Đã có ít nhiều công trình, bài viết đề cập đến tiểu thuyết về đề tài chiến tranh những năm gần đây nhưng chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống tiểu thuyết của
Trang 1của Nguyễn Xuân Thủy)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Tú
HÀ NỘI, 2013
Trang 2Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của gia đình, thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sự kính trọng sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Thanh Tú - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt qua trình hoàn thành luận văn này Thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi những vấn đề vô cùng bổ ích và luôn tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi học tập
và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Lí luận văn học, khoa Ngữ Văn và Phòng Sau đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và do bản thân khai thác và do sự chỉ bảo tận tình của người hướng dẫn, không sao chép bất kì tài liệu nào
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Ngọc
Trang 41 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: NHÀ VĂN, TIỂU THUYẾT VÀ CHIẾN TRANH 9
1.1.Những vấn đề chung về tiểu thuyết 9
1.2 Các thế hệ nhà văn viết tiểu thuyết về đề tài chiến tranh 13
1.2.1 Từ 1975 đến 1986 13
1.2.2.Từ 1986 đến nay 14
1.3.Tiểu thuyết trong việc miêu tả chiến tranh 16
CHƯƠNG 2: BA TIỂU THUYẾT – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 19
2.1.Hiện thực chiến tranh 19
2.1.1.Cuộc sống chiến tranh trong thời đánh Pháp 19
2.1.2.Cuộc sống thời hậu chiến 22
2.1.3.Cuộc sống nơi đảo xa 24
2.2.Thân phận con người 28
2.2.1.Con người là nạn nhân của chiến tranh 28
2.2.2.Con người – những tính cách phức tạp, những số phận trái ngang 30
2.2.3 Con người làm chủ cuộc sống 38
Trang 53.1.Các mô hình không gian cơ bản 42
3.1.1 Không gian chiến trường 42
3.1.2.Không gian hiện thực đời thường 46
3.1.3.Không gian lãng mạn đầy chất thơ 51
3.1.4 Không gian tâm linh, huyền thoại 56
3.2.Nghệ thuật xây dựng nhân vật 57
3.2.1 Nhân vật người lính – hình tượng trung tâm 58
3.2.1.1.Người lính với những suy tư, trăn trở 59
3.2.1.2.Người lính đối mặt với những bi kịch cuộc sống 62
3.2.1.3.Người lính trong đời thường 67
3.2.2 Nhân vật người nông dân 72
3.2.3 Nhân vật người phụ nữ 75
3.2.4 Nhân vật thanh niên 79
3.3.Ngôn ngữ và giọng điệu đặc trưng 80
3.3.1 Ngôn ngữ thông tục 82
3.3.2.Ngôn ngữ giàu cảm xúc được cá thể hóa 86
3.3.3.Một giọng điệu mới: cảm thương 88
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
- Chúng tôi chọn tiểu thuyết là thẻ loại để nghiên cứu vì: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian”(Từ điển thuật ngữ văn học) Theo M.Bakhtin, “tiểu thuyết
là thể loại duy nhất đang sinh thành và chưa hoàn kết” Do thường xuyên tiếp xúc với “cái hiện tại chưa hoàn thành”, nên tiểu thuyết, bên cạnh việc không ngừng mở rộng sức chứa, củng cố các đặc điểm thi pháp của thể loại…, còn kịp thời bao quát, chuyển tải những vấn đề lớn lao của hiện thực đời sống, do vậy nó còn cập nhật những vấn đề mang ý nghĩa thời sự
- Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn biến chuyển, do đó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực Có thể coi đây là thể loại lực lưỡng mà nhanh nhạy trong việc tái hiện những vấn đề lớn lao của hiện thực đời sống
- Chiến tranh nhìn từ góc độ nhân tính tự nhiên là một hiện tượng bất thường, bởi trước nay nó luôn đem lại cho cả hai bên tham chiến sự thù hận
và những mất mát, đau thương Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mĩ của dân tộc ta đã đi qua nhiều năm nhưng nỗi đau trong lòng người vẫn
âm ỉ khôn nguôi và cho đến hôm nay, chiến tranh vẫn đang có nguy cơ hiện hữu, có thể nó sẽ xảy ra ở một hoàn cảnh khác, không gian khác và có thể khác cả về tính chất Vì vậy, chiến tranh vẫn luôn là một trong những đề tài hấp dẫn để nhiều cây bút trong trong và ngoài quân đội suy ngẫm, khám phá, tái hiện và sáng tạo Không chỉ có những cây bút, những nhà văn trong thời chiến mới có thể viết và hiểu về thời chiến mà còn có cả những cây bút trẻ sống trong thời kì hòa bình vẫn có thể viết về chiến tranh, tái hiện lại chiến tranh một cách chân thực và sâu sắc
Trang 7- Các cuộc vận động sáng tác văn học của Bộ Quốc phòng diễn ra 5 năm một lần đã thu được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, nhất là ở thể loại tiểu thuyết, đặc biệt là đợt tổng kết năm 2009 Góp phần vào dòng chảy của văn
học viết về đề tài chiến tranh, có thể kể đến các tiểu thuyết: Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy), Bên dòng Sầu Diện (Nguyễn Đình Tú), Biển xanh màu lá
(Nguyễn Xuân Thủy) Đây là ba tác phẩm cung cấp thêm những cái nhìn, tiếng nói, có thể chưa phải là mới mẻ nhưng đáng trân trọng về hai cuộc chiến tranh đã qua và công cuộc bảo vệ đất nước hôm nay Những tác phẩm này giúp chúng ta phần nào thấy được sự vận động của văn học Việt Nam hôm nay nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng
- Chiến tranh và người lính vẫn là đề tài có sức hút mạnh mẽ trong sáng tác của các nhà văn quân đội Đã có ít nhiều công trình, bài viết đề cập đến tiểu thuyết về đề tài chiến tranh những năm gần đây nhưng chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống tiểu thuyết của các nhà văn mặc áo lính nhưng chưa từng cầm súng trực tiếp đánh giặc Bởi vậy, lựa chọn
đề tài Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh của ba nhà văn trẻ, người viết muốn
phần nào đưa ra cái nhìn khái quát, hệ thống về tiểu thuyết đề tài chiến tranh những năm gần đây, đặc biệt là đi sâu vào những tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ này
2 Lịch sử vấn đề
- Đã có một số bài viết mang tính giới thiệu về văn học chiến tranh và
các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh, cụ thể về ba tác phẩm Màu rừng
ruộng của Đỗ Tiến Thụy, Biển xanh màu lá của Nguyễn Xuân Thủy, Bên dòng Sầu Diện của Nguyễn Đình Tú của các tác giả Nguyễn Thanh Tú (Bên dòng Sầu Diện – cách tiếp cận chiến tranh của các nhà viết trẻ), Đoàn Minh
Tâm (Tiểu thuyết của các cây bút trẻ, đọc và cảm nhận)… trên các báo, tạp chí… như Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ trẻ Gần đây, có một số công trình
Trang 8bước đầu nghiên cứu sâu hơn về mảng sáng tác này, chẳng hạn, Ngô Thị Hải
Vân với Sự vận động của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 – Nhìn từ
nhân vật (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Hà Nội 2011)
Luận văn này đã cho chúng ta thấy hệ thống nhân vật của các tiểu thuyết được quan tâm một cách riêng rẽ, có đánh giá một cách hệ thống về phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật trong từng tác phẩm Lê Thị Hạnh
trong Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 – 2009 về đề tài chiến
tranh (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội, 2011) đã phần nào nhận
diện và cắt nghĩa những đổi mới về không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh, dĩ nhiên, có đề cập đến ba tiểu thuyết trên
Ngoài ra có thể kể đến các bài viết mang tính gợi ý như Cách tiếp cận
chiến tranh của người viết trẻ, eVan, 2011 nhìn ở góc độ giọng điệu cho rằng Bên dòng Sầu Diện đã góp phần làm mới thể loại tiểu thuyết viết về chiến
tranh bằng chất giọng cảm thương, điều mà trước đó ít xuất hiện Bài Đề tài
chiến tranh: Món nợ dài cuả các nhà văn, Phạm Thành Chung, Văn hóa Thể
thao, Công An Nhân dân, 2008 cho thấy, để có những trang viết vừa hay vừa chân xác về hai cuộc chiến tranh thần thánh mà dân tộc ta đã trải qua, đòi hỏi các nhà văn Việt Nam phải hội tụ trong mình nhiều yếu tố: Không chỉ là tài năng, mà còn phải có thêm một cách nhìn minh triết
Trong một bài trả lời phỏng vấn Nguyễn Đình Tú cho biết,Bên dòng Sầu Diện được in ở NXB Quân đội Nhân dân, khi anh biết nó được in thì sách
đã xuất xuống đơn vị, không thể nào mua thêm được ngoài 10 cuốn sách biếu của tác giả Vì thế sách không có mặt ngoài thị trường, và đương nhiên, báo chí cũng như rất nhiều bạn đọc yêu quý văn Nguyễn Đình Tú không hề biết đến cuốn tiểu thuyết này của anh Bạn đọc có thể đặt ra câu hỏi vì đây là cuốn tiểu thuyết viết về một đề tài quá nghiêm túc - chiến tranh - mà nó bị bạn đọc thờ ơ nên không thể có mặt ngoài thị trường?
Trang 9Tiểu thuyết này được viết theo bút pháp truyền thống quen thuộc mà ngay cách chia phần, phần 1-Những tháng ngày xa; phần 2- Những ngày tháng chưa xa; phần 3- Hiện hữu, đã nói lên một kết cấu hiền lành tuân theo
trật tự thời gian Trong các phần lại được chia thành các chương rõ ràng, mỗi chương được triển khai theo một chủ đề, rành mạch
Trong bài viết Điểm nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, Trần Tố Loan nhận xét: “Ở Bên dòng Sầu Diện, trường nhìn của nhà văn đặt
vào thị trấn An Lạc - thị trấn Nét Mặt Buồn nằm lọt thỏm giữa núi Cô Hồn và dòng Sầu Diện, trong đó, có những không gian nhỏ hơn như Xóm Đáy, xóm Khơ me, phố Phủ Từ… Trong không gian ám ảnh và có tên gọi gắn với huyền thoại tự tạo ấy, nhà văn kể câu chuyện về cuộc đời nhân vật Minh Việt từ khi
ra đời đến lúc già cả Và theo bước chân hành quân của Minh Việt, không gian mở rộng tận Sài Gòn nhưng không thật ấn tượng”
Về điểm nhìn thời gian, trục thời gian trong các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú thường là hiện tại-quá khứ hoàn thành-quá khứ-hiện tại tiếp diễn.Bên dòng Sầu Diệnmở đầu bằng sự chào đời của Minh Việt, tiếp đó
là câu chuyện về những ngày đã xa của Nguyên Bình, Mến…; những tháng ngày chưa xa của Việt, bè bạn, người thân rồi trở về hiện tại Trong hồi ức của bố Việt, có câu chuyện về tuổi học trò, ngày đầu tham gia cách mạng, gặp lại người bạn học Tuấn Thành, cuộc gặp gỡ với Mến-mẹ của Minh Việt…Tiếp đó, Minh Việt kể lại những chặng đường, những bước ngoặt lớn của đời mình cho đến giây phút anh đứng ở núi Cô Hồn nhìn về An Lạc, nghĩ đến quá khứ
Trong bài viết Sắc màu nhân gian trong tiểu thuyết “Màu rừng ruộng”
Bùi Công Thuấn phân tích: “Cảm giác khó chịu về mặt ngôn ngữ đầy ứ lên, ngán ngẩm Rừng và Ruộng là hai không gian khác nhau Tiếng Việt chưa hề
có sự ghép đôi như thế bao giờ Chỉ có những từ như “ruộng đồng, ruộng đất,
Trang 10ruộng nương, ruộng bậc thang…” hay “rừng hoang, rừng rú, rừng xanh núi
đỏ, rừng nguyên sinh…” Có thể cách đặt tên và màu sắc của Màu rừng
ruộng làm giảm sự chú ý của người đọc khi họ tiếp cận với nhiều cuốn sách
“Con ơi! Làm trai phải hùng tâm tráng chí núi rộng sông dài, chứ bằng lòng ở nhà như thế khác nào kiếp ếch, có ềnh oang cho lắm cũng chỉ vang động được đáy ao làng” Vinh lại đi thi và rớt đại học lần nữa Nỗi tủi nhục chồng chất Người tình âm thầm của Vinh là chị Miền (hơn Vinh 10 tuổi) bị ép duyên lấy ông Ét làm Vinh đau đớn tuyệt vọng, anh tình nguyện đi khám tuyển bộ đội Đoàn quân của anh trở lại chiến trường xưa ở Tây Nguyên để tìm hài cốt đồng đội trên núi Saman, tìm hài cốt phi công Mỹ Ở đây Vinh chứng kiến bao nhiêu sự việc của người lùn Rơ Mâm làng Sập Khi tìm được mộ hài cốt những người lính đặc công năm xưa bị Mỹ sát hại, Vinh lại trúng mìn chết ở tuổi hai mươi Trước khi nhắm mắt, Vinh nói với anh Tấn - người đội trưởng đội quy tập K20 - ước vọng được chôn ở Khu Rừng Say” Đây là bài phân tích khá sâu, có chính kiến rõ ràng về một tác phẩm cụ thể
Trang 11Gần đây trong bài Tiểu thuyết sử thi và sự đổi mới thi pháp - báo Quân
đội nhân dân tác giả Nguyễn Thanh Tú viết: “Từ góc nhìn đời tư cho thấy, tiểu thuyết hôm nay quan tâm đến việc xây dựng hình tượng người lính như những số phận cá nhân hơn là với hình tượng của một người anh hùng Con người không chỉ là nhân chứng cho các biến cố lịch sử mà chính các biến cố
ấy trở thành phương tiện để các nhà văn khám phá bản chất, số phận nhân
vật” Điều này đúng với tiểu thuyết Màu rừng ruộng, có Vinh - nhân vật chính trong Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, ra trận là một sự chạy trốn
Anh chạy trốn khỏi nỗi buồn, nỗi xót xa khi người con gái anh thương mến đi lấy chồng Mà lại là lấy một ông chồng già đã có 8 đứa con Đám cưới diễn ra khi bà vợ cả vừa mất, còn đắp chiếu để đấy: “Vâng, tôi muốn đi khỏi cái làng Bùi tin hin ngột ngạt Trong mọi con đường ra đi không con đường nào danh
dự bằng con đường đi lính” Vinh đã nghĩ như thế
Bài viết “Người lính đảo trong Biển xanh màu lá của Hương Nhài in
trên mục Văn hóa - Nghệ thuật - báo Làng Việt nhận xét: “Nhà văn Nguyễn
Xuân Thủy đã viết cuốn sách mang tên Biển xanh màu lá nhằm giới thiệu với
độc giả cả nước những nét đẹp về Trường Sa Chúng ta sẽ tìm thấy những số phận, cuộc đời của những người chiến sỹ, cán bộ, quân dân đang sinh sống, làm việc, bảo vệ vùng đất thiêng liêng Trường Sa, Hoàng Sa Những cuộc sống có thực của các chiến sỹ trên đảo mang nét tự nhiên, mộc mạc, vui buồn với biết bao kỉ niệm là những mảnh ghép cuộc sống đẹp về người lính được
nhà văn ghi chép viết lại trong tâm trạng đầy cảm xúc
Tác phẩm là những phác họa rõ nét về người lính vùng đảo, mang thông điệp: Hãy hướng về những người lính đảo và làm đẹp thêm hình ảnh của họ bằng những việc làm có ý nghĩa”
Nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết: “Tiểu thuyết Biển xanh màu lá viết
về số phận của cán bộ, chiến sĩ, quân dân đang sinh sống, làm việc và bảo vệ
Trang 12vùng đất thiêng Trường Sa, Hoàng Sa Chúng ta gọi những con người bình dị, quả cảm ấy bằng cái tên chung: quân dân Bởi ngoài những người lính biển, còn có cả những người dân đảo”.
Như vậy có thể nói, chưa có bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về ba tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ mà chúng tôi đã nêu trên Đây vừa là cơ hội, vừa là khó khăn cho chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu các vấn đề đặc sắc của các tiểu thuyết này từ hai phương diện cơ bản là nội dung và hình thức biểu hiện
3 Mục đích nghiên cứu
Triển khai luận văn, chúng tôi hướng tới mục đích:
- Tìm hiểu cái nhìn, quan niệm của các nhà tiểu thuyết trẻ viết về chiến tranh hôm nay (chúng tôi quan niệm các nhà văn trẻ là những người ở độ tuổi dưới bốn mươi), qua đó, chỉ ra sự khác biệt giữa hai thế hệ sáng tác về cùng một đề tài
- Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của ba tiểu thuyết, cắt nghĩa thành công của các tác giả về đề tài này, chỉ ra và lý giải mối quan hệ giữa vốn sống thực tế và đối tượng phản ánh (các nhà văn này chưa
hề trực tiếp cầm súng đánh trận)
Trên cơ sở đó, góp phần chỉ ra sự vận động về mặt thể loại của tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh từ sau 1975, nhấn mạnh hơn ở giai đoạn từ 2004 - nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng: Ba tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: hệ thống những chi tiết, nhân vật theo các luận điểm, luận cứ làm sáng tỏ các nhận định đưa ra Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá để có cái nhìn bao quát những vấn đề của tác phẩm, đồng thời đưa ra những ý kiến chủ quan của người viết
- Phương pháp so sánh: chúng tôi cũng tiến hành so sánh thể loại tiểu thuyết với các thể loại văn học khác trong cùng một thời kì, so sánh tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trước đổi mới và sau đổi mới, đối chiếu về mặt nội dung và hình thức thể hiện để từ đó thấy được ý đồ sáng tác cùng tư tưởng của nhà văn
- Vận dụng hướng nghiên cứu thi pháp học, phong cách học
6 Đóng góp của luận văn:
- Đóng góp về mặt lí luận: Trên cơ sở phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của ba tác phẩm trên luận văn góp phần chỉ ra sự vận động về mặt thể loại của tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh sau 1975 đặc biệt là giai đoạn từ 2004 đến nay
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp thêm
tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại đặc biệt là thể loại tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được triển khai trong ba
chương:
Chương 1: Nhà văn, tiểu thuyết và chiến tranh
Chương 2: Ba tiểu thuyết – nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3: Ba tiểu thuyết – nhìn từ phương diện nghệ thuật
Cuối cùng là Thư mục Tài liệu tham khảo
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHÀ VĂN, TIỂU THUYẾT VÀ CHIẾN TRANH
1.1 Những vấn đề chung về tiểu thuyết
Ở phương Tây, tiểu thuyết có mầm mống ban đầu từ các tác phẩm tự sự, thường là thể loại anh hùng ca, đó là những tiểu thuyết kị sĩ với những biến cố
và tình huống phi thường Về nguồn gốc của thể loại, các nhà nghiên cứu, mà
tiêu biểu là V.Biêlinski đã rất có lý khi cho rằng tiểu thuyết hình thành khi
vận mệnh con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức" và "đời sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung của anh hùng ca Hy Lạp, nhưng lại có thể là nội dung của tiểu thuyết
Thế kỷ 20 tiểu thuyết phương Tây phát triển trong sự đa dạng đối nghịch nhau về nhiều mặt, bên cạnh những thành tựu của tiểu thuyết hiện thực với khuynh hướng hiện thực phê phán hoặc khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, hướng sáng tác mới của M Proust, J Joyce, F Kafka lại cho thấy một loạt các nguyên tắc tiểu thuyết vốn đã thành truyền thống trước kia bị biến đổi: độc thoại nội tâm bao trùm tác phẩm như một thủ pháp của tiểu thuyết dòng ý thức; sự xáo trộn liên tục các bình diện thời gian và không gian, các mảng đời sống hiện thực hòa quyện cùng huyền thoại, xuất hiện người kể chuyện không toàn năng khi trong lời kể có cả cái biết và cái không biết, cái khách quan lẫn chủ quan Các vấn đề về "ngôi" và "thời" của lời trần thuật và các "điểm nhìn" trần thuật trở thành chìa khóa cho việc đọc tiểu thuyết theo khuynh hướng phức điệu, đa thanh Bên cạnh đó, các trào lưu tư tưởng đương thời như hiện tượng học, thuyết phi lý, chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, hậu hiện đại, phê bình nữ quyền, hậu thực dân cũng góp phần tạo ra những dạng thức như phản tiểu thuyết, tiểu thuyết mới, hoặc làm nảy sinh tư tưởng về nhân vật biến mất, hoặc tiểu thuyết cáo chung v.v
Trang 15Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn
xuôi trung đại như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo,
Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả thế kỷ 14-16 đã đặt những nền móng sơ
khai cho tư duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu tố truyền thuyết, thần thoại, cổ tích đến giai đoạn phản ánh những chuyện đời thường
Thế kỷ 18 cho thấy sự nở rộ thể loại tự sự với các tác phẩm như Thượng kinh
ký sự (ký) của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút (tùy bút) của Phạm Đình Hổ và
đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu
thuyết, là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc
sắc Hoàng Lê nhất thống chí tái hiện một cách sống động bức tranh xã hội
rộng lớn thời vua Lê, chúa Trịnh thông qua kết cấu chương hồi tương tự tiểu thuyết thời Minh-Thanh tại Trung Hoa Yếu tố đời tư và mạch tự sự trong các
truyện Nôm khuyết danh và hữu danh đương thời như Hoa tiên, Nhị độ mai,
Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa và Truyện Kiều cũng ít nhiều góp
phần thúc đẩy sự phát triển của thể loại
Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại Cùng phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: những cây bút nổi tiếng
của Tự Lực văn đoàn, những người đã thúc đẩy sự hình thành thể loại như Nhất
Linh, Khái Hưng, Thạch Lam và những nhà văn hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng
Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tưởng,
Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc) Ít nhiều tiểu thuyết sử thi Việt Nam có thành tựu với đề tài hoành
tráng và dung lượng đồ sộ, mà một trong số đó là Vỡ bờ của Nguyễn Đình
Trang 16Thi, Sóng Ngầm của Nguyên Hồng Sau 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam
sang trang mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh,…
có nội dung sâu sắc hơn về thân phận con người và có dấu hiệu manh nha hệ hình văn chương hậu hiện đại về mặt nghệ thuật biểu hiện
Tiểu thuyết có nhiều dạng thức kết cấu tùy theo yêu cầu của đề tài, chủ
đề hoặc theo sở trường của người viết Thậm chí người ta còn cho rằng, về nguyên tắc, tiểu thuyết không có một hình thức thể loại hoàn kết, bởi vì nó là
"sử thi của thời đại chúng ta", tức là sử thi của cái hiện tại, cái đang hàng ngày hàng giờ đổi thay, bởi vì điều quan trọng đối với nó là sự tiếp xúc tối đa với cái thực tại dang dở "chưa xong xuôi", cái thực tại đang thành hình, cái thực tại luôn bị đánh giá lại, tư duy lại Tuy thường gặp những kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lý, kết cấu luận đề, kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến v.v tiểu thuyết vẫn không chịu được những chế định chặt chẽ, nó không có quy phạm cố định và người viết thậm chí có thể phá vỡ những khuôn mẫu sẵn có
để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các hình thức kết cấu khác nhau Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm Thông
thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện Tuy sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng "tôi", cũng có thể là
một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn
trần thuật Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng "tôi" được "san sẻ" cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm
Trang 17Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn
và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là một
thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình
Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không
những chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật cái ác, cái bi bên cạnh cái hài v.v
Ở phương diện cuối cùng, tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng
hợp Nó có thể dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách
nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ (những rung động tinh tế), kịch (xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật của những loại hình ngoại biên như hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanh âm), điêu khắc (sự cân xứng, chi tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức màn hiện thực); và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng khác.v.v Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợp này của thể loại, như Tolstoi với tiểu thuyết-sử thi, Dostoevski với thể loại tiểu thuyết-kịch, Solokhov với tiểu thuyết anh hùng ca-trữ tình, Roman Roland với tiểu thuyết-giao hưởng v.v
Riêng với tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở nước ta, có cả những tác giả sống trong thời chiến viết về chiến tranh và có cả những tác giả sống trong thời bình cũng viết về chiến tranh Tất cả đều muốn có cái nhìn riêng
về đề tài chiến tranh sau 1975, đặc biệt là những tiểu thuyết gần đây như:
Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, Biển xanh màu lá của Nguyễn Xuân
Trang 18Thủy và Bên dòng Sầu Diện của Nguyễn Đình Tú mà chúng tôi sẽ đề cập đến
Từ 1975-1986 một loạt các tiểu thuyết như: Vùng trời của Hữu Mai,
Những tầm cao của Hồ Phương, Dòng sông phẳng lặng của Tô Nhuận Vĩ
Đội ngũ đông đảo các nhà văn đã cho ra đời những tiểu thuyết khá ấn tượng:
Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn
Minh Châu); Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Tri Huân); Đất miền Đông (Nam Hà); Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh); Nắng đồng bằng (Chu Lai);
Người lính mặc thường phục (Mai Ngữ); Sao đổi ngôi (Chu Văn)…
Trong bài viết: Người lính trong văn xuôi viết về chiến tranh của các
nhà văn cầm súng (VNQĐ, 4/1995), Tôn Phương Lan đã có sự khái quát về
hình tượng người lính trong tiểu thuyết thời kì 30 năm kháng chiến chống thục dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược cũng như do cần đổi mới ở thời kì sau 1975: “Viết về đề tài chiến tranh, về chủ nghĩa anh hùng, hình tượng anh bộ đội trong các sáng tác văn xuôi của thời kì chống Mĩ đã hiện ra với vẻ đẹp lộng lẫy mang tính chất sử thi Chúng ta đã tiến hành chống xâm lược của một
Trang 19siêu cường quốc Nếu không có phẩm chất tốt đẹp kia thì chúng ta không thể làm nên chiến thắng song dù là cuộc sống trong chiến tranh thì cuộc sống đố vẫn có những quy luật nhất định-quy luật của cuộc đời Những mặt trái của con người, của đời sống chiến tranh chưa được đề cập đã trở thành những hạn chế Đó là lí do khiến cho sau 1975, văn xuôi viết về chiến tranh cũng vẫn do những nhà văn mặc áo lính đảm nhận đã nhanh chóng tìm sự hòa nhập chung vào sự đổi mới của văn học và người chiến sĩ viết văn lại bước vào một sự thử thách mới của bản lĩnh nghè nghiệp họ sẽ nhìn chiến tranh trong thời bình
như thế nào để vẻ đẹp lộng lẫy của chiến tranh hòa với vẻ đẹp của sự giản dị,
đời thường
1.2.2 Từ 1986 đến nay
Đây là thời kì văn học đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc Giai đoạn này các thể loại phát triển vô cùng phong phú và đề tài chiến tranh không còn giữ vị trí độc tôn nhưng hình tượng người lính vẫn là hình tượng phổ biến trong văn học
Văn học giai đoạn này gắn liền với nhu cầu “nói thẳng, nói thật” trong quá trình đổi mới tư duy và về cơ bản tả thực trong tiểu thuyết sau 1986 khác với tả thực theo quan niệm truyền thống
Sau 1986 thì điều kiện đã cho phép chúng ta nhìn thẳng vào bản chất
khốc liệt của chiến tranh để miêu tả, khám phá, phát hiện và sáng tạo (Ăn mày
dĩ vãng - Chu Lai; Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh; Đất trắng và Mây cuối chân trời - Nguyễn Trọng Oánh ) Ở ngày hôm nay, tiểu thuyết về đề tài
chiến tranh còn vận dụng cả cách kể bi kịch hóa trần thuật, kể về cuộc chiến bằng cái nhìn bi kịch Nhà văn miêu tả chi tiết những cái chết bi thương: “Lửa cháy, đạn nổ, đạn vạch đường rừng rực, chói lòa, nhằng nhịt trước mặt Những người chạy, người ngã vật xuống, máu xối ruột lòi, những mảnh thi
thể cả ta cả địch văng lên trong ánh lửa” (Những bức tường lửa) Có những
Trang 20cái chết cháy vì bom na pan đã biến những người lính (Thoan, Đại) từ những thanh niên đẹp, cường tráng thành “những cục đen sì nham nhở nằm trên mặt đất”: “Đại có vẻ còn nhiều da thịt hơn nhưng vì thế mà trông nó lại càng đáng
sợ Bộ răng của nó trắng nhởn, chìa ra, hai cái hốc mắt bây giờ chỉ còn là hai
cái hốc thô lố, một dòng nước sền sệt đen từ đó rỉ ra như nước mắt” (Những
bức tường lửa) Các nhà tiểu thuyết đã để cho nhân vật - người trong cuộc suy
nghĩ về chiến tranh: “Chiến tranh dài quá! Hy sinh mất mát nhiều quá!” (Lâm
trong Khúc bi tráng cuối cùng), “bom đạn mù trời, cuộc đời đo bằng gang tấc” (Toản trong Thượng Đức) Sự ác liệt tàn bạo của chiến tranh làm cho
con người sống trái với lẽ tự nhiên, nó cướp đi những khao khát bản năng bình thường nhất, giản dị, đơn sơ nhất Một mảnh đối thoại sau tưởng như vô tình nhưng lại tố cáo mạnh mẽ sự khủng khiếp của chiến tranh
Về cảm hứng, bên cạnh cảm hứng sử thi của tiểu thuyết viết về chiến tranh nói chung và tiểu thuyết trong giai đoạn này nói riêng mang thêm cảm hứng nhân bản và cảm hứng bi kịch Nếu trước đây, với cảm hứng sử thi, văn học chủ yếu quan tâm đến con người tư cách xã hội, với tư cách là động lực cách mạng, thì giờ đây, trong sự đổi mới của quan niệm hiện thực và quan niệm về con người, tiểu thuyết đặt con người trong mối quan hệ với cái thường ngày, lấy cá nhân con người làm chất liệu soi ngắm mọi giá trị
Tiểu thuyết ở giai đoạn này, con người ở cả hai phía ta và địch đều được khám phá và thể hiện khá toàn diện Họ được soi ngắm ở cả hai phía, ánh sáng và bóng tối, sự cao cả và sự thấp hèn, cả phần mạnh mẽ và yếu đuối… Soi ngắm ở nhiều góc độ như thế nên con người được trả về với bản chất đích thực của nó Ngay cả những con người dũng cảm, kiên cường, mưu trí cũng
có những giây phút mềm lòng trước sự khốc liệt của chiến tranh, thậm chí hoài nghi chiến tranh
Trang 21Nếu trước 1986, tiểu thuyết vẫn chủ yếu nhìn con người cá nhân ở góc
độ xã hội, thì sau 1986 tính toàn diện về con người đã được bộc lộ và thể hiện trong tác phẩm Đó là cá tính nhiều mặt, nhiều dáng vẻ của con người ở tư cách cá nhân, cá thể Khuynh hướng ca ngợi phẩm chất những con người giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, con người mang đậm phẩm chất tâm hồn Việt, dần nhường chỗ cho sự nhìn nhận con người dưới góc độ đời tư mang tính chất “phi sử thi hóa” (Trần Đình Sử)
Sau 1986, con người không chỉ được mổ xẻ ở vấn đề đạo đức nhân cách trong mối quan hệ với sự kiện lịch sử mà còn được nhìn dưới nhiều góc độ, ở
cả con người tự nhiên, con người xã hội, con người tâm linh Qua mỗi đề tài, chủ đề về con người, nhà văn đã phát huy cái đa diện, đa tầng vừa gai góc trần trụi, vừa thẳng thắn chân thành, vừa băn khoăn suy tư, vừa hoài nghi tự vấn, vừa lo lắng hoang mang trước “phần nhân tính dư thừa chưa được thể hiện” (M Bakhtin) của con người Đó cũng là một hành trình nghệ thuật khó khăn đòi hỏi các nhà tiểu thuyết phải luôn tự đổi mới thể loại
Có thể nói rằng, tiểu thuyết Việt Nam còn đang ở trong giai đoạn vận động, phát triển, hướng về phía trước Chúng ta có quyền đặt một niềm tin: mỗi tiểu thuyết là một cách đào sâu hơn về cõi người, cõi đời để đạt được một tầm sâu cho nhận thức về cõi nhân sinh
1.3 Tiểu thuyết trong việc miêu tả chiến tranh
Tiểu thuyết là một thể loại văn học phù hợp với nhiều đề tài trong đó có
đề tài chiến tranh Có thể nói, trong sự phát triển 50 năm của văn học hiện đại Việt Nam, mảng văn học về đề tài chiến tranh với nhiều thể loại: thơ ca, truyện ngắn, truyện vừa, kịch, kí, tiểu thuyết chiếm vị trí rất quan trọng cả về
số lượng lẫn chất lượng Tiểu thuyết dường như đã phát huy được lợi thế về dung lượng khi tiếp cận mảng hiện thực trải dàn trên một không gian rộng lớn
Trang 22kéo dài từ Bắc tới Nam, từ cao nguyên tới đồng bằng, gắn với khoảng thời gian 40 năm chiến tranh
Cảm hứng sử thiluôn gắn liền với tiểu thuyết viết về chiến tranh được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào, ngợi ca của tác giả về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh chung
Cảm hứng sử thi hào sảng đã tạo ra những nhân vật đậm chất lý tưởng, tỏa chiếu ánh sáng lý tưởng soi rọi, hướng bạn đọc đi về phía cái cao cả, cái anh hùng Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh, nhân vật người anh hùng
và người lính luôn là nhân vật trung tâm của tác phẩm Nhân vật anh hùng sử thi luôn hiện diện song hành cùng sức mạnh thể chất và tài năng, phẩm chất đạo đức, là người anh hùng toàn thiện toàn mỹ và trở thành “khuôn vàng thước ngọc” về vẻ đẹp vật chất và sức mạnh đạo đức của con người thời đại Tiểu thuyết sử thi thường có một kết cấu hoành tráng với nhiều kiểu kết cấu khác nhau: kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lí, kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến; với đầy dủ toàn bộ những yếu tố, thành phần được sắp xếp, gắn kết với nhau; với sự logic giữa nội dung và hình thức Tất cả đều hướng đến sự hoàn thiện cho thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng Bên cạnh cảm hứng sử thi, tiểu thuyết hôm nay còn có cả cảm hứng bi kịch, cảm hứng thế sự_đời tư, cảm hứng diễu nhại Nhưng trong cái dàn nhạc đa âm sắc ấy, giọng điệu sử thi vẫn là giọng điệu chủ âm Dưới đây chúng tôi xin sơ lược giới thiệu ba tiểu thuyết mà chúng tôi lấy đó làm đối tượng nghiên cứu
Tác phẩm Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy không hẳn là một tiểu
thuyết hoàn toàn viết về chiến tranh, nhưng tác giả đã cố gắng mang lại cho cuốn sách phảng phất hào khí lịch sử chiến đấu của dân tộc trong quá khứ là cuộc kháng chiến chống Mỹ Qua cuộc đời của Vinh, mảng vỡ của những ký
ức, buồn, đẹp lẫn lộn hay mảnh vỡ của những giấc mơ tuổi trẻ, sự tàn khốc của chiến tranh hiện lên rõ nét Điểm lôi cuốn nhất ở quyển tiểu thuyết đầu
Trang 23tay của Đỗ Tiến Thụy chính là sự miêu tả chân thực, sống động, đủ mang đến cho độc giả nhiều cảm xúc: Hân hoan, xao xuyến trước vẻ đẹp của tình yêu, của ruộng đồng Xúc động trước sự chân thành và những giấc mơ phiêu bồng của tuổi trẻ chưa thành hiện thực
Biển xanh màu lá là một nhan đề khá biểu cảm và … lạ Biển, bản thân
nó đã biểu trưng cho một màu sắc riêng, một vẻ đẹp riêng … Đây là một thực
tế ở Trường Sa được tác giả Nguyễn Xuân Thủy tái hiện lại qua câu chuyện của mình Ở Trường Sa có rất nhiều vùng biển nước màu xanh lá cây, do độ sâu và nền san hô trắng phía đáy được ánh nắng phản chiếu tạo nên màu sắc
kỳ lạ, nhìn rất quyến rũ Nhưng Biển xanh màu lá cũng còn có ý nghĩa khác,
đó là biển trong mắt người trẻ, cách nhìn của người trẻ, của lính trẻ về cuộc
sống, về lý tưởng, về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Cảm hứng bi kịch trong tác phẩm Bên dòng Sầu Diện được thể hiện rõ
nét qua sự oanh liệt của những người lính tham gia chiến tranh và cả những đau thương mà những người lính phải gánh chịu sau chiến tranh Nguyễn Đình Tú đã đặt các nhân vật phát triển trong một thời gian mang tầm sử thi, trong không gian đặc tả với cái nhìn về người lính hiện ra từ nhiều chiều khiến người đọc cảm nhận rõ nét về chiến tranh và những gì còn lại sau chiến tranh
Tiểu kết:
Nhìn chung tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh và người lính đã bộc lộ được những ưu thế của mình trên văn đàn và đã có những cố gắng, bứt phá, dịch chuyển trên con đường đổi mới để đáp ứng những nhu cầu của bạn đọc Các nhà văn đã chú ý miêu tả nhiều và sâu hơn đến tâm lí nhân vật, vào cái thế giới bên trong của mỗi con người Có thể nói rằng các tiểu thuyết viết
về đề tài chiến tranh và các nhà văn hầu như đã xác định được thiên chức của mình trong việc phản ánh đời sống, đưa văn học trở về đúng với đặc trưng cơ bản của nó, và văn học ngày càng trở nên đời hơn, người hơn
Trang 24CHƯƠNG 2
BA TIỂU THUYẾT – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1 Hiện thực chiến tranh
Nguyễn Minh Châu trong bài “Viết về chiến tranh” cũng khẳng định:
“Hình như trong ý niệm sâu xa của con người Việt Nam chúng ta hiện thực của văn học đôi khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang ước mơ…” Như vậy hiện thực trong tiểu thuyết chiến tranh là gì? Liệu có phải là sự tàn khốc mà nó để lại trong mỗi con ngườii chúng ta dù là có tham gia chiến tranh hay không
Chiến tranh dù là ở đâu thì nó luôn luôn diễn ra khốc liệt với bao hiện thực đau thương của con người trong chiến tranh Đó là cuộc chiến không cân sức giữa con người và vũ khí hiện đại của bọn đế quốc, những khổ đau, mất mát, hy sinh gian khổ mà con người phải chịu trên chiến trường…và day dứt
âm thầm hơn là bi kịch số phận của họ khi chiến tranh kết thúc Tất cả là những điều các tác giả viết về đề tài chiến tranh muốn viết, muốn hiểu được nó
2.1.1 Cuộc sống chiến tranh trong thời đánh Pháp
Cùng một đề tài chiến tranh nhưng mỗi nhà văn lại có cách viết riêng Người thì viết về sự tàn khốc, sự hủy diệt của chiến tranh, người thì viết về sự
ác liệt, dữ dội của những chiến dịch…
Vấn đề đầu tiên có thể nói đến đó là cuộc sống trang chiến tranh thời
đánh Pháp Trong tác phẩm Bên dòng Sầu Diện của tác giả Nguyễn Đình Tú cuộc sống trong chiến tranh được tác giả miêu tả vô cùng khốc liệt: “Bỗng
“đoàng…đoàng…ù….chéo” Súng từ trong nhà Lúa Vàng khạc ra lửa chiu chíu Anh Hồng đang đi bỗng nhảy dựng lên, giật giật mấy cái, hai tay chới với như cố rút súng ra lại vừa như muốn bám víu vào một cái gì đó Chân anh vừa như muốn bước lại vừa như cố trụ lại cho vững Chiếc mũ vải trên đầu
Trang 25anh bị hất bay đi Đầu anh Hồng lúc này như một quả dưa nứt, máu trộn với một thứ dịch như cháo loãng ứa ra ” [36, tr 21] Sự hy sinh của nhân vật
Hồng là một sự bất ngờ và tạo cho ta cảm giác sợ hãi đến rợn người Nếu nói nơi đâu tàn khốc và đau thương nhiều nhất thì đó là trong chiến tranh
Còn với những trận đánh và những tình huống bất ngờ của nó: “1 giờ 55
phút trận đánh bắt đầu Tiếng bộc phá nổ ở phía kho xăng cùng với vệt sáng hắt lên nèn trời là tín hiệu cho các mũi tiến công đồng loạt khai hỏa
Trung đội trưởng Nguyên Bình khi tiến quân vào đền Bà Sùng không ngờ tới khả năng đội Ngự lâm quân công giáo có thể vượt dải đầm ruộng chỉ trong vài phút bằng ca nô do người Pháp trang bị Khu đầm này thông ra với sông Sầu Diện….lực lượng trinh sát cảu bộ đội An Lạc không tính đến chiếc
ca nô vẫn nằm như một con sư tử ngủ trên mặt đầm sâu nhà thờ…lực lượng phục kích bị vây hãm Trung đội của Nguyên Bình bị đánh tạt sườn, đành chững lại, không phát triển, thọc sâu được nữa, phải mất gần 1 tiếng sau mới tạm đẩy lui được lực lượng dân binh của Cha Phăng Mục tiêu Bà Sùng đành phải bỏ ngỏ, đến khi tổ chức tấn công tiếp thì trời đã gần sang…Nguyên Bình lệnh cho toàn trung đội rút lui, anh cùng một tổ ở lại vừa chặn địch vừa rút sau Rút ra tới giữa thị trấn thì Nguyên Bình trúng đạn….Thiết giáp của Pháp đang nghễu nghện bò đi bò lại trên con đường dẫn ra bến đò Lãng Tiên Phía kho xăng và kho vũ khí tiếp tục dội lên những quầng lửa đỏ cùng những tiếng
nổ lúc rời rạc, lúc liên hồi…Cuộc tập kích đã thành công, đúng như kế hoạch” [36, tr 54-56]
Tuy là thành công nhưng sau mỗi trận chiến là những vết thương cả về thể xác lẫn tâm hồn của con người đều bị một nỗi ám ảnh ghê sợ đó là sự khốc liệt của chiến tranh
Cái điều cơ bản nhất mà tiểu thuyết Bên dòng Sầu Diện của tác giả
Nguyễn Đình Tú hướng tới là nói về số phận của con người Hầu như các
Trang 26nhân vật trongBên dòng Sầu Diệnđều bị chi phối, ảnh hưởng, tác động bởi chiến tranh Nhìn ở góc độ này, tác phẩm là sự tố cáo, lên án chiến tranh mà
kẻ thù tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại đã gieo xuống mảnh đất yêu thương này Những trò chơi hồn nhiên của trẻ em có tội tình gì mà bị bom thù phá nát Cái tên An Lạc mang khát vọng về sự bình yên, sung sướng mà lại chẳng hề “an lạc” vì sự cướp bóc, chém giết, đốt phá của lũ giặc, hết Pháp rồi đến Mỹ Viết về con người trưởng thành, được tôi luyện bản lĩnh, ý chí trong chiến tranh hoặc là nạn nhân của chiến tranh thì đã có rất nhiều người khai thác, tìm hiểu Không muốn lặp lại, Nguyễn Đình Tú đã tiếp cận ở góc độ chiến tranh làmtha hoácon người mà biểu hiện rõ nhất qua nhân vật Nguyên Bình Trong một trận đánh với quân Pháp ở vùng đất Lãng Tiên, trung đội trưởng Nguyên Bình bị thương nặng rồi lạc đơn vị, may mắn được một cô gái (Mến - mẹ đẻ của Minh Việt) cứu sống và cưu mang chạy chữa cho đến khi lành khỏi vết thương Nguyên Bình ra đi để lại cho ân nhân của mình cái thai đang dần lớn lên Thế mà đến ngày hoà bình Nguyên Bình nhẫn tâm từ chối gặp gỡ người vừa là ân nhân cứu mạng vừa là vợ và cự tuyệt giọt máu của mình
Xét về bản chất, Nguyên Bình không phải là người xấu, bằng chứng là trước đó, trong chiến tranh anh ta là một người lính dũng cảm, sau chiến tranh anh ta là một cán bộ cần mẫn, chăm chỉ, và là một người chồng, một người cha chu đáo với vợ con Nhưng vì sao lúc đó anh ta lại là kẻ tha hoá khốn nạn như vậy? Hãy đặt con người ấy vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, quân ta đang chuẩn bị trở về vùng địch đã từng tạm chiếm để tiếp quản, người Pháp đang xúi giục giáo dân bỏ nhà cửa đất đai theo Chúa vào Nam, cũ mới đang nhập nhoà lẫn lộn, địch ta chưa thể phân biệt rõ ràng, nếu Nguyên Bình nhận vợ con tức là tự thú nhận tội gian dối tổ chức, nguy hiểm hơn là tội có quan hệ mật thiết với “người của phía bên kia” vì Mến là giáo dân rất gần gũi với cha Phăng - một kẻ phản động đội lốt tôn giáo Dĩ nhiên, nếu bị kết tội
Trang 27Nguyên Bình sẽ mất hết mọi quyền lợi chính trị, con đường công danh đang rộng mở sẽ trở nên tăm tối Và anh ta đã chấp nhận là kẻ phản bội tình yêu, kẻ cạn tàu ráo máng chịu phán xử của toà án lương tâm để được yên thân Thì ra chiến tranh không chỉ là máu lửa, là sự tàn phá, mất mát mà nó còn len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống để phá hoại những hạnh phúc bình thường nhất của con người, có khi bắt người ta phải trở thành kẻ tha hoá khác với bản chất của mình, mà trường hợp Nguyên Bình là một ví dụ
Cuộc sống thời chiến tranh thật khốc liệt, dữ dội, ranh giới giữa sự sống
và cái chết thật mỏng manh, mọi con người đều hối hả, lo âu nhưng không run
sợ: “Cháy rồi! Cháy rồi!” Bỗng có tiếng hô của ai đó bật ra từ duới hố trú
ẩn cá nhân Tiếng hô ấy ngay lập tức kéo thành một chuỗi hò reo vui mừng Nhưng những tiếng reo hoan hỉ ấy không kéo dài được lâu Trên trời vẫn sầm sập những bất trắc và chỗ này, chỗ kia của thị trấn vẫn bùng lên những cột khói hình nấm trước khi xòe ra như một đám mây đen Minh Việt lao vào dòng người tiếp đạn đang hối hả dưới chân hào quang ụ pháo “Bê năm hai! Kìa bê năm hai!” Những tiếng kêu ngạc nhiên, cả chút lo âu ập vào tai Minh Việt
- Sập cầu Lãng Tiên rồi!” [36, tr 189-191]
Chiến trường là nơi đối đầu giữa ta và địch, nơi diễn ra các trận đánh Song dù có ác liệt đến dâu chăng nữa thì chiến trường trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn là một chiến trường “đẹp”, ở đó con người Việt Nam hiện lên với vẻ đẹp anh hùng lí tưởng, con người thể hiện trí thông minh tuyệt vời, một niềm tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng và thành công của sự nghiệp cách mạng mà mình đang theo đuổi
2.1.2 Cuộc sống thời hậu chiến
Cuộc sống của con người sau chiến tranh hiện lên trong Màu rừng ruộng
mang màu sắc cảm thương rõ nét Ở sự miêu tả bữa cơm, không như cảnh chị
Dậu ngày xưa nhưng đọc lên sao mà xót xa: “Nồi cơm toàn sắn lát đen sì, chỉ
Trang 28có một bát gạo đổ chon von vào giữa Chị Sự khéo tay dùng đũa cả khoét lấy một bát cho bà, còn thì đánh lộn lên Một hạt cơm cõng mười lát sắn Bà nội không đành lòng, nhanh tay đổ bát cơm trắng vào nồi rồi giành đũa cả đánh lẫn để chi Sự không kịp can Bà bảy hai tuổi rồi , răng không còn một chiếc, vậy mà vẫn móm mém cười:
- Nhai sắn vừa thơm vừa bùi, ăn cơm không nhạt lắm!
Nhìn bà trệu trạo nhai sắn, Vinh lén quay đi dấu nước mắt”…[34, tr 7]
Mở đầu tác phẩm là một bữa cơm trong nồi chỉ có một bát cơm còn đâu
là độn toàn sắn đen, thức ăn là của chuối mà “sáng nay mẹ sai Vinh đi đào củ chuối” Cuộc sống của người dân thời hậu chiến đến cơm còn không có mà
ăn, cái đói bao phủ cả làng Bùi như một đám mây đen nặng trĩu nước đang chực trút xuống cuộc sống của con người
Hòa bình liệu có thể xóa nhòa tất cả? Cuộc sống của con người trong thời hậu chiến được tác giả Đỗ Tiến Thụy viết cuốn tiểu thuyết đầu tay có tên
Màu rừng ruộng trên hai cảm hứng chủ đạo là nông thôn và người lính Chia
sẻ về quan điểm "tác phẩm xứng tầm của văn học đề tài chiến tranh" này Đỗ Tiến Thụy có nói: “Tôi nghĩ, những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh sẽ phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt trong cơ chế thị trường Những người viết
về chiến tranh sẽ ít đi nhưng chất lượng nghệ thuật trong tác phẩm buộc phải tăng lên Thay vì trông chờ vào sự tiếp sức từ những tổ chức nhà nước bỏ tiền đầu tư cho sáng tác để rồi sách in ra… "ngủ ngon" trong các thư viện, nhà văn
sẽ phải tự thân vận động để tiếp cận đề tài, tìm tòi nghệ thuật thể hiện mới nếu không muốn bị độc giả quay lưng Tôi sinh ra trong chiến tranh, gia đình tôi mấy thế hệ là người lính, 4 người chú của tôi là liệt sĩ, mấy người nữa là thương binh; bản thân tôi là lính, thường xuyên tiếp xúc với những câu chuyện chiến tranh… Tất cả tạo thành một bầu khí quyển chiến tranh bao quanh tôi từ bé cho đến giờ, nên lẽ dĩ nhiên khi viết tôi phải chọn viết về cái
Trang 29mình hiểu nhất, thế thôi "Hiện thực" không chỉ là những gì mình tai nghe mắt thấy Nếu nó chỉ là những gì mình chứng kiến theo nghĩa vật chất có thể "tiêu hết" thì còn chỗ nào cho trí tưởng tượng của nhà văn? Tôi quan niệm hiện thực giống như một "đường băng" nghệ thuật Từ "đường băng" ấy những ý tưởng sáng tạo sẽ cất cánh Còn "bay" được đến đâu lại tùy thuộc vào tài năng của mỗi nhà văn
Cuộc sống thời hậu chiến và những con người bước ra từ chiến tranh dường như không thể bắt kịp với những thay đổi của cuộc sống Sau chiến tranh hàng chục năm trời, hành trình hòa nhập với cuộc đời, với đời sống của con người bình thường là một điều khó khăn Con người mong muốn một cuộc sống ấm no, hạnh phúc khi chiến tranh đã kết thúc nhưng sự tàn phá và
dư âm của chiến tranh không thể một sớm một chiều có thể xóa bỏ được và để vượt qua con người phải tìm cho mình một hướng đi đúng đắn với ý chí kiên cường và vững vàng
2.1.3 Cuộc sống nơi đảo xa
Sau chiến tranh, đất nước đi vào thời kì hòa bình thống nhất Thế nhưng chiến tranh chưa thể là câu chuyện của ngày hôm qua, vẫn còn đó những đống hoang tàn đổ nát, những di chứng của chiến tranh, và biết bao ngổn ngang của thời hậu chiến Hậu quả, mặt trái của cuộc chiến vẫn đeo bám, in dấu trên từng gương mặt, số phận
Vậy thì sự trăn trở của những nhà văn trẻ viết tiểu thuyết về đề tài chiến tranh là gì? Liệu họ có phải trực tiếp tham gia chiến đấu, tiếp cận trực tiếp với
sự tàn khốc của chiến tranh thì họ mới có thể hiểu và viết về chiến tranh hay như thế không?
Khác với các nhà văn như Nguyễn Đình Thi với Xung kích, Võ Huy Tâm với Vùng mỏ, Nguyên Ngọc với Đất nước đứng lên v.v Những tiểu thuyết là
đã làm sống lại hình ảnh của cuộc kháng chiến trường kì và anh dũng của
Trang 30toàn dân ở nhiều địa phương, trên nhiều mặt trận, trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách Giai đoạn này là giai đoạn tôn vinh các anh hùng dân tộc với
sự dũng cảm và những chiến thắng của họ Nhưng ở ngày hôm nay thì khác
Một tác phẩm viết về cuộc sống của người lính trên đảo Biển xanh màu
lá của Nguyễn Xuân Thủy đã phản ánh một cách toàn diện cuộc sống của
những người lính gìn giữ biên cương trên đảo Trường Sa “… đây là một trong
ba đảo cấp một trong quần đảo, và đảo này có diện tích lớn nhất Đảo không đến nỗi trơ trọi lắm, tuy nhiên không có cây to hay cổ thụ Toàn đảo chỉ rộng khoảng hai cây số vuông là cùng Còn bốn bề là biển xanh” [35, tr.27]
“Quang “cháy” và Mạnh mỗi đứa mang một chiếc que sắt phi sáu, dài đến một mét, nhọn hoắt, một đầu uốn cong thành tay cầm Mỗi đứa xách một chiếc đèn nạp pin Quang mặc quần sóoc, đi dép, còn mạnh thay mảnh bao tải bọc chân lúc đi biẻn banừg hai chiếc dép khác chủng loại, chiếc màu xanh, chiếc màu đỏ nhìn rất buồn cười….Phương đi theo Quang vòng vèo quanh các đường hào, hang hốc, bụi cây bão táp một vòng mà chưa tiêu diệt được mục tiêu nào Có gặp mấy con nhưng nó chạy nhanh quá chui tọt vào các khe giữa các tảng san hô, khe đá kè hào trốn mất… Quang và Phương vòng về khu vực bếp ăn và bể nước, thấy có tiếng kêu oe óe như tiếng trẻ con khóc, liên tục và khẩn thiết nghe rợn cả người Thằng Mạnh đang loay hoay ở đầu khe giữa bể nước và tường nhà, một tay ấn chặt xiên một tay bấm đèn pin vào khe hở Thấy bọn Quang đến nó kêu toáng lên:
- Nhanh lên, lại đây giúp em với Em này to quá, nhanh lên Mẹ kiếp, xiên đúng đùi…
- Thế là xong tháng chín Còn ba em nữa là đủ năm ” [35, tr 71-74]
Câu chuyện bắt chuột tưởng chừng là việc đơn giản, việc ngoài lề nhưng
đó là chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ của người lính trên đảo
Và khi những người lính đảo nhớ người yêu: “Quang “cháy” lại có cách
nhớ người yêu kiểu khác Chủ nhật nào nó cũng vẽ Một tập giấy A4, một nắm
Trang 31bút chì từ cỡ HB đến 5B, một cuốn sách “Tự học vẽ” và một viên tẩy là hành trang của nĩ khi ra đảo Nĩ thường vẽ các người mẫu thời trang, diễn viên điện ảnh trên các tạp chí hoặc từ mớ tranh ảnh của ai đĩ trong phịng Mấy chục tờ đủ các gương mặt, các kiểu dáng người đẹp mà nếu khơng cĩ ghi chú thì chẳng ai biết đấy là Mai Thu Hiền, Hồng Nhung hay Thanh Lam Mạnh
„ngơ đồng‟ thì cĩ người bạn là chiếc đàn bầu…Mạnh đã dự thi vào Nhạc viện
Hà Nội nhưng bị trượt…” [35, tr 134-135]
Những người lính sống trên đảo với điều kiện tự nhiên vơ cùng khắc
nghiệt: “Và giơng bão đã đến thật rồi Cả bầu trời như đổ ụp xuống Vần vũ
Thét gào Nước biển sơi lên, dựng thành những cột sĩng dập tung vào nhau ở trên khơng Bụi nước bay mù mịt Mặt biển như một chảo dầu sơi cuồng bạo Từng bụi cây trên đảo như co cụm lại, dẹp mình xuống run rẩy, sợ hãi Bã ù
ù kéo đến ….Chiếc vịi rồng di chuyển với vận tốc chĩng mặt To dần lên lừng lững phía biển Mọi người chưa hết bàng hồng thì Tùng “tốc” lại kêu lên như thức tỉnh: Nĩ di chuyển về phía mình Mọi người như chợt tỉnh, trạm trưởng tiến vội hơ khẩu lệnh: Tìm chỗ ẩn nấp Chiếc vịi rồng rầm rầm đổ bộ lên đảo, chạm bờ rồi, khơng cịn nước để cuốn nĩ kéo theo cả một xốy nước lên bờ rồi mất dạng, lập tức những bụi cây như cĩ một bàn tay vơ hình túm lấy xốy trịn mà vặt, và ngay lập tức mọi người lại thấy nĩ hiện hữu dọc bờ
kè Đống xi măng bị cuốn lên cùng đá hộc xốy tít cao đến chục mét, cịn trên
đĩ là những chiếc vỏ bao bị cuốn quay trịn nhìn nhỏ như những phong bì thư….Cột lốc xốy xoay một lúc bỗng nhiên tốc độ giảm dần… Lúc đĩ cả trạm mới nháo nhào, những tiếng kêu thất thanh Mọi người chạy bổ về phía Quang “cháy”và Mạnh Các bộ phận khác cũng ào kín sân bĩng… Mười lăm phút sau Mạnh mới tỉnh Ngơ ngác một lúc nĩ mới nhớ lại mọi chuyện May
là chân tay người ngợm khơng việc gì… Sau đĩ là một cơn mưa lớn chưa từng thấy…” [35, tr 291-294]
Trang 32Thiên nhiên vô cùng hung bạo với sức mạnh của nó đã làm cho những người lính trên đảo chưa hết ngạc nhiên đã đến sự sợ hãi Cuộc sống khắc nghiệt như vậy nhưng họ vẫn luôn sống và chiến đấu hết mình để bảo vệ Tổ quốc
Trong gian lao, những người lính đảo xa vẫn chắc tay súng và "chờ giặc tới" vì họ luôn vững niềm tin, yêu Tổ quốc và mang trong mình phẩm chất tốt đẹp của người lính Cụ Hồ Niềm tin tưởng, niềm lạc quan ngời lên từ nụ cười, qua giọng nói, hành động của những người lính Cười trong gian lao thử thách
và những hiểm nguy của cuộc kháng chiến trường kỳ Niềm lạc quan ấy không chỉ được sưởi ấm bằng một con tim, một khối óc mà còn được truyền lửa qua các thế hệ người lính gìn giữ và bảo vệ biên cương, bảo vệ từng mảnh đất, từng mét vuông mặt biển của Tổ quốc
Những ấn tượng sâu sắc để lại trong lòng người đọc là khí phách của người lính đảo, họ vượt lên trên tất cả những thiếu thốn về lương thực và nguồn nước ngọt, vượt qua những cơn lốc xoáy và gió giật mạnh, khi thì rét run người với cái lạnh khi thì cái nóng rám da của vùng biển đảo.Và trong tất
cả những khó khăn ấy, điều khó khăn nhất là các anh phải vượt qua chính bản thân mình Giữa mênh mông chông chênh của biển khơi, sự bao la vô hạn của không gian khiến người ta cảm thấy chơi vơi và cô đơn hơn bao giờ hết
Tuy vậy, những người lính ấy đã biến niềm nhớ nhung, niềm yêu thương gia đình thành động lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ Bởi ngày đêm họ đã và đang đem sự bình yên cho Tổ quốc, cho cả dân tộc, trong đó có người thân của chính các anh Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, những chàng trai không những đem đến niềm tự hào, niềm hạnh phúc cho những người thân yêu mà cả dân tộc cũng hạnh phúc nhờ sự yên bình mà các anh mang lại
Phản ánh và miêu tả, tái hiện được những điều ấy, chúng tôi cho rằng Biển
xanh màu lá đã thành công
Trang 332.2 Thân phận con người
2.2.1 Con người là nạn nhân của chiến tranh
Trong cả hai thời kì chiến tranh và sau chiến tranh con người đều phải gánh chịu những gì tàn khốc và ác liệt nhất của chiến tranh Trong chiến
tranh, số phận con người đặt trong “Một cảm giác sợ hãi lần dọc người
Nguyên Bình, tập trung về mang tai Đánh nhau là thế này ư? Trong những lần tập luyện ở chân núi Cô Hồn, Nguyên Bình chỉ thấy sự lấm láp của đất cát, sự nhễ nhại của mồ hôi chứ chưa thấy máu bao giờ, chưa thấy cái đầu bị bửa đôi nó ra làm sao.” [36, tr 22] Chiến tranh cho con người thấy những gì
họ chưa bao giờ thấy, nghe những gì họ chưa bao giờ nghe Những hình ảnh, tiếng động đó không trở thành những kỉ niệm đẹp với những ai đã tham gia chiến tranh
Còn khi chiến tranh đã kết thúc những điều đáng sợ đó không trôi đi như dòng chảy của thời gian mà nó làm thay đổi con người, trở thành nỗi ám ảnh
của tất cả mọi người: “Chàng trai Minh Việt khỏe đẹp của phố Tứ Phủ ngày
nào giờ đã thay đổi quá nhiều Chính Minh Việt cũng không nén nổi sự buồn tủi khi nhìn dáng hình mình trong gương… Minh Việt phải rời tàu lên trạm xá của xí nghiệp Rồi từ trạm xá lại chuyển sang bệnh viện Bạn bè thủy thủ tới thăm….Đến khi dừng sốt, thân nhiệt quay trở lại ba mươi bảy độ thì Minh Việt phải mang trên mình một hình hài khác Tóc Minh Việt đã bạc hết Tất cả các bắp thịt trên người anh bay biến đi đâu cả… Một chàng trai Bắc Kỳ không còn trẻ nhưng chưa già, chưa vợ con, xa gia đình, không người thân lại ốm yếu bệnh tật…” [35, tr 232-233] Minh Việt đã phải mang trên mình di chứng chất
độc màu da cam do chiến tranh gây ra Di chứng, những gì còn lại sau chiến tranh sẽ không bao giờ mờ đi mà nó theo con người ta suốt cuộc đời
Nhân vật là một yếu tố không thể thiếu trong tiểu thuyết, mà qua đó người đọc có thể tìm thấy “bộ mặt con người” Nó là chiếc cầu nối giữa “cuộc
Trang 34đời thực” với “cuộc đời có vẻ thực” trong tiểu thuyết Nói như Booth, “nhân vật là sự thể hiện con người, chứ không phải chỉ là việc xây dựng hình thức bằng lời” Qua thế giới nhân vật, người đọc sẽ tìm thấy những vấn đề nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm, muốn sẻ chia Vì “nhân vật là yếu tố mang theo cảm hứng nhân văn, là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người”
Xét ở khía cạnh làm mới ở hình tượng nhân vật người lính, Màu rừng
ruộng có những chi tiết thật lãng mạn: “Những đường cày thẳng tắp như kẻ chỉ của Vinh khiến bao người trên đê trầm trồ Chị Miền nghe ồn ào, bỏ cả việc ra xem Chị xuống hẳn bãi xem Vinh cày Mắt chị nhìn rất lạ:
- Vinh định trồng gì?
- Hoa hồng!
Vinh trả lời chị trong khi vẫn rướn mình theo đường cày
- Chị hỏi thật mà Vinh lại đùa
- Em nói thật đấy chứ Em sẽ trồng một vườn hoa hồng thật to cho chị
xem” [34, tr 73]
Ước mơ của nhân vật Vinh về một thế giới mới đẹp như một vườn hoa hồng là niềm khao khát không chỉ của riêng Vinh mà là của tất cả mọi người khi hòa bình lập lại trên quê hương đất nước mình
Hay đơn giản chỉ là ước mơ của Quang “cháy” (Bên dòng Sầu Diện) khi đối mặt với cái chết: “Cõi mơ đã đưa Quang đến một thế giới khác Nơi ấy
không có chiến tranh, không có tranh giành, không có chủ quyền, không có ranh giới Tất cả những cư dân sống hòa thuận, cảnh sinh trù phú, êm đềm với những nàng tiên cá thướt tha trong bộ váy áo kiêu sa Thế giới mà ai đặt chân đến đó sẽ không thể quay về nơi trước đó mình đã sống” [35, tr 329]
Một giấc mơ về một miền đất không bao giờ có thực lại là niềm an ủi cuối cùng trước khi hy sinh của một người lính đảo khiến người đọc không khỏi phải suy ngẫm về cuộc sống, về thân phận của con người
Trang 35Trong thời chiến, do hoàn cảnh con người tự nhiên không được bộc lộ, thay vào đó chỉ là con người chiến đấu, con người xã hội được hiện diện như một hình tượng trung tâm của văn học cách mạng Chiến tranh vốn dĩ là cái không bình thường, nó tước đoạt đi những điều bình thường nhất của con người Vì thế, sau thời bình con người tự nhiên (qua bản năng sống và bản năng dục vọng) được trả về theo đúng nghĩa khiến hình tượng người lính được nhìn lại với những tính chất, màu sắc, thái cực khác nhau trong mối
quan hệ giữa ký ức chiến tranh với cuộc sống đời thường hôm nay: “Các
người không trải qua chiến tranh nên các người không thể hiểu được đâu! Chiến tranh có muôn vàn nỗi đớn đau, mất mát, nhưng cái đớn đau nào giống tôi không? Hơn hai mươi thằng lính quằn quại nằm giữa những làn đạn quất Chết là đương nhiên Chết hai, ba lần ấy chứ Đã chết rồi lại phải bật nẩy lên
vì đạn không ngừng xỉa tới Cho đến lúc tất cả chỉ còn là những cái thây nát bấy, súng địch mới ngừng…” [34, tr 197] Những kí ức chiến tranh không
bao giờ có thẻ quên với ông Bồn và kể cả với những người được nghe câu chuyện ông Bồn kể cứ trở đi trở lại trong trí nhớ của bạn đọc
2.2.2 Con người – những tính cách phức tạp, những số phận trái ngang
Nhân vật chị Miền trong tác phẩm Màu rừng ruộng chỉ vì muốn thay
đổi cuộc đời mình, không muốn phải ở mãi xó nhà quê đó, mà chị dâng hiến thân mình cho anh Sản lái xe…Vinh đã không tin nổi vào mắt mình khi thấy người chị mình vẫn yêu mến sao lại làm việc đó?:
“- Vinh ơi! Chị muốn đi khỏi cái làng này Em không hiểu à? Sao em dại thế?
Nghe chị nói, Vinh như kẻ ngủ mê sực tỉnh Ừ, sao ta dại thế? Vinh thấy mình như một chú nghé ngơ ngác nhấp nhỉnh cánh mũi ướt ròng Nước mắt chị Miền nhỏ xuống gáy Vinh nóng hổi Vinh ngửi thấy có mùi đất cao lanh trộn mùi men vẽ… Đêm ấy Vinh nằm mơ, giấc mơ luôn chấp chới khuôn mặt chị Miền Giấc mơ khiến Vinh rung mình, thấy có một thứ gì đó tháo thoát ra
Trang 36khỏi cơ thể bẫng hẫng như máu rút…” [34, tr 65] Vinh không thể tưởng
tượng nổi, Vinh rợn tóc gáy khi nghĩ về sự thay đổi của con người, đặc biệt là một “thần tượng” như chị Miền Vinh không hiểu từ đâu và vì sao con người lại phải sa ngã, tha hóa như vậy Vì cuộc sống khắc nghiệt với con ngừời, vì con người không chịu đựng được những gì cuộc sống tạo nên, vì họ muốn làm chủ số phận của mình nên họ phải thoát ra, họ vùng vẫy, họ làm tất cả những gì có thể để thoát khỏi cái cuộc sống mòn mỏi, vô vị
Trong dòng nhật kí Phương (Biển xanh màu lá) viết về bố mình: “Bố ạ!
Bây giờ thì con đã ở nơi đây, con đã ra đi để tìm một chân lí, nhưng sao bố
ơi, chẳng lẽ điều đó lại là vô vọng? Thế hệ chúng con sinh ra trong thời bình, không có tiếng súng, không có chiến tuyến, thậm chí chẳng hình dung ra chiến trường nó thế nào Chúng con sống và học tập đấu tranh nhằm chiến đấu với một kẻ thù không rõ hình hài, không hề xuất hiện nhưng chúng con vẫn được giáo dục phải cảnh giác nó, phải đề phòng nó Đôi lúc con thấy điều đó thật xa xôi, chẳng thể nắm bắt…Con đã có mặt ở nơi đây, nơi tận cùng của những khó khăn, của thử thách mong tìm ra chính mình, và con vẫn đang tìm kiếm điều đó Liệu có thấy không hả bố?” [35, tr 38] Phương, một
người lính ra đảo với lòng nhiệt huyết và tinh thần chiến đấu bảo vệ bờ cõi, non sông, đất nước Sự “mong tìm ra chính mình” không chỉ Phương mới có suy nghĩ này, đây là điều tất cả những người lính trên đảo đều mong muốn
Họ mơ ước được chiến đấu bảo vệ Tổ quốc như cha ông họ đã làm trong chiến tranh Họ đang cố gắng tìm ra mục đích của họ bằng việc liên hệ hiện tại trong hòa bình với cuộc song trong quá khứ chiến tranh Họ sẽ thành công
vì họ là những con người sống với niềm tin vào chính mình, họ tin họ sẽ làm chủ được cuộc sống và số phận của họ, tin vào những điều họ làm cho đất nước mình
Trang 37Con người dù ở trạng thái nào, bất kỳ ở đâu, luôn là điều quan tâm chính của mỗi nhà văn Tiểu thuyết lịch sử cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, nó vẫn đi tìm những mạch ngầm về con người ở những tính chất tiêu biểu để viện giải cuộc sống Vẫn là những vấn đề của lịch sử nhưng chúng lại là chiếc cầu nối từ quá khứ đến hiện tại về những vấn đề xã hội, nhân văn và sự sinh tồn của con người Tiểu thuyết đã biến lịch sử thành những thang giá trị cuộc sống mà con người hiện tại quan tâm, mở ra chân trời khám phá mới, phù hợp với tư duy của con người hiện đại trong cảm thức truy vấn những sự thực của lịch sử
Bước vào thời hiện đại - hậu hiện đại, khi nhân loại hoài nghi lý trí và hoài nghi thánh thần, cũng là lúc văn học “thoải mái trộn lẫn cái thường nhật với cái hoang đường” để lý giải cho mọi niềm tin vào trí tưởng tượng và vào
lý trí đã bị phá sản hoàn toàn Đặc biệt khi con người trở nên bơ vơ cô đơn
(nhân vật Lý trong tác phẩm Bên dòng Sầu Diện): “ Lý lại tự ti về nhan sắc
của mình nên hầu như không có bạn Lý lẩn tránh đám con trai phố Tứ Phủ mới ngày nào còn chung những trò chơi con trẻ với Lý Lý rất sợ những lời xì xào, chê bôi của đám thanh niên mới lớn này.”
Trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn trẻ, họ chú trọng đến tính chất
“dị biệt” của con người Đó là những nhân vật chính là Vinh, Minh Việt sinh
ra và lớn lên trong chiến tranh, tham gia chiến đấu và cảm nhận chính xác sự tàn khốc của chiến tranh
Với một loạt các nhân vật như chị Miền, cô Mến, chị Vi Lay, cái Lý, cái Cói, bà Quản, ông Ét, ít nhiều đều mang tính chất khác lạ của con người…
Đây là bức chân dung “dị biệt” của nhân vật bà Quản (Bên dòng Sầu Diện):
“Bà Quản vừa xấu, vừa thô, tính tình lại đồng bóng, thế mà dính vào ông Mật rồi không sao dứt ra được” [36 tr105]
Trang 38“…nhìn bà người ta có thể liên tưởng đến một mụ phù thủy Bà có dáng
đi huỳnh huỵch như vác gạo trên vai (nhưng khi hướng dẫn đám con hoa múa thì lại rất điệu đàng, uyển chuyển), có làn da dày như áo mưa, mặt thô, mắt trắng, bàn tay, bàn chân ráp như vỏ dứa (thế mà nấu ăn lại rất ngon, làm cỗ rất hoạt), có giọng nói khàn khàn, rền rền trong cổ, lại thô, lại tục, lại cứ như xói vào tai người ta (thế mà nghe bà nói chuyện ai cũng há hốc mồm ra) Nhưng ở với bà càng lâu càng thấy bà là người phụ nữ nhân hậu.” [36, tr 111]
Nhân vật bà Quản là một nhân vật không được nhắc đến nhiều lắm trong tác phẩm nhưng có thể nói đây là nhân vật điển hình cho con người với vẻ bề ngoài thô kệch, xấu xí nhưng lại có một tấm lòng tốt bên trong
Họ không phải là mặt trái của xã hội mà có khi chỉ là một góc khuất của
xã hội và đang được tiểu thuyết hướng đến để phản ánh Các nhà tiểu thuyết đang cố gắng khám phá cuộc sống của những con người bất hạnh, một phần của xã hội hôm nay Trong những con người này vẫn luôn mong muốn khát khao tận hưởng những cảm giác cuộc đời mang lại trong sự an bình, tình yêu, hạnh phúc và sẻ chia
Con người “lệch lạc” về tinh thần cho thấy khung quan niệm về nhân vật
bị phá vỡ một cách rõ nhất trong tiểu thuyết sau 1986, đặc biệt trong những năm gần đây Các nhà tiểu thuyết trẻ cố gắng hướng đến xây dựng nhân vật
có sự phức tạp, tuy bề ngoài dị dạng nhưng lại có cả một thế giới tinh thần
phong phú bên trong (cậu Chột – Bên dòng Sầu Diện, thằng Đốp – Màu rừng
ruộng…) Bên trong tính cách một con người có thể chứa cả mặt rắn rết lẫn
rồng phượng Đây cũng là điều tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới lật xới để bộc lộ tính đa diện trong quan niệm về con người (nhân vật Tiến, Vũ, Mạnh,
Tùng…- Biển xanh màu lá)
Tiểu thuyết hiện đại đang đi tìm cho mình bức chân dung cuộc đời con người đầy phong phú, phức tạp, luôn hàm chứa tính đa trị với cái nhìn thẳng
Trang 39thắn và trung thực, sáng tạo và tìm tòi của các nhà văn Các nhân vật đều được khám phá ở mọi khía cạnh với đầy đủ các chức năng của mình, không còn những kiểu nhân vật phi thường mà đó là những cá thể phi hiện thực, cá biệt, luôn soi chiếu vào nhau Điều này khiến “mỗi tiểu thuyết trở thành một
“tiểu tự sự” về nội tâm và khát vọng cá nhân của con người, với những vang
âm của một tinh thần nhân bản sâu xa và mạnh mẽ” Với ước mơ được làm
một diễn viên mà: “Ánh mắt Lý tràn ngập niềm vui” hay Vinh tưởng tượng ra: “A, ngài Martin đã trúng nghị sĩ quốc hội Ngài vẫn nhắc việc bảo lãnh
cho Vinh sang học một trường đại học bên Mỹ Vinh nghĩ sao về việc này?”
[34, tr 359] Nhưng trong giấc mơ của mình: “Vinh vẫn đứng Mặt cúi
xuống… Vinh không đáp, trong lòng đang có sự giằng xé Một tiếng nói từ trái tim thúc giục: Hãy yêu nhau đi, chúng ta là những con người! Nhung lại
có một tiếng nói khác , tiếng nói của lí trí giằng dai kéo lại: Hãy biết phận mình Juny thì như thế, mình thì như vầy…không thể có sự bình đẳng Juny càng khêu gợi, nỗi mặc cảm trong Vinh càng dâng lên” [34, tr 379]
Vì sao Vinh luôn mơ ước có một cuộc sống mới tốt đẹp hơn và khi Vinh
có cơ hội để tìm đến một cuộc sống mới, có cơ hội để làm chủ cuộc sống, quyết định số phận của mình Vinh lại không thực hiện nó ngay mà lại mặc cảm, lại chùn bước như vậy? Vinh lo ngại mình không xứng với những điều tốt đẹp đó hay thật lòng Vinh còn nghĩ đến nhiệm vụ của mình trên quê hương đất nước mình? Hư hư thực thực khiến người đọc suy nghĩ nhiều hơn
về con người của nhân vật Vinh
Đói, nghèo, lạc hậu là ba điểm nhấn trong bức tranh làng quê mà Đỗ
Tiến Thụy miêu tả Làng quê trong Màu rừng ruộng là làng quê của thời điểm
những năm đầu công cuộc cải cách ruộng đất, của những năm tháng toàn nông thôn gia nhập phong trào hợp tác xã (thời điểm chưa có khoán Mười) Những điểm bất hợp lý của phong trào đã đẩy nông thôn và người nông dân
Trang 40Việt Nam vào tình trạng “thắt lưng buộc bụng” theo cả hai nghĩa Và vì vậy, cái đói, cái nghèo vẫn là người bạn đồng hành với người nông dân như đã từng làm bạn với bao thế hệ cha ông họ từ trước đến giờ Cái đói, cái nghèo ở thời điểm này chưa đến mức khủng khiếp như làm con người ta chết đói, không ngại ngần từ bỏ nhân cách, phẩm giá để đổi lấy miếng ăn như giai đoạn 1930-1945 nhưng cũng thật ghê gớm Đấy là cái thời mà bao đứa trẻ như Vinh thường xuyên phải chịu cái đói vàng con mắt vì những bữa cơm độn khoai, độn sắn, thức ăn chính là chuối non, đu đủ không đủ lấp đầy cái dạ dày như không đáy của tuổi mới lớn; là cái thời mà người nông dân ước mơ tới cảnh cơm ba bữa với thịt cá đàng hoàng, tới cái xe Phượng hoàng đi học, tới quần áo lành lặn; thời mà đãi đằng nhau, một chầu bánh rán đã thấy làm sang; mang cho nhau một con cá chép, dăm cuốn sách đã lấy làm quý… Bằng hàng loạt những chi tiết kể trên, Đỗ Tiến Thụy đã tái hiện lại phần nào hình ảnh của nông thôn Bắc bộ nói riêng và đất nước nói chung một thời chưa xa còn chìm trong khó khăn thiếu thốn
Cái đói, cái nghèo thường đi kèm với sự lạc hậu Trong Màu rừng ruộng,
sự lạc hậu, ấu trĩ của người nông dân được thể hiện chủ yếu qua cuộc đời của ông Ét và chị Miền Một người đàn ông tuổi đã ở cái tuổi “tri thiên mệnh” mà vẫn còn cay cú vì những lời chế giễu không có con trai, ăn cỗ phải ngồi mâm dưới để rồi bắt vợ phải đẻ, đẻ mãi Đẻ cho đến khi ông thoát khỏi cái tiếng
“bố đĩ” mới thôi Để rồi vợ ông qua đời khi sinh cho ông đứa con gái thứ chín Trước sức ép của gia đình, dòng họ, ông đành bỏ xác người vợ nằm chơ
vơ trong căn nhà dột nát để cưới chạy tang đặng tìm cho được đứa chống gậy sau này Bên cạnh khát vọng có con trai một cách mù quáng của ông Ét và gia tộc là những suy nghĩ thiển cận của chị Miền Một người con gái xinh đẹp đã từng dám đánh đổi sự trinh trắng của mình cho người lái xe để thoát khỏi cái làng Bùi nghèo nàn đơn điệu ấy lại không đủ kiên quyết đến cùng, chấp nhận