứu đều cho rằng có sự tồn tại của kiểu câu mà hiện nay chúng
ta gọi là câu quan hệ với cách nhìn rộng hẹp khác nhau Trong cách nhìn
Trang 3hẹp, câu quan hệ được đồng nhất với kiểu câu có chứa từ là ở vị ngữ.
Trong cách nhìn rộng, câu quan hệ được quan niệm là loại câu có chứa từ chỉ
quan hệ không dùng độc lập ở đầu vị ngữ như: là, của, bằng, do ….Như vậy,
theo đường hướng của ngữ pháp hình thức, các công trình nghiên cứu mới chỉtập trung vào việc nghiên cứu câu quan hệ ở bình diện ngữ pháp hình thức màthiếu quan tâm đến mặt nghĩa và mặt ngữ dụng Cũng đã có một số công trìnhbước đầu chú ý đến mặt nghĩa nhưng lại chỉ xem xét nú một cách độc lập vớimặt ngữ pháp và ngữ dụng
Theo đường hướng nghiên cứu của ngữ pháp học hiện đại, câu quan hệnói chung và câu quan hệ so sánh nói riêng được xem xét trên cả ba bình diệnvừa độc lập vừa tương tác với nhau: ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng
Công trình nổi tiếng “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” của Halliday đã
thừa nhận sự tồn tại của sự tình quan hệ với một vị trí nhất định trong hệthống các loại hình sự tình Halliday đã coi sự tình quan hệ là một trong baloại sự tình cơ bản, ngang hàng với sự tình vật chất, sự tình tinh thần và dànhcho nó một vị trí thích đáng Chính ông cũng đã vạch được đường ranh giới rõ
nét giữa ba loại quá trình trên: “Nếu quá trình vật chất là những quá trình hành động, quá trình tinh thần là những quá trình cảm giác thì kiểu quá trình thứ ba, quá trình quan hệ có thể được cho là những quá trình tồn tại…”[18,
tr 223] Trong công trình này, vấn đề loại hình sự tình quan hệ trong tiếngAnh đã được tác giả giải quyết tương đối thấu đáo từ cách quan niệm về sựtình, đến cách phân loại sự tình cùng các vấn đề có liên quan
Có thể thấy, tuy đối tượng nghiên cứu là các sự tình quan hệ trong tiếng
Anh nhưng kết quả nghiên cứu của Halliday về sự tình quan hệ có thể “tìm thấy sự tương đồng cơ bản, ngay cả những loại hình ngôn ngữ khác hẳn nhau
về cấu trúc cú pháp cơ bản ” [21, tr.95] Điều này đã được minh chứng cụ thể
Trang 4khi lí thuyết chức năng hệ thống của Halliday nhanh chóng được các nhà Việtngữ học vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào nghiên cứu sự tình quan
hệ và câu quan hệ tiếng Việt
Theo đó, sự tình quan hệ và câu quan hệ đã được các nhà Việt ngữ họcnghiên cứu Trong hầu hết công trình này, sự tình quan hệ và câu quan hệ đều
được dành cho một vị trí xứng đáng Chính Hoàng Văn Vân đã khẳng định: “các quá trình quan hệ trong tiếng Việt bao gồm một khu vực chuyển tác rất phong phú nhưng hết sức phức tạp…Tuy nhiên, sự đa dạng về ngữ nghĩa của các quá trình trên không có nghĩa là giữa chúng không có sự tương đồng…Đặc điểm giống nhau nhất của chúng là không giống với các quá trình vật chất và tinh thần các quá trình này không thể hiện hành động vật chất hay hoạt động tinh thần mà lại nhập mã cái mà chúng tôi gọi là “các trạng thái tồn tại”” [40, tr.330-331].
Một số công trình bước đầu đã cố gắng tìm hiểu khái niệm, đặc trưng của
sự tình quan hệ và câu quan hệ tiếng Việt Trong Tiếng Việt – sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo đã chỉ rõ bản chất của sự tình quan hệ trên cơ
sở đối lập quan hệ với trạng thái như sau: “nếu trạng thái là một tình hình của một thực thể xét trong bản thân nó, thì quan hệ là một tình hình của thực một thực thể xét từ bên ngoài có đối chiếu với một thực thể khác” [21, tr.428] Cùng chung quan điểm này, các tác giả Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 1, Câu trong tiếng Việt, Cấu trúc – Nghĩa – Công dụng, cũng đã khẳng định
“quan hệ là một tình hình mà nội dung là một cái gì đó ở giữa hai sự vật: một
sự tiếp xúc, một khoảng cách, một mối dây nhân – quả, một sự so sánh” [32,
tr.119] Đối với câu quan hệ, cả hai công trình trên, cùng có một nhận định
chung: “Một câu quan hệ nhất thiết phải có hai vế” [21, tr 444][32, tr.119].
Trong các công trình của mình, tác giả Diệp Quang Ban đã cho chúng
ta thấy bức tranh khá hoàn chỉnh về câu biểu thị sự tình quan hệ với các kiểu
Trang 5loại khác nhau dựa trên hai tiêu chí lớn kiểu quan hệ và phương thức quan hệ.Theo tác giả, ở mức khái quát nhất, có thể phân loại câu biểu thị sự tình quan
hệ có vị tố là từ chỉ quan hệ không dùng độc lập thành ba loại lớn: quan hệ thâm nhập, quan hệ cảnh huống và quan hệ sở hữu Mỗi kiểu quan hệ lớn này
lại được chia thành hai loại nhỏ dựa trên hai phương thức đồng nhất và định
tính Kết quả là, có những kiểu câu quan hệ chứa các vị tố là, bằng, tại, do, bởi, để, là, như, của với các kiểu quan hệ và phương thức nhất định.
Câu quan hệ tiếng Việt, nhất là câu quan hệ so sánh còn được đề cập
trong luận án Sự tình quan hệ và Câu quan hệ Tiếng Việt của Lê Thị Lan Anh.
Trong luận án, tác giả đã miêu tả chi tiết, cụ thể câu quan hệ so sánh trên babình diện kết học - nghĩa học - dụng học
2.2 Lịch sử nghiên cứu về sử thi Êđê
Cuốn “Sử thi anh hùng Tây Nguyên” của Võ Quang Nhơn (1997), đi vào
nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trên cơ sở địa lí, xã hội, văn hóa vật chất vàvăn hóa tinh thần Tây Nguyên, coi đây là nền tảng phát triển và hình thành sửthi Tây Nguyên Đồng thời tác giả khẳng định và đề nghị thống nhất dùngthuật ngữ sử thi Ngoài ra, công trình này đã phản ánh độc đáo, sâu sắc nộidung khác có ý nghĩa lịch sử xã hội bao quát của các sử thi như: Sự vận độngchuyển biến của xã hội, từ cộng đồng mẫu hệ chuyển sang cộng đồng phụ hệvà tiến lên thành bộ tộc
Công trình “Sử thi Êđê” của Phan Đăng Nhật do Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội, xuất bản năm 1991 đã đặt sử thi Êđê trong mối quan hệ với môitrường sinh thành và tồn tại Đồng thời, tác giả đi sâu vào hệ thống cấu trúcvà hệ thống các đề tài của sử thi Êđê một cách cặn kẽ
Linh Nga Niê Kdăm trong cuốn Trường ca, Sử thi trong môi trường văn hóa dân gian Tây Nguyên, xuất bản năm 2005 có viết: “Tư duy thuần phác
Trang 6của cư dân Tây Nguyên đã làm xuất hiện phong cách phổ biến, hình thành đặc trưng của ngôn ngữ là tu từ, so sánh, tượng hình tuy mộc mạc nhưng đầy màu sắc, như cảnh: “Nàng cất bước đi như con gà đang xù lông, con bồ chao
đang vỗ cá (Cây nêu thần- Trường ca M’Nông)”” [25, tr.120]
Trương Bi, Đỗ Hồng Kỳ, Nguyễn Văn Kha với công trình Văn học dân
gian Êđê – M’Nông, xuất bản năm 2003, cho rằng: “Nói đến nghệ thuật sử thi Êđê là nói đến những sự kiện đồ sộ về lịch sử xã hội, con người, là nói đến thứ ngôn ngữ thơ mộng, giàu hình tượng, là nói tới phương thức so sánh, nhân cách hóa, cường điệu hóa… trong xây dựng hình tượng nhân vật lí tưởng” [5, tr.111]
Viện khoa học Xã hội với Kho tàng sử thi Tây Nguyên (Sử thi Êđê – Dam Săn), xuất bản năm 2006 có viết: “So sánh là thủ pháp tu từ phổ biến trong sử thi Êđê Nhìn đại thể, thủ pháp so sánh ở đây có 3 dạng: so sánh tương đồng, so sánh xác định, so sánh mức độ” [43, tr 111]
Sử thi Êđê, nhất là sử thi Dam Săn được nhiều nhà nghiên cứu trong vàngoài nước rất quan tâm G.Condominas, nhà dân tộc học nổi tiếng người
Pháp trong bài Những quan sát xã hội học về hai trường ca Rađê đã nghiên
cứu các khía cạnh về phương diện xã hội học, dân tộc học của tác phẩm Dam
Di và Dam Săn N.I.Niculin trong bài Cuộc cầu hôn anh hùng trong sử thi Êđê và Mã Lai, đã tìm hiểu “những mối quan hệ mang tính cội nguồn chung”
của một số sử thi Êđê với sử thi Mã Lai Nhà nghiên cứu người Nga còn dịchmột số sử thi Êđê sang tiếng Nga
Điểm qua lịch sử nghiên cứu cho thấy sử thi Êđê cũng đã được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm Câu quan hệ tiếng Việt nói chung và câu quan hệ
so sánh tiếng Việt nói riêng cũng đã bước đầu được nghiên cứu trên ba bìnhdiện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng Tuy nhiên, tác giả luận văn nhận thấy
Trang 7chưa công trình nào đi sâu nghiên cứu về câu quan hệ so sánh trong sử thiÊđê
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng : Câu quan hệ so sánh trong sử thi Êđê
3.2 Phạm vi nghiên cứu : Câu quan hệ so sánh trong sử thi Êđê dưới gócnhìn của ngữ pháp chức năng Điều đó có nghĩa câu quan hệ so sánh trong sửthi Êđê sẽ được chúng tôi nghiên cứu trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa,ngữ dụng
3.3 Phạm vi nguồn ngữ liệu: Thực hiện đề tài này, nguồn ngữ liệu đượcchúng tôi khảo cứu trên: Khan Dam Săn và Khan Dam Kteh Mlan tập 1, tập 2của Nguyễn Hữu Thấu (sưu tầm, biên dịch, chỉnh lý), NXB Chính trị Quốc gia,Hà Nội, năm 2003
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp thống kê, phân loại ngữ liệu sử thi Êđê giúp chúng tôi xácđịnh được câu quan hệ so sánh với tần số xuất hiện các kiểu từ loại trong cấutrúc cú pháp của câu, các đặc trưng ngữ nghĩa cũng như khả năng hiện thựchóa trong câu Do đó, đây là phương pháp quan trọng của luận văn
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Sau khi thống kê, phân loại tư liệu, trên cơ sở phân tích, tổng hợp chúngtôi xác định từng thành phần trong cấu trúc cú pháp cũng như các đặc trưngngữ nghĩa cùng với sự tác động, chi phối của các yếu tố thuộc bình diện ngữdụng
Trang 84.3 Phương pháp so sánh đối chiếu
Được chúng tôi sử dụng để so sánh đối chiếu ý nghĩa của các câu quan hệ
so sánh trong ngữ liệu khảo sát nhằm mục đích có sự thống nhất về mặt ngữnghĩa giữa ngữ liệu tiếng Êđê với phần dịch tiếng Việt đồng thời đem đến mộtcái nhìn toàn diện về những điểm tương đồng và khác biệt giữa câu quan hệ
so sánh tiếng Việt với câu quan hệ so sánh trong sử thi Êđê trên các bình diện:ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng
4.4 Phương pháp khái quát, hệ thống hóa
Việc vận dụng lí thuyết trong luận án Sự tình quan hệ và câu quan hệ tiếng Việt của tác giả Lê Thị Lan Anh để nghiên cứu câu quan hệ so sánh
trong sử thi Êđê, từ đó giúp chúng tôi nhận ra điểm tương đồng giữa tiếngÊđê với tiếng Việt về đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp khu biệt của câu quan hệ
so sánh cũng như khả năng hiện thực hóa của chúng Do đó, phương phápkhái quát, hệ thống hóa đóng vai trò quan trọng trong quá trình làm rõ nhữngđặc trưng của câu quan hệ so sánh
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ đặc điểm của câu quan hệ so sánh trong sử thiÊđê trên ba bình diện: kết học - nghĩa học - dụng học
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nên trên, luận văn cần thực hiện tốt cácnhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lí thuyết như: ba bình diện nghiên cứu câu;giới thuyết về câu quan hệ và câu quan hệ so sánh
- Khảo sát câu quan hệ so sánh trong sử thi Êđê
Trang 9- Nghiên cứu đặc điểm của câu quan hệ so sánh trong sử thi Êđê trên babình diện: kết học - nghĩa học - dụng học
6 Đóng góp của luận văn
5.1 Đóng góp về mặt lí luận
Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện lí thuyết ba bình diện của ngữpháp chức năng thông qua việc đi sâu nghiên cứu một kiểu câu cụ thể: câuquan hệ so sánh trong sử thi Êđê
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận văn sẽ góp ích một phần trong việc dạy học tiếng Việt nói chung vàcâu tiếng Việt nói riêng trong nhà trường phổ thông hiện nay
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tư liệu tham khảo; luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí thuyết
Chương 2 Câu quan hệ so sánh trong sử thi Êđê trên bình diện kết học Chương 3 Câu quan hệ so sánh trong sử thi Êđê trên bình diện nghĩa học
và dụng học
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Với việc xây dựng một lí thuyết và một hệ phương pháp được xây dựngtrên quan điểm coi ngôn ngữ là thứ công cụ giao tiếp dùng để tương tác xã hộigiữa người với người, ngữ pháp chức năng đã tỏ rõ ưu thế so với ngữ pháptruyền thống khi không chỉ chú ý đến mặt hình thức mà còn chú ý đến mặt chức
năng của ngôn ngữ “Ngữ pháp chức năng về cơ bản là ngữ pháp tự nhiên, với nét nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng đều có thể giải thích được trong mối quan hệ với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào” [18, tr.23].
Như vậy, các hiện tượng ngôn ngữ đã được xem xét trên cả bình diện vừa độclập vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau là kết học, nghĩa học và dụng học
Mô hình lí thuyết ba bình diện này vốn có nguồn gốc từ lí thuyết tín hiệuhọc của Ch.W.Morris (1938) Theo ông đối với một hệ thống tín hiệu cầnphân biệt ba lĩnh vực sau đây:
Kết học (syntactics): là lĩnh vực của những quan hệ hình thức giữa cáctín hiệu với nhau
Nghĩa học (semantics): là lĩnh vực quan hệ giữa tín hiệu với các sự vật ởbên ngoài hệ thống tín hiệu
Dụng học (pragmatics): là lĩnh vực quan hệ giữa tín hiệu với người sửdụng nó
Mô hình lí thuyết ba bình diện của Ch.W.Morris đã được các nhà ngônngữ học hiện đại, nhất là các nhà ngữ pháp chức năng soi sáng các hiện tượng
ngôn ngữ ở mọi cấp độ nhưng đầu tiên là cấp độ câu Bởi lẽ “câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ trong đó cả ba bình diện đều được thể hiện” [21, tr.19] Nói cụ thể “câu là đơn vị trọn vẹn nhất trong một hệ thống ngôn ngữ, trong
Trang 11nó phản ánh được đầy đủ nhất các đặc trưng hình thức và ý nghĩa của một ngôn ngữ cụ thể ” [3, tr.13].
Với lí thuyết ngữ pháp chức năng của M A K Halliday, câu khôngchỉ được nghiên cứu về mặt cấu trúc mà còn được chú ý nghiên cứu ở cả bìnhdiện nghĩa và bình diện ngữ dụng Ba bình diện này vừa được khu biệt bằngnhững đặc trưng riêng nhưng đồng thời vừa có mối quan hệ khăng khít giữa
chúng “Đó là mối quan hệ hình thức với nội dung, của phương tiện với mục đích.” [1, tr.22].
1.1 Khái quát về ba bình diện của câu
1.1.1 Bình diện kết học
Bình diện kết học là bình diện nghiên cứu các mối quan hệ ngữ phápgiữa các đơn vị ngữ pháp trong câu Ở bình diện này, người ta thường nghiêncứu các cấu trúc cú pháp của câu và các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu
1.1.1.1 Cấu trúc cú pháp của câu
Cấu trúc cú pháp được hiểu là cấu trúc của câu xét ở bình diện ngữ pháp
Đó là phạm vi nghiên cứu cấu trúc nội tại của câu, chưa gắn với cách sử dụng
cụ thể Trên thực tế, cấu trúc cú pháp có sự tương tác lẫn nhau với cấu trúcnghĩa biểu hiện trên bình diện nghĩa học và cấu trúc đề thuyết trên bình diệndụng học nhằm mục đích cao nhất của ngôn ngữ là thực hiện chức năng giaotiếp của con người Trong câu, cấu trúc cú pháp bao gồm những chức vụ cúpháp nhất định được biểu hiện bằng những từ ngữ cụ thể như danh từ, động
từ, tính từ, quan hệ từ… Giữa các thành phần cú pháp trong câu có mối quan
hệ mật thiết với nhau tạo nên một chỉnh thể
Có hai nhóm các chức năng cú pháp được đa số các nhà Việt ngữ thừa nhận:
- Nhóm các chức năng cú pháp tham gia vào cấu trúc cú pháp của câu
gồm: chủ ngữ (subject), vị tố (predicator), các loại bổ ngữ (complements), đề
Trang 12ngữ (them - complement) và trạng ngữ ( adverbia) Trong đó, vị tố với chức
năng cú pháp diễn đạt đặc trưng/ quan hệ - lõi sự tình giữ vai trò chính trong
câu làm nên cấu trúc cơ sở (hay nòng cốt) của câu “Cấu trúc cơ sở của câu
phản ánh sự việc được diễn đạt trong câu” [3, tr.23] Như vậy, nằm trong cấu trúc cơ sở của câu gồm các thành phần câu như: chủ ngữ, vị tố, bổ ngữ Trong mối quan hệ với vị tố, trạng ngữ và đề ngữ là yếu tố đi kèm, bổ sung thêm
những thông tin cho cấu trúc cơ sở của câu Trạng ngữ, đề ngữ cùng với các
yếu tố trong cấu trúc cơ cở làm thành cấu trúc cú pháp của câu, “phản ánh
sự việc được diễn đạt trong những hoàn cảnh nhất định” [3, tr.23].
- Nhóm các chức năng cú pháp không tham gia vào cấu trúc cú pháp củacâu bao gồm: biệt tố tình thái, liên tố
Do tính chất và khuôn khổ của nội dung luận văn, ở đây, chúng tôi chỉquan tâm đến những chức năng cú pháp có quan hệ trực tiếp đến cấu trúcnghĩa biểu hiện của câu quan hệ so sánh Hay nói cách khác, đó là nhữngchức năng cú pháp tham gia cấu tạo nên cấu trúc cú pháp của câu
Chủ ngữ
“Chủ ngữ là yếu tố đứng trước vị ngữ , chủ ngữ nêu ra cái đề tài mà câu
đề cập và hàm chứa hoặc có thể chấp nhận các đặc trưng (động hoặc tĩnh) và các kiểu quan hệ sẽ được nói đến ở vị ngữ” [3, tr.29]
Tuy nhiên, có những trường hợp chủ ngữ ở vị trí sau vị ngữ do bị chiphối về mục đích tu từ hoặc ngữ cảnh tình huống Ở trong câu, chủ ngữ là mộtthành phần câu thường không chấp nhận các quan hệ đứng trước nó So sánh:(1) Chí Phèo là tiếng kêu cứu cho số phận bi kịch của người nông dândưới chế độ thực dân nửa phong kiến
Trang 13(2) Trong Chí Phèo là tiếng kêu cứu cho số phận bi kịch của người nông
dân dưới chế độ thực dân nửa phong kiến.*
Ở ví dụ (2), với sự xuất hiện của quan hệ từ trong thì cả tổ hợp Trong Chí Phèo không còn là chủ ngữ của câu nữa Lúc đó câu trở thành câu sai
(câu thiếu chủ ngữ)
Vị tố và bổ ngữ
Vị tố và bổ ngữ thường được các nhà ngôn ngữ học truyền thống gọi là vị
ngữ Theo đó “vị ngữ là phần đứng sau chủ ngữ, trong nó có chứa phần nêu đặc trưng (động, tĩnh) hoặc quan hệ vốn có ở thực thể nói ở chủ ngữ, hoặc có thể áp đặt chúng một cách có cơ sở cho thực thể ở chủ ngữ (kể cả trường hợp chủ ngữ vắng mặt)” [3, tr.29] Nó gồm “động từ/tính từ, từ chỉ quan hệ cùng
bổ ngữ đi kèm hoặc một mình danh từ ở cương vị đó (cương vị vị ngữ)”[2,
tr.99] Trong vị ngữ, người ta phân biệt vị tố (thường được gọi là vị từ) vớinhững yếu tố bổ nghĩa, làm rõ nghĩa cho vị từ là bổ ngữ (gồm bổ ngữ trựctiếp và bổ ngữ gián tiếp)
Vị tố
“Là bộ phận trung tâm (hạt nhân) của câu, chỉ thể trạng của sự việc
”[3, tr.33] Trong câu, vị tố có thể là một từ (thường là động từ, tính từ, danh
từ hay một từ chỉ quan hệ) hoặc một cụm từ làm thành hoặc có thể do một câu
bị bao (giáng cấp) đảm nhiệm Ví dụ:
(3) Anăn H’N|I đue\ nao kơ gah [1, tr.33] (Vị tố là động từ)
(Hơ Nhị đi ra nhà khách.)
(4) Kiê kngan mse| luêh ksua.[1, tr.33] (Vị tố là từ chỉ quan hệ)
(Ngón tay như lông nhím.)
(5) Dlăng sang dlông awan [1, tr.62] (Vị tố là tính từ)
(Tòa nhà dài dằng dặc )
Trang 14(6) Êsei mô# drei ”âo êba… [1, tr.119] (Vị tố là danh từ)
( Cơm chúng tôi mùi nhạt…)
Vị tố thường đứng sau chủ ngữ xét về trật tự từ Còn về khả năng kếthợp, vị tố là thành phần câu thường có khả năng kết hợp với hư từ (phụ từ ởphía trước) để biểu thị các ý nghĩa tình thái Ví dụ:
(7) Mtao hmei leh djiê…[1, tr.50]
(Tù trưởng chúng tôi đã chết … )
(8) Ên\an adro\k, leh arăng koh he\ leh [1, tr.140]
(Cây thang cóc, người ta đã chặt mất rồi.)
(Trong tiếng Êđê phụ từ “leh” có các nghĩa “đã, rồi, xong”)
(9) Hmei amâo Wăn [1, tr.32]
(Bọn tôi chưa rỗi )
Vị trí của bổ ngữ trong câu thường đứng sau vị tố, có trường hợp đứng trước
vị tố là do mục đích sử dụng của phát ngôn Thành phần bổ ngữ có thể được nốivới vị tố một cách trực tiếp hay gián tiếp (thông qua quan hệ từ) Trong nhiềutrường hợp, nó còn được gắn bó mật thiết với vị tố và nằm trong nòng cốt câu Vídụ:
(10) Hbia Kjuh nao hưn ho\ng ami\ ama n\u [1, tr.110] (Bổ ngữ được
nối gián tiếp với vị tố)
Trang 15(Hbia Kjuh đi báo cho cha mẹ biết.)
(11) Buôn sang cang guôm drei [ 1, tr.131] (Bổ ngữ được nối trực tiếp
với vị tố)
(Buôn làng trông đợi cháu về )
Trạng ngữ
Trạng ngữ là thành phần nằm ngoài cấu trúc cơ sở của câu Khi xuất hiện trong
câu nó có chức năng nêu cái cảnh huống và thường bổ sung cho câu các ý nghĩanhư không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, cách thức, phương tiện…Trạng ngữ ở đây theo quan niệm của chúng tôi là chức năng cú pháp của câu
Nó có thể đứng ở đầu câu, cuối câu hay giữa câu để bổ nghĩa cho toàn bộnòng cốt câu Ví dụ:
(12) Leh hua\, dăm Yi yua di\ng buăl `u ma\ kpiê [1, tr.119]
(Cơm xong, Đăm Gi sai tôi tớ lấy rượu.)
(13) Mu\n kkuê si tro\ng luê ksa \\, dlăng “ia\ “ia\ amâo thâo ti hrăp.
[1, tr.17]
(Cổ (chàng) như cà chín, nhìn một vài lần không thấy đã thèm.)
Đề ngữ
Cũng giống như trạng ngữ, đề ngữ không phải là thành phần câu chịu sự
ấn định chi phối trực tiếp của vị tố Đề ngữ là yếu tố nêu lên đề tài của sự tìnhđược nói đến trong câu
Về mặt hình thức, để biểu thị đề tài của câu nói, vị trí của đề ngữ là vị tríđứng trước nòng cốt câu, mặc dù về mặt nghĩa nó có thể liên hệ với một bộphận nào đó trong nòng cốt câu như:
(14) Bộ phim ấy, tôi đã xem rồi
(15) Còn tôi, tôi thích cắm hoa
Trang 16Tuy nhiên, về mặt ngữ pháp, do thành phần phụ của câu có quan hệ ngữpháp với toàn bộ nòng cốt câu nên đề ngữ được tách ra khỏi nòng cốt câu
bằng hư từ thì hay là hoặc bằng ngắt quãng (khi nói), dấu phấy (khi viết).
Tóm lại, Cấu trúc cú pháp của câu là bộ phận quan trọng nhất của câu.Đây cũng là vấn đề mà luận văn quan tâm nghiên cứu trước nhất vì cấu trúc
cú pháp có mối quan hệ khắng khít với cấu trúc nghĩa biểu biện của câu
1.1.1.2 Các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu
Trong các ngôn ngữ, các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu phổ biến là sựphân biệt giữa câu đơn và câu phức Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt hoặctrong những trường hợp đặc biệt chỉ có một từ hoặc một cụm từ chính phụ.Câu phức là câu có từ hai nòng cốt trở lên Về phần câu đơn có thể chia thànhcâu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt; còn câu phức có thể căn cứ vàoquan hệ cú pháp giữa các vế câu để phân biệt thành câu phức liên hợp và câuphức chính phụ
Về cơ bản, cấu tạo ngữ pháp của tiếng Việt cũng được xem xét dựa trên
cơ sở cấu trúc cơ sở của câu (nòng cốt câu) Trên cơ sở, câu được phân thànhcâu đơn và câu ghép
Câu đơn có đủ các thành phần trong cấu trúc cơ sở của câu là loại câuđơn bình thường Ngoài ra, chúng ta còn có câu đơn đặc biệt là loại câu chỉđược làm thành bởi một danh từ (cụm danh từ) hoặc một vị từ (cụm vị từ),không phân định được các thành phần trong cấu trúc cơ sở của câu Ví dụ:(16) Tôi học nhạc (câu đơn bình thường)
Trang 17vẫn có quan hệ với nhau, cùng nhau tạo nên một câu hoàn chỉnh Trong câughép, lại có thể căn cứ vào quan hệ cú pháp giữa các vế câu để phân biệt câughép đẳng lập và câu ghép chính phụ (Ví dụ)
Đối với các kiểu câu có dạng như: (18)
anôk dliê myang Aê Adiê ôh (nơirừng thiêng của Nhà Trời đâu)
- Coi chúng là câu ghép vì có hai nòng cốt trong thành phần cấu tạo
- Coi chúng là câu đơn (câu đơn phức hóa) vì tuy chúng có hai nòng cốtnhưng một nòng cốt chỉ là một bộ phận của nòng cốt chính bao bên ngoài nó
- Coi chúng là loại trung gian giữa câu đơn và câu ghép với nhiều tên gọikhác nhau: câu phức, câu trung gian, câu bào thai
Như vậy, ở bình diện ngữ pháp học những vấn đề cơ bản được quan tâmlà các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp và cấu trúc cú pháp của câu Tuynhiên, trong hai vấn đề này, chúng tôi quan tâm trước nhất tới cấu trúc cúpháp của câu vì đây là vấn đề có liên quan trực tiếp tới luận văn
1.1.2 Bình diện nghĩa học
Trong ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt là trào lưu ngữ pháp chức năng,bình diện ngữ nghĩa của câu được quan tâm Ngữ pháp chức năng đã chú ýthích đáng tới hai thành phần nghĩa của câu: nghĩa biểu hiện (còn gọi là nghĩamiêu tả, nghĩa sự vật, nghĩa mệnh đề, nghĩa quan niệm) và nghĩa tình thái
Trang 181.1.2.1 Nghĩa tình thái
Ngôn ngữ học hiện đại đã thoát khỏi ảnh hưởng của việc nghiên cứu ngônngữ như một cấu trúc nội tại và hướng tới ngôn ngữ trong hoạt động hànhchức Điều đó càng làm cho sự quan tâm tới ý nghĩa tình thái trở nên mạnh mẽhơn Ai nói? Nói như thế nào? Nói nhằm mục đích gì? Và kèm theo sắc tháibiểu cảm gì là những vấn đề mà ngôn ngữ học chức năng đang hướng tới.Trong một phát ngôn luôn luôn có ý nghĩa tình thái Người nói sẽ quan sátcác sự việc tồn tại khách quan trong thế giới rồi tạo ra phát ngôn Chính quátrình nhận thức chủ quan của con người đã tạo nên nghĩa tình thái của câu Dovậy mọi phát ngôn dù khách quan nhất vẫn là nhận thức chủ quan của conngười
Tình thái là sự đánh giá xác nhận của người nói về nội dung mệnh đề và
sự xác nhận này có thể nêu thành nghi vấn, bác bỏ hoặc chỉ là được giả định.Tình thái có thể được thể hiện bằng các phương tiện ngữ pháp hay bằng cácphương tiện từ vựng Và nó dùng để chỉ tất cả những gì trong câu khôngthuộc về nội dung mệnh đề
Trong ngôn ngữ học hiện nay, người ta phân biệt hai loại tình thái khácnhau: tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn
Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời nói về phương diệnmục đích và tác dụng trong giao tiếp, đó là sự phân biệt các câu trần thuật(câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu cầu khiến và câu cảm thán Đây chính làcác kiểu câu phân loại theo mục đích nói mà ngữ pháp truyền thống đã nghiêncứu Tuy nhiên, trong ngôn ngữ học hiện đại, với việc phân giới dứt khoát babình diện trong ngôn ngữ học, nó sẽ được nghiên cứu ở phần ngữ dụng
Tình thái của lời phát ngôn chỉ quan hệ, thái độ, cách đánh giá của ngườinói đối với cái mình nói đến trong câu Đây là một phần quan trọng của bình
Trang 19diện nghĩa học Tình thái của lời phát ngôn gồm: tình thái khách quan và tình thái chủ quan.
Tình thái khách quan được xem là mối quan hệ giữa điều được nói đến
với hiện thực ở góc độ thực hữu hay phi thực tiễn Ở góc độ thực hữu phạmtrù thức của động từ thường chứa trong mình tính xác định theo khung thờigian Trong khi đó tình thái phi thực hữu thường không gắn với tính xác định
về thời gian Thực hữu và phi thực hữu được xác định bằng tính xác thực của
phỏng đoán hoặc khẳng định một cách dè dặt sự tình đang nói đến là như thế
Tình thái chủ quan được xem là mối quan hệ giữa người nói với điều
được nói đến Tuy nhiên, khác với tình thái khách quan, tình thái chủ quan làdấu hiệu tự do của phát ngôn Xét về góc độ tình thái, tình thái chủ quan rộnghơn nhiều so tình thái khách quan Cơ sở của tình thái chủ quan là khái niệmđánh giá với nghĩa rộng bao gồm cả những phản xạ khác nhau của cảm xúc
(21) Có vẻ như là tôi bị ốm rồi.
Từ “có vẻ như là” trong câu thể hiện sự đánh giá chủ quan của người nói
đối với sự tình mà câu biểu thị
Như vậy, nghĩa tình thái là thành phần nghĩa biểu thị thái độ, quan hệ,cách đánh giá của người nói và là thành phần nghĩa không thể thiếu đượctrong câu Tuy nhiên, trong một phát ngôn cũng rất cần quan tâm đến nội
Trang 20dung biểu hiện có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu Đây chính là nghĩabiểu biện của câu- trọng tâm nghiên cứu của chúng tôi trong phần này.
1.1.2.2 Nghĩa biểu hiện
Nghĩa biểu hiện là thành phần nghĩa phản ánh vật, việc, hiện tượng (một
sự tình nào đó) của hiện thực Đó là sự phản ánh thông qua quá trình nhận
thức của con người, chịu sự chi phối “của kinh nghiệm con người và sự chi phối của logic (tính hợp lí được thừa nhận)”[2, tr 184] Nói theo cách của Halliday, thì nghĩa biểu hiện của câu chính là sự “thể hiện các mẫu thức kinh nghiệm”[18, tr 205] của con người Người nói khi diễn đạt sự tình đã sắp xếp
lại theo cách nhận thức của người nói và cấu trúc hóa theo các hệ ngữ pháptùy thuộc vào nhiệm vụ và vai trò thông báo trong những hoàn cảnh giao tiếp
nhất định Kết quả, “cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt sự tình đến người người nghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí thêm nhiều yếu tố chủ quan của người nói” [20, tr 426]
Chẳng hạn, đứng trước sự việc có thật trong thực tế là “nhân viên y tếcấp thuốc cho trẻ em”, trong tình huống: thời gian (hôm nay), địa điểm (tại
trạm xá phường), sự việc trên sẽ được diễn đạt là “Hôm nay, tại trạm xá phường, nhân viên y tế cấp thuốc cho trẻ em”.
Nếu căn cứ vào cách nhìn nhận (nhìn từ góc độ của chủ thể hành độngcấp hoặc người được cấp hay đối tượng chịu tác động của hành động cấp) thìcùng một việc trên người nói sẽ có ít nhất ba cách nói sau đây:
- Nhân viên y tế cấp thuốc cho trẻ em
- Trẻ em được nhân viên y tế cấp thuốc.
- Thuốc được nhân viên cấp cho trẻ em.
Trang 21Tuy nhiên, với các cách diễn đạt như trên, chúng ta có thể phân xuất rađược một phần nội dung tương ứng với cái sự tình được phản ánh và bất biếnqua những cách diễn đạt khác bằng những hệ thống tín hiệu ngôn ngữ khác
nhau Đó là nội dung: có một hành động cấp được thực hiện bởi một chủ thể là nhân viên y tế cho một đối tượng là trẻ em với vật được cấp là thuốc Đây
chính là nghĩa biểu hiện – phần nội dung có tính chất cốt lõi của câu
a Vấn đề loại hình các sự tình
Sự tình (còn gọi là sự việc hay sự thể) là những vật, việc, hiện tượng tồntại trong thực tế khách quan Còn nghĩa biểu hiện của câu là thành phần nghĩaphản ánh một sự tình nào đó của hiện thực Nói chính xác hơn, nghĩa biểuhiện của câu là hình ảnh của những sự tình trong thực tế khách quan được conngười phản ánh vào trong câu nói Sự tình và nghĩa biểu hiện của câu tuykhông hoàn toàn đồng nhất nhưng lại có mối quan hệ khăng khít với nhau Sựtình, khi được phản ánh vào câu thông qua sự nhận thức của người nói (viết),
sẽ trở thành nghĩa biểu hiện của câu Ngược lại, trong tất cả cái nội dung của
người nói muốn truyền đạt đến người nghe, “vẫn có thể phân xuất ra một bộ phận tương ứng với cái sự tình được phản ánh sau khi đã gạt bỏ tất cả các yếu tố khác không tham gia trực tiếp vào việc phản ánh này ” [20, tr 426] Do
đó việc xác định loại hình các sự tình cũng đồng nghĩa với việc phân loại cácnghĩa biểu hiện của câu
Các nhà Việt ngữ học trong thời gian gần đây cũng đã tiếp thu những ưu điểmcủa các cách phân loại câu theo cấu trúc nghĩa mà các nhà ngôn ngữ học thếgiới đề xướng và vận dụng sáng tạo vào tiếng Việt Cụ thể là, kết hợp hai tiêuchí phân loại sự tình mà Dik đã đề xuất (+_ động và +_ chủ ý) có chú ý đếnloại sự tình quan hệ mà Halliday đề xuất, các nhà Việt ngữ học theo đườnghướng chức năng thường có xu hướng phân biệt các kiểu sự tình sau đây:
- Sự tình hành động: mang đặc trưng [+ động] [+ chủ ý] Ví dụ:
Trang 22(22) Anh ta xây nhà.
- Sự tình quá trình: mang đặc trưng [+ động] [- chủ ý] Ví dụ:
(23) Cây này héo rồi
- Sự tình tư thế: mang đặc trưng [- động] [+ chủ ý] Ví dụ:
(24) Anh ấy đứng trên cầu
- Sự tình trạng thái: mang đặc trưng [- động] [- chủ ý] Ví dụ:
(25) Cô giáo rất xinh đẹp
- Sự tình quan hệ: mang đặc trưng [- động] [- chủ ý] [+ hai tham thể]
Ví dụ:
(26) Bố tôi là công nhân
Như vậy, theo hướng nghiên cứu của ngữ pháp chức năng, sự tình quan
hệ đã có vị trí xác định trong hệ thống các loại hình sự tình với những đặctrưng riêng biệt của nó Tương ứng với các loại sự tình này là các kiểu loạicâu biểu hiện sự tình Do đó việc phân loại câu theo nghĩa biểu hiện cũngchính là vấn đề loại hình các sự tình
b Nghĩa biểu hiện và vấn đề cấu trúc của nghĩa biểu hiện
Như trên đã trình bày, nghĩa biểu hiện của câu là thành phần nghĩa phảnánh một sự tình (hay sự thể) nào đó của hiện thực Thành phần nghĩa nàygồm:
- Nội dung của sự tình
- Các thực thể (vật mở rộng) tham gia vào sự tình đó
Nội dung của sự tình có thể là một đặc trưng hay quan hệ có tính động hoặctính tĩnh làm thành cái lõi của sự tình Ở trong câu, nó thường diễn đạt hoặc bằngđộng từ, bằng tính từ, bằng từ chỉ quan hệ không dùng độc lập hay danh từ
Những từ này về mặt cú pháp được gọi chung là vị tố (predicator) Ví dụ:
(27) Kâo hriê tơ sang ih…[1, tr 118] (Vị tố là động từ)
(Tôi đến nhà anh…)
(28) Kpiê hmei mmih `ăm `ăm,msăm `il `il…[1, tr 120] (Vị tố là tính từ)
Trang 23(Rượi chúng tôi ngọt lợ lợ, chua dôn dốt…)
(29) Êmô `u “hư rư si tro\ng ksa\ [1, tr 78] (Vị tố là từ chỉ quan hệ
không dùng độc lập)
( Bò đỏ như cà chín …)
Bên cạnh những đặc trưng hay quan hệ, còn có yếu tố (các thực thể )
tham gia vào sự tình với một chức năng nghĩa nhất định được gọi là các vai
nghĩa Các vai nghĩa thường được phân thành hai loại là: tham thể (hay còn gọi là tham thể cơ sở, diễn tố) và chu cảnh
Tham thể là những chức năng nghĩa liên quan trực tiếp đến sự tình,chúng xuất hiện do sự đòi hỏi, ấn định của đặc trưng hay quan hệ nêu ở vị tố
Hay nói theo cách nói của Halliday, tham thể là “các thành phần cố hữu trong quá trình” Nó luôn luôn được giả định trong ý nghĩa của các đặc trưng
hay quan hệ này, mặc dù trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, tùy thuộc vào tìnhhuống giao tiếp và ngữ cảnh chúng có thể được hiện diện hay không hiệndiện Khi thay đổi số lượng cũng như chức năng nghĩa của các tham thể (cũng
có nghĩa đặc trưng hay quan hệ đã có sự thay đổi) sẽ dẫn tới sự thay đổi của
sự tình chứa nó Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa tham thể và chu cảnh.
Hệ thống tham thể của sự tình quan hệ so sánh sẽ được chúng tôi trìnhbày chi tiết trong chương 3 của luận văn
Chu cảnh là những chức năng nghĩa phụ trợ, tùy thuộc, nó bổ sung vào sựtình các yếu tố thuộc về hoàn cảnh và tình huống như không gian, thời gian,cách thức, phương tiện, nguyên nhân, mục đích…làm cho sự tình được mởrộng và trở nên hoàn chỉnh hơn Chu cảnh là những vai nghĩa xuất hiện trong
sự tình do sự chi phối của tình huống, của ngữ cảnh chứ không chịu sự chiphối trực tiếp của đặc trưng hay quan hệ Bởi vậy, chúng không có tác dụng
Trang 24xác định đặc tính cho các loại đặc trưng/quan hệ, cho cấu trúc nghĩa của cácloại sự tình cũng như cho chính các loại hình sự tình.
Một số nhóm chu cảnh thường gặp trong sự tình là: không gian (vịtrí,hướng, điểm đến…), thời gian (thời điểm, thời hạn, tần số), phương tiện,cách thức, nguyên nhân, hệ quả, điều kiện, mục đích, nghịch đối, vấn đề, quanđiểm, vai diễn, đồng hành, mức độ, khoảng cách Ví dụ:
(30) Tlam, kô\ mse\ si mtu\ Triah [1, tr 116] (Chu cảnh thời gian) (Chiều hôm, sáng như sao Hôm.)
(31) Tar mniê “uôn sang amâo mâo pô mse\ si `u [1, tr.43] (Chu cảnh
không gian)
(Khắp cả xóm làng không có một cô gái như nàng cả.)
(32) Kâo kơ\ng ih ho\ng bra\, kâo ka\ ih ho\ng klei… [1, tr 61] (Chu
cảnh phương tiện)
(Tôi cột diêng bằng thừng, tôi cột diêng bằng dây…)
(33) Tơ mnuih ktang nao, djiê mnuih ktang mơh.[1, tr 61] (Chu cảnh
điều kiện)
(Nếu dũng tướng đi, chết đằng dũng tướng.)
Cũng giống như các tham thể, chu cảnh có thể được hay không được hiệnthực hóa trong câu, tùy thuộc vào tình huống giao tiếp và ngữ cảnh cụ thể.Tuy nhiên, chỗ khác nhau giữa hai loại vai diễn này là các tham thể thườngchỉ có mặt ở một loại sự tình nhất định do sự ấn định của một đặc trưng/quan
hệ nhất định Còn các chu cảnh do biểu thị các ý nghĩa về thời gian, địa điểm,cách thức, phương tiện… lại có khả năng đi với nhiều loại hình sự tình khácnhau Chẳng hạn, chu cảnh thời gian, không gian có thể xuất hiện trong hầuhết các sự tình (các sự tình nêu đặc trưng và các sự tình quan hệ)
Đúng như Halliday đã nhận định: “Sự phân biệt giữa chu cảnh và tham thể có lẽ là sự phân biệt phù hợp cho mọi ngôn ngữ” [18, tr 268] Phân
Trang 25biệt tham thể và chu cảnh hết sức cần thiết và quan trọng trong việc giúpchúng ta xác định rõ các vai nghĩa trong sự tình cũng như xác định rõ các kiểu
sự tình
Đặc trưng/quan hệ cùng các vai nghĩa sẽ tạo nên cấu trúc của một sự tình
Do đó, mỗi sự tình dù đơn giản đến đâu đều có cấu trúc của mình thể hiện ởcấu trúc đặc trưng/quan hệ - vai nghĩa Trong cấu trúc này, đặc trưng/quan hệlà cái lõi của sự tình, còn vai nghĩa là các yếu tố tham dự vào sự tình
Trên đây, ở bình diện ngữ nghĩa của câu chúng ta đã tìm hiểu một cáchkhái quát nhất hai vấn đề cơ bản là nghĩa tình thái và nghĩa biểu hiện Cácthành phần nghĩa này không tồn tại riêng rẽ, tách bạch mà phối hợp, bổ sungcho nhau tạo nên bình diện ngữ nghĩa của câu
Với tư cách là một thông điệp, cấu trúc thông tin (hay thông báo) của câulà vấn đề được quan tâm hàng đầu với các nội dung như cấu trúc đề - thuyết,tin cũ – tin mới, tiêu điểm Bên cạnh cấu trúc thông tin, ở bình diện ngữ dụngcủa câu, còn một số vấn đề nữa như: các kiểu câu phân loại theo mục đích nói(trước đây được xem xét trong ngữ pháp truyền thống), hành vi ngôn ngữ,nghĩa dụng học của câu (nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn)…Các vấn đề nàycũng hết sức quan trọng, tuy nhiên, cũng rất phức tạp và không liên quan trựctiếp tới đối tượng mà luận văn nghiên cứu, cho nên chúng tôi xin không trìnhbày chi tiết ở đây Sau đây là phần trình bày về cấu trúc thông tin của câu
Trang 261.1.3.1 Cấu trúc đề - thuyết
Phần đông các nhà Việt ngữ học quan niệm cấu trúc đề - thuyết là cấutrúc thông báo của câu, nó thuộc về lĩnh vực phân đoạn thực tại (V.Mathesius), hoặc nằm trong bình diện tổ chức như một thông điệp trong môhình lí thuyết ngữ pháp chức năng của Halliday Cấu trúc này tồn tại songsong cùng cấu trúc chủ - vị vì đây là hai cấu trúc thuộc hai bình diện khácnhau (cấu trúc chủ - vị thuộc bình diện ngữ pháp, cấu trúc đề - thuyết thuộcbình diện dụng học) Trong cấu trúc đề - thuyết, đề là phần từ ngữ được chọnlàm xuất phát điểm cho câu nói Phần còn lại được dùng để phát triển phần đề(giải thích cho vật, việc, hiện tượng nêu ở phần đề) được gọi là thuyết
Quan hệ giữa phần đề và phần thuyết là quan hệ trật tự thông báo tuyếntính Đó là cách sắp xếp các bộ phận có nghĩa trong câu theo trật tự trước –sau phản ánh kinh nghiệm tổ chức thông điệp của người nói Phần đề giớithiệu sự có mặt của phần thuyết và đứng ở vị trí trước phần thuyết, trong khi
đó, phần thuyết nêu điều quan hệ về phương diện nào đó với phần đề Đề vàthuyết có thể có quan hệ với nhau trên cùng một kiểu nghĩa: đề nêu sự vật vàthuyết nói về sự vật ở đề Chúng cũng có thể không cùng một kiểu nghĩa: đềnêu yếu tố diễn đạt thái độ, cách nhìn của người nói, còn thuyết nêu cái đượcphản ánh trong lời nói; hoặc đề chỉ ra quan hệ nối kết nghĩa – lôgic giữa câuchứa nó với câu khác hoặc nối kết nghĩa của câu chứa nó với tình huống bênngoài, còn thuyết nêu sự việc được phản ánh trong câu
Tùy theo nội dung của phần đề xét trong mối quan hệ với phần còn lạicủa câu, có thể phân biệt các loại đề:
- Đề - đề tài (topical theme), nêu thực thể hay sự việc có quan hệ về
nghĩa biểu hiện với phần thuyết của câu
Trang 27- Đề tình thái (modal theme), nêu thái độ của người nói đối với người
nghe hoặc cách nhìn của người nói đối với cái được nói đến trong câu
- Đề văn bản (textual theme) chỉ ra mối quan hệ nghĩa – lôgic của câu
với ngữ cảnh hay tình huống
Trên thực tế, có những câu chỉ một loại đề thì đó là đơn đề (simple
theme) hay đề đơn Trường hợp khác, các loại đề có thể cùng tồn tại trongmột câu làm thành một bội đề (multiple them) hay đề chung Ví dụ:
(34) Hôm qua tôi đi Hà Nội
CT đề - thuyết Đề đề tài Thuyết
Đơn đề
(35) Và có lẽ Nó đi Hà Nội
CT đề-thuyết Đề văn bản Đề tình thái Đề đề tài Thuyết
Bội đề
Trong câu, nếu đề - đề tài trùng với chủ ngữ thì đó là đề không đánh dấu Trường hợp, đề - đề tài không trùng với chủ ngữ thì đó là đề đánh dấu.
1.1.3.2 Cấu trúc tin cũ – tin mới
Cấu trúc đề - thuyết có quan hệ mật thiết với cấu trúc tin cũ – tin mới.Thường thì tin cũ (phần tin đã biết) được chứa trong phần đề của câu, còn tinmới (phần tin chưa biết) được chứa trong phần thuyết Trên thực tế, nhiều khiphần đề lại là phần mang tin mới, còn tin cũ lại được biểu thị ở phần thuyết:
Ví dụ:
(36) _ar m’iêng ju\ si mnga ênăm, tăm si mnga hbiê, m’iêng Aê Adiê breimơ\ng dlông, tlă dlăm mơ\ng dlông M’iêng `u ”l^p si kmliăp, “liăp si kmla\,tla\ “uôn sang “êc “ư mdư [1, tr 43] (Đề là tin cũ)
Trang 28(Mặc váy đen như hoa ênăm, đen như hoa hbiê, cái váy ông trời cho từtrên cao, thả xuống từ trên cao Váy họ ánh như sét, loáng như chớp, rọi lênxóm làng những tia sáng rực )
(37) Ya nga\ kâo nao hua\ ! Huă be\ di ih dê [1, tr 24] (Đề là tin mới)(Sao tôi lại về ăn cơm ! Ăn cơm đi các cô.)
Điều đó có nghĩa, tin mới có thể nằm ở phần đề hoặc phần thuyết Vìvậy, cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc tin cũ – mới hoàn toàn phân biệt với nhau
vì chúng thuộc hai lĩnh vực khác nhau Tác giả Diệp Quang Ban khẳng định
“việc tách hai lĩnh vực này ra khỏi nhau là một bước phát triển đáng kể trong công cuộc nghiên cứu mặt sử dụng ngôn ngữ” [2, tr 53] Hoàng Tuệ, khi dẫn
lí thuyết ba quan điểm của Claude Hagege, có nói về quan điểm thứ ba – quan
điểm đề ngữ và thuyết ngữ - như sau: “Đề ngữ và thuyết ngữ luôn luôn xác định lẫn nhau, chứ không phải được xác định theo một giá trị tuyệt đối Cho nên không nhất thiết đề ngữ thì chứa thông tin cũ, đã biết, mà thuyết ngữ đưa
ra thông tin mới, chưa biết Trong một phát ngôn nhất định, thuyết ngữ chỉ có giá trị thông tin nhiều hơn so với đề ngữ và đề ngữ vốn có thể chứa thông tin mới”[38, tr 245].
Tóm lại, nói tới bình diện ngữ dụng của câu là quan tâm tới việc câuđược sử dụng như thế nào trong hoạt động giao tiếp, cũng chính là vấn đề câuđược xem xét với tư cách là một thông điệp Do đó, cấu trúc thông tin của câulà một vấn đề được quan tâm hàng đầu Để tìm được cấu trúc thông tin củacâu bao giờ cũng gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể và chịu sự tác độngtrực tiếp của các nhân tố giao tiếp
1.2 Khái quát về câu quan hệ và câu quan hệ so sánh
1.2.1 Khái quát về sự tình quan hệ
Trang 29Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ là một trong những chức năng đóngvai trò quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của con người với haiquá trình là nói (viết) và nghe (đọc) Nói (viết) là quá trình truyền đạt đếnngười nghe, người đọc một nhận định, một thông báo nào đó về thế giới hiệnthực (hoặc một thế giới tưởng tượng nào đó) theo cách tri nhận của người nói(viết) Khi nói (viết) ra một câu thường là thông báo về một sự tình nào đó.
Sự tình này có thể thuộc thuộc thế giới vật chất hoặc thế giới tinh thần củacon người Để không tạo ra sự gián đoạn giữa hai thế giới này, theo Halliday,cần phải có sự xuất hiện của những sự tình thuộc thế giới các quan hệ trừu
tượng với chức năng: “liên hệ mảng này với mảng kia của thế giới kinh nghiệm: cái này giống cái kia, cái này là một loại của cái kia” [18, tr 206].
Trên cơ sở đó, có thể phân biệt:
có nghĩa, từ mô hình lí thuyết ngữ pháp chức năng gắn liền với tên tuổi củanhà ngôn ngữ học người Anh nổi tiếng M.A K Halliday, sự tình quan hệ đã
có vị trí xứng đáng trong hệ thống loại hình các sự tình
Căn cứ vào vị trí của sự tình quan hệ trong mô hình lí thuyết ngữ pháp
chức năng của Halliday, tác giả Lê Thị Lan Anh trong luận án “Sự tình quan
hệ và câu quan hệ tiếng Việt” đã thiết lập khái niệm : “sự tình quan hệ là một
sự liên quan, một mối quan hệ nào đó (có thể là một sự so sánh, một sự tiếp xúc, một sự tương hỗ…) giữa hai hay nhiều thực thể).” [1, tr 61]
Trang 30Sự liên quan, mối quan hệ có thể xảy ra giữa hai hay nhiều đối tượngcùng loại nhưng cũng có thể được thiết lập giữa những đối tượng khác loại.Điều này sẽ được chúng tôi trình bày rõ hơn về câu quan hệ so sánh trongchương 3 của luận văn.
Ngoài ra sự tình quan hệ là một sự liên quan, một mối quan hệ giữa haihay nhiều thực thể với ba đặc trưng cơ bản là : [hai tham thể quan hệ], [-động], [- chủ động], trong đó đặc trưng [+ hai tham thể quan hệ] là đặc trưng
cở bản nhất, quan trọng nhất
Việc phân loại sự tình quan hệ chủ yếu dựa trên hai tiêu chí chính là:
kiểu quan hệ và phương thức quan hệ Căn cứ vào kiểu quan hệ, có thể chia
sự tình quan hệ thành ba kiểu khái quát nhất: quan hệ thâm nhập, quan hệcảnh huống và quan hệ sở hữu Trong từng kiểu quan hệ này đi vào haiphương thức quan hệ khác nhau là đồng nhất và định tính sẽ cho ta kết quảcuối cùng về số lượng các kiểu sự tình quan hệ trong tiếng Việt Các kiểu loại
sự tình quan hệ này đã được tác giả Lê Thị Lan Anh thể hiện bằng mô hìnhmà chúng tôi đã đề cập ở phần trên
Các nhà Việt ngữ học trong thời gian gần đây cũng đã tiếp thu những ưuđiểm của các cách phân loại câu theo cấu trúc nghĩa mà các nhà ngôn ngữ họcthế giới đề xướng và vận dụng sáng tạo vào tiếng Việt Cụ thể là, kết hợp haitiêu chí phân loại sự tình mà Dik đã đề xuất (±động và ±chủ ý) có chú ý đếnloại sự tình quan hệ mà Halliday đề xuất, các nhà Việt ngữ học theo đườnghướng chức năng thường có xu hướng phân biệt các kiểu sự tình sau đây:
- Sự tình hành động: mang đặc trưng [+ động] [+ chủ ý] Ví dụ:
(38) Đứa bé đá bóng
- Sự tình quá trình: mang đặc trưng [+ động] [- chủ ý] Ví dụ:
(39) Nước chảy róc rách
- Sự tình tư thế: mang đặc trưng [- động] [+ chủ ý] Ví dụ:
(40) Con mèo nằm ngoài hiên
Trang 31- Sự tình trạng thái: mang đặc trưng [- động] [- chủ ý] Ví dụ:
(41) Nước hồ trong veo
- Sự tình quan hệ: mang đặc trưng [- động] [- chủ ý] [+ hai tham thể]
Ví dụ:
(42) Thành phố Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đăk Lăk
Như vậy, theo hướng nghiên cứu của ngữ pháp chức năng, sự tình quan
hệ đã có vị trí xác định trong hệ thống các loại hình sự tình với những đặctrưng riêng biệt của nó Tương ứng với các loại sự tình này là các kiểu loạicâu biểu hiện sự tình Do đó việc phân loại câu theo nghĩa biểu hiện cũngchính là vấn đề loại hình các sự tình
1.2.2 Khái quát về câu quan hệ
Như đã biết, mỗi một sự tình trong hiện thực được đặc trưng bởi một cấutrúc nghĩa khác nhau (khác nhau cả về nội dung của sự tình, cả về các yếu tốtham gia vào sự tình) Với sự tình quan hệ, cấu trúc nghĩa của nó bao gồm:quan hệ (nội dung của sự tình), hai tham thể quan hệ (các yếu tố tham gia vào
sự tình để làm rõ nghĩa cho quan hệ) và một số chu cảnh liên quan đến sựtình Khi sự tình được phản ánh vào câu, quan hệ (QH) sẽ được diễn đạt bằngmột vị tố- VT (predicator) Vị tố này sẽ được gọi là vị tố nêu quan hệ (gọi tắtlà vị tố quan hệ - VTQH) Còn hai tham thể quan hệ và các chu cảnh sẽ đượchiện thực hóa thành các chức năng cú pháp khác nhau trong câu như chủ ngữ(CN), bổ ngữ (BN), trạng ngữ (TN), đề ngữ (ĐN)… tùy thuộc vào mục đíchgiao tiếp và nhiệm vụ thông báo trong từng hoàn cảnh giao tiếp nhất định
Sự tình quan hệ có mối quan hệ mật thiết với câu quan hệ Trong mối
quan hệ này, theo luận án Sự tình quan hệ và câu quan hệ tiếng Việt của tác
giả Lê Thị Lan Anh có thể định nghĩa câu quan hệ như sau:
“Câu quan hệ là câu phản ánh sự liên quan, mối quan hệ nào đó giữa vật, việc, hiện tượng nêu ở chủ ngữ với vật, việc, hiện tượng khác nêu ở bổ ngữ.
Trang 32Nói cách khác, câu quan hệ là câu mà nòng cốt câu biểu thị sự tình quan hệ” [1, tr.97]
Do đó, cấu trúc cơ sở của câu quan hệ thường gồm các yếu tố: chủ ngữ,
vị tố, bổ ngữ với trật tự sắp xếp thường gặp: chủ ngữ - vị tố - bổ ngữ, trong đóchủ ngữ và bổ ngữ thường do hai tham thể hiện thực hóa mà thành, còn quan
hệ thì lại được hiện thực hóa trong vai trò của vị tố
Vị tố quan hệ là những vị tố có những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ phápriêng biệt Cần phân biệt vị tố quan hệ (chức năng cú pháp chính trong cấutrúc cú pháp của câu) với từ loại diễn đạt vị tố ấy
1.2.3 Giới thuyết về câu quan hệ so sánh
Trong bảng phân loại các kiểu loại sự tình quan hệ trong tiếng Việt của
tác giả Lê Thị Lan Anh cho thấy sự tình quan hệ so sánh là một kiểu loại sựtình quan hệ với những đặc trưng riêng biệt, phân biệt với các kiểu loại sựtình quan hệ khác Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Lê Thị Lan
Anh đã quan niệm sự tình quan hệ so sánh là: “quan hệ đối chiếu giữa một thực thể cần được tri giác, được nhận thức cho rõ với một thực thể được coi
là mốc, là chuẩn để tìm ra sự tương đồng khác biệt giữa chúng” (xem [1,
tr.82-94]) Có thể hiểu rõ về sự tình quan hệ so sánh qua ví dụ sau:
(43) Tê\c mse\ luêh ksua [1, tr.62]
(Chông lớn như lông nhím.)
Trong câu (37), Tê\c (chông lớn) và luêh ksua (chông nhỏ) cùng tạo nên
một sự tình quan hệ so sánh (QHSS) Trong sự tình này Tê\c (chông lớn) trong
vai trò thực thể được đem ra để tri giác, nhận thức cho rõ gọi là thể được so sánh (TĐSS) Còn luêh ksua (chông nhỏ) trong vai trò thực thể được dùng làm mốc, làm chuẩn cho sự so sánh gọi là thể dùng để so sánh (TDĐSS) Nếu kí
Trang 33hiệu TĐSS là x, TDĐSS là a thì tương quan ngữ nghĩa giữa TĐSS và TDĐSS
có thể được mô hình hóa như sau: “x được so sánh với a” [1, tr 140].
Nằm trong tương quan ngữ nghĩa như vậy, TĐSS và TDĐSS không cókhả năng nhận dạng lẫn nhau Điều đó có nghĩa, quan hệ giữa TĐSS và
TDĐSS là “quan hệ nêu thuộc tính chứ không phải quan hệ đồng nhất” [1,
tr.140] Thực tế cho thấy, cùng một TĐSS nhưng tùy theo mục đích giao tiếpmà người nói có thể lựa chọn các TDĐSS khác nhau Hiện tượng này xuấthiện với tần số cao trong ca dao, đặc biệt ca dao tình yêu đôi lứa Chẳng hạn,
cùng chung TĐSS là “thân em”- thân phận người con gái trong tình yêu
nhưng ca dao đã đem đến nhiều TDĐSS khác nhau
Ngoài ra, nằm trong tương quan ngữ nghĩa so sánh, TĐSS và TDĐSS
có thể thuộc cùng phạm trù nghĩa với nhau hoặc hai tham thể này lại khácnhau về phạm trù ngữ nghĩa TĐSS có thể được diễn đạt bằng danh từ (cụmdanh từ), động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ), đại từ và cũng có thểdiễn đạt bằng một câu bị bao Đối với TDĐSS, tình hình cũng tương tự.Trong câu, vai nghĩa này cũng thường được diễn đạt bằng danh từ (cụm danhtừ), động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ), đại từ và cũng có thể diễnđạt bằng một câu bị bao Những điều này sẽ được chúng tôi bàn kĩ qua cácngữ liệu sử thi Êđê trong chương 2 của luận văn
Như vậy, trong mối quan hệ với bình diện nghĩa, có thể định nghĩa câuquan hệ so sánh như sau:
Câu quan hệ so sánh là câu biểu thị quan hệ đối chiếu giữa vật, việc, hiện tượng cần được tri giác, được nhận thức cho rõ nêu ở chủ ngữ với vật, việc, hiện tượng được coi là mốc, là chuẩn nêu ở bổ ngữ.
Nói cách khác, câu quan hệ so sánh là câu mà nòng cốt câu biểu thị sự tình quan hệ so sánh
* Phân biệt câu quan hệ so sánh với câu chỉ trạng thái
Trang 34Như chúng ta đã biết, nghĩa miêu tả hay còn gọi là nghĩa sự việc là nghĩaứng với một sự việc trong hiện thực khách quan Sự việc được nói đến trongcâu có thể là hoạt động, đặc điểm, tính chất, quan hệ
Căn cứ vào nghĩa miêu tả, câu được xác lập thành một hệ thống gọi là hệthống câu ở bình diện ngữ nghĩa Hệ thống này được căn cứ vào cấu trúc miêu
tả của câu và phân biệt thành 5 kiểu câu với các đặc trưng sau:
Trong câu chỉ trạng thái thì “trạng thái được xác định là sự thể không động và chủ thể “không kiểm soát” nó, được diễn đạt bằng đông từ và tính từ” [3, tr.101] Còn câu quan hệ so sánh là biểu hiện một sự tình so sánh
không động, không chủ ý (không chủ động), luôn luôn có hai tham thể bắtbuộc, được diễn đạt bằng vị tố chỉ quan hệ so sánh Như vậy, điểm khác nhau
cơ bản giữa hai loại câu này là câu quan hệ so sánh nhất thiết phải có hai tham
Trang 35thể bắt buộc và vị tố là từ chỉ quan hệ so sánh, còn câu trạng thái chỉ cần mộttham thể trong vai trò chủ thể và vị tố phần lớn là tính từ Ví dụ:
(44) Pô `u krưp si yang [1, tr.48]
(Người hắn dữ tợn như một vị thần.)
(45) Ê`an si kê` êrô [1, tr.62]
(Cầu thang như cái cầu vồng.)
Ở ví dụ (44), tham thể Pô `u (người hắn) đóng vai trò là chủ thể trong
câu, vị tố chính chi phối các yếu tố khác trong câu là tính từ krưp (dữ tợn).
Do đóng vai trò chính về mặt ngữ nghĩa và mặt ngữ pháp của câu, ở ví dụ
(44), krưp (dữ tợn) là vị tố của câu chỉ trạng thái, si yang (như một vị thần)
là bổ ngữ cho vị tố (dữ tợn) Do đó câu (38) là câu chỉ trạng thái
Trong khi đó, ở ví dụ (45), ê`an (cầu thang) và kê` êrô (cái cầu vồng) là hai
tham thể được ấn định bởi vị tố quan hệ si (như) Cả ba yếu tố này cùng kết hợp
để tạo nên một sự tình so sánh Do đó, ở ví dụ (45) là câu quan hệ so sánh
Trong sử thi Êđê có khá nhiều câu chỉ trạng thái có xuất hiện các từ chỉ
(47) Ơ “uôn du\m anei, gu\k brei mse\ u\n, kru\n brei mse\ bê! [1, tr.54]
(Bớ tất cả làng ta, Phải dũi như lợn, phải báng như dê!) (48) Anei pro\ng nao si kmu\n, pro\ng nao si mkai [1, tr.68]
(Nó lớn lên như dưa gang, lớn lên như dưa hấu.)
(49) Cu\t kro\ng hda prih si luêh ksua [1, tr 79]
(Chông lớn chông nhỏ tua tủa như lông nhím.)
Trang 36Như vậy, không phải bất kì câu nào có từ chỉ quan hệ so sánh đều là câuquan hệ so sánh Chỉ những câu nào mà lõi của sự tình là quan hệ nêu thuộctính so sánh được bổ sung ý nghĩa của hai tham thể bắt buộc trong câu thì câu
đó mới là câu quan hệ so sánh
1.3 Khái quát về sử thi Êđê
Khi nói đến nền văn hóa Việt Nam, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đếnvăn hóa Tây Nguyên, một vùng văn hóa đã góp phần không nhỏ vào nền vănhóa đa sắc màu của nước nhà Đây là cái nôi văn hóa của nhiều tộc ngườiÊđê, Giarai, Bâhna, M’nông, K’Ho… Nét nổi bật và mang tính đặc thù củanền văn hóa Tây Nguyên là văn hóa cồng chiêng, văn hóa nhà mồ, văn hóa lễhội…Trong nền văn hóa ấy, Sử thi Êđê nổi lên như một thể loại độc đáo,chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong nền văn hóa của nước nhà
1.3.1 Khái niệm sử thi
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, sử thi còn gọi là “anh hùng ca” Đây là
“Thể loại tác phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ngợi ca những sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử” [19, tr.192]
Về kết cấu, sử thi là một câu chuyện được kể lại có đầu có đuôi với qui
mô lớn vì, theo Hêghen, “nội dung và hình thức của nó thực sự là toàn bộ các quan niệm, toàn bộ thế giới và cuộc sống của một dân tộc được trình bày dưới hình thức khách quan của một biến cố thực tại” Các nhân vật chính của
sử thi là những anh hùng – tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinhthần, cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cộng đồng được miêu tảkhá tỉ mỉ, đầy đủ từ cách ăn mặc, trang bị, đi đứng đến những trận giao chiếnvới kẻ thù, những chiến công lẫy lừng và đôi khi cả những nét trong sinh hoạt
Trang 37đời thường của họ nữa, điều đáng chú ý là tất cả những cái này đều được miêu
tả trong vẻ đẹp kì diệu khác thường Sở dĩ như vậy là vì sử thi ra đời vào thờiđiểm nối tiếp thần thoại tức là từ thế giới của các vị thần bắt đầu chuyển sangthế giới của con người, do đó cái nhìn đậm màu sắc thần kì nói trên đối vớicác nhân vật trong sử thi là không tránh khỏi.Trong sử thi chủ yếu mô tả hànhđộng của nhân vật hơn là những rung động tâm hồn Những đặc trưng trêncủa sử thi được thể hiện khá rõ nét trong sử thi Êđê
1.3.2 Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của sử thi Êđê
a Nội dung của sử thi Êđê
Sử thi Êđê hay còn gọi là khan Êđê có sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi nó làm
sống dậy một quá khứ hào hùng của tộc người Êđê thời xa xưa Ở đó, ta bắt gặpbức tranh hiện thực về đời sống và xã hội của tộc người Êđê như hệ thống lễ hội,tôn giáo tín ngưỡng, những phong tục tập quán, những cuộc đấu tranh chinhphục thiên nhiên, chống thù Đông giặc Tây bảo vệ cuộc sống bình yên của buônlàng, đến những địa danh quen thuộc, từ con sông con suối, ao hồ, thú vật, nụhoa cây cỏ… đều gần gũi như chính cuộc sống vốn có, vốn được quan niệm,được tồn tại trong xã hội Êđê thời cổ Tất cả những vấn đề vừa đề cập đều xoayquanh một trục chính, đó là hình tượng người anh hùng Những nhân vật đạidiện cho lí tưởng, cho sức mạnh và cho khát vọng của cả cộng đồng Êđê
Trong sử thi đề tài chiến tranh là trung tâm, chiến tranh không những tạođiều kiện cho người anh hùng giải quyết được mâu thuẫn, thu được tài sảnlớn Cứ mỗi lần đánh thắng kẻ thù là lại một lần người anh hùng trở nên giàu
có hơn, uy danh đến tận cả thần Núi, thần Sông Những thủ lĩnh đó được phảnchiếu vào sử thi là những anh hùng như Dăm Săn, Xinh Nhã, Khinh Jú, DămYi….Khi chiến tranh kết thúc thì mâu thuẫn được giải quyết, đời sống củabuôn làng được yên bình, ấm no
Trang 38Bên cạnh đó, nhân vật anh hùng cũng là nhân vật trung tâm trong sử thiÊđê, tất cả sự kiện lớn nhỏ đều tập trung xoay quanh họ Họ không đứng độclập mà trái lại có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với cộng đồng Hệ thống nhânvật khác như phụ nữ, thần linh, dân làng đều qui tụ để làm nổi bật nhân vậtanh hùng Mối quan hệ giữa nhân vật anh hùng và cộng đồng thị tộc là nềntảng sâu xa đưa đến mọi hoạt động, quyết định tính cách trong hành động củangười anh hùng với toàn thể cộng đồng Anh hùng luôn bình dị gần gũi, yêuthương mọi người Vẻ đẹp tài năng, dũng cảm của anh hùng là chỗ dựa, làniềm tự hào của cả cộng đồng Cho nên người anh hùng là trung tâm cuốnhút, là động lực thúc đẩy toàn thể ý chí của cộng đồng, điều đó tạo nên khôngkhí hào hùng, một trong những đặc trưng chính của Khan Êđê.
“Tục nối dây” (M’chuê Nuê) cũng là vấn đề nổi bật trong sử thi Ê đê Trong sử thi Đăm Săn có đoạn: “Rầm nhà gẫy thì phải thay gầm rầm khác, giát sàn nát thì phải giậm lại cho lành, người này chết thì phải chắp bằng người khác Nhà chúng tôi nay đã vách siêu bếp nứt, lời ăn tiếng nói buồn rầu Vậy xin chị cho tiếp chúng tôi một người chồng, chúng tôi xin chị một người nuê” [2, tr 77] Đây là một luật tục cổ truyền tồn tại đã khá lâu và bền
vững trong hôn nhân của người Êđê, nhằm gìn giữ sự liên tục của gia đình,dòng họ, duy trì nòi giống Tục lệ qui định khi vợ hoặc chồng vì lí do gì đóchết đi thì gia đình dòng họ bên ấy phải kiếm người thay thế Sự kiện ĐămSăn cậu lại đầu thai thành Đăm Săn cháu, sẽ tiếp tục sự nghiệp của Đăm Săn,làm toát lên khát vọng khá sâu sắc, mãnh liệt của cộng đồng Êđê, được gửitrong ý nguyện muốn cho hình tượng Đăm Săn bất tử Đăm Săn không chết đimà sống mãi, sống ở thế hệ sau để kế tục, phát triển cuộc đấu tranh chinhphục thiên nhiên, đánh lại lực lượng thù địch bảo vệ cuộc sống thanh bình chocộng đồng bộ tộc
Trang 39Ngoài ra những biến cố trong xã hội Êđê như sự liên minh giữa các buônlàng, chế độ mẫu hệ hay quá trình chuyển biến của xã hội từng bước xóa bỏ
sự ngăn cách giữa các bộ lạc liên kết lại với nhau cùng phát triển cũng là nộidung được sử thi Êđê đề cập
b Nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng
Sử thi Êđê xây dựng những hình tượng nhận vật anh hùng hiện ra nhưmột nhân cách trọn vẹn Họ vừa là một vừa là tất cả Vẻ đẹp hình thể và cốtcách của họ được coi là hoàn thiện và hoàn mỹ đến mức lí tưởng Hầu nhưcác bút pháp nghệ thuật tập trung tô điểm nhân vật anh hùng với những nétmới mẻ, sắc sảo về ngoại hình cường tráng, khỏe mạnh; trang phục mang đậmchất hoang dã của núi rừng Tây Nguyên Cốt cách anh hùng của họ được bộc
lộ trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi, trong lao động cũng như trong giaochiến với kẻ thù
Tính cách của các nhân vật anh hùng tiêu biểu cho tính tích cực mangnhiều khát vọng và ước mơ, là hiện thân của tinh thần tập thể Các sự kiệntrong sử thi đều do hành động nhân vật tạo thành, chính hành động nhân vậtlà cái để biểu hiện tính cách Con người tự khẳng định tư cách một sinh vật xãhội trong việc thực hiện bổn phận cộng đồng nhưng con người còn là một sinhvật duy nhất có đời sống tâm linh, đôi lúc còn có những khao khát vượt quanhững giới hạn có trong xã hội của mình Các anh hùng do vậy, luôn bị đặttrước những nhiệm vụ kép phải thực hiện hai nhiệm vụ trái ngược nhau: (1)bảo vệ nâng đỡ con người trong bộ tộc (2) Tìm kiếm, khẳng định mình quanhững ước muốn cho cá nhân Tất cả những điều đó được nhân vật thể hiệnqua hành động Như vậy, trình tự các hành động sẽ cho chúng ta thấy rõ hơntính cách nhân vật trong hình tượng anh hùng văn hóa và anh hùng chiến trận
Trang 40Tính cách của các anh hùng còn được thể hiện ngay trong lời nói Thôngqua việc xây dựng các tình thế tương phản, ngôn ngữ đối thoại mang tínhkịch, mô tả ngoại hình của nhân vật anh hùng, nghệ nhân dân gian đã làm nổibật tính cách của họ trong sứ mệnh thiêng liêng Họ đẹp một cách lí tưởng, từhình dáng bên ngoài đến cốt cách, phẩm chất bên trong Điểm nổi bật nhấttrong tính cách của họ là tinh thần quên mình vì quyền lợi, vì danh dự vẻ vangcủa cộng đồng Trong sử thi, họ xuất hiện để bảo vệ quyền lợi và danh dự củacộng đồng Hành động của những Đăm Săn, Đăm Yi, Xinh Nhã, Khinh Jú…là những hành động anh dũng, siêu việt luôn hướng tới mục đích cao cả củacộng đồng
- Sử thi Êđê phản ánh thực tại bằng nhiều thủ pháp khác nhau Đó làphong cách kì vĩ hóa của phương pháp lãng mạn thông qua các biện pháp sosánh, ngoa dụ, mô phỏng, lối miêu tả cụ thể, chi tiết được nghệ nhân sử dụngđắt giá bao trùm trong khắp các tình tiết của sử thi
- Sử thi Êđê chứa đựng nội dung phong phú, đa dạng với một nghệ thuật
kì lạ, đầy sức hấp dẫn Xét trên bình diện tác phẩm văn học, yếu tố ngôn ngữlà một trong những yếu tố góp phần tạo nên giá trị độc đáo, trường cửu của sửthi Êđê Cái đẹp của sử thi Êđê được biểu hiện qua thể loại tự sự dân gianmang tính tổng hợp nhiều thể loại, với ngôn ngữ giàu nhịp điệu, giàu hìnhảnh, lối nói vần… được thể hiện thông qua lời kể, cử chỉ thái độ, nét mặt sốngđộng của nghệ nhân dân gian