Trên thế giới, dòng văn học đồng tính không còn mới mẻ, xa lạ nhưng cũng chỉ có một số tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu - những tác phẩm đồng tính làm say mê hàng triệu độc giả như: tiểu th
Trang 2Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Thị Kiều Anh Tôi xin cam đoan rằng:
- Luận văn này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tác giả
- Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực
- Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất cứ công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hạnh
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - TS Nguyễn Thị Kiều Anh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã giảng dạy các chuyên
đề trong thời gian học tập tại trường, ban chủ nhiệm khoa ngữ văn, phòng sau đại học - trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã đóng góp ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của bạn bè và gia đình
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Hạnh
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Đóng góp của luận văn 7
8 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA BÙI ANH TẤN VỚI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH 8
1.1 Quan niệm chung về nhân vật văn học 8
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 8
1.1.1.1 Về phương diện thuật ngữ 8
1.1.1.2 Một số quan niệm trong nghiên cứu và phê bình về nhân vật văn học 9
1.1.2 Các chức năng của nhân vật văn học 11
1.1.3 Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học 13
1.1.3.1 Phân loại theo tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong tác phẩm (xét từ góc độ kết cấu) 13
1.1.3.2 Phân loại theo quan hệ thuận - nghịch giữa nhân vật và lí tưởng (xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật) 14
1.1.3.3 Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật 15
1.1.3.4 Phân loại nhân vật theo thể loại 18
1.1.4 Vài nét về nhân vật tiểu thuyết và nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam trong thời kì đổi mới 19
1.1.4.1 Vài nét về nhân vật tiểu thuyết 19
Trang 51.2.1 Giới thuyết về “đồng tính” 24
1.2.1.1 “Đồng tính” trong lịch sử - xã hội 24
1.2.1.2 “Đồng tính” trong văn học nghệ thuật 29
1.2.2 Bùi Anh Tấn với những sáng tác viết về đồng tính 37
CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT ĐỒNG TÍNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA BÙI ANH TẦN 42
2.1 Bảng thống kê, phân loại các nhân vật đồng tính trong tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn 42
2.1.1 Bảng thống kê, phân loại 42
2.1.1.1 Số lượng 42
2.1.1.2 Thống kê, phân loại theo tiêu chí dựa vào đặc điểm nổi bật trong cuộc đời, số phận, phẩm chất, tính cách của các nhân vật 42
2.1.2 Nhận xét chung 44
2.2.2 Nhân vật cô đơn 56
2.2.3 Nhân vật đi tìm bản thân (Truy tìm và hoài nghi bản thể) 64
2.2.4 Nhân vật bản năng, tha hoá 72
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT ĐỒNG TÍNH 76 TRONG TIỂU THUYẾT CỦA BÙI ANH TẤN 76
3.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động nhân vật 76
3.1.1 Miêu tả ngoại hình nhân vật 77
3.1.2 Miêu tả hành động nhân vật 83
3.2 Nghệ thuật khắc hoạ tâm lí nhân vật 85
3.3 Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại và độc thoại 100
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 101
3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 109
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đồng tính là một đề tài phong phú, đang là mối quan tâm của xã hội, điện ảnh, văn học nghệ thuật Tuy nhiên, do định kiến xã hội về “giới thứ ba” cho nên số lượng tác phẩm văn học viết về đề tài này còn khiêm tốn
Trên thế giới, dòng văn học đồng tính không còn mới mẻ, xa lạ nhưng cũng chỉ có một số tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu - những tác phẩm đồng tính
làm say mê hàng triệu độc giả như: tiểu thuyết “Annie on my mind” (Annie trong trái tim tôi) của nữ văn sĩ người Mỹ Nacy Garden ra mắt bạn đọc vào tháng 7 năm 1982; tiểu thuyết “RainBow High” (cầu vồng ở trên cao) của
Alex Sancher - nhà văn Mỹ gốc Mexicô; nhà văn Ronald L.Donaghe (người
Mexico) với tiểu thuyết “Common Sons” (những chàng trai vùng thị trấn Common)…
Ở Việt Nam, các sáng tác văn học về đề tài đồng tính xuất hiện còn lẻ
tẻ, rải rác Chỉ có vài đầu sách của một số tác giả được nhắc đi nhắc lại trong
nhiều bài báo Đó là: tiểu thuyết “Song song” (2007) của Vũ Đình Giang, tự truyện “Bóng” (2008) của Nguyễn văn Dũng do hai nhà báo Hoàng Nguyên
và Đoan Trang chấp bút; tập truyện ngắn “Những đốm lửa trên vịnh Tây Tử” (2007) của Trang Hạ; tự truyện “Thành phố không lạc loài” (2008) của Phạm Thành Trung được Lê Văn Hoài ghi, “Dị bản” (2008) của Keng, …
Trong đó vấn đề được đề cập còn “dịu dàng”, kín đáo, trìu tượng hoặc có khi chỉ là câu chuyện mang tính cá nhân riêng biệt Nhân vật trong các sáng tác
đó chưa thể đại diện cho “giới thứ ba” nên không được những người đồng tính nồng nhiệt đón nhận và chưa thu hút được độc giả Chỉ đến khi cuốn tiểu
thuyết “Một thế giới không có đàn bà”, “Les - vòng tay không đàn ông” và
“Phương pháp của A.C.Kinsey” của tác giả Bùi Anh Tấn ra đời, thì những
người đồng tính mới thực sự tìm thấy hình ảnh, con người, tâm tư, nỗi đau
Trang 7của mình ở trong đó Qua mỗi trang viết của Bùi Anh Tấn, những người đồng tính như sống cùng các nhân vật của anh bởi đó cũng chính là họ với “cả một thế giới nội tâm rất phong phú, có nhiều màu sắc cả bi lẫn hài…” [18]
1.2 Bùi Anh Tấn là nhà văn công an Anh bắt đầu sáng tác từ những năm đầu thập niên 90 nhưng chỉ thực sự nổi tiếng từ sau cuốn tiểu thuyết
“Một thế giới không có đàn bà” (1999) Hai năm sau đó, cuốn tiểu thuyết
này đoạt liền hai giải: giải A cuộc thi tiểu thuyết và ký năm 1999-2002 và giải thưởng văn học 1995-2005 (Bộ công an và Hội nhà văn tổ chức) Bùi Anh Tấn trở thành người đầu tiên trong làng văn học Việt đi sâu vào đề tài đồng
tính Không chỉ dừng lại ở “Một thế giới không có đàn bà”, anh còn cho ra đời ngay tiếp sau đó hai cuốn tiểu thuyết cũng về đề tài này là: “Les - vòng tay không đàn ông”, “Phương pháp của A.C.Kinsey” và tập truyện ngắn
“Cô đơn”
Tác giả tâm sự: “Thật ra lúc đầu tôi quan tâm đến những người đồng tính chỉ vì không thể tưởng tượng được trong cuộc đời này lại có những người đàn ông - đàn ông, đàn bà - đàn bà “yêu” nhau Vậy họ yêu nhau như thế nào
và tại sao lạ thế? Lúc đó tôi không có ý định sẽ viết hẳn một cuốn tiểu thuyết
về đề tài những người đồng tính Nhưng sau một thời gian tìm hiểu, từ những điều mình biết, đã nảy sinh trong tôi những hứng thú muốn tìm hiểu sâu hơn
về những con người này với tư cách người cầm bút
Đấy là cả một thế giới nội tâm rất phong phú, có nhiều màu sắc cả bi lẫn hài… Hãy nhân ái hơn, tạo hoá đã quá nghiệt ngã với họ, thì chúng ta, những con người với con người, lẽ nào lại không hiểu nổi nhau…” [18]
Nhân vật trong các tiểu thuyết viết về đồng tính của Bùi Anh Tấn là những số phận bất hạnh Mỗi nhân vật là một mảnh đời, một thân phận khác nhau nhưng đều có chung nỗi đau: bị đồng tính, phải đối mặt với những rắc rối của bản thân cũng như sức ép của dư luận Qua những trang viết của anh,
Trang 8có thể nhận ra một lối tư duy hết sức sắc sảo, văn phong chặt chẽ, hấp dẫn Bùi Anh Tấn có sở trường nắm bắt cái mới, thời sự của cuộc sống đương đại Các tiểu thuyết của anh về đề tài này đều thể hiện cái nhìn nhạy bén, có nhiều phát hiện đối với hiện thực và đặc biệt mang tính nhân văn sâu sắc Tác phẩm của Bùi Anh Tấn chứa đựng nét độc đáo, mới lạ của một cây bút tiềm tàng khả năng sáng tạo Đặc biệt, thế giới nhân vật trong tiểu thuyết đồng tính của Bùi Anh Tấn đã làm nên dấu ấn riêng cho sáng tác của anh trong việc khám phá thế giới hiện thực nghiệt ngã về những con người thuộc “giới thứ ba”
Việc nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn có ý nghĩa quan trọng vừa nhằm nhìn nhận, đánh giá những thành công về một trong những phương diện nghệ thuật viết tiểu thuyết của tác giả vừa thấy được những đóng góp của nhà văn ở mảng đề tài mới mẻ này của văn học Việt Nam đương đại
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nhân vật trong tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn”
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Bùi Anh Tấn là một tác giả mới xuất hiện trên văn đàn Bởi vậy, nguồn tài liệu về tác giả này còn ít ỏi Hơn nữa, với tinh thần sáng tác có tính chất “mở” như hiện nay tất yếu sẽ có những ý kiến khen, chê khác nhau Trên
cơ sở những hiểu biết ban đầu, chúng tôi sẽ cố gắng chọn lọc và tiếp thu những ý kiến được xem là xác đáng, sát hợp với những đóng góp của tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn
2.2 Sự độc đáo, mới lạ, mang tính thời sự trong những cuốn tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn trên thực tế đã được dư luận quan tâm Đã có nhiều bài báo, bài phê bình, cuộc trao đổi trên các diễn đàn về những tiểu thuyết này của anh Nhiều hơn cả vẫn là những bài viết trên các website văn học
Trang 9Tác giả Ngô thị Kim Cúc trong bài viết :“Khoảng trống khó gọi tên”
đăng trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 10 năm 2000 khi bàn luận về cuốn
tiểu thuyết Một thế giới không có đàn bà của Bùi Anh Tấn đã khẳng định:
“Thế giới ấy đáng được biết đến, đáng được thông cảm hơn người ta tưởng Trong tiểu thuyết đầu tay của mình, Bùi Anh Tấn đã phơi bày một thực tế đang có mặt bên cạnh cuộc sống của đa số công chúng: cuộc sống của những người sinh ra đã bị đồng tính luyến ái Đề tài quá mới lạ trong văn học Việt Nam và hoàn toàn không dễ viết, chỉ cần non tay một chút có thể trở thành bất cập, còn lơi tay một chút sẽ dễ dẫn đến thái quá Bùi Anh Tấn đã tránh được cả hai (…) Suốt gần 500 trang sách, người đọc được dẫn vào một thế giới thực sự lạ lùng Những vũ trường, nhà hàng, quán xá đang là tụ điểm sinh hoạt của giới đồng tính Những Hoa bóng chúa, Ngũ Long công chúa, Quang A, buông thả bản năng Nhưng cũng có những Phạm Hồng Bàng, Lê Viễn đáng thương…” [11]
Trong bài viết: “Niềm đam mê của cây bút trẻ” của tác giả Nguyễn Tuấn đăng trên báo An Ninh thủ đô ra ngày 3 tháng 11 năm 2000 có đoạn :
“Cuốn tiểu thuyết này (Một thế giới không có đàn bà) đề cập tới một vấn đề
mà ngay cả trong văn học các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây cũng “ngại” nói tới Đó là thế giới của những người đồng tính luyến ái tại thành phố Hồ Chí Minh Các tuyến nhân vật được dàn dựng hợp lí với sự tiết chế khôn khéo…” [36]
Nhà báo Nguyễn Vịnh trong bài : “Nhà văn trẻ Bùi Anh Tấn cầm bút
đã là sự phiêu lưu” (Tạp chí Đẹp, số 6, 2003) có viết: “Bùi Anh Tấn đã bình thản đặt những bước đi của mình vào ngôi đền văn học, giành lại cho mình một chút dư vang Ở người đàn ông này có một cái gì đó cứ âm trầm, da diết chảy, một cái gì đó - dù rất nhỏ nhoi nhưng sâu khuất các ý niệm - đang cọ cựa Tác giả như muốn chống lại sự lãng quên, như muốn thổi tung lớp bụi cũ
Trang 10kỹ của thời gian và bạc bẽo của nhân thế đang bao phủ lên từng mảng lớp của cuộc đời” [43]
Ngoài ra, tác giả luận văn còn tham khảo một số bài viết, phỏng vấn, giới thiệu về tác giả Bùi Anh Tấn và các tiểu thuyết đồng tính của anh được đăng tải trên các website như:
Nhà văn Bùi Anh Tấn: Tôi đã chán chủ đề đồng tính, Bình Nguyên
(thực hiện), [cand.com]
“Tôi muốn cất lên tiếng nói của đồng tính nữ”, Thu Hà (thực hiện),
[chaobuoisang.net]
Bùi Anh Tấn nói tiếp về “Les ”, Anh Vân (thực hiện), [tamsubantre.org]
Nhìn chung, qua khảo sát những ý kiến, bài viết về tác giả Bùi Anh Tấn
và các tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của anh, chúng tôi nhận thấy, mặc
dù đã có những kiến giải thuyết phục về cái mới trong tiểu thuyết - đặc biệt ở
đó vấn đề nhân vật cũng đã được tìm hiểu, đánh giá, song hầu hết các ý kiến nhận xét, lời phê bình mới chỉ tồn tại dưới dạng một bài viết, một cuộc trao đổi Chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề nhân vật Nhận ra khoảng trống đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Nhân vật trong tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn”
Chúng tôi hy vọng sẽ góp thêm một tiếng nói vào việc tìm hiểu, nghiên cứu thành công của Bùi Anh Tấn ở mảng đề tài này Những bài viết, đánh giá
kể trên sẽ là những gợi ý, tham khảo quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi khi triển khai đề tài này là khám phá thế giới của những người đồng tính với cái nhìn nhân văn cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo của Bùi Anh Tấn
Trang 114 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là chỉ ra các laọi nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn: nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động, nghệ thuật khắc hoạ tâm lí nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật đồng tính trong các tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại
Khảo sát, thống kê toàn bộ hệ thống nhân vật đồng tính trong ba tiểu thuyết viết về đồng tính của Bùi Anh Tấn, từ đó tiến hành phân loại nhân vật theo những tiêu chí riêng
Trang 12chính tác giả và một số tác giả khác cùng thời cũng viết về đề tài này để thấy
được những sáng tạo của Bùi Anh Tấn
7 Đóng góp của luận văn
- Tìm ra những đặc sắc về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng
nhân vật trong tiểu thuyết viết về đề tài đồng tính của Bùi Anh Tấn
- Đánh giá những đóng góp mới của Bùi Anh Tấn ở mảng đề tài được
xem là “hiện tượng” của văn học Việt Nam đương đại Thông qua đó góp
phần khẳng định tài năng và vị trí của Bùi Anh Tấn trong nền Văn học mới
Đồng thời, qua những nghiên cứu, phân tích, người đọc sẽ có cái nhìn cảm
thông, chia sẻ hơn với những người đồng tính trong xã hội
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung của luận văn chúng tôi sẽ
triển khai thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về nhân vật văn học và hành trình
sáng tác của Bùi Anh Tấn với đề tài đồng tính
Chương 2: Thế giới nhân vật đồng tính trong tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật đồng tính trong tiểu thuyết
của Bùi Anh Tấn
Trang 13
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA BÙI ANH TẤN VỚI ĐỀ TÀI ĐỒNG TÍNH
1.1 Quan niệm chung về nhân vật văn học
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
Đối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận… đều góp phần tạo nên sự phong phú,
đa dạng cho tác phẩm văn học nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật Đọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện Vì vậy, Tô Hoài đã có lý khi cho rằng
“nhân vật là nơi duy nhất, giải quyết hết thảy trong mọi sáng tác”
1.1.1.1 Về phương diện thuật ngữ
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hy Lạp: persona,
tiếng Anh: personage, tiếng Nga: pesonoy) Hơn hai nghìn năm trước đây, trong tiếng Hi Lạp cổ, “persona” vốn mang nghĩa là “cái mặt nạ” một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân khấu Nhưng sau đó nó trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật văn học
Đôi khi nhân vật văn học còn được người ta gọi bằng các thuật ngữ
khác như “vai” (actor), “tính cách” (character) Tuy nhiên, các thuật ngữ này
có một nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật” Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn
mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, thích hợp với loại nhân vật hành
động còn thuật ngữ “tính cách” lại thiên về chỉ những nhân vật có tính cách
Trong thực tế sáng tác, không phải nhân vật nào cũng hành động, đặc biệt là
Trang 14những nhân vật thiên về suy tư và cũng không phải nhân vật nào cũng có tính
cách rõ rệt (nhân vật vô danh) Từ đó, có thể thấy, các thuật ngữ “vai”, “tính cách” không bao quát được hết những biểu hiện khác nhau của các loại nhân
vật trong sáng tác văn học
Như vậy, “nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đủ khả năng
bao quát những hiện tượng phổ biến của hiện tượng văn học ở mọi bình diện
và cấp độ
1.1.1.2 Một số quan niệm trong nghiên cứu và phê bình về nhân vật văn học
Đã có nhiều quan điểm khác nhau về nhân vật văn học trong giới nghiên cứu, phê bình:
* Các tác giả “Từ điển văn học” (tập 2) đã xác nhận: “Nhân vật là yếu
tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tâm điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhân vật, do đó, là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [26, tr.86] Với định nghĩa này, các nhà
biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của
nó đối với tác phẩm văn học và từ mối quan hệ của nó với các yếu tố hình thức tác phẩm Có thể coi đây là một định nghĩa tương đối toàn diện về nhân vật văn học
* Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, tác giả Lại Nguyên Ân đề xuất
một quan điểm khác Ông xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học:
“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật Bên cạnh con người nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các
Trang 15sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [7,
tr.241]
Theo Lại Nguyên Ân, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tố tạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn học Nhà nghiên cứu này còn chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trở thành nhân vật văn học
* Khái niệm “nhân vật văn học” còn được định nghĩa trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi:
“Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha,…), cũng có thể không có tên riêng (thằng bán tơ, ) Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể
mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [16, tr.235]
Quan niệm trên của nhóm tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” về nhân vật văn học có phần thu hẹp hơn
* Một số nhà nghiên cứu khác lại định nghĩa nhân vật dựa trên tiêu chí chức năng phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học Nhân vật là phương tiện
để nhà văn tái hiện đời sống, mở rộng thế giới nghệ thuật cho tác phẩm:
“Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học” [23, tr.277]
Như vậy, các nhà nghiên cứu, nhà lí luận văn học, bằng cách này hay cách khác đã đưa ra những quan điểm, định nghĩa cụ thể về nhân vật văn học trên cơ sở tìm hiểu những nét nổi bật về nhân vật Song, xét một cách chung nhất, các ý kiến vẫn cơ bản gặp nhau trong sự khẳng định: thứ nhất, nó phải là
Trang 16đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương tiện văn học Thứ hai,
đó là những con người hoặc những con vật, sự vật, đồ vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh gần gũi của con người Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận về những đóng góp riêng nhà văn đó
Những quan niệm về nhân vật văn học như trên là những chỉ dẫn cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật nói chung và nhân vật đồng tính trong các tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn nói riêng
1.1.2 Các chức năng của nhân vật văn học
Nhân vật đóng vai trò là tâm điểm của sự thể hiện đời sống trong tác phẩm văn học Nó không chỉ là “tiêu điểm để bộc lộ chủ đề” mà còn là nơi
“tập trung giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm” Một tác phẩm có thể vắng nhân vật nhưng văn học nói chung không thể thiếu nó Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là “hiện thực cuộc sống” không còn tồn tại như một khái niệm khô khan trừu tượng nữa mà trở nên có hình khối rõ ràng, mời gọi người đọc tưởng tượng, khám phá suy ngẫm, những vấn đề có ý nghĩa về cuộc đời
Thứ nhất, nhân vật trong tác phẩm văn học có chức năng khái quát các loại tính cách xã hội Với chức năng này, nhân vật chứng tỏ được ưu thế vô
song của văn học trong việc phản ánh bản chất của xã hội trong một hiện tượng mang tính chất kết tinh là tính cách Trong đời sống, ta được tiếp xúc với nhiều loại tính cách khác nhau Đây là hiện tượng thú vị của thực tế khách quan, đòi hỏi được văn học nghiên cứu và tìm hiểu Mỗi nhân vật có phẩm
chất riêng nổi bật Với nhân vật HămLet trong vở kịch “Hamlet” của W
Shakespeare, ta bắt gặp một tính cách cao thượng, đặc trưng của thời Phục
Hưng Với nhân vật Grăngđê (trong tiểu thuyết Eugénie Grandet), H.de
Trang 17Banlzac đã tạo ra một loại tính cách keo kiệt, bủn xỉn đặc trưng của giai cấp
tư sản (thời tích luỹ tư bản),…
Nhà văn Nga - Xô viết K A Fedin từng hình dung nhân vật giống như
“một công cụ” hữu hiệu giúp người viết nhận ra bản chất của đời sống và giúp độc giả thấu hiểu những quy luật sâu sa đang ngầm chi phối mọi diễn biến lịch sử Quả vậy, nếu không có một nhân vật mang tính cách đa điện của thời
Âu hoá và có số phận may mắn lạ lùng là Xuân tóc đỏ làm sao Vũ Trọng Phụng có thể thâu tóm thần tình đến vậy bản chất của một xã hội (xã hội thực dân nửa phong kiến) mà ông gọi là xã hội “chó đểu”
Thứ hai, ngoài chức năng khái quát các loại tính cách xã hội, nhân vật văn học còn có chức năng tương tự “chức năng của một chiếc chìa khoá”,
giúp nhà văn mở một cánh cửa bước vào hiện thực rộng lớn, tiếp cận những
đề tài chủ đề mới mẻ
Đề cập hai chức năng cụ thể nói trên của nhân vật cũng chính là nhấn mạnh vào khả năng tái hiện bức tranh thế giới khách quan của thế giới văn học
Thứ ba, nhân vật văn học có chức năng biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới và con người Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục
đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập trong tác phẩm
Do đó, bên cạnh việc xác định những tính cách của nhân vật trong tác phẩm, cần nhận ra hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật thể hiện
Một chức năng khác của nhân vật trong tác phẩm là chức năng tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm và cốt truyện Nhờ nhân vật mà
kết cấu của nhiều tác phẩm đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ và nhiều tiềm năng biểu đạt của các phương tiện ngôn từ được phát lộ, để rồi tự chúng trở thành những phương diện nghệ thuật độc lập có thể được nghiên cứu riêng như một đối tượng thẩm mĩ chuyên biệt
Trang 18Như vậy, nhân vật văn học có nhiều chức năng tương ứng với nhiều vai trò khác nhau trong tác phẩm Hiểu được đúng đắn chức năng của nhân vật văn học của người viết có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài này
1.1.3 Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng Những nhân vật được xây dựng thành công từ xưa tới nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo không lặp lại Tuy nhiên, xét về mặt nội dung tư tưởng, kết cấu, chất lượng miêu tả…, có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau Để nắm được thế giới nhân vật văn học đa dạng, phong phú, có thể tiến hành phân loại dưới nhiều góc độ, theo nhiều tiêu chí khác nhau
1.1.3.1 Phân loại theo tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong tác phẩm (xét từ góc độ kết cấu)
Xem xét vai trò và vị trí của nhân vật trong tác phẩm văn học có thể chia thành: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm
* Nhân vật chính
Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều trong tác phẩm, tham gia hầu hết các sự kiện chính được miêu tả, giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện và là cơ sở quan trọng để nhà văn triển khai
đề tài trung tâm hay tư tưởng nghệ thuật cơ bản của mình
Nhân vật chính thường được tập trung miêu tả, khắc hoạ tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tuỳ theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm
Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), nhân vật chính là Thuý Kiều, Kim Trọng,
Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Hồ Tôn
Hiến Trong “Chí Phèo” (Nam Cao) nhân vật chính là Chí Phèo, Bá Kiến Ở
những tác phẩm có nhiều tuyến cốt truyện hoặc có quy mô sử thi đồ sộ, số
Trang 19lượng nhân vật có thể lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm Đó là trường
hợp của những tác phẩm như: “Tam Quốc Diễn Nghĩa” (La Quán Trung),
“Thuỷ Hử” (Thi Lại An),…
* Nhân vật trung tâm
Trong một tác phẩm có nhiều nhân vật chính, nhân vật chính có vai trò quan trọng hơn cả xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm Ở một số tác phẩm, số lượng nhân vật trung tâm không phải chỉ có một,
do chỗ các nhân vật đó đều có vai trò tương đương nhau trong việc thể hiện những xung đột cơ bản của tác phẩm Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Trương
Phi, Gia Cát Lượng, Tôn Quyền đều là những nhân vật trung tâm của “Tam Quốc Diễn Nghĩa”,…
* Nhân vật phụ
Trong hệ thống nhân vật của một tác phẩm, ngoài nhân vật chính (bao hàm trong đó cả nhân vật trung tâm) còn lại là nhân vật phụ Nhân vật phụ giữ vai trò thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình phát triển diễn biến của cốt truyện, của việc thể hiện chủ đề tác phẩm Nhân vật phụ góp phần hỗ trợ,
bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật chính
Có nhiều nhân vật phụ vẫn được nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác trong tác phẩm tạo nên một bức
tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh (Thị Nở trong “Chí Phèo” của Nam Cao, thầy thơ lại trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân)…
1.1.3.2 Phân loại theo quan hệ thuận - nghịch giữa nhân vật và lí tưởng (xét
từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật)
Có thể chia ra làm nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực)
* Nhân vật chính diện: là loại nhân vật chiếm được tình yêu và niềm tin
khẳng định của nhà văn, mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp, có thể trở
Trang 20thành đại diện cho những giá trị tư tuởng, đạo đức thẩm mĩ mà nhà văn cùng thời đại nhân vật đó hướng tới Đó là những nhân vật Ôtenlô, HămLét, Rômêô, Juliet trong các vở kịch của W.Shakespeare; Chị Út Tịch, Chiến, Việt trong các tác phẩm của Nguyễn Thi,…
* Nhân vật phản diện: là loại nhân vật có phẩm chất ngược lại với nhân
vật chính diện, bị miêu tả trong tác phẩm với thái độ phê phán, phủ định Đó
là những nhân vật như: Giave trong “Những người khốn khổ” của V.Huygô, thằng Xăm trong “Hòn đất” của Anh Đức, Bá Kiến trong “Chí Phèo” của
Nam Cao… Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện là những phạm trù lịch sử Việc miêu tả và đối lập chúng với nhau chỉ diễn ra khi trong xã hội có
sự đối kháng giai cấp và khi nhà văn đã xác định rõ lập trường chỉ đứng về một phía nhất định của mình
Trong quá trình phát triển của văn học, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các loại nhân vật chính diện và phản diện cũng khác nhau Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung vào những tính chất tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại Trong văn học hiện đại nhiều khi khó phân biệt đâu là chính diện, đâu là phản diện Chính vì vậy, ở đây, sự phân biệt chính diện, phản diện chỉ có ý nghĩa tương đối
1.1.3.3 Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật
Với tiêu chí phân loại này, theo gợi ý của E.M Forster trong cuốn:
“Diện mạo tiểu thuyết” (1927), có thể nói tới nhân vật dẹt, nhân vật tròn Ngoài ra còn có thể nhắc tới nhân vật tư tưởng, nhân vật tâm lý
* Nhân vật dẹt
Trang 21Là loại nhân vật không được khắc hoạ đầy đặn các mặt, “ít giống thực” nhất theo đánh giá của một kiểu tri giác đơn giản về nghệ thuật
Trong loại nhân vật dẹt, có thể nói tới: nhân vật chức năng ( hay mặt nạ), nhân vật loại hình (các thuật ngữ này do L.Ghinzburg đề xuất)
Nhân vật chức năng: chủ yếu xuất hiện trong văn học cổ đại và trung
đại (nhất là ở cổ tích) Đây là loại nhân vật “được giao cho nhiệm vụ” thực hiện một chức năng nhất định trong tác phẩm và phản ánh đời sống Chẳng hạn, nhân vật Bụt có chức năng ban hạnh phúc, đem lại điều may mắn cho người lương thiện, giúp họ vượt qua những trở ngại của cuộc sống; nhân vật phù thuỷ có chức năng gieo rắc những rủi ro, những điều xấu, ngăn trở cuộc
sống của người lương thiện… Các nhân vật của “Tấm Cám”, “Thạch Sanh”,
“Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn”… đều là những nhân vật chức năng
Nhân vật chức năng không có đời sống nội tâm, các phẩm chất, đặc điểm nhân vật cố định không thay đổi từ đầu tới cuối, nó hành động gần như theo những công thức đã vạch sẵn Do đặc điểm này mà chúng dễ dàng trở thành cái biểu trưng trong đời sống tinh thần và hình thức hoá trong sáng tác Những vai trung, vai nịnh trong văn học cổ, tuồng cổ đều ít nhiều mang tính chất chức năng như vậy Vai trung thực hiện đạo lý, cương trực Vai nịnh thể hiện sự phản trắc, hãm hại người tốt Phân tích các nhân vật này cần tìm hiểu vai trò và chức năng mang nội dung xã hội thẩm mỹ của chúng
Loại nhân vật chức năng không hoàn toàn mất bóng trong văn học các thời đại sau này, chỉ có điều nó không tồn tại ở dạng thuần tuý như trước Chẳng hạn, những nhân vật Giăngvangiăng, Giave,… trong tiểu thuyết
“Những người khốn khổ” (Victo Huygô) đều có những nét gợi nghĩ đến các
nhân vật chức năng
Nhân vật loại hình: là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất
xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời Đó là nhân vật
Trang 22khái quát chung về “loại” của các tính cách và nhờ vậy mà được gọi là điển
hình Acpagông (Lão hà tiện của Môlie) thể hiện tập trung cho thói keo kiệt Ông Giuốcđanh (Trưởng giả học làm sang của Môlie) là hiện thân cho thói
phù phiếm, hiếu danh của các gã tư sản muốn làm quý tộc
Hạt nhân của loại nhân vật này là nét khu biệt về mặt tính cách xã hội của một loại người nào đó Đúng như Puskin nhận xét: “Ở Môlie người keo kiệt thì keo kiệt, và chỉ có thế” Dĩ nhiên, nhân vật điển hình loại này, như mọi loại nhân vật văn học khác, đòi hỏi một cá tính nhất định được thực hiện qua một số chi tiết chân thực, sống động nào đó chứ không phải là một khái niệm trừu tượng, điều đáng nói là trong khi đắp da, đắp thịt cho tính cách, nhà văn không quên chủ đích của mình là làm sao gọi cho đúng cái “thần” của
“loại” Nhân vật chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi
mang nhiều đặc điểm của nhân vật loại hình Chị chính là “khái niệm” về người phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” Tuy vậy, vẫn có nét hấp dẫn nhất định của một cá tính
* Nhân vật tròn
Là loại nhân vật được khắc hoạ soi chiếu trên nhiều bình diện, đưa tới cho độc giả cảm tưởng “thực” về nhân vật
Nhân vật tròn thực chất cũng là nhân vật tính cách ( theo một kiểu gọi
tên khác của L Ghinzburg) Khi xây dựng nhân vật tính cách, điều nhà văn chú ý trước hết là cái cá tính làm nên một nhân cách độc lập Cá tính đó luôn
có mối liên hệ sống động với môi trường xung quanh Qua việc nhìn vào những mối liên hệ đó người ta nhận ra những quy luật tồn tại của con người Sức hấp dẫn của loại tính cách này nằm ở cá tính cùng cấu trúc phức tạp của
nó Nhân vật tính cách thường đa diện, chứa đầy mâu thuẫn và chính những mâu thuẫn ấy làm cho tính cách không tĩnh tại mà vận động phát triển, đôi khi làm bất ngờ cả người sáng tạo ra nó
Trang 23* Nhân vật tư tưởng
Trong văn học, có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó không phải là cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình, mà là một tư tưởng, một ý thức Xây dựng loại nhân vật này, các nhà văn nhằm tới việc phát biểu hoặc tuyên truyền cho một tư tưởng nào đó về đời sống Các nhân vật như Hoàng, Hộ trong các sáng tác của Nam Cao; nhân vật “tôi” trong
truyện ngắn “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu,… đều mang những nét cơ
bản của nhân vật tư tưởng
* Nhân vật tâm lí
Với loại nhân vật này, nhà văn tập trung vào việc tái hiện “hiện thực tâm lí”, vào những hành động bên trong chứ không phải hành động bên ngoài của nhân vật Nhiều khi hiện thực tâm lí đó không chỉ làm nên nhân vật mà còn làm nên chính câu chuyện, làm nên những tác phẩm được gọi là “truyện không có cốt truyện” Từ đây, vô số các thủ pháp miêu tả được thể hiện, dẫn đến sự ra đời của thủ pháp “dòng ý thức” Loại nhân vật này xuất hiện nhiều trong văn học hiện đại (sáng tác của Nguyễn Bình Phương,…)
1.1.3.4 Phân loại nhân vật theo thể loại
Có thể phân thành: nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình
* Nhân vật tự sự: là loại nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm truyện
Đó là những con người bình thường, hàng ngày được thể hiện một cách tập trung và sống động trong tác phẩm Đây là loại nhân vật hành động, có đời sống nội tâm phong phú,
* Nhân vật trữ tình: là loại nhân vật nghiêng về cảm xúc, không có
hành động, ít được chú ý miêu tả về ngoại hình Mọi tác động của môi trường sống chỉ dẫn đến cảm xúc của nhân vật chứ không dẫn đến hành động
Trang 24* Nhân vật kịch: là loại nhân vật hành động, xuất hiện vào thời điểm
sóng gió nhất, trong vòng xoáy cuộc đời Mọi tác động của môi trường sống đều dẫn đến hành động của nhân vật
Trên đây là các loại nhân vật thường gặp Trong văn học còn có thể gặp một số kiểu loại nhân vật khác nữa Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối vì trong loại này có thể bao hàm một số yếu tố của loại kia và ngược lại Không có gì khó hiểu khi ta thấy một nhân vật cụ thể nào đó có mặt trong nhiều “danh sách” khác nhau Thực tế ấy đòi hỏi việc nghiên cứu nhân vật phải tránh sự cứng nhắc, tuyệt đối hoá
1.1.4 Vài nét về nhân vật tiểu thuyết và nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam trong thời kì đổi mới
1.1.4.1 Vài nét về nhân vật tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại thuộc phương thức tự sự Nó có sức bao chứa dung lượng hiện thực rộng lớn, có khả năng phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống theo hướng tiếp xúc hết sức gần gũi từ nhiều chiều khác nhau Cũng giống như tác phẩm tự sự khác, nhân vật trong tiểu thuyết có một vị trí vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đó là hạt nhân của
sự sáng tạo, là trọng điểm để nhà văn lí giải tất cả mọi vấn đề của xã hội Nhân vật tiểu thuyết được xây dựng theo những cách riêng nhằm đáp ứng đến mức cao nhất yêu cầu nhận thức hiện thực theo cả chiều rộng và chiều sâu của thể loại này
M Bakhtin - tác giả của công trình nghiên cứu nổi tiếng “Lí luận và thi pháp tiểu thuyết” - đã dành nhiều công sức để tìm hiểu về đặc trưng của tiểu
thuyết trên nhiều bình diện, trong đó có nhân vật Những nhận định của M Bakhtin về đặc trưng nhân vật tiểu thuyết rất xác đáng, có giá trị lí luận cao và còn nguyên tính thời sự Theo nhà nghiên cứu, nhân vật tiểu thuyết cần và
Trang 25phải được phân biệt với nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung đại ở những đặc trưng cơ bản sau:
Trước hết, nhân vật tiểu thuyết được thể hiện ở thì hiện tại chưa hoàn thành, trong quá trình biến đổi, trưởng thành và chịu mọi tác động của đời sống Do đó, nhân vật tiểu thuyết sẽ là những “con người nếm trải”, những
“con người chưa hoàn kết” và phải tự làm ra chính mình bằng hành động của mình Trong khi đó, nhân vật trong các thể loại kia lại được thể hiện trong thì quá khứ, là những nhân cách đã được hình thành
Nhân vật tiểu thuyết không tương hợp với số phận và vị thế của nó bởi
thực tế con người không thể hoá thân đến cùng vào cái thân xác lịch sử - xã hội hiện hữu Trong tiểu thuyết, tính thuần toàn của con người biến mất Thay vào đó, xuất hiện sự phân lập giữa con người bên ngoài và con người bên trong Ở nhân vật tiểu thuyết, luôn luôn tồn tại “con người bên trong con người” Tuy nhiên, sự phân lập đó không làm giảm đi sức sống và tính chân thực trong hình tượng nhân vật Ngược lại, sự sống đích thực của cái bản ngã diễn ra dường như ở chính cái điểm con người không trùng hợp với bản thân mình ấy, ở cái điểm con người vượt ra ngoài giới hạn của toàn bộ cái hiện hữu của nó, như một vật thể sinh tồn mà ta có thể rình xem, có thể nhận định, tiên đoán ngoài ý muốn của nó, sau lưng nó
M Bakhtin còn khẳng định: nhân vật trong tiểu thuyết chủ yếu được khám phá từ chiều sâu tâm lí Tiểu thuyết truyền thống hay hiện đại đều
hướng tới tìm tòi và thể hiện thế giới bên trong đầy ảo diệu của con người, cái được gọi là “sự thật ý thức của bản thân” hay “ẩn mật bản ngã” Nhân vật tiểu thuyết, trong tư cách là một quan điểm, một cách nhìn về thế giới và bản thân, được miêu tả thực sự, không hoà lẫn với tác giả, không trở thành cái loa phát tiếng nói tác giả Cái được khám phá và thể hiện ở nhân vật không phải là
“hiện thực về nó” mà là “cái kết quả cuối cùng của sự tự ý thức của nó”, xét
Trang 26cho cùng là “lời nói cuối cùng của nhân vật về bản thân và về thế giới của mình” Và đó mới là trọng tâm xây dựng nhân vật
Như vậy, có thể nói, với những đặc trưng thể loại riêng, tiểu thuyết là một phương thức tự sự khá nhạy cảm, linh hoạt và năng động trong việc nắm bắt và thể hiện vấn đề của con người trong cuộc sống, nhất là ở thì hiện tại Những nhà tiểu thuyết lớn xưa nay đều bộc lộ tài năng và phong cách của mình rõ rệt nhất trong lĩnh vực sáng tạo nhân vật Thông qua những nhân vật
đã được khắc hoạ trong các tác phẩm tiểu thuyết, người đọc không chỉ nhìn rõ
bộ mặt của xã hội đương thời, những biến chuyển của thời đại mà sâu xa hơn
“đọc” được những vấn đề muôn thuở của thân phận con người
1.1.4.2 Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam trong thời kì đổi mới
Văn học là tấm áo khoác của thời đại, “thời đại nào văn học ấy” bởi văn chương là tấm gương phản ánh hiện thực cuộc sống ở mỗi thời kì khác nhau Mỗi thời đại khác nhau sẽ có những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người, do đó sẽ có quan niệm khác nhau về nhân vật cũng như cách thức xây dựng nhân vật trong tác phẩm
Có thể nói, sau năm 1975 khuynh hướng sử thi đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự trong sự phản ánh của văn học Với cái nhìn thế sự, đời sống riêng của cá nhân, kinh nghiệm cá nhân được xem là đối tượng khám phá chủ yếu của văn học Tư duy hiện thực về con người giờ đây đã thay đổi dẫn đến
sự thay đổi trong hệ thống nhân vật, cũng như nguyên tắc xây dựng nhân vật, nhân vật trở lên đa dạng và phức tạp hơn Cách nhìn nhận của nhà văn đối với nhân vật cũng đa chiều và linh hoạt hơn Các nhà văn thời kì đổi mới đã thấy
rõ sự đan xen hai mặt tốt - xấu trong mỗi con người, “con người trong con người” Cho dù con người có đại diện cho giai cấp nào đi nữa thì cũng không thể hoặc tốt đẹp, hoặc xấu xa một cách tuyệt đối Nếu trong văn học trước
1975, con người hiện lên chủ yếu là con người cộng đồng, con người đại diện
Trang 27cho “cái ta” thì ở văn học thời kì đổi mới các nhà văn còn thấy rõ con người ngoài là con người cộng đồng còn là con người cá nhân với chiều sâu bí ẩn của tâm hồn Chính điều này đã góp phần làm cho nhân vật văn học thời kì đổi mới có chiều sâu, sức ám ảnh lớn Các nhà văn đương đại đã bứt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống để đi tìm những yếu tố, chất liệu mới mẻ trong việc phản ánh đời sống
ở bề sâu bí ẩn Nhân vật được soi chiếu từ nhiều chiều, nhiều hướng, đặt trong nhiều mối quan hệ khác nhau, tránh được tính chất phiến diện, giản đơn một chiều Trong văn xuôi sau 1975, “tính riêng” của mỗi nhân trở thành phẩm chất nghệ thuật quan trọng bậc nhất Mỗi nhân vật là một con người cá nhân
cụ thể cần tìm hiểu, khám phá Cái mà nhà văn quan tâm đối với nhân vật không còn là cái đặc điểm, thuộc tính xã hội của nó nữa mà chính là cá tính,
là những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lý đan xen trong bản thân nó
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã có sự đột phá lớn về nhiều mặt, nhiều bình diện, kết đọng ở nhiều thành tựu nổi bật của những tác giả, những cây bút tiêu biểu như: Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Võ Thị Hảo, Chúng ta có thể nhận thấy đổi mới cơ bản của các cây bút này trên nhiều lĩnh vực, xong tập trung nhất vẫn là trong cách tiếp cận và xây dựng nhân vật để phản ánh đời sống
Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, về cơ bản có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, nếu như nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975 (đặc
biệt là giai đoạn 1945 - 1975) được khai khác trong tư cách công dân đơn phiến, được nhìn nhận đánh giá theo quan điểm chính trị thì nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới được khai thác toàn diện, là con người
đa trị, lưỡng cực với các mối quan hệ xã hội vô cùng phức tạp Nhà văn nhận diện con người đích thực trong nhu cầu tự nhận thức, với nhiều biểu hiện
Trang 28phong phú, đa dạng, có sự hoà hợp giữa con người xã hội - con người tự nhiên - con người tâm linh, con người với sự thống nhất ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát… Đặc biệt, các nhà văn chú trọng thể hiện con người trong đời sống bản năng tự nhiên và đời tâm linh bí ẩn, kì diệu, đầy ám ảnh
Thứ hai, nhân vật không có số phận tròn trịa như trong tiểu thuyết
truyền thống mà bị phân mảnh, đôi khi bị phá vỡ, chỉ còn những mảnh nhỏ của tâm trạng, những khoảnh khắc của cuộc đời ngắn ngủi, những dòng ý thức - tiềm thức - vô thức kéo dài miên man không có điểm dừng
Thứ ba, nhân vật không có tính cách hay số phận điển hình mà chỉ là
những con người bình thường, vô danh trong cuộc sống Nhân vật là đủ thứ hạng trong xã hội
Thứ tư, nhân vật là những cá thể đời thường, những con người đang
trong quá trình hình thành về nhân cách, được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ xã hội, quan hệ ứng xử, thân phận, đời sống riêng của nó, với “đầy những vết dập xoá trên thân thể và trong tâm hồn”
Thứ năm, nghệ thuật xây dựng nhân vật tiểu thuyết có nhiều cách tân
với những thử nghiệm táo bạo, thậm chí mạo hiểm, bởi các nhà văn nhận thấy các thủ pháp truyền thống đã không còn đủ khả năng biểu hiện cái đa dạng, phức tạp của con người trong đời sống hiện đại Trong đó phải kể đến sự hồi sinh của thủ pháp huyền ảo, một thủ pháp quen thuộc của văn học dân gian giờ đây lại được khai khác ở những chiều sâu mới và phát huy tác dụng tối đa
ở tiểu thuyết thời kì đổi mới Có thể nói, ở giai đoạn lịch sử mới, các nhà văn
có những chuyển hướng trong nhận thức, tư duy về bản thể người Các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để tạo ra cái nhìn phức tạp hơn và sâu sắc hơn về con người Phác hoạ chân dung những con
Trang 29người vừa đời thường vừa trần thế, luôn khao khát cái đẹp và hướng thiện là nét nổi bật mang đậm nét ý nghĩa nhân văn trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học Việt Nam sau 1975
Tìm hiểu những biểu hiện mới của nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, tác giả luận văn sẽ có thêm cơ sở thực tiễn để nghiên cứu nhân vật đồng tính trong tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn
1.2 Tác giả Bùi Anh Tấn và hành trình sáng tác với đề tài đồng tính
1.2.1 Giới thuyết về “đồng tính”
1.2.1.1 “Đồng tính” trong lịch sử - xã hội
a Khái niệm “đồng tính luyến ái”
Trong “Kinh thi” có câu: “yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”, ta có thể suy ra ý của người xưa muốn nói khát vọng tình dục bao giờ cũng hướng tới người khác giới Theo đuổi, mộng mơ người khác giới hẳn là bản chất của loài người thế mà lại có một số người không muốn theo quy luật bất biến, vĩnh hằng ấy, nghĩa là họ chỉ yêu và khát khao người cùng giới Người ta đặt cho hạng người này là “đồng tính luyến ái”
“Đồng tính luyến ái” (homosexuality) hay “Đồng tính” là một từ
dùng phổ biến ở phương Tây trong thế kỷ XX nhằm gọi hiện tượng tình dục đồng giới
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Đồng tính luyến ái” hay
“đồng tính” chỉ việc hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục cùng giới
tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc lâu dài Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thức của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này (…) Đồng tính luyến ái được coi là một dạng trong thang liên tục của thiên hướng tình dục Thực tế, “đồng tính” khá phức tạp, có nhiều kiểu, dạng, loại và cách gọi khác nhau
Trang 30* “Lesbian” (đọc ngắn là “Les”): chỉ người đồng tính nữ “Les” lại chia làm nhiều kiểu: “Fem” chỉ những người đồng tính nữ có nữ tính, khó phát hiện là les; “Butch” là những người đồng tính nữ có nam tính, cử chỉ điệu bộ giống đàn ông; “Soft butch”(SB) là từ chỉ một dạng khác của đồng
tính nữ, có bề ngoài và cá tính mạnh mẽ nhưng ở mức độ chừng mực, không
cố gắng hết sức nhằm loại bỏ những đặc điểm nữ tính của mình
* “Gay” (từ tiếng Anh) là chỉ những người đồng tính nam “Gay” lại chia làm “gay kín”, “gay mở” (bóng lộ) “Gay kín” là những đồng tính
nam có nam tính, rất khó và không thể nhận biết được họ đồng tính nếu họ
không công khai “Gay mở” là những người đồng tính nam ăn mặc, cử chỉ
như phụ nữ, họ tự coi mình là nữ giới và nhiều người đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính
Một cách bình dân, “pêđê” có thể chỉ người đồng tính nam, “ô môi” có thể chỉ người đồng tính nữ Các từ “đồng tính luyến ái”, “gay”, “les” là từ khoa học mang tính chất trung lập song các từ “pêđê”, “bóng lộ”, “hifi”… mang tính xúc phạm ít hoặc nhiều
Cụm từ “giới thứ ba” mặc dù không mang tính chất xúc phạm và được dùng phổ biến bởi người dân và báo chí nhưng nó không có định nghĩa rõ ràng và thường để chỉ cộng đồng người đồng tính và người chuyển giới tính một cách không phân biệt
Theo bác sĩ Trần Bồng Sơn, nhà giới tính học nổi tiếng nhất Việt Nam,
có hai loại người đồng tính: thật và giả Những người đồng tính thật là những người đồng tính bẩm sinh và số người này rất hiếm Theo ông, hầu hết những người đồng tính là giả, bị bạn bè rủ rê để thử nghiệm lối sống mới nhưng cuối cùng cũng trở về với lối sống trước đó
b Nguyên nhân của hiện tượng “đồng tính luyến ái”
Trang 31Có nhiều giả thiết về về nguyên nhân tạo nên “đồng tính luyến ái”, trong đó, có hai nguyên nhân được xem là chủ yếu: di truyền học và quá trình phát triển tâm lí
- Di truyền học:
Bất kỳ tế bào nào của cơ thể loài người đều có 22 cặp nhiễm sắc thể thường và một cặp nhiễm sắc thể giới tính Ở phái nữ, nhiễm sắc thể quy định giới tính là x và x, còn ở nam là x và y Đôi nhiễm sắc thể giới tính này quyết định những khác biệt giữa hai phái, trong đó có bộ phận sinh dục ngoài Bên cạnh đó, bộ não nam và nữ cũng khác nhau Não có một vùng đặc biệt gọi là hạ đồi, tiết ra nội tiết tố có tác dụng kích thích tinh hoàn hay buồng trứng sản xuất ra nội tiết tố giới tính Trung tâm não còn có trung tâm xác định đối tượng tình dục mà nếu bị trục trặc thì có thể sinh ra chuyện… yêu người cùng phái
Zwang (1985) cho rằng có “rối loạn trong cấu trúc của bản năng cố định đối tượng” Cấu trúc này được cho là nằm rất sâu bên trong “hệ não rìa” (limbic system), là một trong những khu vực khó nghiên cứu và ít được hiểu biết nhất của não bộ, nó có nhiệm vụ tạo ra, rồi sau đó cố định “hình ảnh đối tượng”
Có người lại cho rằng mấu chốt của vấn đề lại nằm trong Gen Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng 33% những người anh trai có em đồng tính luyến ái cũng sẽ trở thành đồng tính luyến ái, kể cả khi họ lớn lên trong hai môi trường khác nhau
Có trường phái giải thích cho rằng do Hormone: Những người đàn ông
có ostrogen hoặc phụ nữ có androgen quá mức sẽ có thể bị ảnh hưởng về cả thể chất và tâm lí Đồng tính luyến ái là do các hormone này Ví dụ, nhiều trường hợp nam (bóng lộ) thích ăn mặc như phụ nữ, dáng đi ẻo lả, giọng
Trang 32“dẻo”; nữ (butch) thích ăn mặc như con trai, giọng ồ ồ, tính tình mạnh bạo như đàn ông
Năm 1993, một nhóm nghiên cứu y học do Dean Harner đứng đầu đã tìm mối liên hệ giữa gen và chứng đồng tính luyến ái Họ tìm thấy một điểm đặc biệt trên nhánh dài của nhiễm sắc thể được truyền từ mẹ sang con và thường gặp ở những người đồng tính luyến ái
- Quá trình phát triển tâm lý:
Bên cạnh chứng minh đồng tính luyến ái là do di truyền học, không số
ít các nhà tâm lí học chứng minh là do quá trình phát triển tâm lý
Sigmund Freud (nhà phân tâm học nổi tiếng) và rất nhiều nhà tâm lí học khác cho rằng: quá trình hình thành các kinh nghiệm thời thơ ấu của trẻ góp phần định hướng giới tính của trẻ sau này Ông tin rằng những người đồng tính luyến ái vẫn là đồng tính luyến ái khi đã lớn Nhưng ông cũng tin rằng tất cả người lớn kể cả người có quá trình phát triển giới tính bình thường vẫn có một “khả năng đồng tính” tiềm tàng ở nhiều cấp độ khác nhau
Để tổng kết lại, người ta xem lại tất cả các nghiên cứu về vấn đề này và kết luận lại: các hành vi về giới tính rất khác nhau đối với mỗi người Cũng như trí thông minh, thiên hướng tình dục cũng là một phần hết sức phức tạp
mà khoa học hiện đại đang cố gắng giải thích bằng di truyền học… không thể khẳng định đồng tính hoàn toàn là do các quá trình sinh học, mà là từ từ phát triển qua một quá trình bao gồm các yếu tố sinh lí và tâm lí
c Nguồn gốc của “đồng tính luyến ái”
Đồng tính luyến ái đã thực sự trở thành một trong những hiện tượng quan trọng ở cả phương Đông và phương Tây
Khi nghiên cứu lịch sử của nhân loại, các nhà khoa học rất bất ngờ rằng đồng tính đã xuất hiện từ rất sớm (thế kỉ VI -> thế kỉ IV TCN), khi những nền văn minh của loài người bắt đầu nhen nhúm, từ Đông sang Tây, từ Á sang Âu
Trang 33đồng tính không còn là chuyện lạ Nhiều truyền thuyết, nhiều cổ vật miêu tả cảnh quan hệ đồng tính Nổi bật nhất có thể thấy đồng tính hiện diện ở nền văn minh Hi Lạp, La Mã, Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc, Nhật Bản và thậm chí trong Kinh thánh được xem là một trong những tài liệu cổ xưa nhất cũng nói
về đồng tính
Tại cộng hoà Séc, các nhà khoa học đã khai quật được một ngôi mộ cổ của một người đồng tính có niên đại từ 4500 năm đến 5000 năm tại ngay thủ
đô Praha Nhiều nhân vật lịch sử trong đó có Socrates, Lord Byron, Leônardo
da Vinci,…có thể được xem là người đồng tính Vị vua lừng danh Friedrich II đại đế tức “Friedrich độc đáo” trị vì nước Phổ từ 1740 đến 1786 cũng bị nghi vấn đồng tính luyến ái
Ở Đông Á, tình yêu đồng tính có trong những tài liệu lịch sử xa xưa nhất
Đồng tính luyến ái ở Trung Quốc được biết đến với “mối tình cắt tay áo” (vua Lưu Hân thời nhà Tây Hán vào năm thứ VII TCN yêu mê mệt chàng trai trẻ Đồng Hiền…)
Đồng tính luyến ái ở Nhật Bản được biết đến dưới dạng chúng đạo shudo hay nam sắc nanshoku (những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Quốc) được ghi nhận từ hơn một nghìn năm và từng là một phần trong đời sống phật giáo và truyền thống Samurai Văn hoá tình yêu cùng giới làm truyền thống hội hoạ và văn chương cũng được tôn vinh “Truyện kể Genji” là một trường thiên tiểu thuyết của Murasaki Shikibu cũng đề cập đến mối quan
Trang 34Như vậy, không phải bây giờ mới có đồng tính mà đồng tính đã xuất hiện từ rất lâu Nói bây giờ đồng tính nhiều hơn do lây lan là “oan” cho đồng tính vì các nhà khoa học nghiên cứu được rằng luôn có một tỉ lệ đồng tính nhất định trên tổng dân số (trung bình khoảng 5%) Chính vì thế dân số tăng thì tỉ lệ đồng tính cũng phải tăng theo Mặt khác, thời đại ngày nay, công nghệ phát triển, nhận thức thoáng hơn thì nhiều người đồng tính “công khai” hơn trước kia
d Quan điểm xã hội đối với hiện tượng đồng tính luyến ái
Do những thành kiến và phân biệt đối xử, thậm chí ngay cả phỉ báng, khinh rẻ, kết tội trong nhiều xã hội, nhiều cộng đồng mà nhiều người đồng tính luyến ái phải chịu áp lực, tủi hổ và đau khổ
Trong thế kỷ XX, Đức quốc xã đã cho hành quyết những người đồng tính luyến ái vì cho rằng họ đe doạ sự nam tính và làm dơ bẩn “giống nòi Aryan” Năm 1950, hàng trăm người bị sa thải vì là đồng tính trong một chiến dịch có tên là “Nỗi sợ hoa oải hương” của M.Carthyism
Hiện nay, khi xã hội đã cởi mở hơn, quyền cá nhân càng được tôn trọng hơn thì thái độ của xã hội đối với những người đồng tính luyến ái không còn quá nghiệt ngã
Ở Việt Nam, nhìn chung thái độ của xã hội đối với đồng tính luyến ái
là kì thị ở các mức độ khác nhau hoặc không thể hiện thái độ rõ ràng như phớt
lờ, không quan tâm Những định kiến về đồng tính luyến ái vẫn còn khá phổ biến trong xã hội Việt Nam Mặc dù pháp luật không cấm cản nhưng đề tài đồng tính luyến ái được xem là không bình thường, tránh né
1.2.1.2 “Đồng tính” trong văn học nghệ thuật
“Văn học đồng tính - LGBT (lesbian, gay, bisexual, transgender) literature đã từng một thời bị coi là đề tài cấm kị trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, cùng với những cuộc đấu tranh về quyền con người, đấu tranh về bình
Trang 35đẳng giới, sự thừa nhận của xã hội đối với giới tính thứ ba, đó cũng là lúc dòng văn học dành cho người đồng tính bước từ bóng tối ra ánh sáng” [37], được bạn đọc đón nhận thậm chí say mê bởi những sáng tác viết về đề tài này
có nội hàm giá trị văn học nhất định mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Tác giả văn học đồng tính có những tiêu chuẩn phán đoán luân lý đạo đức và xuất phát từ cơ sở quan hệ giữa văn học với nhân tính, từ góc độ phân tích xã hội
và phát triển lịch sử để giải thích ý nghĩa văn hoá đồng tính
Văn học đồng tính hiện hữu như một nhu cầu tự thân, phản ánh cuộc sống muôn màu của những người đồng tính Thế giới đồng tính phức tạp nhưng lại đầy hấp dẫn Đó cũng là nguyên nhân khiến một số nhà văn dày công viết nên tác phẩm văn học đồng tính mới lạ, mang giá trị sâu sắc
* Văn học đồng tính trên thế giới
Trên thế giới, đề tài đồng tính trong văn chương không còn xa lạ Tuy mỗi nhà văn có cách tiếp cận và góc nhìn khác nhau nhưng nhìn chung tác phẩm văn chương về “giới thứ ba” đã ít nhiều giảm bớt việc bị cái nhìn định kiến và “cấm kỵ” của xã hội “theo dõi”
Theo tác giả Kilian Meloy trong bài viết “Ảnh hưởng của những nhân vật đồng tính trong văn học” - Influential Gay Characters in Literature thì:
“Sự phát triển của đề tài đồng tính trong văn học nghệ thuật liên quan mật thiết đến phong trào đấu tranh vì quyền con người, trong số đó có việc đấu tranh đòi bình đẳng cho người đồng tính Những tác phẩm văn chương đồng tính trên một góc độ nào đó đã thu hút được sự chú ý của dư luận, tạo nên cái nhìn cảm thông hơn của xã hội với giới thứ ba” “Đồng tính” trở thành đề tài
“nóng” trong văn học, thu hút được sự chú ý của nhiều độc giả từ cổ chí kim,
từ Đông sang Tây
- Trong văn học phương Tây:
Trang 36Tác phẩm “Lịch sử có thật” (True History) của nhà văn Hy Lạp
Lucian (120 - 185) được coi là tác phẩm đầu tiên đề cập đến chuyện tình yêu của những người đồng tính nam Cốt truyện kể về nhân vật chính bị cơn bão cuốn lên mặt trăng và chứng kiến cuộc chiến tranh giữa cư dân mặt trăng và
cư dân mặt trời Nhân vật chính (nam giới) sau những chiến công trên chiến trường đã được vua mặt trăng chọn làm con rể bằng cách cho lấy con trai nhà vua
Tuy nhiên trong suốt thời kì trung cổ, đồng tính bị coi là chủ đề cấm
kỵ nghiêm ngặt Mãi sau này, hiện tượng đồng tính mới xuất hiện trở lại một cách dè dặt trong các tác phẩm văn học
“Carmilla” của Sheridan le Fanu là tác phẩm đầu tiên đề cập đến quan
hệ đồng tính nữ, thể hiện ở hình tượng người con gái bị biến thành Ma cà rồng và có hành vi sex với người đồng giới
Trong khi đó, tiểu thuyết “Bức tranh của Dorian Gray”- The picture
of Dorian Gray của nhà văn danh tiếng Oscar Wilde đã khiến độc giả đương
thời shock nặng với cảnh quan hệ đồng tính dày đặc
Tiểu thuyết “Tiếng trống khác”- A Different Drum của Chris Davidson
cũng kể về tình yêu phát sinh giữa hai chàng lính Yankee và lính liên bang ở hai chiến tuyến trong cuộc nội chiến Mỹ
Cho đến thế kỉ XX, có không ít tác giả cũng đã bắt đầu có những tác phẩm chất lượng về đề tài này Văn học về đề tài đồng tính đã trở thành một trào lưu khá mạnh mẽ, nhiều tác phẩm làm say mê hàng triệu độc giả trên thế giới
Tiểu thuyết “Annie trong tâm trí tôi”- Annie on My Mind của nhà văn
nữ người Mỹ Nacy Garden, xuất bản năm 1982 là một câu chuyện tình đầy tinh tế và nhạy cảm về tình bạn, tình yêu, về định kiến và những lực cản xã
Trang 37hội Nữ văn sĩ Nancy đã tỏ ra đồng cảm với nỗi lòng và tâm trạng của những người đồng tính luyến ái
Tiểu thuyết “Cầu vồng trên cao” - Rainbow High của Alex Sancher
nhà văn Mỹ gốc Mêxicô xoay quanh 3 nhân vật chính: Carillo, Kyle Meeks
và Nelson Glassan Họ đều là những học sinh cấp ba, tình cờ gặp nhau trong cuộc phiêu lưu của những người “gay” trẻ vào dịp đầu năm học cuối Ba nhân vật, ba tính cách khác nhau, ba số phận và những mối tình “gay” đan chéo Không kết thúc câu chuyện bằng một kết cục có hậu cũng không quá tuyệt
vọng, “Cầu vồng ở trên cao” là bức chân dung chân thực và trầm lắng về đời
sống của các bạn “gay” tuổi teen Và dù bạn bị “gay” hay bất kì một ai đó,
“Rainbow High” sẽ khiến bạn cùng khóc, cùng cười, cùng thổn thức với tâm
trạng và nỗi niềm của từng nhân vật trong suốt chiều dài hơn 270 trang viết của nhà văn
Cùng với những tiểu thuyết trên, “Những chàng trai vùng thị trấn Common” - Common Sons của Ronald L Donghe (Mêxicô) cũng là một
trong những tiểu thuyết về đồng tính làm say mê hàng triệu độc giả trên thế giới thế kỷ XX, XXI Được phát hành lần đầu tiên vào năm 1989 với gần 400
trang, “Common Sons” đã nhận được nhiều lời khen ngợi và tán thưởng từ
phía độc giả và giới chuyên môn bởi “Tác phẩm tiêu biểu điển hình về lớp
gay trẻ tuổi thời đại ngày nay…” Tạp chí Outlook đã nhận xét: “Common Sons” là “câu chuyện tình đầy cảm động giữa hai chàng trai trẻ (Joel và
Tom) Một cuốn tiểu thuyết rất hay và khó có thể dừng lại khi bạn đang
đọc…” Với gần 400 trang, “Những chàng trai vùng thị trấn Common” là
bức thông điệp về sự tự khám phá bản thân của con người, về tình yêu, khát vọng “coming out” (nói thẳng) và tìm đến vươn tới lẽ phải để đối mặt với sự căm thù và nỗi bất hạnh
Trang 38Sự phát triển của văn học với đề tài đồng tính ngày càng “bùng phát”, thu hút được sự chú ý của khá nhiều độc giả Gs.Stephaine Fôte, đại học Illinois phát biểu: “Những tác phẩm đồng tính có những giá trị nhất định bởi chúng có độc giả riêng Chúng cũng giúp xã hội thay đổi nhận thức về người đồng tính Đồng thời, nó cũng là thông điệp gửi đến những người đồng tính: các bạn không cô đơn!”
Ngoài những tác phẩm kể trên, có thể kể đến “John kỳ lạ” - Odd John của Olaf Stapledon, “Thế giới biến mất” - The World Well Rost của Sturgeon Năm 1964, cuốn “Sa mạc trái tim” - Derert of the Heart của Jane Rule và cuốn “Nghe thấy tiếng hát của những nàng tiên cá” - Mrs Stevens
Hears the Mermaids Singing của bà Stevers là hai cuốn sách về đề tài đồng tính đầu tiên được giới giới xuất bản chính thống ở Mỹ xuất bản ở dưới dạng
bìa cứng Tác phẩm “Nữ đàn ông” - The Female Man (Joanna Russ) được
độc giả đón nhận nồng nhiệt, đưa vị trí của Russ lên hàng “bà hoàng văn học đồng tính”…
- Trong văn học phương Đông:
Cùng với phong trào đấu tranh về bình đẳng giới, sự “bùng phát” của dòng văn học đồng tính ở châu Âu, các nước phương Tây, ở Đông Á cũng xuất hiện nhiều tác phẩm viết về đề tài đồng tính, tiêu biểu là ở Trung Quốc
“Hồng Lâu Mộng” (Tào Tuyết Cần), “Nho lâm ngoại sử” (Ngô Kính Tử)…
Trang 39Nhiều tác phẩm đã được chuyển thể thành phim và trình chiếu ở nước ngoài
(Đông cung, Tây cung)
“Cuối niên đại 90 của thế kỷ XX, văn hoá đồng tính ngày càng nở rộ ở Trung Quốc và những tác phẩm văn học đồng tính luyến ái bắt đầu khai hoa kết trái ở Trung Quốc lục địa Những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn này có
“Ngói vỡ” (Tô Đồng, Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang, 1997), “Góc xấu đăng trường” và “Giường rẻ quạt hoa hồng” (Thôi Tử Ân, Nxb Hoa Thành, 1998), “Ngày tháng si mê”, (Cách Tử, Nhà xuất bản Văn nghệ Xuân
Phong, 1999)…” [38] Ngoài ra còn xuất hiện nhiều tác phẩm viết về đồng tính trên mạng cũng được lưu truyền và đón nhận
(+) Ở Nhật Bản cũng xuất hiện nhiều nhà văn viết về đề tài này, tiêu
biểu là nhà văn Haruki Murakmi với tiểu thuyết mang tên “Người tình Sputnik” Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Marakmi đi sâu vào thế giới đồng tính nữ nhưng “Người tình Sputnik” trước hết là một ẩn dụ đẹp và da
diết buồn về sự cô độc của kiếp người, về sự mất đi và tìm kiếm vô vọng cái tôi đích thực
* Văn học đồng tính tại Việt Nam
Tại Việt Nam, văn học đồng tính xuất hiện khá muộn so với thế giới Nhắc đến “đồng tính”, nhiều nhà nghiên cứu hoặc cho đó là một lĩnh vực
“nhạy cảm” hoặc cho đó là dung tục, tầm thường mà bỏ qua hoặc ám chỉ
Ngược dòng thời gian, trường hợp điểm hình tiêu biểu cho sự đảo
trang trong văn học Việt Nam hẳn phải là sự tích “Quan Âm Thị Kính” và
đây cũng là khuôn mẫu cho một biến tác hiện đại khá lý thú đi đôi với sự đảo
vị giới tính trong cuốn tiểu thuyết lãng mạn “Hồn bướm mơ tiên” (1932) của
Khái Hưng giữa hai nhân vật Lan và Ngọc
Trang 40Văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX cũng đã xuất hiện một số tác phẩm
về đề tài này dù còn lẻ tẻ, rải rác, tế nhị mang tính ẩn dụ qua các hình tượng nghệ thuật
Nhà thơ Xuân Diệu nổi tiếng chủ yếu qua thơ tình của ông và bài thơ
“Tình trai” được xem là một trong những phát ngôn sớm nhất về tình yêu
đồng tính nam trong văn học Việt Nam hiện đại Ngoài ra, Xuân Diệu cũng có
các bài thơ khác cũng viết về đề tài này như: “Em đi”, “Biển”… (Bài thơ
tặng mối tình trai của ông và Hoàng Cát) “Trong tập văn xuôi ít biết đến hơn
vào năm 1939 là “Phấn thông vàng” có một truyện ngắn là “Chó mèo hoang”, những con vật lạc loài được dùng làm ẩn dụ khó lầm cho những con
người biến dị và lạc loài trong thế giới tình dục dị tính quy phạm” [42]
Nhà thơ Huy Cận cũng có một số bài thơ như “Vạn lý tình”, “Mai sau”, “Ngủ chung” thấp thoáng đề cập đến vấn đề đồng giới Bài “Ngủ chung” tả cảnh ngủ chung của học trò cùng phái tính, giữa những người bạn
trai với nhau với nhiều ngôn từ, hình ảnh “không bình thường” Có lẽ, cùng
với bài “Tình trai” của Xuân Diệu, bài “Ngủ chung” này của Huy Cận là
những bài thơ tiêu biểu cho chuyện đồng tính luyến ái ở Việt Nam
Đến văn học đương đại, trong khoảng 15 năm trở lại đây, đề tài đồng tính đã bắt đầu được khai khác một cách mạnh dạn Nhiều tác giả đã chọn đề tài gai góc này để thử bút Có thể kể ra đây những tác phẩm tiêu biểu như:
“Một thế giới không có đàn bà” (Bùi Anh Tấn, 1999), “Les - vòng tay không đàn ông” (Bùi Anh Tấn, 2004), “Phương pháp của A.C.Kinsey”(Bùi Anh Tấn, 2005),“Xin lỗi em, anh đã yêu anh ấy” (Nguyễn Thơ Sinh, 2007),
“Song song” (Vũ Đình Giang, 2007), “Tôi là les” (Dị bản, Keng, 2008), tự truyện “Bóng” của Nguyễn Văn Dũng (Hoàng Nguyên, Đoan Trang (ghi), 2008), tự truyện “Thành phố không lạc loài” của Phạm Thành Trung ( Lê Anh Hoài, (ghi), 2008), “Những đốm lửa trên vịnh Tây Tử” (Trang Hạ,