1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội

77 548 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội
Tác giả Nguyễn Việt Hưng
Người hướng dẫn Th.S. Bùi Quỳnh Anh
Trường học Công Ty Bảo Hiểm Bảo Long
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 414 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đời sống dân cưngày càng được cải thiện nhờ đó mà các nhu cầu vui chơi giải trí, đi lại giao lưuvăn hóa,kinh tế giữa các nước, các vùng ngày càng được chú trọng Do nhu cầu

đi lại, vận chuyển hàng hóa, hành khách ngày càng tăng đòi hỏi hệ thống giaothông và phương tiện đi lại cũng phát triển theo Trong đó nổi lên là hình thứcgiao thông đường bộ với những ưu điểm là tính cơ động cao, khả năng vậnchuyển lớn, tốc độ tương đối nhanh, giá cả hợp lý

Nhưng việc đi lại, vận chuyển bằng các phương tiện cơ giới cũng dễ gặpphải những tai nạn, rủi ro bất ngờ không thể lường trước được như: đâm va, lật

đổ, hỏa hoạn Những rủi ro này ảnh hưởng lớn đến tính mạng và tài sản của nhândân, là mối đe dọa lớn cho chủ xe vì họ không những phải chịu trách nhiệm đền

bù những thiệt hại lớn mà mình gây ra cho người thứ ba mà còn phải gánh cảphần chi phí sửa chữa bản thân phương tiện của mình Để khắc phục những tổnthất có thể xảy ra cho cả hai phía, bảo hiểm đã ra đời

Với những suy nghĩ như trên và với một sự quan tâm thực sự đối với nghiệp

vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba_mộtnghiệp vụ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, em mongmuốn được nghiên cứu sâu hơn về nghiệp vụ này: thực tiễn, hoạt động, tiềmnăng cũng như hạn chế của nó và đóng góp một số ý kiến trong việc nâng cao

hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ này Ðó là lý do em chọn đề tài: " Hiệu quả kinh

doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội"

Trang 2

Sau một thời gian tìm hiểu, học hỏi qua các tài liệu liên quan và nhờ sự giúp

đỡ nhiệt tình của các cán bộ chuyên môn của công ty Bảo Long Hà Nội, đặc biệt

là các cán bộ của phòng nghiệp vụ I của công ty_nơi em thực tập, đã cung cấpcho em những kiến thức quan trọng và những số liệu thực tế, nhờ sự hướng dẫntận tình của cô Th.S Bùi Quỳnh Anh, em đã hoàn thành bài chuyên đề tốt nghiệpnày Thông qua nó, em được củng cố những kiến thức cơ bản đã học ở trường,đồng thời tích lũy được nhiều kiến thức thực tế rất bổ ích Em tin rằng sẽ giúp

em rất nhiều cho công tác của mình sau này Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đối với sự quan tâm giúp đỡ đó

Lần đầu làm quen với thực tế và hiểu biết còn hạn chế của mình, bài viết của

em không thể tránh khỏi có thiếu sót, em mong các thầy cô giáo sẽ tận tâm đónggóp ý kiến sửa đổi, bổ sung cho chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNGI: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI VỚI NGƯỜI THỨ BA VÀ HIỆU

QUẢ KINH DOANH NGHIỆP VỤ

I Khái quát chung

1.Khái quát về bảo hiểm trách nhiệm và bảo hiểm TNDS.

1.1 Bảo hiểm trách nhiệm

Trong cuộc sống, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức đều phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật TNDS cho từng hành vi ứng xử của mình Nhìn chung,khi một người gây ra thiệt hại cho người khác do sự bất cẩn của mình thì phảichịu trách nhiệm trước thiệt hại đó

Đối với một cá nhân, có nhiều căn nguyên có thể làm phát sinh tráchnhiệm pháp lý Ví dụ, khi một cá nhân sử dụng một chiếc xe ôtô, người đó có thểgây tai nạn cho người khác, theo quy định, cá nhân đó sẽ phải bồi thường cácthiệt hại cho phía nạn nhân Mỗi một cá nhân cũng phải bồi thường thiệt hại dovật nuôi của anh ta gây ra cho người khác… Những người làm công tác chuyênmôn như bác sỹ, kế toán viên, luật sư…đều phải chịu trách nhiệm trước phápluật về nghề nghiệp của mình Nếu họ bất cẩn trong chuyên môn gây ra các thiệthại về tài chính cho đối tượng mà mình phục vụ (chẳng hạn đưa ra lời tư vấnkhông chính xác gây thiệt hại) thì họ phải bồi thường

Đối với một doanh nghiệp, theo quy định của luật pháp nhiều nước, chủ sửdụng lao động phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền bồi thường và các chiphí y tế cho người lao động mà sử dụng khi những người lao động đó bị tại nạntrong quá trình lao động hoặc bị mắc các bệnh do nghề nghiệp mà không phải dolỗi của người lao động

Trang 4

Một doanh nghiệp cũng có thể sẽ phải bồi thường các thiệt hại so tài sảncủa doanh nghiệp đó gây ra cho người khác (bất kể do lỗi của doanh nghiệp haylỗi của người làm thuê)

Trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp (các nhà máy hoá chất, nhàmáy công nghiệp…) có thể gây ra ô nhiễm môi trường và doanh nghiệp đó phải

có trách nhiệm nồi thường về thiệt hại về tài sản hoặc thương tích đối với ngườikhác

Các nhà sản xuất hoặc phân phối phải chịu trách nhiệm bồi thường cácthiệt hại do hàng hoá, sản phẩm của họ cung cấp gây ra cho khách hàng hoặc chonhững người khác (phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm) do lỗi sản xuất, lỗithiết kế, không có đủ các thiết bị an toàn, không có chỉ dẫn hay chú ý đầy đủ(“hút thuốc lá có thể có hại cho sức khoẻ”, “sử dụng thuốc không đúng chỉ dẫn

có thể gây nguy hiểm cho sức khoẻ”…) Đối với một số sản phẩm, rủi ro tráchnhiệm có thể là rất lớn, ví dụ như các sản phẩm liên quan đến ngành vân tải, máymóc thiết bị công nghiệp, đồ chơi, các sản phẩm cho trẻ sơ sinh

Các thiệt hại trách nhiệm ở trên có thể phát sinh theo hợp đồng (giữa cábên có liên quan trong hợp đồng, ví dụ theo hợp đồng lao động giữa người laođộng và chủ sử dụng lao động, theo hợp đồng giữa hãng vận chuyển và hànhkhách, theo hợp đồng mua bán giữa nhà sản xuất và khách hàng…) hay phát sinhngoài hợp đồng (ví dụ các thiệt hại đối với bên thứ ba) Nhưng cho dù là phátsinh theo hợp đồng hay ngoài hợp đồng thì các trách nhiệm pháp lý đều dẫn tớithiệt hại tài chính một cách gián tiếp cho cá nhân hay doanh nghiệp phải chịutrách nhiệm Tuỳ theo mức độ lỗi hoặc thiệt hại của bên thứ ba mà thiệt hại tráchnhiệm phát sinh có thể là rất lớn hoặc không đáng kể Trong trường hợp thiệt hạitrách nhiệm phát sinh là rất lớn, nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến tài chính của cánhân hay doanh nghiệp Do đó các cá nhân và doanh nghiệp cần phải tham gia

Trang 5

bảo hiểm trách nhiệm, để khi trạchs nhiệm pháp lý phát sinh, họ sẽ được công tybảo hiểm bồi thường những thiệt hại về mặt trách nhiệm dân sự

1.2 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba

Trước hết ta xem xét thế nào gọi là trách nhiệm dân sự Theo nghĩa rộng,trách nhiệm dân sự phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự Nghĩa vụ dân sự đượchiểu là việc mà theo quy định của pháp luật thì một chủ thể phải làm hoặc khôngđược làm một việc nào đó vù lợi ích của một hay nhiều chủ thể khác (hay còngọi là người có quyền) Người có nghĩa vụ dân sự mà không thực hiện hay thựchiện không đúng nghĩa vụ đó thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, có thể

là thiệt hại về vật chất, có thể là thiệt hại về tinh thần “Trách nhiệm bồi thường

về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính đước thành tiền

do bên vi phạm nghĩa vụ dân sự gây ra bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí nhănchặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút Người gây thiệt hại

về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,nhân phẩm, uy tín của người khác, ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi,cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại” (Bộluật dân sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Trách nhiệm dân sự làmột loại trách nhiệm pháp lý, dp đó nó mang những đặc tính chung của tráchnhiệm pháp lý: Nó được coi là biện pháp cưỡng chế, thể hiện dưới dạng là tráchnhiệm phải thực hiện và trách nhiệm nồi thường thiệt hại; nó đước áp dụng đốivới người thực hiện hành vi trái pháp luật và do các cơ quan nhà nước có thẩmquyền áp dụng theo trình tự, thủ tục nhất định và việc áp dụng các biện phápcưỡng chế sẽ mang đến cho người thực hiện hành vi trái pháp luật theo nhữngdiều bất lợi

Xe cơ giới là các loại xe chạy trên đường bộ bằng động cơ của chính nó(trừ xe đạp máy)

Trang 6

Về nguyên tắc người có quyền sở hữu đối với phương tiện xe cơ giới gọi

là chủ xe Nhìn chung họ là những người đứng tên trên giấy đăng ký xe và cảgiấy lưu hành xe Có những trường hợp chủ xe cũng là người trực tiếp điều khiển

xe, không phải là người đứng tên trong giấy đăng ký xe Trong trường hợp nàyngười điều khiển xe chỉ đóng vai trò là người làm công ăn lương theo hợp đồngthuê mướn, tuyển dụng của chủ xe Khi có tai nạn xảy ra, thông thường chủ xephải là người chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi họ klhông phải là ngườitrực tiếp điều khiển xe Nếu xe cơ giới được chủ xe giao quyền sử dụng và khairhác xe cho người khác (người thuê xe), thì người thuê xe phải chịu trách nhiệmbồi thường thiệt hại do việc sử dụng xe đó gây ra

Tuy nhiên việc xem xét quy kết trách nhiệm thuộc về ai cần phải lưu ýmột số trường hợp

▪ Người lái xe (do chủ xe thuê muớn hoặc tuyển dụng) gây tai nạn khi anh

ta sử dụng xe vào việc riêng: Trường hợp này toà án vẫn phán quyết chủ xe phảibồi thường, nhưng trong phạm vi của mình chủ xe được quyền đòi hỏi tráchnhiệm của người lái xe

▪ Tai nạn xảy ra khi xe đang được cho người khác mượn: Trường hợp nàyngười mượn xe để sử dụng phải chịu trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên nếu chủ

xe cho mượn cả lái xe của mình thì khi tai nạn xảy ra toà án vẫn phán quyết chủ

xe chịu trách nhiệm bồi thường Đồng thời toà án cũng không can thiệp vào việcngười mượn xe tự nguyện đứng ra nồi thường thay cho chủ xe hoặc giúp đỡ cgochủ xe bồi thường cho nạn nhân

▪ Tai nạn xảy ra khi xe lưu hành không được sự đồng ý của chủ xe:Trường hợp này nhìn chung người sử dụng xe không được phép của chủ xe thìphải chịu trach nhiệm bồi thường Tuy nhiên, không loại trừ trường hợip chủ xecũng có lỗi trong việc để người khác chiếm dụng xe của mình, chẳng hạn chủ xe

Trang 7

tời xe mà không rút chìa khoá điện Trong trường hợp này, chủ xe cũng có thểphải liên đới bồi thường.

▪ Tai nạn do người vị thành niên gây ra: Nếu người vị thành niên điềukhiển xe gây tai nạn thông thường cha mẹ họ là người chịu trách nhiệm bồithường Điều 17 Luật bảo về và chăm sóc trẻ em quy định: “Cha mẹ, người đỡđầu phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự về những thiệt hại dohành vi của trẻ mình nuôi gây ra” Điều 611 Bộ luật dân sự cũng quy định: “khingười thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà cong cha mẹ, thì cha mẹ phải bồithường toàn bộ thiệt hại, nếu tài sản của cha mẹ không đủ bồi thường mà conchưa thành niên gây thiệt hại xó tài sản thì lấy tài sản để bồi thường phần cònthiếu”; Trong trường hợp người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thìphải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thìcha mẹ phải bồi thường ohần còn thiếu bằng tài sản của mình; Trường hợp người

vị thành niên gây tai nạn trong thời gian chịu sự quản lý của người giám hộ, thìngười giám hộ cũng có thẻ phải liên đới bồi thường

Như vậy, trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với người thứ ba là tráchnhiệmn hay nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do chủ xe hay lái xe gây ra cho ngườithứ ba so ciệc dử dụng xe đó gây tai nạn

2 Sự cần thiết của bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Giao thông vận tải nói chung, giao thông đường bộ nói riêng có một tầmquan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế

Sự phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng bình quân 7.12%/năm, giaothông vận tải đường bộ Việt Nam cũng tăng nhanh với tốc độ chóng mặt về sốlượng xe lưu hành và các con đường cao tốc, đường nhựa, đường xá vươn tớimọi vùng sâu, xa của Tổ quốc Kinh tế phát triển làm cho đời sồng và thu nhập

Trang 8

của dân cư ngày càng cao hơn Việc mua một chiếc xe máy không còn là vấn đềkhó khăn ngay cả với hộ nông dân Thậm chí, lớp người trung lưu và các nhàdoanh nghiệp trẻ còn có ôtô con để đi lại Đây là dấu hiệu đáng mừng, song cùngvới sự phát triển của giao thông đuờng bộ là gia tăng tai nạn giao thông ngày mộtnhiều và với mức độ nghiêm trọng hơn.

Dù Đảng và Nhà nước có cố gắng đưa ra các giải pháp đến đâu đi chăngnữa, thì cũng chỉ đem đến kết quả là kìm chế tốc độ gia tăng tai nạn chứ khôngthể ngăn chặn để tai nạn không xảy ra

Tai nạn giao thông là điều không thể tránh khỏi, trước hết bởi bản thân xe

cơ giới lưu hành với tốc độ cao là một nguy cơ tiềm ẩn gây tai nạn vào bất kỳ lúcnào Một trúc trặc nhỏ của xo cơ giới do bản thân xe gây ra hay do bất cẩn củangười lái xe khi không phát hiện được tình trạng hư hỏng của xe như: Mấtphanh, mất lái, nổ lốp Nếu như xe đang chạy thì hư hỏng trên củ xe tất yếu đưatới một tai nạn mà hậu quả không thể lường trước được

Thứ hai, tai nạn có thể xảy ra do sơ xuất bất cẩn của người lái xe như ngủ

gật, quyên không bất xi nhan xin đường, dùng xe đột ngột… Ở Việt Nam, sốlượng lái xe không đủ tiêu chuẩn tham gia giao thông không phải là nhỏ

Thứ ba, đường xá Việt Nam chất lượng chưa cao, nhiều con đường gỗ

ghề, khúc khuỷu, thiếu các biển báo chỉ dẫn cần thiết, làm cho lái xe không chủđộng và lường trước được những khó khăn để tránh tai nạn

Thứ tư, ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông

còn chưa cao, kể cả người đi bộ và xe thô sơ, buôn bán họp chợ, để vật liệu xâydựng lấn lòng lề đường, làm tăng nguy cơ gây tai nạn

Có rất nhiều biện pháp mà Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhằm hạn chếtai nạn giao thông như:

▪ Tổ chức thường xuyên, rộng rãi trong toàn dân về luật an toàn giaothông

Trang 9

▪ Tổ chức tập huấn đội ngũ lái xe an toàn

▪ Tổ chức các lớp về an toàn xe

▪ Xây dựng hệ thống biển báo pano, áp phích

▪ Thành lập ban chỉ đạo an toàn giao thông

▪ Tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng: Tổ chức các cuộc

thi tìm hiểu về luật giao thông như chương trình “Tôi yêu Việt Nam”

Tất cả các biện pháp trên tuy được các cấp, các ngành thực hiện thườngxuyên và bằng nhiều cách khác nhau, song tai nạn giao thông vẫn xảy ra và ngàycàng trầm trọng

Một khi chúng ta công nhận tai nạn giao thông đường bộ là một tòn tạikhách quan, chỉ hạn chế chứ khó có thể tránh khỏi và vần đề quan trọng là khắcphục hậu quả tai nạn xảy ra một cách kịp thời và đầy đủ nhất

Tai nạn do xe cơ giới gây ra thường đưa đến những hậu quả khôn lường,gây thiệt hại rất lớn cho người và của Những thiệt hại là rất lớn cho mỗi vụ tainạn giao thông đường bộ thường gây hậu quả bồi thường nặng nề cho chủphương tiện về TNDS theo Luật dân sự ngoài sự thiệt hại cho chính chủ phươngtiện Phần lớn trong các trường hợp tai nạn nghiêm trọng, chủ xe khôn đủ khảnăng tài chính để bồi thường, nhiều trường hợp chủ xe, lái xe bị chết trong các

vụ tai nạn hay bỏ trốn nên việc giải quyết tai nạn gặp khó khăn Vấn đề là phỉa

có nguồn tài chính sẵn sàng cho việc giải quyết hậu quả của các vụ tai nạn giaothông luôn luôn là mối quan tâm lo lắng của phía chủ xe; Cũng như đẻ bảo vệquyền lợi của các nạn nhân trong các vụ tai nạn, hạn chế tối thiểu tai nạn xảy ra

là mối quan tâm của toàn xã hội Để đáp ứng yêu cầu đó, bảo hiểm TNDS củachủ xe cơ giới đối với người thứ ba ra đời là một tất yếu khách quan và đượcphát triển từ loại hình tự nguyện sang bắt buộc

3 Tác dụng của bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Trang 10

Khi tai nạn xảy ra, việc giải quyết hậu quả của nó luôn là vấn đề phức tạpnhất, thường phát sinh những tranh chấp kéo dài Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơguới là biện pháp kinh tế huy động dự đóng góp của các chủ xe, hình thành nênquỹ bảo hiểm Quỹ này chủ yếu được sử dụng để bồi thường, bù đắp cho các chủ

xe trong thời gian xe hoạt động gây tai nạn làm phá sinh TNDS của chủ xe Bảohiểm TNDS có tác dụng rất lớn đối với cả chủ xe, người thứ ba và cho xã hội

▪ Đối với chủ xe: Bảo hiểm TNDS đã tạo tâm lý thoải mái, yên tâm, tự tin

khi điều khiển các phương tiện tham gia giao thông; bồi thường chủ động, kịpthời cho chủ xe khi phát sinh TNDS, tránh thiệt hại về kinh tế cho chủ xe; giúpchủ xe có ý thức trong việc đề ra các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế tai nạn

▪ Đối với người thứ ba: Công ty bảo hiểm thay mặt chủ xe bồi thường

thiệt hại một cách nhanh chóng, đầy đủ nhấtm giúp cho người thứ ba ổn dịnh vềmặt tài chính, tinh thần Bên cạnh đó, Công ty bảo hiểm hỗ trợ cho chủ xe trongviịec thương lượng hoà giải với nạn nhân, tránh gây ra tai căng thẳng hay sự cốbất thường từ phía người nhà nạn nhân

▪ Đối với xã hội: Doanh nghiệp bảo hiểm muốn hoạt động kinh doanh tốt

cần phải đưa ra các biện pháp hiệu quả đề phòng và ngăn ngừa tai nạn, tióch cựcgiảm thiểu các vụ tai nạn cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng Điều này tácđộng đến sự ổn định, an toàn cho xã hội Mặt khác, loại hình bảo hiểm này gópphần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong việc giải quyết hậu quảcác vụ tai nạn, cũng như trong việc xây dựng, thiết lập các biện pháp ngăn ngừa,hạn chế tai nạn Đồng thời nó còng đem đến nguồn thu cho ngăn sách

Như vậy, bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba càngkhẳng định rõ hơn sự cần thiết và tầm quan tọng của nó

Trang 11

II TÍNH CHẤT BẮT BUỘC CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TNDS

Cơ sở tiến hành bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba dưới hình thức bắt buộc.

Do nhu cầu của sự tồn tại và phát triển kinh tế đất nước, các phương tiệngiao thông đường bộ ngày càng tăng, đã tỏ rõ tính ưu việt của nó Bên cạnh đóthì tại nạn do các phương tiện gây ra ngày một nhiều và rất nghiêm trọng Nhiềukhi trách nhiệm bồi thường thiệt hại vượt quá khả năng tài chính của chủ phươngtiện gấp nhiều lần, gây khó khăn cho nạn nhân trong việc khắc phục hậu quả vềtài sản, điều chỉnh thương tật, mai táng Bảo hiểm TNDS trước hết là bảo vệ lợiích của người bị nạn hoặc gia đình họ, đây là một vấn đề xã hội lớn chứ khôngphải chỉ quyền lợi của chủ xe Vì vậy, tham gia bảo hiểm TNDS của chủ xe cơgiới đối với người thứ ba tại các cơ quan bảo hiểm là trách nhiệm của mỗi chủxe

Trên thế giới, nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới ra đời vào thế

kỷ thứ XVIII, phát triển mạnh vào thế kỷ thứ XIX HIện nay, hầu hết các nướcđều quy định bắt buộc các chủ xe phải tham gia bảo hiểm TNDS Một số nước

có nền kinh tế phát triển như: Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật và Úc đã áp dụng hìnhthức bắt buộc từ những năm 40 của thế kỷ XX

Không chỉ dừng lại ở bắt buộc đối với chủ xe phải tham gia bảo hiểmTNDS mà còn quy định bắt buộc đối với doanh nghiệp bảo hiểm phải chấp nhậnbảo hiểm theo đúng quyết định 23/2003/QĐ-BTC Doanh nghiệp bảo hiểm chấpnhận bảo hiểm TNDS của chủ xe theo đúng quy tắc, biểu phí và mức tráchnhiệm được Bộ Tài Chính quy định, không được phép thấp hơn Tuy nhiên,doanh nghiệp bảo hiểm có thể tăng mức trách nhiệm dân sự, dẫn đến tăng phíbảo hiểm theo yêu cầu của chủ xe Điều này đảm bảo cho chủ xe tham gia giao

Trang 12

thông luôn được đáp ứng nhu cầu khi đủ điều kiện có nhu cầu tham gia bảohiểm.

Từ những lý do đó, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định 30/HĐBT ngày10/03/1988 quy đinmh tất cả các xe hoạt động trên lãnh thổ nước công hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam đều tham gia bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới tại cơquan bảo hiểm Đây là một chủ trương, một chính sách hoàn toàn đúng đắn vàđược duy trì cho đến nay nhằm đảm bảo lợi ích của người bị nạn khi tai nạn xảy

ra, nâng cao trách nhiệm đối với chỉu phương tiện, giúp cơ quan quản lý sốlượng xe lưu hành và thống kê đầy đủ các tai nạn để có những biện pháp quản lý

xã hội, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành nghiêm chỉnh những quy định, chủtrương của Nhà nước Năm 2003, Bộ trưởng Bộ Tài Chính ban Quyết định số23/2003/QĐ-BTC ngày 25/02/2003 thay thế các Nghị định trước nhằm phù hợpvới bước đi của nền kinh tế nước ta: Quy định về bảo hiểm bắt buộc TNDS củachủ xe cơ giới

III ĐẶC ĐIỂM CỦA BẢO HIỂM TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA

Đây là một trong những nghiệp vụ BHTN, vì vậy, nó cũng mang những nétđặc trưng của BHTN Sau đay là một số đặc trưng cơ bản của nó:

1 Đối tượng bảo hiểm mang tính trừu tượng

Đối tượng bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm là phần tráchnhiệm hay nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại, do đó rất trừu tượng Hơn nữa,trách nhiệm đó là bao nhiêu cũng không xác định được ngay lúc tham gia bảohiểm Thông thường trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có đủ ba điều kiện sau:

▪ Có thiệt hại thực tế của bên thứ ba

▪ Có hành vi trái pháp luật của cá nhân hay của tổ chức

Trang 13

▪ Có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của cá nhân hay của tổchức và thiệt hại của bên thứ ba

Mức độ thiệt hại do trách nhiệm pháp lý phát sinh bao nhiêu là hoàn toàn

do sự phán xử của toà án Thông thường, thiệt hại này được tính dựa trên mức độlỗi của người gây ra thiệt hại và thiệt hại của bên thứ ba Tuy nhiên, trong thực tếcũng có những trường hợp toà án sẽ không căn cứ vàp mức độ lỗi để phán sử, màcăn cứ vào khả năng tài chính của người gây ra thiệt hại Những trường hợp nàythườn hay gặp ở các nước áp dụng hệ thống luật gọi theo tên tiến Anh là

common law, ví dụ như ở nước Mỹ

2 Thường được thực hiện dưới hình thức bắt buộc

Bảo hiểm trách nhiệm, ngoài việc đảm bảo ổn định tài chính cho ngườiđược bảo hiểm, còn có mục đích khác là bảo vệ quyền lợi cho phía nạn nhân, bảo

vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội Do vậy, loại hình bảo hiểm này thườngđược thực hiện theo hình thức bắt buộc Nhìn chung, các bảo hiểm trách nhiệmthực hiện bắt buộc có liên quan đến ba nhóm hoạt động chủ yếu sau:

▪ Những hoạt động có nguy cơ gây tổn thất cho nhiều nạn nhân trong cùngmột sự cố (kinh doanh vận chuyển hành khách, sử dụng gas lỏng)

▪ Những hoạt động mà chỉ cần có một sơ xuất nhỏ cũng có thể dẫn đếnthiệt haịo trầm trọng về người (hoạt động của bác sĩ, sử dụng các dược phẩm)

▪ Những hoạt động cung cấp dịch vụ trí tuệ có thể gây thiệt hại lớn về tàichính (môi giới bảo hiểm, tư vấn pháp luật)

Dưới đây là một số loại hình bảo hiểm trách nhiệm được thực hiện bắtbuộc ở một số nước trên thế giới

Trang 14

Bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc ở một số nước trên thế giới

Nước Các loại hình bảo hiểm bắt buộc

Pháp - Bảo hiểm trách nhiệm của kiến trúc sư, luật sư, củ thầu xây dựng,

kiển toán, đại lý bảo hiểm, đại lý du lịch, công chứng viên

- Bảo hiểm trách nhiệm của cửa hàng dược phẩm

- Bảo hiểm trách nhiệm đối với hoạt động truyền máu, hoạt độngnghiên cứu y sinh

Đức - - Bảo hiểm trách nhiệm của kiến trúc sư, công chứng viên, thám tử

- Bảo hiểm trách nhiệm đối với hoạt động tư vấn thuế, kiểm toán, chếbiến thực phẩm

Indonesia- - Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe đối với thương tật và chết gây ra

cho bên thứ ba

- Chương trình bồi thường cho người lao động gồm cả hưu trí và sứckhoẻ

Mâco - Bảo hiểm trách nhiệm của chỉ xe đối với bên thứ ba

- Bảo hiểm bồi thường cho người lao động

- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đại lý du lịch

- - Bảo hiểm trách nhiệm công cộng trong việc quảng cáo bằng đèn ông

nê-Nguồn: Điều tiết và kiểm soát bảo hiểm ở châu Á OECD 1999

Bảo hiểm bắt buộc về trách nhiệm dân sự ở Châu Âu Nhuyễn Ngọc Định,

Nguyễn Tiến Hùng Tạp chí Tài chính yháng 11/1999

Ở Việt Nam, Luật kinh doanh Bảo hiểm ban hành ngày 22/12/2000 đã nêucác bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc bao gồm:

▪ Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới, bảo hiểm TNDS của người vậnchuyển hàng không đối với hành khách;

▪ Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

▪ Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

Trang 15

3 Có thể áp dụng giới hạn trách nhiệm hoặc không

Bởi vì thiệt hại trách nhiệm dân sự phát sinh chưa thể xác định được ngaytại thời điểm tham gia bảo hiểm và thiệt hại đó có thể là rất lớn Bởi vậy, để nângcao trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thường đua

ra giới hạn trách nhiệm, tức là các mức bồi thường tối đa của bảo hiểm (số tiềnbảo hiểm ) Nói cách khác, thiệt hại trách nhiệm dân sự có thể rất lớn nhưngcông ty bảo hiểm không bồi thường toàn bộ thiệt hại trách nhiệm dân sự phátsinh đó mà chỉ khống chế trong phạm vi số tiền bảo hiểm

Hạn mức trách nhiệm được áp dụng trong hầu hêt các nghiệp vụ bảo hiểmTNDS: Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểmTNDS của chủ sử dụng lao động với người lao động, Trách nhiệm của chủ hãngvận chuyển đối với hành khách, hàng hoá… Nhưng cũng có một số nghiệp vụbảo hiểm TNDS không áp dụng giới hạn trách nhiệm (thiệt hại TNDS phát sinhbao nhiêu, công ty bảo hiểm bồi thường bấy nhiêu), ví dụ như nghiệp vụ bảohiểm TNDS của chủ tàu

IV Nội cơ bản của BH TNDS của chủ xe cơ giớ đối với người thứ ba

1 Ðối tượng và phạm vi bảo hiểm

1.1 Ðối tượng bảo hiểm

Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân hay đạidiện cho một tập thể Công ty bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm cho phần trách nhiệmdân sự của chủ xe phát sinh do sự hoạt động và điều khiển của người lái xe Nhưvậy đối tượng được bảo hiểm là TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồithường ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ ba khi xe lưu hànhgây tai nạn

Trang 16

Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước Chỉ khi nào việc lưuhành xe gây tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba thì đốitượng này mới được xác định cụ thể Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ xe

cơ giới đối với người thứ ba bao gồm:

- Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ củabên thứ ba

- Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái pháp luật Có thể do

vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm cácquy định khác của nhà nước…

- Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luậtcủa chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba

- Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi

Trên thực tế chỉ cần đồng thời xảy ra ba điều kiện thứ nhất, thứ hai, thứ ba làphát sinh TNDS của chủ xe (lái xe) đối với người thứ ba Nếu thiếu một trong bađiều kiện đó TNDS của chủ xe sẽ không phát sinh và do đó sẽ không phát sinhtrách nhiệm của bảo hiểm Điều kiện thứ tư có thể có hoặc không, vì nhiều khitai nạn xảy ra là do nguồn nguy hiểm cao độ mà không hoàn toàn do lỗi của chủ

xe (lái xe) Ví dụ, xe đang chạy bị nổ lốp, lái xe mất khả năng điều khiển nên đãgây tai nạn Trong trường hợp này, TNDS vẫn có thể phát sinh nếu có đủ ba điềukiện đầu tiên

Chú ý rằng, bên thứ ba trong BHTNDS chủ xe cơ giới là những người trựctiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:

- Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe;

- Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái…

- Hành khách, những người có mặt trên xe;

Trang 17

Tài sản, tư trang, hành lý của những người nêu trên.

1.2 Phạm vi bảo hiểm

Công ty bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường trướcđược gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe Cụ thể, các thiệt hại nằmtrong phạm vi trách nhiệm của công ty bảo hiểm bao gồm:

- Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ ba;

- Thiệt hại về tài sản, hàng hoá… của bên thứ ba;

- Thiệt hại về tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thunhập;

- Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạnchế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể

cả những biện pháp không mang lại hiệu quả);

- Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia cứuchữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân

Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tainạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp sau:

- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại

- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao thôngtheo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ

- Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông đường

Trang 18

+ Lái xe bị ảnh hưởng của các chất kích thích như: Rượu, bia, ma tuý… + Xe trở chất cháy, chất nổ trái phép;

+ Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửachữa;

+ Xe đi vào đường cấm, đi đêm không có đèn hoặc chỉ có đèn bên phải; + Xe không có hệ thống lái bên phải

- Thiệt hại do chiến tranh, bạo động

- Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sảnxuất kinh doanh

- Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, mất cắp trong tai nạn

- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia, trừ khi có thoả thuận khác

Ngoài ra, công ty bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm đối với tài sản đặcbiệt như vàng, bạc, đá quý, tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, thi cốt

2 Số tiền bảo hiểm.

Số tiền bảo hiểm là khoản tiền được xác định trong hợp đồng bảo hiểm thểhiện giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm Có nghĩa là, trong bất kỳ trườnghợp nào thì số tiền bồi thường, chi trả cao nhất của người bảo hiểm cũng chỉbằng số tiền bảo hiểm

Do tính đặc trưng của loại hình bảo hiểm này là đối tượng bảo hiểm của hợpđồng bảo hiểm trách nhiệm rất trừu tượng, không xác định được mức thiệt hạicủa người thứ ba Vì vậy, trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, một hợp đồngthường xác định số tiền bảo hiểm dựa trên sự thoả thuận Bộ Tài chính quy địnhhạn mức trách nhiệm tối thiểu bắt buộc cho mọi chủ xe Trên cơ sở đó doanhnghiệp có thể đưa ra mức trách nhiệm tự nguyện cao hơn được Bộ Tài chính

Trang 19

chấp thuận để chủ xe lựa chọn Việc bán sản phẩm bảo hiểm theo nhiều mức có

ý nghĩa đáp ứng mộ cách tốt nhất nhu cầu của chủ xe Mức trách nhiệm cao haythấp được thiết kế phụ thuộc vào các yếu tố như: Nhu cầu bảo hiểm và khả năngtài chính của chủ xe; tình hình thực tế tai nạn; loại phương tiện; và có cả khảnăng đảm bảo của nhà bảo hiểm Ðiều lưu ý là hạn mức trách nhiệm trong hợpđồng hoặc trong giấy chứng nhận bảo hiểm có ý nghĩa cho từng vụ tổn thất Cónghĩa là: thường thời hạn bảo hiểm là một năm thì trong một năm được bảohiểm, phương tiện có thể gây ra nhiều hơn một vụ tai nạn Trách nhiệm bồithường của nhà bảo hiểm cho người được bảo hiểm được tính cho từng vụ tainạn là độc lập theo hạn mức trách nhiệm đã ký kết Ðối với những vụ tổn thấtlớn mà giá trị thiệt hại vượt quá mức giới hạn trách nhiệm thì khi đó người đượcbảo hiểm phải tự gánh chịu phần vượt quá này

Trong cùng mọi điều kiện như nhau, mức trách nhiệm bảo hiểm có ảnh hưởngquyết định tới mức phí bảo hiểm mà người bảo hiểm phải đóng góp Người đượcbảo hiểm sẽ đóng một mức phí cao hơn nếu họ được cung cấp một bảo hiểm cóhạn mức trách nhiệm cao hơn

3 Phí bảo hiểm và phương pháp tính phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện Người tham gia bảo hiểm đóngphí BH TBDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượg đầu phươngtiện của mình Mặt khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về độ lớn cóxác suất gây tai nạn khác nhau nên phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loạiphương tiện (hoặc nhóm phương tiện) Phí bảo hiểm gồm có hai phần:

- Phần phí thuần: phần phí thu được dùng cho bồi thường tai nạn xảy ra

- Phần phụ phí: là khoản phí cần thiết để cơ quan bảo hiểm đảm bảo cho cáckhoản chi trong hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm (bao gồm: chi hoa hồng; chi quản

lý hành chính; chi đề phòng hạn chế tổn thất; chi thuế nhà nước)

Trang 20

Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện

(thường tính theo năm) là:

n i

Ci

Ti Si

Ci - Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm TNDS trong năm i

n - Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1,n)

Như vậy, f thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n năm chomỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó

Đây là cách tính phí bảo hiểm cho các phương tiện thông dụng trên cơ sởquy luật số đông Đối với các phương tiện không thông dụng, mức độ rủi ro lớnhơn như xe kéo rơmoóc, xe trở hàng nặng… thì tính thêm tỷ lệ phụ phí so vớimức phí cơ bản Ở Việt Nam hiện nay thường cộng thêm 30% mức phí cơ bản

Trang 21

Đối với các phương tiện hoạt động ngắn hạn (dưới một năm), thời gian thamgia bảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác định như sau:

Pngắn hạn = thang

tdong Sothanghoa

Số phí hoàn lại được xác định như sau:

P hoàn lại = thang

nghoatdong Sothangkho

+ Chậm từ 01 đến 02 tháng phải nộp thêm 100% mức phí cơ bản

Trang 22

+ Chậm từ 02 đến 04 tháng phải nộp thêm 200% mức phí cơ bản.

+ Chậm từ 04 tháng trở lên nộp thêm 300% mức phí cơ bản…

+ Hoặc huỷ hợp đồng bảo hiểm

4 Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanhnghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho nguời thụ hưởng hoặc bồi thườngcho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

♦ Đối tượng của hợp đồng này là mức trách nhiệm dân sự của người được

bảo hiểm đối với người thứ ba theo quy định của pháp luật Do đó, đặc điểm của

nó là:

▪ Hợp đồng bảo hiểm chỉ tồn tại giữa doanh nghiệp bảo hiểm với ngườitham gia bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường khingười bị thiệt hại (người thứ ba) yêu cầu người tham gia bảo hiểm bồi thưòng

▪ Hợp đồng bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi trách nhiệm bồi thường

về mặt kinh tế, không chịu các trách nhiệm khác của người tham gia bảo hiểmtrước pháp luật như: Trách nhịm hành chính, trách nhiệm hình sự

▪ Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm không có và cũng không thẻ quy định

về số tiền bảo hiểm, mà chỉ quy định hạn mức trách nhiệm bồi thường tối đa củadoanh nghiệp bảo hiểm Ví dụ, hạn mức trách nhiệm bồi thường tối đa trong bảohiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba là 30 trđ/vụ, về tài sản là 30 trđ/vụ

♦Nội dung của hợp đồng thể hiện mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ

giữa các bên tham gia và được quy định dưới hình thức điều khoản hợp đồng, cóđiều khoản do hai bên thoả thuận Nội dung chủ yếu của một hợp đồng bảo hiểmtrách nhiệm của chủ xe cơ giới với người thứ ba thông thường bao gồm:

Trang 23

▪ Đối tượng bảo hiểm

▪Hạn mức trách nhiệm

▪Rủi ro được bảo hiểm

▪Rủi ro loại trừ

▪Phí bảo hiểm

▪Thời hạn bảo hiểm

▪Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

♦ Trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia:

▪Về phía chủ xe: (lái xe), mặc dù đã tham gia bảo hiểm nhưng chủ xe vẫn

là người có trách nhiệm chính trong việc ngăn ngừa tai nạn, làm công tác nàychủ xe cần phối hợp với các ngành thực hiện biện pháp chủ yếu sau:

– Định kỳ hàng năm tiến hàng tổ chức các lớp tập huấn cho lái xe,

phụ xe Giáo dục, nhắc nhở lái, phụ xe tuyệt đối không vi phạmnhững điểm cấm đã quy định trong khi điều khiển xe

– Bảo quản tốt các phương tiệnvận tải, phối hợp với các ngành liên

quan định kỳ tiến hành kiểm tra thiết bị an toàn để đảm bảo tiêuchuẩn kỹ thuật cho xe hoạt động tốt

– Đề xuất kiến nghị với ngành giao thông vận tải, công an thường

xuyên quan tâm chỉ đạo việc sủa sang lại hệ thống đường xá Tiếnhành xây dựng các biển báo, panô, áp phích tại các đầu mối giaothông quan trọng và tại những đoạn đường có mối nguy hiểm caoKhi có tai nạn xảy ra, để giúp cho việc tính toán và giải quyết bồi thườngcủa doanh nghiệp bảo hiểm được nhanh chóng và kịp thời, chủ xe bằng phươngtiện nhanh nhất khai báo ngay cho cơ quan bảo hiểm về thực trạng tai nạn:

– Ngày, giờ, địa điểm xảy ra tai nạn– Số đăng ký xe gây tai nạn

– Họ tên người lái xe

Trang 24

– Tên nạn nhân và địa chỉ của họ– Mức độ nghiêm trọng của tai nạn– Nguyên nhân xảy ra tai nạn và biện pháp xử lý ban đầu của

chủ xe hoáclái xe– Trách nhiệm khai báo phải đảm bảo tính trung thực, khách

quan về mọi chi tiết, mọi điều được biết xung quanh vụ tainạn

Bên cạnh trách nhiệm vủa người tham gia bảo hiểm, chủ xe có nhữngquyền lợi sau:

– Quyền được bồi thường từ phía nhà bảo hiểm khi có sự

kiện bảo hiểm xảy ra– Quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều

khoản, điều kiện bảo hiểm – Quyền yêu cầu nhà bảo hiểm bổ xung sủa đổi hợp đồng, đề

xuất ý kiến mở rộng phạm vi bảo hiểm – Quyền khiếu nại bồi thường thưo quy định– Các quyền khác theo quy định của pháp luật

▪ Về phía doanh nghiệp bảo hiểm: Nhà bảo hiểm có quyền thu phí bảo

hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; yêu cầu khách hàng cung cáođầy đủ thông tin cần thiết đến hợp đồng bảo hiểm; yếu cầu khách hàng có nhữngbiện pháp để phòng hạn ché tổn thất… Bên cạnh đó, khi đưa ra các điều kiện,điều khoản của hợp đồng bảo hiểm nhà bảo hiểm phải giải thích rõ ràng cho chủ

xe hiểu, vận động họ tham gia đầy đủ; Bảo hiểm cũng câng phối hợp với ngườitham gia bảo hiểm, các ngành có liên quan hỗ trợ kịp thời và có chế độ thưỏngphạt đối với những đơn vị thực hiện tốt hoặc chưa tốt trách nhiệm đề phòng, hạnchế tổn thất; Khi nhận được khai báo tai nạn của chủ xe, nhà bảo hiểm tiến hanhgiám định nguyên nhân và hậu quả của vụ tai nạn nhanh chóng chi trả, bồi

Trang 25

thường cho người được hưởng quyền lợi bảo hiểm, nếu không thuộc phạm vitrách nhiệm của bảo hiểm thì cơ quan bảo hiểm có sự thông báo trả lợi kịp thờicho chủ xe biết.

5 Giám định tổn thất và giải quyết bồi thường

Sau khi nhận được hồ sơ khiếu nại bồi thường, công ty bảo hiểm sẽ tiến hành

giám định để xác định thiệt hại thực tế của bên thứ ba và bồi thường tổn thất Ðểxác định được chính xác số tiền phải bồi thường, cơ quan bảo hiểm phải tiếnhành giám định tổn thất,bao gồm: kiểm tra đối tượng giám định; phân loại tổnthất; xác định mức độ tổn thất; nguyên nhân gây tổn thất của người thứ ba; mức

độ lỗi của chủ xe tham gia bảo hiểm… (Chú ý, nếu tai nạn xảy ra không gâythiệt hại cho người thứ ba hoặc gây thiệt hại cho những người không thuộc diện

là người thứ ba thì không cần xác minh thiệt hại)

Thiệt hại của bên thứ ba bao gồm:

Thiệt hại về tài sản: Tài sản bị mất, bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại; thiệt hại liên

quan đến việc sử dụng tài sản và các chi phí hợp lý khác để ngăn ngừa, hạn chế

và khắc phục thiệt hại

Thiệt hại về tài sản lưu động được xác định theo giá trị thực tế (giá thị trường) tạithời điểm tổn thất còn đối với tài sản cố định, khi xác định giá trị thiệt hại phảitính đến khấu hao Cụ thể:

Giá trị thiệt hại = Giá trị mua mới (nguyên giá) - Mức khấu hao

Thiệt hại về con người : bao gồm thiệt hại về sức khỏe và thiệt hại về tính mạng.

Thiệt hại về sức khỏe bao gồm:

+ Các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe vàchức năng bị mất hoặc giảm sút như: chi phí cấp cứu, tiền hao phí vật chất và cácchi phí y tế khác( thuốc men, dịch chuyền, chi phí chiếu chụp X-quang…)

Trang 26

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập bị mất của người chăm sóc bệnh nhân(nếu có theo yêu cầu của bác sỹ trong trường hợp bệnh nhân nguy kịch) vàkhoản tiền cấp dưỡng cho người mà bệnh nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng.

+ Khoản thu nhập bị mất hoặc giảm sút của người đó Thu nhập bị giảmsút là khoản chênh lệch giữa mức thu nhập trước và sau khi điều trị do tai nạncủa người thứ ba Thu nhập bị mất được xác định trong trường hợp bệnh nhânđiều trị nội trú do hậu quả của tai nạn Nếu không xác định được mức thu nhậpnày, sẽ căn cứ vào mức lương tối thiểu hiện hành Khoản thiệt hại về thu nhậpnày không bao gồm những thu nhập do làm ăn phi pháp mà có

+ Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần

Thiệt hại về tính mạng của người thứ ba bao gồm:

+ Chi phí hợp lý cho việc cho việc chăm sóc, cứu chữa người thứ batrước khi chết (xác định tương tự như ở phần thiệt hại về sức khoẻ)

+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng người thứ ba (những chi phí do thủtục sẽ không được thanh toán)

+ Tiền trợ cấp cho những người mà người thứ ba phải nuôi dưỡng (vợ,chồng, con cái…đặc biệt trong trường hợp mà người thứ ba là người lao độngchính trong gia đình) Khoản tiền trợ cấp này được xác định tùy theo quy địnhcủa mỗi quốc gia, tuy nhiên sẽ được tăng thêm nếu hoàn cảnh gia đình thực sựkhó khăn

Như vậy, toàn bộ thiệt hại thực tế của bên thứ ba được tính như sau:

(của bên thứ ba)

Trang 27

Việc xác định số tiền bồi thường được dựa trên hai yếu tố đó là:

- Thiệt hại thực tế của bên thứ ba;

- Mức độ lỗi của chủ xe trong vụ tai nạn

Được tính theo công thức:

Trên thực tế, nếu người thứ ba là người không có thu nhập từ lao động (trẻ

em chưa đến tuổi lao động, người tàn tật không có khả năn lao động… ); hoặc cóthu nhập thấp thuộc các đối tượng chính sách của Nhà nước bị chết, nhưng giađình nạn nhân không được hưởng các khhoản mất, giảm thu nhập do khi cònsống người này không phải nuôi dưỡng người khác… thì một khoản tiền bồithường sẽ được trả trên tinh thần nhân đạo

Trong trường hợp có cả lỗi của người khác gây thiệt hại cho bên thứ ba thì:

Số tiền ﴾Lỗi của Lỗi Thiệt hại của

Bồi thường = chủ xe + khác﴿ x bên thứ 3

Sau khi bồi thường, công ty bảo hiểm được quyền đòi lại người khác số thiệthại do họ gây ra theo mức độ lỗi của họ Cần nhắc lại rằng, công ty bảo hiểm bồithường theo thiệt hại thực tế nhưng số tiền bồi thường không vượt quá mức giớihạn trách nhiệm của bảo hiểm

V.CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NGHIỆP VỤ

*Kết quả kinh doanh của một nghiệp vụ bảo hiểm, một loại hình bảo hiểm và

của cả doanh nghiệp bảo hiểm được thê hiện ở hai chỉ tiêu chủ yếu là: Doanh thu

và lợi nhuận

Trang 28

Doanh thu của một doanh nghiệp bảo hiểm phản ánh tổng hợp kết quả kinhdoanh trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), bao gồm: các bộ phậncấu thành doanh thu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm; thu nhập

từ hoạt động đầu tư và các khoản thu khác

Lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm được tính như sau:

LNtrước thuế = DT - CF LNsau thuế = LNtrước thuế - TTN

Với: - LN: Lợi nhuận

- DT: Doanh thu

- CF: Chi phí

Trong đó, tổng chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm là toàn bộ các khoản chi phục

vụ cho toàn quá trình hoạt động kinh doanh trong vòng một năm

Các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận cũng được tính riêng cho từng loạinghiệp vụ Nhưng khi tính toán cần chú ý: những khoản chi nào có liên quan trựctiếp đến nghiệp vụ phải được tính trực tiếp cho nghiệp vụ đó (như phí bảo hiểm ,chi bồi thường, & ); những khoản thu, chi gián tiếp (chi quản lý doanh ghiệp, thunhập đầu tư & ) phải được phân bổ theo tỷ lệ giữa doanh thu phí bảo hiểmnghiệp vụ so với tổng doanh thu phí bảo hiểm nói chung

* Hiệu quả kinh doanh

- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là thước đo sự phát triển củabản thân doanh nghiệp và phản ánh trình độ chi phí công việc tạo ra những kếtquả kinh doanh nhất định, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

- Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh chỉ có thể được xác định bằng tỷ lệ so sánhgiữa kết quả và chi phí Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so với

Trang 29

một chỉ tiêu phản ánhchi phí ta được một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh Do bảohiểm không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tính xã hội nên khi đánh giá hiệuquả kinh doanh của một doanh nghiệp bảo hiểm ta phải trên góc độ cả về kinh tế

và về dịch vụ phục vụ

- Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm được thể hiện qua hai nhóm chỉ tiêu Nhóm chỉtiêu phản ánh hiệu quả kinh tế và nhóm chỉ tiêu phản ánh hiêụ quả xã hội

+ Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

Ðứng trên góc độ kinh tế: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm được

đo bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận với tổng chi phí

H d = C D (1)

L

(2) Trong đó: H ,H : Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm tính theodoanh thu và lợi nhuận

D : Doanh thu trong kỳ

L : Lợi nhuận thu được trong kỳ

C : Tổng chi phí chi ra trong kỳ

Chỉ tiêu (1) nói lên: cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêuđồng doanh thu

Chỉ tiêu (2) phản ánh: cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm

+ Chỉ tiêu hiệu quả xã hội

Ðứng trên góc độ xã hội, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểmđược thể hiện qua hai chỉ tiêu sau:

Trang 30

C : Tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong kỳ

Kbt Số khách hàng được bồi thường trong kỳ

Ktg Số khách hàng được tham gia bảo hiểm trong kỳ

Chỉ tiêu (3) phản ánh: cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ đã thu hút đượcbao nhiêu khách hàng tham gia bảo hiểm

Chỉ tiêu (4) nói lên : cùng với một đồng chi phí đó đã góp phần giải quyếtkhắc phục hậu quả cho bao nhiêu khách hàng gặp rủi ro trong kỳ nghiên cứu Nếu xem xét ở từng mặt, từng khâu và từng nghiệp vụ bảo hiểm có thể tínhđược các chỉ tiêu hiệu quả khác để phục vụ cho quá trình đánh giá và phát triểnhoạt động kinh doanh Tuy nhiên, tất cả các chỉ tiêu hiệu quả đều phải đảm bảonguyên tắc khi xây dựng là: mỗi chỉ tiêu phải phản ánh được trình độ sử dụngloại chi phí nào đó trong việc tạo những kết quả nhất định

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm tốt phụ thuộc vào hiệu quảkinh doanh của từng loại hình nghiệp vụ bảo hiểm Do vậy, nâng cao hiệu quảkinh doanh của từng nghiệp vụ sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh chung của toàndoanh nghiệp bảo hiểm tăng lên, đáp ứng nhu cầu kinh tế- xã hội, giúp doanhnghiệp bảo hiểm tồn tại và phát triển, cạnh tranh được với các doanh nghiệp bảohiểm khác

Trang 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ

BA TẠI BẢO LONG HÀ NỘI (GIAI ĐOẠN 2001 _ 2005)

I GIỚI THIỆU VỀ BẢO LONG HÀ NỘI

1 Quá trình thành lập và cơ cấu tổ chức của công ty

1.1Quá trìng thành lập

Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng gọi tắt là Bảo Long Hà Nội được thành lập

và chính thức đi vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm vào ngày 11/7/1995 theo giấy phép số 1529/ GP- UB ngày 11/7/1995 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, với sự góp vốn của nhiều doanh nghiệp lớn, có uy tín hoạt động trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, dịch vụ … như: Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), công ty cổ phần ngoại thương và phát triển đầu tư Thành

Trang 32

phố Hồ Chí Minh (FIDECO), công ty thương mại kỹ thuật và đầu tư (PETECH),ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VIETCOMBANK) ngân hàng thương mại

cổ phần á Châu (ABC), ngân hàng thượng mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam (MFB), Tổng công ty dịch vụ An Phú (ASC), và một số công ty khác…

Là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhânthọ tại Việt Nam, quan nhiều năm thử thách và tự khẳng định mình, Bảo Long

đã có bước đi vững chắc và đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường Bảohiểm Việt Nam Năm 1995 vốn điều lệ công ty là 24 tỷ đồng, chủ yếu hoạt độngtại thị trường Hà Nội và Thành Phố Hồ Chi Minh, đến nay vốn điều lệ Bảo Long

đã lên tới gần 100 tỷ đồng và công ty đã mở rộng phạm vi hoạt động trên toànquốc với các chi nhánh tại Hà Nội, Phú Yên, Khánh Hoà, Vũng Tàu Cần Thơ,

Đà Nẵng.Và hệ thống Tổng đại lý bảo hiểm trên khắp các tỉnh thành phố, trụ sởchính của công ty đặt tại Quận I- Thành Phố Hồ Chí Minh, cơ cấu tổ chức công

ty bao gồm Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, 10 phòng ban, 9 chi nhánh và trên

10 văn phòng đại diện trên cả nước Sau 9 năm đi vào hoạt động hiện nay công

ty đã thực hiện hoạt động kinh doanh trên 40 nghiệp vụ ( trừ bảo hiển Hàngkhông) đã đạt mức tăng trưởng doanh thu bình quân 40%/ năm

1.2 Cơ cấu tổ chức của Bảo Long

Cơ cấu tổ chức của Bảo Long Hà Nội:

Để đáp ứng nhu cầu kinh doanh và nhằm mục tiêu tăng trưởng thị phần, ngày29/10/1996 công ty đã quyết định mở chi nhánh ở miền Bắc tại 52 Lý ThườngKiệt, Quận Hoàn Kiến TP Hà Nội và đến ngày 03/01/2004 chuyển về 30 LiễuGiai, Quận Ba Đình, Hà Nội Cho đến nay đã 8 năm đi vào hoạt động chi nhánh

đã từng bước hoàn thiện cả về măt tổ chức cũng như kinh doanh

Trang 33

Về mặt tổ chức do công ty bảo hiểm Nhà Rồng - Chi Nhánh Hà Nội mới đi vàohoạtt đông chưa lâu, công việc nhiều nên để đảm bảo hiệu quả công việc Chinhánh đã tổ chức bộ máy quản lý một cách gọn nhẹ, hợp lý như sơ đồ 2

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của Bảo Long Hà Nội

Giám đốc chi nhánh là người chịu trách nhiệm chỉ đạo toàn bộ hoạt độngkinh doanh, đại diện cho chi nhánh chịu trách nhiệm về mặt pháp lý cho các giaodịch của Chi nhánh Giám đốc cùng các phòng, ban có chức năng điều hành hoạtđộng và quyết định mang tính chiến lược, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triểncủa Chi nhánh Giám đốc là người chịu trách nhiệm giám sát trực tiếp các phòngban

Các phòng đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc Căn cứ vào tình hìnhnhiệm vụ đặt ra, tổ chức giới thiệu và bán sản phẩm sao cho hoàn thành vượtmức chỉ tiêu kế hoạch Đồng thời tổ chức các bô phận khai thác giám định, bồithường một cách khoa học và hợp lý, giải quyết các khiếu nại nhanh chóng,thuận tiện và chính xác nhằm nâng cao uy tín của công ty đối với khách hàng

& rủi ro kỹthuật)

P.Kế toán&

Tổng hợp

Các P

Bảo Hiêm khu vực

Trang 34

Năm 2004 Bảo Long Hà Nội triển khai thêm phòng bảo hiểm khu vực tại GiaLâm, Từ Liêm và phố Vọng, dự định trong thời gian tới công ty sẽ mở thêm cácchi nhánh khác nhằm tăng thị phần và tăng doanh thu phí.

2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng:

hồ sơ, xem xét và giải quyết bồi thường với mức phân cấp

Về mặt kinh doanh, do nhiệm vụ chủ yếu của chi nhánh là mở rộng thịtrường phía Bắc chủ yếu tập trung vào các nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm

Phòng nghiệp vụ I chịu trách nhiệm hướng dẫn và quản lý về nghiệp vụbảo hiểm vật chất xe cơ giới và nghiệp vụ bảo hiểm con người

Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, Chi nhánh là đại diện duynhất ở miền Bắc của công ty hiện nay trong khai thác, giám định bồi thường vànhiều dịch vụ liên quan khác, do đó Chi nhánh được phép triển khai hầu hết cácnghiệp vụ mà công ty được phép kinh doanh Cho tới nay, chi nhánh đă triểnkhai gần 20 nghiệp vụ bảo hiểm tập trùn chủ yếu vào xe cơ giới, bảo hiểm hànghoá vận chuyển, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm con người, bảo hiểm hoảhoạn và rủi ro đặc biệt Chi nhánh còn chịu trách nhiệm thành lập và quản lý cáctổng đại lý ở các tỉnh và thành phố Các tổng đại lý này được hỗ trợ về mặtnghiệp vụ và tài liệu và chỉ khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới

Trang 35

 Phòng NV II

Chuyên kinh doanh về các nghiệp vụ hàng hải và rủi ro kỹ thuật, nhiệm vụ của phòng là hoàn thành kế hoạch do chi nhánh đặt ra Phòng được phân cấp chỉ đạo và quản lý nghiệp vụ hàng hải Cán bộ công nhân viên của phòng có nhiệm

vụ khai thác và giám định về: Tàu thuyền, hàng hoá trên tàu và hàng hoá trong kho và các nghiệp vụ về xây dựng và kỹ thuật Với đội ngũ nhân viên trẻ trung

và năng động, cùng với phòng nghiệp vụ I đã hoàn thành vựơt mức kế hoạch đã đặt ra

3 Tình hình hoạt động chung của Bảo Long Hà Nội trong một vài năm gần đây

3.1 Các nghiệp vụ dang được triển khai

Trang 36

Hiện nay Bảo Long triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu sau đây(trong đó Bảo Long Hà Nội được phép kinh doanh hầu hết các nghiệp vụ):

* Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu

* Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong nước

* Bảo hiểm tàu thuyền

* Bảo hiểm tai nạn thuyền viên

* Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt

* Bảo hiểm tài sản và thiệt hại

* Bảo hiểm kĩ thuật

* Bảo hiểm trách nhiệm

* Bảo hiểm tai nạn con người

mở thêm nhiều chi nhánh ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước: Phú Yên,

Trang 37

Khánh Hoà, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Cần Thơ và đã triển khai hầu hết các nghiệp

vụ bảo hiểm hiện có trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

Đầu năm 2003 Bảo Long đã được tổ chức United Registrar of Systems(URS) của Anh Quốc cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng quản lýtheo ISO 9001:2000 Bên cạnh đó Bảo Long còn hợp tác chặt chẽ với nhiều công

ty bảo hiểm trong và ngoài nước nhằm trao đổi kinh nghiệm, đào tạo kỹ năng,nâng cao chất lượng dịch vụ, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ bảo hiểm và tái bảohiểm để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng theo phương châm “An toànnhất, tin cậy nhất, hiệu quả nhất”

Trang 38

Bảng 1 Tình hình kinh doanh của công ty qua một số năm:

Tổng lợi tức trước thuế 5,177 6,107 8,293 13.36

Nguồn: công ty Bảo Long Hà Nội

Bảng 2 Doanh thu của chi nhánh qua một số năm:

Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn: chi nhánh Bảo Long Hà Nội

Đối với chi nhán Bảo Long Hà Nội, đay là chi nhán được thành lập đầu tiêncủa Bảo Long Về mặt kinh doanh, chi nhánh tại Hà Nội triển khai kinh doanhcác nghiêp vụ bảo hiểm gốc tại địa bàn Hà Nội và các tỉnh phía bắc.Do chinhánh cũng là đại diện của Công ty tại miền bắc nên hiện nay Chi nhánh triểnkhai hầu hết các nghiệp vụ mà Công ty được phép kinh doanh Hiện nay, Chinhánh tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm hàng hoávận chuyển,bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm con người, bảo hiểm hỏa hoạn

Ngày đăng: 12/04/2013, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Bảo Hiểm - Bộ môn kinh tế bảo hiểm - Trường đại học KTQD Hà Nội (chủ biên: PGS.TS Hồ Sỹ Sà) Khác
2. Giáo trình quản trị Kinh doanh Bảo hiểm - Bộ môn kinh tế bảo hiểm - Trường đại học KTQD Hà Nội (chủ biên: TS Nguyễn Văn Ðịnh) Khác
3. Luật kinh doanh Bảo hiểm - NXB Chính trị Quốc gia Khác
5. Tạp chí Bảo hiểm năm _ Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam 2001, 2002, 2003, 2004 Khác
6. Báo cáo tài chính - Công ty Bảo Long Hà Nội 2001, 2001, 2002, 2003, 2005 7. Quy tắc thực hành bảo hiểm xe cơ giới_ Bảo Long Hà Nội Khác
8. Thông tin trên trang Web: www.nharonginsurance.com.vn 9. Một số tài liệu liên quan khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của Bảo Long Hà Nội - Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức của Bảo Long Hà Nội (Trang 33)
Bảng 3: Số lượng xe tham gia giao thông. - Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội
Bảng 3 Số lượng xe tham gia giao thông (Trang 42)
Bảng 5. Tình hình bồi thường nghiệp vụ trong năm 2002 _ 2005. - Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội
Bảng 5. Tình hình bồi thường nghiệp vụ trong năm 2002 _ 2005 (Trang 53)
Bảng 7. Hiệu quả kinh doanh trong năm 2001 - 2005 - Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nghiệm dân sự(BHTNDS ) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bảo Hiểm Nhà Rồng _ Bảo Long Hà Nội
Bảng 7. Hiệu quả kinh doanh trong năm 2001 - 2005 (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w