1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh

131 996 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 890,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp cận tiểu thuyêt Mẫu Thượng Ngàn từ phương diện nội dung, tư tưởng, luận văn Thạc sĩ Khoa học Văn học - Đại học Sư phạm Hà Nội của tác giả Dương Thị Huyền với đề tài Nguyên lí tính

Trang 1

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Phạm Thành

Hưng - người thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tâm dìu dắt, chỉ bảo giúp tôi hoàn

Từ đáy lòng mình, tôi xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với gia

đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn ở bên tôi, giúp đỡ và động viên

kịp thời để tôi vững tâm nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2012

Tác giả luận văn

Lưu Thị Thu Hương

Trang 2

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Thành Hưng

Những tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác, được trích dẫn và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các Website… với sự trân trọng, biết ơn Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2012

Tác giả luận văn

Lưu Thị Thu Hương

Trang 3

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Đóng góp mới của luận văn 9

8 Cấu trúc luận văn 9

NỘI DUNG Chương 1: Mẫu Thượng Ngàn trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam đương đại 10

1.1 Đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 10

1.1.1 Tiền đề xã hội - thẩm mĩ 10

1.1.2 Đội ngũ nhà văn 11

1.1.3 Những thành tựu mới 12

1.2 Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 - những vấn đề đổi mới tư duy và cách tân nghệ thuật 17

1.2.1 Quan niệm mới về tiểu thuyết 17

1.2.2 Một số khuynh hướng nổi bật 21

1.2.3 Những tìm tòi đổi mới .26

1.3 Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và một lối đi riêng 30

1.3.1 Lộ trình văn chương Nguyễn Xuân Khánh 30

1.3.2 Một ngả rẽ thú vị 32

Chương 2: Người kể chuyện và thế giới nhân vật trong truyện kể 39

2.1 Người kể chuyện 39

2.1.1 Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 39

2.1.2 Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn .41

2.2 Thế giới nhân vật 50

2.2.1 Nhân vật trong thể loại tiểu thuyết 50

2.2.2 Các kiểu nhân vật đặc sắc trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn 53

2.2.3 Một số thủ pháp xây dựng nhân vật 75

Chương 3: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 84

3.1 Cốt truyện trong tiểu thuyết 84

3.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện độc đáo, giàu sức sáng tạo của Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn 86

3.2.1 Tổ chức kiểu cốt truyện phân mảnh 87

3.2.2 Cách tổ chức “truyện trong truyện” 96

3.2.3 Tổ chức cốt truyện dựa trên những yếu tố kỳ ảo 102

KẾT LUẬN 116

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn, mang tính chất như là "sử thi về

đời tư” (Bê-lin-xki), nên thường giữ vai trò “cỗ máy cái” của văn học và trở thành một trong những tiêu chí đánh giá sự trưởng thành của một nền văn học Việc thiếu vắng thành tựu của thể loại này là một chỗ trống đáng buồn cho bất

cứ nền văn học nào Những năm gần đây, tiểu thuyết được đánh giá là một thể loại phát triển mạnh mẽ nhất của văn học Việt Nam Bên trong cái bộn bề,

đa dạng của bức tranh tiểu thuyết thập kỷ qua, có thể nhận thấy tiểu thuyết lịch sử là dòng chủ lưu có nhiều đóng góp về tư tưởng và nghệ thuật cho thể loại này

1.2 Trong làng tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Nguyễn Xuân Khánh

được coi là một người đàn ông vô cùng kỳ lạ Đột ngột xuất hiện, như thể ông vừa bước ra từ một huyền thoại nào đó, từ một sự ẩn mình đâu đó lâu lắm, như loài trầm hương trong rừng sâu kia, một ngày nhoài lên từ lớp mùn và mục gỗ để đi về phía ánh sáng mặt trời, đem theo mùi hương quý giá Vắng mặt trên văn đàn hàng chục năm, ông bất chợt “tái xuất giang hồ” ở tuổi 70 với thể tài tiểu thuyết lịch sử và ngay lập tức được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt

1.3 Tiểu thuyết Việt Nam trong độ mươi năm lại đây, nếu không có

Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh thì sẽ bớt đi biết bao nhiêu cái

sang trọng của bản sắc văn hóa Việt thấm đẫm trong văn học Việt Trong mùa giải năm 2006, tác phẩm đã giành được số phiếu tuyệt đối (9/9 số phiếu bầu)

của Hội đồng chung khảo và đoạt giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội Sau Hồ Quý Ly đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2003, Mẫu Thượng Ngàn đã chứng tỏ bút lực dồi dào đến tràn trề và say đắm của Nguyễn Xuân Khánh Theo nhận định của Hội đồng chung khảo: “Mẫu Thượng Ngàn là

Trang 5

cuộc bứt phá ngoạn mục của Nguyễn Xuân Khánh trong đội hình nhà văn thế

hệ U70 - U80 Mặc dù ở một số chương đoạn, sự dông dài tỉ mỉ làm chùng lại

dòng chảy của câu chuyện, Mẫu Thượng Ngàn vẫn là cuốn tiểu thuyết nổi bật

trong những ứng cử viên của giải thưởng năm nay, mang tính lịch sử, văn hóa, phong tục, lại có vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại Văn hóa Việt, tín ngưỡng Việt và cuộc hòa nhập với văn minh phương Tây, đồng thời là sự phản kháng, được mô tả sâu đậm và quyến rũ” [26] Nhà văn đã rất sâu sắc trong cách kiến giải về văn hoá, lịch sử và “cao tay” trong kỹ thuật tự sự khi dâng cho đời công trình nghệ thuật này

1.4 Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại hiểu theo

nghĩa rộng, nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan, nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc Trong những năm gần đây, tự sự học đã trở thành lĩnh vực thu hút

sự chú ý của giới nghiên cứu Việt Nam, nhờ vai trò quan trọng của nó trong việc tìm hiểu văn chương dưới một hệ hình mới

Xuất phát từ những gợi ý trên, chúng tôi quyết định lựa chọn việc tiếp

cận vấn đề: Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của

Nguyễn Xuân Khánh với hy vọng sẽ đem lại những đóng góp nhất định đối

với công tác giảng dạy và nghiên cứu văn chương Đó là góp thêm một tiếng nói khẳng định vị trí, vai trò của Nguyễn Xuân Khánh và diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Đồng thời thể nghiệm và khẳng định một cách

đọc - hiểu văn bản tự sự dưới một hệ hình mới Thành quả ấy chỉ rất khiêm

tốn, nhưng đó là nguồn động lực thôi thúc, cổ vũ chúng tôi theo đuổi con đường mình đã chọn, đã đi và tiếp tục còn đi

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Xuân Khánh là một cây bút có bản lĩnh và sức sáng tạo dồi dào Sự ra đời ba tiểu thuyết kiến giải về lịch sử, văn hoá, phong tục gần đây

Trang 6

của nhà văn cho phép chúng ta khẳng định Nguyễn Xuân Khánh đã có những tìm tòi và thể nghiệm không ngừng để làm mới tiểu thuyết Đã có không ít các công trình, các bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm lại những công trình nghiên cứu, những bài viết

về tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, để thấy được kết quả và những “điểm

dừng” trong lịch sử nghiên cứu về tác phẩm này

2.1 Các công trình nghiên cứu phê bình, luận án, luận văn, khoá luận

Trước tiên, tác giả luận văn xin nhắc tới hai công trình nghiên cứu có tính chất bao quát về tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Đó là: Báo cáo tổng kết

đề tài khoa học cấp bộ mang tên Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta

từ thời điểm đổi mới đến nay do PGS TS Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm đề

tài và luận án Tiến sĩ Ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh với đề tài

Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay Ở hai công trình nghiên cứu này, có khi tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn được đặt trong diện mạo tiểu thuyết

Việt nam từ sau 1945 đến nay, có khi lại được đặt trong diện mạo tiểu thuyết Việt Nam 5 năm đầu thế kỷ XXI để phân tích, nhận diện và chỉ ra sự biến đổi trong tư duy thể loại, lý giải những thể nghiệm, cách tân, ghi nhận thành tựu bước đầu của nỗ lực đổi mới tiểu thuyết, góp phần cập nhật đời sống văn chương đương đại

Tiếp cận tiểu thuyêt Mẫu Thượng Ngàn từ phương diện nội dung, tư

tưởng, luận văn Thạc sĩ Khoa học Văn học - Đại học Sư phạm Hà Nội của tác

giả Dương Thị Huyền với đề tài Nguyên lí tính mẫu trong “Mẫu Thượng

Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh và luận văn Thạc sĩ Khoa học Văn học - Đại

học Sư phạm Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh với đề tài: Diễn ngôn lịch sử và văn hoá trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh chủ yếu bàn về vấn

đề tâm linh và vẻ đẹp, sức sống văn hoá Việt Cùng mối quan đến nội dung tư

Trang 7

tưởng tác phẩm, khoá luận Tốt nghiệp - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn của tác giả Nguyễn Thu Hương với đề tài Bản sắc dân tộc trong “Mẫu Thượng Ngàn” đã đề cập tới một số nét nghệ thuật trong tác phẩm

Ở những phương diện tiếp cận khác, trong khoá luận tốt nghiệp Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh dưới góc nhìn thể loại (qua hai tác phẩm Hồ Quý

Ly và Mẫu Thượng Ngàn) - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hoàng

Thị Hiền Lương đã chú ý đề cập tới vấn đề hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh Dù cách đặt vấn đề có khác nhau, song luận văn Thạc sĩ

Khoa học Văn học - Đại học Sư phạm Hà Nội của tác giả Nguyễn Hồng

Duyên với đề tài Thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh

và luận văn Thạc sĩ Khoa học Văn học - Đại học Sư phạm Hà Nội của tác giả

Nguyễn Thị Thanh Huyền với đề tài Từ tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” đến “Mẫu Thượng Ngàn” đã chú ý tới vấn đề nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn

trong tác phẩm

Như vậy, tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn đã thu hút được sự quan tâm

chú ý của các nhà nghiên cứu và giảng dạy khối nhà trường đại học Không

chỉ đơn thuần nhìn nhận Mẫu Thượng Ngàn là cuốn tiểu thuyết về lịch sử, văn

hóa, về tình yêu của người đàn bà, với phạm vi nghiên cứu của mình, nhiều tác giả đã có sự tìm hiểu các vấn đề thuộc về “kỹ thuật tự sự” trong cuốn tiểu thuyết “thật hay về văn hóa phong tục này”, nhưng chỉ ở một vài khía cạnh và chưa có sự chuyên sâu Những “bước tiến” và “điểm dừng” của các công trình nghiên cứu trên là cơ sở, là xuất phát điểm để chúng tôi tiến hành đề tài

nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của

Nguyễn Xuân Khánh

2.2 Các bài viết giới thiệu - phê bình, trên báo in và mạng Internet

Nói đến lịch sử nghiên cứu tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn

Xuân Khánh mà chỉ đề cập đến những công trình nghiên cứu khoa học, những

Trang 8

khoá luận, luận văn sẽ là một thiếu hụt lớn Mới được xuất bản mấy năm trở lại đây (từ 2006) nên những công trình nghiên cứu dày dặn và tập trung về tác phẩm còn ít ỏi Trái lại, tác phẩm này lại được giới thiệu rộng rãi và dành được sự quan tâm sôi nổi trên báo in và mạng Internet, đặc biệt là các diễn đàn văn học, các trang điện tử

Quan tâm tới giá trị văn học có tác động tích cực tới nền tiểu thuyết và văn học nước nhà, nhà văn Nguyên Ngọc đã khẳng định giá trị độc đáo của

Mẫu Thượng Ngàn trong bài viết Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa Việt Theo nhà văn, để đi tìm một nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này thì

chính là nền văn hoá Việt Tác phẩm đặc sắc ở việc nhìn nhận những giá trị văn hoá dân tộc trong một hoàn cảnh lịch sử cực đoan nhất (đứng trước sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân Pháp cùng một nền văn hoá hoàn toàn xa lạ) Với tư cách là một người bạn, một người bạn vô cùng thân thiết, nhà văn

Châu Diên trong bài Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc hé lộ: Mẫu Thượng Ngàn là một biến thể hoàn toàn mới của Làng nghèo xưa, được

viết vào chặng đường chín chắn nhất của đời nhà văn Và rất tự hào về bạn khi

nhận xét: “Nếu Nguyễn Xuân Khánh in bản Làng nghèo, anh sẽ có một cuốn tiểu thuyết bậc trung, hiện thực tàm tạm Đẩy lên thành Mẫu Thượng Ngàn,

anh đã có một tiểu thuyết mang tầm khái quát văn hóa, nhân vật không còn là những thân phận riêng lẻ mà là cả một cộng đồng” [20] Tác giả Ngô Lê

Khánh Huyền trong bài viết Nguyễn Xuân Khánh và ông Châu Diên, ông Dương Tường khẳng định: tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn chứa đựng cả một

kho tàng phong tục tập quán, đọc tác phẩm thấy hiểu và yêu thêm dân tộc

mình Trong bài viết Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: về từ miền hoang tưởng,

Lê Thanh Bình cho rằng: với Mẫu Thượng Ngàn, nhà văn Nguyễn Xuân

Khánh đã thành công trong việc gửi gắm một thông điệp về tình yêu: tình yêu dân tộc, yêu đất nước, sự gắn bó với nền văn hóa Việt và trách nhiệm giữ gìn nền văn hóa ấy

Trang 9

Quan tâm đặc biệt tới giá trị nghệ thuật tác phẩm, trong một bài phỏng

vấn của VTC News, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng: Mẫu Thượng Ngàn là tác phẩm hấp dẫn và cuốn hút, lối viết của nhà văn vẫn là cổ điển

nhưng mang đậm hơi thở của cuộc sống thời đại, đặc biệt là những trường đoạn viết về bản thể tự nhiên, tính phồn thực của nhân vật nữ Rất sum suê, phì nhiêu kiểu Nguyễn Xuân Khánh [10] Nhà văn Văn Chinh trong bài viết

Lão mai Nguyễn Xuân Khánh vẫn rừng rực nở hoa cũng có nhận xét: Mẫu Thượng Ngàn bộn bề yếu tố folklo với các môtíp dân gian, các câu hát hầu bóng, văn tế… Và sex trong Mẫu Thượng Ngàn không đơn thuần là sex mà

hàm chứa sức sống tâm hồn Việt, văn hoá Việt

Vấn đề nhân vật trong tác phẩm được bàn tới nhiều, nhưng chủ yếu là những đánh giá, bàn luận về hình tượng người phụ nữ Nguyên Ngọc trong

bài Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa Việt khẳng định: trong cuốn tiểu

thuyết này, đông đúc nhất, đậm nhất, mê nhất là những nhân vật nữ Đỗ Ngọc

Yên trong bài Có một nền văn hóa Mẫu như thế ca ngợi: Tác giả miêu tả tình

cảm, dục vọng tự nhiên của con người một cách thật tài tình Ông đã mô tả những cái bình thường trong đời sống và sinh hoạt của người phụ nữ Việt Nam, ngay cả đến những sinh hoạt phòng the, chăn gối hay những cuộc tình vụng trộm trên quan điểm cái Đẹp nên người đọc không hề cảm thấy thô tục… trái lại, người đọc cảm thấy người phụ nữ Việt Nam trong tác phẩm của ông thật sự rất đáng yêu và đáng trân trọng Ngoài ra còn có thể kể đến nhiều

bài viết, nhiều bài phỏng vấn đăng trên các báo Nhân dân, Thanh Niên, Văn nghệ trẻ, Văn nghệ công an… hay các website: www.vannghechunhat.net,

www.evan.com, www.talawas.org… Nhìn chung các ý kiến đánh giá đều hướng tới sự khẳng định ngòi bút Nguyễn Xuân Khánh khá nhuần nhị và tinh

tế trong việc miêu tả vẻ đẹp của người đàn bà nông thôn; vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của họ biểu tượng cho sự trường tồn của văn hóa Việt Nam

Trang 10

Đặt Mẫu Thượng Ngàn từ phương diện lý thuyết hậu thực dân và lý thuyết tự sự học, Đoàn Ánh Dương trong Tự sự hậu thực dân: Lịch sử và huyền thoại trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh đã đi tìm

những biểu hiện của tự sự hậu thực dân trong tác phẩm, từ đó mở ra con đường tiếp cận bộ phận văn học độc đáo: văn học Việt Nam hậu thuộc địa

Trong những bài kể trên, có những bài mới chỉ dừng lại ở mức độ cảm

thụ, bộc bạch cách cảm nghĩ của cá nhân khi tiếp cận tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn Cũng có những bài ít nhiều đề cập đến những khía cạnh về nghệ thuật

tác phẩm cùng những phát hiện mới lạ, độc đáo nhưng chỉ trên một khía cạnh nhỏ Các ý kiến chủ yếu tập trung khẳng định một số đặc điểm nổi bật ở tiểu

thuyết Mẫu Thượng Ngàn như: 1 Văn phong tiểu thuyết mang hơi thở cuộc

sống hiện đại; 2 Đề cập đến vấn đề tiếp biến văn hoá, giao lưu văn hoá; 3 Nêu lên được các giá trị văn hoá đặc sắc như vấn đề đạo Mẫu; 4 Xây dựng

hình ảnh đẹp, giàu ý nghĩa về người phụ nữ bình dân; 5 Gửi gắm thành công

thông điệp tới người đọc Chưa bài viết nào có khả năng đưa đến cho chúng ta

một bức tranh khái quát, toàn diện về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

Điểm qua các công trình nghiên cứu phê bình, luận án, luận văn, khoá

luận và các bài báo như trên, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh đã được tiếp cận ở những mức độ rộng hẹp và

những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi chưa thấy có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật tự sự trong cuốn tiểu thuyết này

Thực tiễn đó cho thấy, việc tập trung tìm hiểu về nghệ thuật tự sự trong Mẫu Thượng Ngàn là một đề tài mới mẻ và có ý nghĩa thiết thực đối với nghiên

cứu lý luận phê bình cũng như tiếp nhận và sáng tạo văn học Giải quyết vấn

đề còn đang bỏ ngỏ ấy và đưa ra một mô hình về nghệ thuật tự sự trong Mẫu Thượng Ngàn, từ đó góp thêm một phát hiện mới về những nỗ lực, tìm tòi,

Trang 11

cách tân của Nguyễn Xuân Khánh trong quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật là nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra cho luận văn của mình

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Luận văn nhằm làm nổi bật giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng

của tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, cái chung của thời đại và nét riêng phong

cách nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

3.2 Thông qua tìm hiểu sự đổi mới mô hình tự sự của Nguyễn Xuân

Khánh, chúng tôi thêm một lần nữa khẳng định vai trò, diện mạo, vị trí của nhà văn trong nền văn học đương đại nói riêng và tiến trình phát triển của văn học, văn hoá nói chung

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Xác lập và củng cố vững chắc thêm hệ thống lý luận về nghệ thuật

tự sự và biểu hiện của nó trong văn học, đặc biệt là trong tiểu thuyết

4.2 Làm nổi bật những đặc sắc về nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết

Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh Từ đó đưa ra cách nhìn mới,

đánh giá mới về tiểu thuyết Việt Nam đương đại

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Luận văn tập trung khảo sát tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của

Nguyễn Xuân Khánh và cố gắng đối chiếu tác phẩm với các tác phẩm khác của tác giả, đồng thời đặt tác phẩm trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại để đánh giá những thành công và sự đổi mới trong tư duy, trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn

5.2 Nghệ thuật tự sự là một vấn đề nghiên cứu có phạm vi rộng nên

chúng tôi tập trung nghiên cứu về các phương diện: người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật, thế giới nhân vật trong truyện kể và nghệ thuật tổ chức cốt truyện

Trang 12

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng lý thuyết tự sự học để nghiên cứu nghệ thuật tự sự

trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh Ngoài ra, luận văn còn sử

dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như:

- Phương pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp, khái quát

7 Đóng mới của luận văn

7.1 Làm rõ vai trò của cá tính sáng tạo trong việc cách tân tiểu thuyết

trên bình diện kỹ thuật tự sự, qua đó nhận diện thành tựu đa dạng của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

7.2 Khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng lý thuyết tự sự học

vào việc tìm hiểu các hiện tượng văn học hiện đại, đặc biệt là ở lĩnh vực tiểu thuyết

7.3 Cung cấp thêm một cách “đọc hiểu”, một hướng tiếp cận mới về

tiểu thuyết sau đổi mới - hướng tiếp cận từ khía cạnh nghệ thuật tự sự

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phần Nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Mẫu Thượng Ngàn trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam

đương đại

Chương 2: Người kể chuyện và thế giới nhân vật trong truyện kể

Chương 3: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1 MẪU THƯỢNG NGÀN

TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975

1.1.1 Tiền đề xã hội - thẩm mĩ

Từ năm 1945 đến năm 1975, đất nước ta phải sống trong những điều kiện bất bình thường của “ngày có giặc” (chữ dùng của Hữu Thỉnh), mọi hoạt động của cộng đồng từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa đều phải tập trung phục vụ cho cuộc chiến đấu sống còn của Tổ quốc Với chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, đất nước ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ trạng thái bất bình thường, con người được trở

về với quỹ đạo của đời thường

Do hậu quả nặng nề của chiến tranh, những năm đầu thập kỷ 80, đất nước ta chìm trong khó khăn và thử thách, một cuộc khủng hoảng toàn diện

đã diễn ra, nhất là khủng hoảng về kinh tế Đảng và nhà nước đã sớm lựa chọn con đường đổi mới như một yêu cầu tất yếu Đại hội Đảng lần thứ VI là sự kiện lịch sử trọng đại cắm cột mốc lớn đánh dấu sự đổi mới mạnh mẽ của nền văn học nước ta Một phong trào nói thẳng, nói thật được phát động sôi nổi Tiêu chí văn hoá và bản sắc dân tộc được đề cao làm nền tảng cho việc mở rộng đề tài sáng tác và đánh giá thành tựu của văn học giai đoạn trước

Từ 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta cũng đã từng bước chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là điều kiện để cá nhân tự khẳng định mình và vấn đề cá nhân cũng đòi hỏi phải nhìn nhận khác trước Do đó, văn học nghệ thuật cũng phải đi từ nhiệm vụ phản ánh số phận cộng đồng sang những yêu cầu phản ánh số phận cá nhân

Trang 14

Trong xu thế mở cửa hiện nay, việc giao lưu, hội nhập đa phương với thế giới được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Chúng ta có sự nhập ngoại nhiều kênh thẩm mĩ khác nhau, có cả những kênh thẩm mĩ mà ta chưa được quen, song nó đã góp phần thổi bùng lên ý thức cá nhân, khát vọng dân chủ Cùng với đó là sự phát triển của văn học dịch đã cho nhà văn cơ hội tiếp cận với nhiều đỉnh cao văn học; làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là tầng lớp thanh niên và thôi thúc các nhà văn Việt Nam phải đổi mới cách viết

Với một tiền đề xã hội - thẩm mĩ như thế, sự đổi mới của văn học Việt

Nam sau năm 1975 là tất yếu Tuy vậy, chính nội lực của mỗi cá nhân, của các thế hệ nhà văn sẽ quyết định thành công của công cuộc đổi mới trên lĩnh vực văn học nghệ thuật Đổi mới vừa là cơ hội vừa là thử thách đối với mỗi nhà văn

1.1.2 Đội ngũ nhà văn

Từ sau 1975, đội ngũ người viết ngày càng hùng hậu, năng động và sáng tạo Tuy khác nhau về tuổi đời, tuổi nghề nhưng họ đều mang trong mình sức sống và hơi thở của thời đại Họ đều là những người ham mê khám phá cái mới và xông xáo trên con đường đổi mới văn học

Đất nước hòa bình, từ giã cuộc sống đầy bất trắc với những cách khu xử bất thường của thời chiến, con người trở về với cái “bản chất người thực sự như nó vốn có”, văn chương để phụng sự được con người cũng cần phải khác Qua dằn vặt rồi quyết tâm, Nguyễn Minh Châu đã chọn cho mình hướng đi: lấy con người làm đối tượng khảo sát thay cho đời sống tập thể cộng đồng Từ Nguyễn Minh Châu vấn đề con người với số phận riêng cùng vô vàn trăn trở

âu lo đã được văn học quan tâm khai thác ở cách nhìn mới

Vào những năm đầu 80 của thế kỷ XX, nhiều sáng tác của Ma Văn Kháng đã "nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật", từ đó tạo nên những cuộc

Trang 15

tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn văn học Ở vị trí hàng đầu của nền văn học cách mạng Việt Nam, các sáng tác của Nguyễn Khải cũng luôn đem lại những cách nhìn mới và sâu thẳm về con người, về cõi vô tận của đời sống vốn rất mênh mông và khó nắm bắt

Trong nhịp bước đổi mới, các thế hệ nhà văn đã và đang nỗ lực sáng tạo Ở chặng chuyển mình giữa hai thời kỳ chiến tranh và hậu chiến, các nhà thơ, nhà văn vẫn duy trì quán tính cũ Tuy nhiên, tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Phùng Khắc Bắc, Nguyễn Quang Thiều…

đã thực sự khuấy động cho một phong trào mới khởi sắc Tiếp đó, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái… cũng tạo nên lối viết độc đáo, ấn tượng Làn sóng sáng tạo của các cây bút trẻ như Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Quyến, nhóm

“Ngựa trời”, “Mở miệng”… đem đến cho thơ ca hiện đại một phong cách mới Riêng trong văn xuôi nhìn lại vài năm trước, chúng ta sẽ thấy sự hình thành một bức tranh về truyện ngắn và tiểu thuyết của những nhà văn trẻ

Một tương lai mới cho diện mạo văn học nước nhà đã và đang được các thế hệ chạy đua tiếp sức Chúng ta tin tưởng vào những đột phá của lớp nhà văn thế kỷ mới sẽ đưa lại cho văn học một bước chuyển mình

1.1.3 Những thành tựu mới

Theo dõi nền văn học Việt Nam trên tiến trình đổi mới, ta thấy đời sống văn học Việt Nam, nhất là sau 1986 đã thực sự “sung túc” hơn trong bầu không khí dân chủ Trên thực tế, văn học nước nhà đã thoát khỏi quán tính của những “khuôn vàng thước ngọc” cũ để hoà nhịp cùng văn học thế giới và đạt được nhiều thành tựu đáng mừng

1.1.3.1 Đổi mới về ý thức nghệ thuật

Thành tựu quan trọng nhất của văn học sau 1975 là sự đổi mới trong ý thức nghệ thuật của giới cầm bút Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, hầu hết người

Trang 16

làm văn, làm thơ thuộc các thế hệ khác nhau đều chung một ý nghĩ “không thể

viết như cũ được nữa” (Lê Lựu trả lời phỏng vấn báo Quân đội nhân dân,

ngày 24 - 4 -1988) Ý nghĩ ấy càng tỏ ra dứt khoát hơn ở lớp nhà văn xuất

hiện từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI như Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thuỳ Mai,

Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều, Bảo Ninh, Nguyễn Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh… Trong ý thức của họ không phải không có chỗ khác biệt, nhưng hầu như tất cả đều thống nhất với nhau trong một nhận thức chung: hiện thực không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá; nhà văn phải có tư tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chứ không chỉ bằng nhiệt tình và trong tìm tòi sáng tạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm cộng đồng mà còn phải dựa vào kinh nghiệm cá nhân; độc giả không phải là những đối tượng để thuyết giáo mà là những người bạn để giao lưu, đối thoại một cách bình đẳng…

Đặc điểm chung nữa của giới cầm bút là sự thức tỉnh ngày càng sâu sắc

về ý thức cá nhân Mỗi người đều muốn là một tiếng nói riêng, đều muốn tạo cho mình một bút pháp, phong cách riêng Tất nhiên, ý thức cá nhân, bản thân

nó, không tạo ra được nghệ thuật, tâm và tài mới quyết định Dù sao khát vọng khẳng định cá tính và sự nỗ lực trăn trở nhằm tạo cho mình một tiếng nói riêng của giới cầm bút cũng gây ra được một phong trào, một không khí

có sức kích thích, cổ vũ, từ đó sẽ xuất hiện những tài năng lớn tiêu biểu cho thời đại văn học mới

1.1.3.2 Những thành tựu ở các thể loại

Sau năm 1975, quan niệm về văn học và ý thức nghệ thuật đã có sự thay đổi, chi phối đến phương thức phản ánh, đến cách thức cấu trúc và vận dụng thể loại Nhìn vào tiến trình vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay, ta dễ nhận ra sự phong phú đa dạng của diện mạo thể loại, những biến động về thi pháp cùng sự hưng thịnh của từng thể loại riêng biệt

Trang 17

Về văn xuôi, thời gian đầu, phóng sự, tiểu thuyết phóng sự, kịch bản sân khấu phát triển mạnh do nhu cầu bức xúc chống tiêu cực Về sau, nghệ thuật kết tinh hơn ở truyện ngắn và tiểu thuyết với sự xuất hiện nhiều tác

phẩm của Nguyễn Minh Châu (Bến quê, Cỏ lau, Phiên chợ Giát), Nguyễn Khải (Chút phận của đời, Hà nội trong mắt tôi…), Nguyễn Huy Thiệp (Như những ngọn gió), Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy giá thú), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh), Dương Hướng (Bến không chồng), Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng), và

nhiều truyện ngắn, truyện dài được dư luận chú ý của Hữu Mai, Nguyễn Quang Lập, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trang Thế Hy…

Về thơ, tình hình có khác Ngay sau chiến thắng mùa xuân 1975, nổi

lên một phong trào viết trường ca ở các nhà thơ xuất thân quân đội: Những người đi tới biển, Những ngọn sóng mặt trời của Thanh Thảo; Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh… nhưng một thời gian lại lắng đi Trong thế hệ các nhà văn trước Cách mạng có Chế Lan Viên với các tập Di cảo thơ (xuất bản

sau khi ông qua đời) gây được tiếng vang Những cây bút thế hệ chống Mỹ cứu nước vẫn tiếp tục viết đều Trội hơn cả là Thanh Thảo, Ý Nhi, Nguyễn Duy, Thu Bồn, Xuân Quỳnh… Lớp nhà thơ mới sau 1975 xuất hiện rất đông đảo Những gương mặt đáng chú ý có thể kể: Nguyễn Thị Hồng Ngát, Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Quang Thiều, Phùng Khắc Bắc… Những tìm tòi, những thử nghiệm của các cây bút thơ thời kỳ này đã tạo cho thơ một diện mạo mới tuy khá ngổn ngang, bề bộn

Về nghệ thuật sân khấu, trong mảng đề tài chiến tranh cách mạng có tác phẩm của Hoài Giao, Đào Hồng Cẩm, Tấn Đạt… Đề tài lịch sử là thế mạnh

của sân khấu, đáng chú ý là các tác phẩm của Nguyễn Đình Thi: Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979) Về đề tài xã hội, Lưu Quang Vũ

cũng xuất hiện như một cây bút có sức sáng tạo dồi dào với khoảng năm mươi

Trang 18

vở kịch được công diễn, trong đó các vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1984), Tôi và chúng ta (1985) có tiếng vang hơn cả Về nghệ thuật chèo, nổi trội hơn

cả là bộ ba tác phẩm Bài ca giữ nước của Tào Mạt (1986)

Về lý luận, phê bình văn học, những biểu hiện đổi mới đến chậm hơn, nhưng tiêu chí đánh giá đã có những chuyển dịch nhất định: chú ý nhiều hơn đến giá trị nhân văn, ý nghĩa nhân bản, chức năng thẩm mĩ của văn học Vai trò của chủ thể sáng tác được coi trọng hơn cùng với tính tích cực trong tiếp nhận văn học của người đọc Nhiều trường phái lý luận văn học phương Tây

đã được dịch và giới thiệu Lối phê bình xã hội học dung tục tuy chưa mất hẳn nhưng không còn được coi trọng

Không kỳ vọng vào một cuộc cách mạng văn chương duy tân như thời

đại 1930 - 1945, nhưng rõ ràng văn học Việt Nam từ sau 1975 đã bước đầu

đạt được nhiều thành tựu về thể loại và đang trên đà hiện đại hóa Về mặt nguyên lý, sức sống của một thời đại văn học phụ thuộc vào sự phong phú và

khả năng hồi sinh, đổi mới của các thể loại Văn học Việt Nam trong thời

gian qua và cả trong kỷ nguyên tới đang vận động và phát triển theo chiều hướng song song ấy

1.1.3.3 Những đổi mới về nội dung và nghệ thuật

Trước hết là những đổi mới trong quan niệm về con người Trước năm

1975, đối tượng của văn học chủ yếu là con người lịch sử, là nhân vật sử thi; sau năm 1975, con người được nhìn nhận ở phương diện cá nhân và trong

quan hệ đời thường: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu)…

Trước 1975, con người được nhấn mạnh ở tính giai cấp; sau 1975, con người còn được nhìn nhận ở tính nhân loại, nhất là trong các tác phẩm viết về chiến

tranh hay tôn giáo (Cha và con và… của Nguyễn Khải, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai…) Trước đây, nhân vật văn học

Trang 19

chỉ được khắc hoạ ở phẩm chất tinh thần; sau 1975, nhân vật văn học còn được thể hiện ở phương diện con người tự nhiên, ở nhu cầu bản năng… Trước năm 1975, con người chỉ được mô tả trong đời sống ý thức; về sau còn được

thể hiện ở phương diện tâm linh (Thanh minh trời trong sáng của Ma Văn Kháng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường…)

Những chuyển biến về tư tưởng nói trên đem đến những nguồn cảm hứng mới cho người cầm bút: cảm hứng thế sự tăng mạnh, trong khi cảm hứng sử thi, lãng mạn giảm dần Từ đó, văn học quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những quy luật phức tạp của đời thường; nội tâm của nhân vật được khai thác sâu hơn, bút pháp hướng nội được phát huy, không gian đời tư được chú ý, thời gian tâm lý ngày càng mở rộng; phương thức trần thuật trở nên đa dạng hơn, giọng điệu trần thuật trở nên phong phú hơn; ngôn ngữ văn học cũng gần với hiện thực đời thường hơn

Chúng ta không phủ nhận, kinh tế thị trường đã có tác động tiêu cực đối với một bộ phận của giới làm văn, làm báo, nhất là một số cây bút chạy theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, biến sáng tác văn học thành một thứ hàng hoá để câu khách, khiến cho nền văn học khó tránh khỏi có những biểu hiện xuống cấp ở mặt này hay mặt khác trong sáng tác và phê bình văn học Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận, kinh tế thị trường có nhiều tác động tích cực đối với văn học: kích thích tài năng sáng tác đáp ứng yêu cầu của độc giả

Có thể khẳng định, quá trình đổi mới của văn học sau 1975 diễn ra khá toàn diện và sâu sắc từ nhà văn đến công chúng, từ bản chất văn học đến tư cách nghệ sĩ, từ tư tưởng đến thi pháp Những thành tựu đó nói lên rằng: đổi mới là quy luật tất yếu Vận động trên con đường ấy, chắc chắn, văn học sẽ còn đạt được nhiều thành tựu hơn nữa trong tương lai "Cánh đồng" văn học Việt Nam đương đại sẽ ngày càng đơm hoa kết trái

Trang 20

1.2 Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 - những vấn đề đổi mới tư duy và cách tân nghệ thuật

1.2.1 Quan niệm mới về tiểu thuyết

“Trong cuộc kiếm tìm và hướng tới sự đổi mới, điều quan trọng là phải thấy được sự cần thiết phải thay đổi bản thân khái niệm của tiểu thuyết dẫn đến sự thay đổi của bản thân khái niệm về văn học cùng với sự phát triển của nó” (M Butor) Ở nước ta, quá trình thay đổi quan niệm về hệ thống thể loại được khởi động từ trước những năm 1986 nhưng chỉ trở nên rõ rệt từ sau năm

1986 mà người khởi đầu là Nguyễn Minh Châu Trong bài tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (1987), Nguyễn Minh Châu

đặt ra vấn đề văn học phải trở về với chính mình, chống nguy cơ “nhà văn

đánh mất cái đầu và những tác phẩm đánh mất tư tưởng - nghĩa là những tư

tưởng mới và độc đáo, mang tính khái quát cuộc đời của riêng từng nhà văn”

Từ tiếng nói “mở đường” cho nền văn học mới của Nguyễn Minh Châu và những định hướng về đổi mới văn hoá, văn nghệ của Đảng, sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay, đời sống văn nghệ của ta trở nên sôi nổi với sự xuất hiện liên tục các cuộc hội thảo, các bài viết được đăng tải trên báo chí

của các nhà văn, nhà lý luận - phê bình về những chặng đường đã qua của tiểu

thuyết cũng như yêu cầu cần phải thay đổi quan niệm về nghệ thuật, tư duy tiểu thuyết Tiêu biểu nhất là một loạt bài viết của các tác giả trên tuần báo Văn nghệ số 33/1989, nhằm hướng tới Đại Hội nhà văn lần thứ IV; các bài

tham luận tại cuộc toạ đàm với chủ đề Tiểu thuyết những năm gần đây - Đi tìm lời giải vào ngày 12 tháng 11 năm 1996 tại tuần báo Văn nghệ của gần 30

nhà tiểu thuyết, nhà phê bình văn học, các biên tập viên văn xuôi… Và ở một

quy mô lớn hơn, tại Nhà sáng tác Đại Lải (thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin)

ngày 7 tháng 11 năm 2002 đã diễn ra Hội thảo đổi mới tư duy tiểu thuyết thu hút đông đảo các nhà văn, nhà phê bình, nhà báo tham gia Nhiều ý kiến của những nhà văn tên tuổi như Ma Văn Kháng, Nguyễn Xuân Khánh, Đỗ Chu,

Trang 21

Hoàng Quốc Hải, Đình Kính, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đỗ Phú, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Hà… đã phân tích khá cặn kẽ thực trạng và yêu cầu đổi mới thể loại Có thể nhận thấy những nét lớn trong quan niệm về tiểu thuyết qua những ý kiến của các nhà văn, nhà phê bình văn học cũng như thực tiễn vận động của thể loại này những năm gần đây như sau:

Trước hết, cách tân tiểu thuyết phải gắn liền với việc thay đổi tư duy, cảm quan nghệ thuật của nhà văn trước cuộc sống và con người thời đại mới

Theo Carlos Fuentes - nhà văn Mỹ - La tinh, thế giới hiện nay bị tác động quá

lớn bởi “sự bùng nổ về thông tin” và “sự nổ tung bên trong của ý nghĩ” (implosion du sens) Hiện thực không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá Văn học cần có những bước nhảy đáng kể, trong đó có sự khám phá quá

trình “nổ tung bên trong của ý nghĩ” con người Vậy nên, tiểu thuyết phải là thể loại tự sự tiếp cận hiện thực nhìn từ góc độ con người bằng cảm hứng đa chiều: vừa “hướng ngoại” vừa “hướng nội” - hướng vào thế giới nội tâm của con người

Về việc cần phải thay đổi quan niệm, cách nhìn nhận về cuộc sống, tác

giả cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn đặt ra yêu cầu, tiểu thuyết cần

chỉ ra những vết nứt, sự đứt gãy trong đời sống và con người Tiểu thuyết hôm nay không được trốn tránh những mặt trái của hiện thực là nhận định của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khi bàn về tính cấp thiết của yêu cầu đổi mới văn xuôi, tiểu thuyết tại cuộc Hội thảo ngày 7 tháng 11 năm 2002 Trọng tâm trong tác phẩm vẫn là hình tượng con người nhưng không được nhìn ở cái nhìn đơn giản mà ở nhiều chiều, nhiều góc độ Con người với những góc khuất trong tâm hồn và thế giới tâm linh

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là tiểu thuyết chuyển hướng (từ “hướng ngoại” sang “hướng nội”) mà có sự “đẳng hướng về thi pháp”

Trang 22

(Nguyễn Ngọc Thiện) Đây là một nét mới trong quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn Quan niệm về sự “đẳng hướng” ấy trong thi pháp tiểu thuyết ở góc nhìn tinh tế và sâu sắc, nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng, viết về người bình thường, viết về cuộc đời thường là vấn đề mà những người viết tiểu thuyết không thể không quan tâm Tiểu thuyết được xem là thể loại “năng động” nhất, vừa có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn (vĩ mô) vừa có khả năng đi sâu khám phá đời tư, tâm hồn con người (vi mô)

Theo quan niệm mới, tiểu thuyết còn là thể loại không có một hình thức hoàn kết mà luôn có sự biến hóa, không đứng yên, luôn có sự đấu tranh thay thế lẫn nhau giữa cái cũ và cái mới trong bản thân thể loại, bởi vì nó là “sử

thi của thời đại chúng ta”, tức là sử thi của cái hiện tại, cái đang hàng ngày, hàng giờ đổi thay, bởi vì điều quan trọng đối với nó là sự tiếp xúc tối đa với cái thực tại dang dở “chưa xong xuôi”, cái thực tại đang hình thành, cái thực tại luôn bị đánh giá lại, tư duy lại Chúng ta không thể khuôn tiểu thuyết vào một số nguyên tắc nghệ thuật cứng nhắc, bất biến, mà chính là phải mở ra những khả năng tiềm tàng vốn có của thể loại này, phát triển và làm phong phú nó Chỉ có như vậy, cái “máy cái” của văn học mới có thể đáp ứng được yêu cầu của người đọc, phù hợp với tư duy của con người thời nay và đáp ứng tốc độ phát triển nhanh chóng của đời sống hiện đại

Quan niệm này được nhà văn Tô Hoài phát biểu rất rõ: “Tôi không phủ nhận giá trị tiểu thuyết thời trước, nhưng thật là không thể cho tiểu thuyết một nghĩa cố định Tiểu thuyết lúc nào cũng phát triển và biến đổi Tiểu thuyết có

một khả năng tung hoành không bờ” [61, tr.105] Nguyễn Minh Châu - nhà văn luôn trăn trở về sự đổi mới văn học - cũng quan niệm: “Một thể loại văn

học phải chứng tỏ sức sống của nó ở tính đa dạng và không ngừng cách tân Nhất là đối với tiểu thuyết, một thể loại có một sức chứa và sức chở rất lớn” [15, tr.2].

Trang 23

Nhấn mạnh tới yêu cầu đổi thay trong bút pháp tiểu thuyết, nhà văn Đào Vũ cho rằng tiểu thuyết phải “linh hoạt hoá, đa dạng hoá trong việc thể hiện”, “không dừng mãi ở những cung cách thể hiện quen thuộc” Bằng những trải nghiệm nghề nghiệp, Ma Văn Kháng đã đưa ra những ý kiến hết sức sâu sắc, cụ thể, giúp người cầm bút định hình được các yếu tố trong tiểu thuyết cần phải thay đổi như yếu tố thời gian bị đứt gãy, xáo trộn; tăng cường chất trí tuệ và lí trí; sự đan chéo của nhiều sự kiện, yếu tố hồi ức trong sáng tạo… đồng thời cần đưa các yếu tố thẩm mĩ vào sáng tác như yếu tố huyền ảo, hư cấu, thế giới tâm linh của nhà văn…

Bàn về tiểu thuyết hiện đại, Milan Kundera có ý kiến đánh giá: “Một trong những tiếng gọi hấp dẫn của tiểu thuyết hiện đại là tiếng gọi của trò chơi” [35] Trong văn học Việt Nam (hiện đại), quan niệm về tính trò chơi của tiểu thuyết lần đầu tiên được đặt ra bởi nhà văn Phạm Thị Hoài Đó là khi tác

giả “trình làng” tiểu thuyết Thiên sứ (1988) và đó là khi trên tờ Văn nghệ (năm 1990) xuất hiện bài viết Về một trò chơi vô tăm tích của bà Sau Thiên

sứ, “tiếng gọi của trò chơi” đã hấp dẫn nhiều nhà tiểu thuyết Vì vậy, không ít tác phẩm có tính trò chơi theo quan niệm mới của các nhà văn đã ra đời: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Cõi người rung chuông tận thế, Trong sương hồng hiện ra (Hồ Anh Thái), Thoạt kỳ thủy (Nguyễn Bình Phương), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Người sông Mê (Châu Diên)… Tính trò chơi của

tiểu thuyết được thể hiện ở nhiều phương diện: những hư cấu nghệ thuật trong tác phẩm; cách kết cấu tác phẩm (hỗn loạn, rời rạc, tùy tiện, chắp vá, người đọc muốn hiểu, phải tự chơi, tự ráp các mảng nhật ký, hồi ức, đối thoại… lại với nhau như cách chơi trong trò chơi rubich…

Cái thời kỳ tiểu thuyết chỉ chú ý duy nhất đến “thông điệp”, đến tư tưởng được gửi gắm vào tác phẩm đã qua Song điều này không có nghĩa văn học không còn cần đến những “ẩn dụ”, những triết lí về đời sống, về thân phận con người “Lạ hoá” dĩ nhiên rất cần thiết Nhưng mọi sự làm lạ ấy cũng

Trang 24

chỉ nhằm để chuyển tải hiệu quả nhất những lớp “ý nghĩa” nằm sâu dưới hình

thức biểu đạt Yêu cầu đặt ra đối với tiểu thuyết đương đại là phải đạt đến sự thống nhất giữa trò chơi và ẩn dụ lớn Đến với tác phẩm, người ta như đến

với những trò chơi, đến để được chơi nhưng không vì thế mà họ không nghĩ đến những vấn đề nghiêm túc mà tác phẩm đặt ra

Những quan niệm về tiểu thuyết hiện nay chưa hẳn đã ổn định nhưng sẽ định hướng cho nhà văn trong sáng tác và góp phần vào quá trình phát triển, đổi mới thể loại tiểu thuyết, đưa thể loại văn học này phát triển lên một bước, phong phú hơn, hấp dẫn hơn; vừa đáp ứng được nhu cầu đổi mới của bạn đọc

hiện đại, vừa góp phần đưa văn học Việt Nam bắt “nhịp” văn học thế giới

Những quan niệm này không chỉ có ý nghĩa đối với nhà văn mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với nhà nghiên cứu phê bình và cả bạn đọc khi tiếp cận thể loại tiểu thuyết

1.2.2 Một số khuynh hướng nổi bật

Trong nghiên cứu, việc phân chia tiểu thuyết thành các khuynh hướng thường có nhiều tiêu chí khác nhau Căn cứ vào phương thức khám phá và thể hiện đời sống của tiểu thuyết đương đại, chúng tôi đề cập đến bốn khuynh hướng tiêu biểu nhất

1.2.2.1 Khuynh hướng nhận thức lại quá khứ

Mỗi lần chiến tranh qua đi, con người ta thường có xu hướng nhìn lại quá khứ để nhẹ lòng bước tiếp tương lai Những năm gần đây, khuynh hướng nhận thức lại quá khứ trong tiểu thuyết rất phát triển Nhà văn thường lấy quá khứ làm đối tượng phân tích nhưng không phải toàn bộ quá khứ mà là những phần khuất lấp, những vấn đề chưa được văn học thời trước quan tâm đúng mức Cảm hứng nhận thức lại quá khứ phần nào thể hiện tinh thần nhận chân lại các giá trị đời sống bằng cái nhìn mới mẻ, thể hiện những suy tư của nhà

Trang 25

văn về số phận con người trong sự va đập của các biến cố đời sống và các sự kiện lịch sử

Khuynh hướng này có phần gần gũi với cảm hứng phản tư trong tiểu

thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách với Một nửa đàn ông là đàn bà của

Trương Hiền Lượng, Nôn nóng của Giả Bình Ao, Báu vật của đời của Mạc

Ngôn, Trường hận ca của Vương An Ức Trong quá trình nhận thức lại cách

mạng văn hóa, các nhà tiểu thuyết Trung Quốc cho rằng đó là cuộc chấn thương tinh thần lớn nhất thế kỷ XX Theo đó, dòng “văn học vết thương” ra đời và để lại ấn tượng sâu sắc đối với độc giả Tại Việt Nam, dòng “văn học vết thương” xuất hiện từ sau những năm đầu thập kỷ 80 và phát triển mạnh trong thời kỳ đổi mới Các tác phẩm thuộc dòng văn học này chủ yếu phản ánh và nhìn nhận lại những vấn đề lịch sử đương đại như cải cách ruộng đất,

thời bao cấp, chiến tranh chống Mỹ… Tiểu thuyết Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Thời xa vắng (Lê Lựu), Những thiên đường mù, Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Truyện kể năm 2000 (Bùi Anh Tấn), Ba người khác (Tô Hoài)…

đã thể hiện sâu sắc nội dung của các vấn đề trên

Ở một độ lùi xa hơn, tiểu thuyết về đề tài lịch sử cũng đang từng ngày đổi mới, phát triển và nổi lên như một dòng chủ lưu Trong quá trình sáng tác,

các nhà văn thường xử lý chất liệu lịch sử theo hai hướng chính: lịch sử hoá tiểu thuyết và tiểu thuyết hoá lịch sử Hướng thứ nhất thực ra vẫn đi trên con đường quen thuộc Cách xử lý chất liệu lịch sử theo tinh thần tiểu thuyết hoá

chắc chắn giúp cho các sự kiện, số liệu lịch sử trở nên sinh động, hấp dẫn hơn

Bão táp cung đình, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ (Hoàng Quốc Hải), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Sắc đẹp khuynh thành (Kiều Thanh Tùng), Gió lửa, Đất trời (Nam Dao), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác)… là những tác

phẩm đã và đang chiếm được cảm tình của đông đảo bạn đọc Mỗi tác phẩm

Trang 26

đều gắn với quan niệm sáng tác và phong cách riêng của nhà văn Nhà văn

có thể đề xuất một cách nhìn mới về một sự kiện lịch sử đã qua, cũng có thể mượn lịch sử để trình bày những vấn đề của hiện tại Dù động cơ khác nhau nhưng đích cuối cùng vẫn là tạo ra một sức sống mới cho lịch sử, mang lại cho lịch sử chất nhân văn sâu đậm để lịch sử luôn song hành cùng hiện tại Đồng thời, tạo được một bước cách tân quan trọng trong mối quan hệ giữa

lịch sử và văn chương

1.2.2.2 Khuynh hướng tiểu thuyết đạo đức thế sự

Với mọi thời đại, đạo đức như một sự vẫy gọi mà các nghệ sĩ luôn kiếm tìm và thể hiện Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, đời sống

xã hội biến đổi nhanh chóng theo vòng quay hối hả của cơ chế thị trường thì tiếng gọi khẩn thiết về đạo đức của con người được đặt ra bức thiết hơn lúc nào hết! Những tác phẩm viết theo khuynh hướng này thường lấy đề tài trực tiếp từ đời sống hiện tại, như chuyện vặt vãnh hàng ngày, quan hệ nhân sinh muôn thuở, ứng xử giữa người với người… Từ đó mà trăn trở trước hành trình con người tự hoàn thiện chính mình

Hàng loạt những tác phẩm như Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Mảnh đất lắm người nhiều

ma (Nguyễn Khắc Trường), Đời im lặng (Chu Lai), Lão Khổ (Tạ Duy Anh)

đã cho thấy đời sống xã hội Việt Nam những năm sau đổi mới phát triển mạnh với nhiều màu sắc, âm thanh Con người cố gắng thay đổi quan niệm, tư tưởng để chạy theo cuộc sống xô bồ, hỗn độn và rồi cái rởm đời, cái lố lăng ập đến Các giá trị đạo đức, nhân cách bị đảo lộn Am tường những ngóc ngách

đó, các nhà văn lần lượt đưa ra những con đường lựa chọn nhân cách giằng co

để bạn đọc suy nghĩ, đắn đo và tìm ra những giải pháp tối ưu nhất

Nét đặc sắc của tiểu thuyết giai đoạn này là hành trình thiết lập số phận của con người, gia đình và dòng tộc ở nhiều góc độ đan cài vào nhau một cách

Trang 27

tài hoa Nhờ vậy, tiểu thuyết đã đáp ứng được yêu cầu mới của văn học trong giai đoạn đổi mới

1.2.2.3 Khuynh hướng tiểu thuyết triết luận

Cảm hứng triết luận là cái nhìn mang tính triết lí, thể hiện bằng nhiệt

tình tranh biện, bàn luận của nhà văn về những vấn đề nhân sinh, xã hội thông qua hình tượng nghệ thuật với sức mạnh của lí trí tỉnh táo, gắn liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ văn hoá, lịch sử và triết học nhằm hướng tới các quy luật phổ quát Từ trước đổi mới, khuynh hướng này trở thành một nét nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu và đặc biệt là sáng tác của Nguyễn Khải, song phải đến đầu thế kỷ XXI, mới nổi rõ khuynh hướng triết luận với sự gia tăng yếu tố triết luận trong văn xuôi Thực tế đó bắt nguồn từ hai lí do: thứ nhất, cần một độ lùi thời gian để có những suy ngẫm toàn diện

và sâu sắc hơn về các cuộc chiến tranh đã qua; thứ hai, kiểu tư duy của người Việt thiên về duy cảm hơn duy lí nên viết tiểu thuyết bằng cảm hứng triết luận

có lẽ chưa phải sở trường của nhiều nhà văn

Trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ngay sau thời kỳ đổi mới, nhà văn thường mượn chiến tranh để trình bày sự suy ngẫm, bàn luận, triết lí

về một vấn đề nào đó của lịch sử hay con người, tiêu biểu là các tác phẩm:

Không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy), Cõi đời hư thực (Bùi Thanh Minh), Sống khó hơn là chết (Trung Trung Đỉnh) Những tác phẩm viết theo khuynh

hướng triết luận ra đời trong thời gian gần đây phần nào biểu hiện nhu cầu tuyên ngôn về quan niệm sáng tác của người cầm bút, đặt ra yêu cầu đổi mới, cách tân thể loại thông qua hình ảnh nhân vật nhà văn hay nhân vật trí thức:

Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà)

Bàn luận về một vấn đề nhân sinh khác, tiểu thuyết Thiên thần sám hối

của Tạ Duy Anh là câu hỏi nhức nhối về thân phận con người, là lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với con người về những giá trị nhân bản trong đời Kết thúc tác

Trang 28

phẩm, vẫn để hài nhi chào đời, nhà văn trẻ Tạ Duy Anh cũng gieo vào lòng người đọc một niềm hi vọng về sự sống, về lòng nhân ái và sự dũng cảm đối mặt với cái ác, cái ồn tạp trong cuộc đời

Sự phát triển của khuynh hướng tiểu thuyết giàu tính triết luận đã thể hiện rõ nỗi niềm trăn trở suy tư của người cầm bút về những vấn đề của con người và đạo đức nhân sinh, khiến cho văn học nghệ thuật có một chiều sâu

và giá trị phổ quát

1.2.2.4 Khuynh hướng hiện thực huyền ảo

Huyền thoại hay thần thoại là ý thức nguyên hợp của các cộng đồng cổ đại và thuộc những thời đại xa xưa Trong buổi bình minh của lịch sử, con người cổ xưa đã biết sáng tác những “huyền thoại” bằng tư duy “mơ hồ, không tách bạch, không phân hóa” của mình để giải thích một số hiện tượng

tự nhiên Cho đến bây giờ, với sự xuất hiện những “kỹ thuật văn chương” hiện đại, tư tưởng huyền thoại ấy tưởng không còn được nhắc đến nữa nhưng thực

sự, nó đã “phục sinh” lại với mức độ đáng kinh ngạc bắt đầu từ châu Mỹ - La

tinh vào những năm 60 của thế kỷ XX Những sáng tác này tạo thành trào lưu văn học theo “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo”

Các nhà văn của trào lưu này thường mượn những truyền thuyết dân gian xưa để tạo ra các huyền thoại mới Việc sử dụng yếu tố huyền ảo trong tác phẩm văn học sẽ giúp cho tác phẩm trở nên lạ hoá, đa nghĩa, tạo ấn tượng mạnh trong lòng người đọc Ý thức rõ điều đó, các tiểu thuyết gia Việt Nam hiện đại luôn coi đây là một phương diện cách tân nghệ thuật đáng chú ý, góp phần làm phong phú thêm phương diện thể hiện hiện thực, thể hiện số phận con người và tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm Trong số các tác giả đương đại, Nguyễn Bình Phương là nhà văn rất có ý thức trong việc sử dụng huyền thoại với mật độ khá dày ở các sáng tác của mình Từ những sáng tác đầu tiên

như Vào cõi (1991), Bả giời 1992) và đặc biệt sau này là Những đứa trẻ chết

Trang 29

già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thuỷ (2004), Ngồi (2006) đã bộc lộ rõ sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật Nguyễn

Bình Phương Hiện thực trong tác phẩm của anh thường có độ lệch rất lớn so với hiện thực trong thực tế Đó là một thế giới được “trộn lẫn” giữa cái hiện tại và thế giới vô thức mang đậm màu sắc ma quái, tâm linh… Môtíp hai thế giới thực - ảo là môtíp quen thuộc trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Bình

Phương Ở nhiều tác phẩm của các cây bút tiểu thuyết khác như: Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Sự trở lại vết xước (Trần Nhã Thuỵ), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Nỗi buồn chiến tranh

(Bảo Ninh)… yếu tố huyền ảo cũng được xem là chìa khoá để các tác giả tạo nên sự bí ẩn cũng như giải mã mọi bí ẩn khiến các sự kiện trở nên sinh động, cuốn hút sự theo dõi nơi người đọc

Theo đó, khuynh hướng sử dụng yếu tố huyền ảo trong sáng tác tiểu thuyết đã tạo thành một bộ phận sáng tác quan trọng thể hiện khát vọng sáng tạo và luôn tìm tòi của các nhà văn

Nhìn một cách bao quát, từ sau đổi mới, tiểu thuyết Việt Nam đang đi theo nhiều khuynh hướng Giữa các khuynh hướng đó có sự khác biệt về tư tưởng và quan điểm nghệ thuật Nhưng trong thực tế, chúng ít nhiều có sự chuyển hoá lẫn nhau để cùng phát triển Một nhà văn, một tác phẩm có thể bao hàm trong đó nhiều khuynh hướng Điều này có thể giải thích hoặc là vì các nhà văn đó có ý thức đổi mới văn chương liên tục, hoặc là do quan niệm

“trò chơi” trong văn học đã chi phối lối viết, lối xây dựng nhân vật của họ

1.2.3 Những tìm tòi đổi mới

Nền văn học Việt Nam từ 1986 đến nay đã có những chuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết Không khí dân chủ của môi trường sáng tạo đã giúp nhà văn có ý thức sâu sắc hơn về tư cách nghệ sĩ nơi mình Nhiều cây bút tiểu thuyết đã có ý thức cách tân trong cách

Trang 30

nhìn và trong lối viết, có những tác phẩm thành công hoặc đang trên con đường tìm tòi, thể nghiệm, song điều đáng nói ở đây là tất cả đều hướng mục tiêu: làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng

Với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấn thân vào hiện thực ở thời hiện tại, đang hình thành, chưa ổn định; ở chính tiêu điểm của đời sống Trên phương diện đề tài, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã tiếp cận

và khai thác sâu hơn vào cái hiện thực hàng ngày, cái đời thường của đời sống

cá nhân Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa vào trường nhìn mới, hướng tới những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn

Điều đáng ghi nhận ở tiểu thuyết đương đại là đã thể hiện một bước đột phá mạnh mẽ về “kỹ thuật tự sự”, tiết tấu trần thuật nhanh hơn; kết cấu phức tạp, biến hoá, đan xen nhiều tầng bậc; phương thức xây dựng nhân vật cũng hoàn toàn khác trước Nếu như trước đây, các nhà tiểu thuyết hướng tới những bức tranh hiện thực hoành tráng thì giờ đây họ “trở về xem xét con người Việt Nam một cách sáng tỏ và để đào xới vào nó sâu hơn” (Nguyễn Minh Châu),

“phải viết về một cái gì đó của con người, cho con người” (Xuân Cang) Vì

thế, kích thước tác phẩm trở lại với khuôn khổ nhỏ Không còn những bộ tiểu thuyết nhiều tập với số lượng lên đến hàng nghìn trang như thời chống Pháp, chống Mỹ Tiểu thuyết thời kỳ này thường gói gọn trong phạm vi một tập với

số lượng phổ biến khoảng trên dưới 300 trang Tuy nhiên khuôn hình ấy không hề hạn chế những cách tân về thi pháp thể loại Kết cấu tác phẩm trở nên linh hoạt và sáng tạo hơn

Bên cạnh những tác phẩm tuân thủ lối kết cấu truyền thống (trình tự

thời gian song song với đường đời nhân vật) như Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng

(Dương Hướng)… là những tác phẩm kết cấu theo quy luật tâm lý (dòng hồi

Trang 31

tưởng và ký ức của nhà văn) như Thân phận tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) Đây là những tác

phẩm tạo được ấn tượng mới về nghệ thuật tiểu thuyết Cốt truyện đã vận động, thay đổi trong sự phát triển của thể loại dựa trên thi pháp hiện đại Cấu trúc tác phẩm được lắp ghép, chắp nối từ các mảnh vụn của hiện thực, các mảnh tâm trạng, không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang đảo ngược theo

ý đồ của tác giả, tạo ra “truyện trong truyện” Trên một nền cốt truyện không

có sự tổ chức sắp xếp theo một trình tự nhất định nên có phần lỏng lẻo, mơ

hồ, co giãn, thậm chí có khi không thành cốt truyện, không cần cốt truyện khó nắm bắt, khó kể lại, đời sống nội tâm nhân vật được tập trung khai thác với nhiều biến thái: suy nghĩ, cảm xúc, tiềm thức, vô thức, mộng mị, hồi ức Tiểu thuyết vừa là tiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ, thể hiện cái hiện tại đang vận động, biến chuyển, không khép kín

Trong giai đoạn đổi mới, các cây bút tiểu thuyết đã có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con

người đích thực - con người ở bên trong con người Con người xuất hiện trong

hàng loạt tiểu thuyết là con người trần thế với tất cả chất người tự nhiên của

nó (ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức): Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Mẫu Thượng Ngàn

(Nguyễn Xuân Khánh)… Nhân vật trong tiểu thuyết thời kỳ này, vì vậy, không còn mờ nhạt, đơn điệu mà có sự kết hợp giữa hình dạng và nội tâm, giữa ý thức và vô thức, giữa dục vọng bản năng và ước mơ thánh thiện Nó có

sức mạnh cảm hoá lòng người bởi những nét đời chân thực ấy

Miêu tả cuộc đời và con người như nó vốn có, ngôn ngữ tiểu thuyết không chỉ được soi sáng bởi ngôn ngữ tác giả mà còn được soi sáng bởi ngôn

Trang 32

ngữ nhân vật Tính đối thoại nội tại là một yếu tố cơ bản trong ngôn ngữ tiểu thuyết Những năm đầu đổi mới, ngôn ngữ đối thoại đóng vai trò chủ yếu, gần như chiếm hết văn bản tác phẩm của Nguyễn Khải Lời phát ngôn nào cũng thể hiện một đặc điểm tính cách cụ thể, luôn va đập, cọ xát Nói cách khác, ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm của Nguyễn Khải được cá thể hoá đầy cá

tính (Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người…) Ý thức đối thoại trong tiểu

thuyết thời đổi mới tiếp tục được triển khai và phát huy trong bối cảnh lịch sử mới, trong không khí dân chủ hoá của đời sống văn học Ngôn ngữ tiểu thuyết

gần với ngôn ngữ đời thường giàu khẩu ngữ: Thời xa vắng (Lê Lựu), Ăn mày

dĩ vãng (Chu Lai), Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh)…

Bên cạnh đối thoại, độc thoại nội tâm cũng đóng vai trò chủ yếu trong phương thức trần thuật của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Độc thoại nội tâm trở thành một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong quá trình tự ý thức của nhân vật, đi sâu vào thế giới nội tâm đầy bí ẩn của nhân vật Trong tiểu thuyết thời

kỳ đổi mới, dường như các nhà văn đều sử dụng tình huống những giấc mơ thông qua kỹ thuật dòng ý thức như một ngôn ngữ độc thoại nhằm giải mã thế giới vô thức của con người Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết:

Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh)…

Cùng với ngôn ngữ, giọng điệu kể chuyện của tiểu thuyết cũng có phần hấp dẫn, khách quan và đa thanh hơn Thay vì lối kể chuyện truyền thống của một nhân vật trung gian, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới thường có hai nhân vật kể chuyện Điểm nhìn nghệ thuật không chỉ được gia tăng mà còn thường xuyên

xê dịch, đổi ngôi Nhờ đó nó phá vỡ được lối kể lể đơn điệu, nhuốm màu sắc chủ quan của tiểu thuyết truyền thống, bớt đi tính giáo huấn áp đặt một chiều,

Trang 33

tạo điều kiện thuận lợi cho tinh thần đối thoại và tự đối thoại cởi mở, dân chủ của tư duy tiểu thuyết mới

Tiểu thuyết Việt Nam từ những năm đầu thời kỳ đổi mới (1986) đến nay đã đi qua một chặng đường hơn 20 năm “thay da đổi thịt” Tuy có lúc dòng chảy tung phá ào ạt, có lúc chùng xuống nhưng tiểu thuyết vẫn đang không ngừng tìm cách tiến về phía trước giao nhịp cùng dòng mạch văn học nhân loại, góp phần cách tân và hiện đại hoá văn xuôi Việt Nam hiện đại

1.3 Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và một lối đi riêng

1.3.1 Lộ trình văn chương Nguyễn Xuân Khánh

Trong đời sống văn học đương đại, Nguyễn Xuân Khánh là một “người

lạ đã quen biết” Thời trẻ, Nguyễn Xuân Khánh được biết đến là một người say mê âm nhạc và ham đọc sách Đang là sinh viên trường y, một trường đại học sang trọng ở Hà Nội, năm 1952, ông gác bút nghiên xin đi bộ đội Những ngả đường hành quân, những buổi diễn tập và tình đồng đội đã thôi thúc ông

cầm bút Lần đầu tiên cầm bút, viết cái truyện ngắn Một đêm, Nguyễn Xuân

Khánh đã giành được giải nhì (không có giải nhất) trong cuộc thi truyện ngắn đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân Đội (1959) Từ đó, văn chương gắn bó với ông như duyên nghiệp mà tình cờ số phận với những ngả rẽ bất ngờ đã đặt

nó vào lòng tay

Vào khoảng năm 1960, Nguyễn Xuân Khánh được "trên cất nhắc" cho

về làm biên tập ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội cùng thời với những tên tuổi như: Vũ Cao, Thanh Tịnh, Nguyễn Khải, Hữu Mai Nhưng cái tính "lông bông lang bang" ở một con người mang nhiều tư chất nghệ sĩ trong ông không phù hợp và không gắn bó nổi với một nơi quy phạm và chuẩn mực như quân

đội Năm 1962, sau khi in tập truyện ngắn đầu tay có tên Rừng sâu và bị kỉ

luật do vướng mắc quan điểm nghề nghiệp, ông phải chuyển sang báo Thiếu niên tiền phong Đến năm 1969, Nguyễn Xuân Khánh về hưu non Lao vào

Trang 34

cuộc vật lộn vì mưu sinh, làm đủ nghề như nuôi lợn, gác nhà kho… Nhưng con người ông sinh ra như để gắn bó với con chữ Sau những giờ phút lao động mưu sinh cật lực, đêm đêm, ông lại chong đèn thức cùng con chữ Những trang sách kinh điển, luôn dọi ánh sáng huyền diệu cho ông tin yêu và vượt qua những khoảnh khắc bi đát Những con chữ vẫn bám riết lấy ông Vốn ngoại ngữ tiếng Pháp được cơ hội phát huy Ông đã dịch hàng chục cuốn sách và sớm có ý thức củng cố tri thức để làm hành trang trên con đường dài của mình

Từ đáy sâu tâm hồn, Nguyễn Xuân Khánh vẫn dành cho văn chương một vị trí đặc biệt thậm chí tới mức “linh thiêng” không bao giờ xoá bỏ Nhà văn từng tâm sự: “Văn chương đối với tôi là một khu đền đài linh thiêng, dù

vô tình lạc bước nhưng đã đến một lần rồi thì không thể quay trở lại được nữa Bao nhiêu năm vất vả vì mưu sinh, tôi vẫn chờ đợi, vẫn dồn nén cho văn

chương bởi tôi biết cơ duyên của mình ở đó” [11] Hai tiểu thuyết Miền hoang tưởng và Trư cuồng ra đời trong thời gian mà tên tuổi ông vẫn khó được chấp

nhận trên các báo chí Vậy mà ông vẫn âm thầm viết Những trang sách cứ vẫn quẫy đạp trong tâm trí ông Bản thảo viết ra, một vài bạn bè thân đọc Họ khen và cổ vũ Nhưng việc công bố tác phẩm thì vẫn là điều xa xôi Mãi cho

đến khi ngọn gió Đổi mới thổi khắp đất nước, năm 1990, tiểu thuyết Miền hoang tưởng của ông mới được Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản, với bút danh

Đào Nguyễn Đứa con tinh thần ra đời trong bối cảnh không mấy suôn sẻ, nhưng cũng đủ củng cố cho ông niềm tin Rằng, những trang viết nếu thật sự vui buồn vì nhân dân, vì đất nước, thì trước sau sẽ được nhân dân đón nhận Sau thời gian dài im hơi lặng tiếng, năm 2000, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh

cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly, tạo thành hiện tượng văn học sôi

động Và cái tên Nguyễn Xuân Khánh đã lại được trả về nguyên vẹn dưới tác

phẩm văn học của ông

Trang 35

Gần bảy mươi tuổi, ông lại bắt tay vào viết tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và cho ra mắt bạn đọc ở tuổi 74 Ở tuổi 79, Nguyễn Xuân Khánh tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa Mỗi cuốn tiểu

thuyết ra đời đều làm xôn xao làng văn và tạo nên những “cơn khát” lớn trong độc giả Những “cơn khát” tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh được đánh dấu bằng kỉ lục về số lần tái bản, nối bản Ngay sau khi xuất hiện, các tác phẩm này đã được dư luận mà đặc biệt là giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao Trong những đợt xét giải thưởng về văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam, Hội nhà văn Hà Nội… tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đều đạt được sự đồng

thuận từ đa số phiếu bầu Tiểu thuyết Hồ Quý Ly nhận 3 giải: Giải thưởng

cuộc thi tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam 1998 -2000; Giải thưởng Thăng Long của UBND TP, Hà Nội 2002; Giải thưởng của Hội nhà văn Hà

Nội 2001 Cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn nhận giải thưởng của Hội nhà

văn Hà Nội 2006 Trong số các tác phẩm đoạt thưởng Hội nhà văn Việt Nam

2010 - 2011 vừa được công bố tại Hội nghị Văn học diễn ra vào 2/1/2012, Đội

gạo lên chùa của ông là cuốn sách gây ấn tượng nhất

Một đời người, một đời văn - nếu nói một cách công bằng - Nguyễn

Xuân Khánh là người có những vất vả trong đời riêng và “thiệt thòi” trong văn chương Tuy nhiên, ông đã sống một cuộc đời đầy kiên trì và luôn cố gắng để nuôi mãi niềm đam mê với văn chương Một người cầm bút tuổi

đã ngoài bảy mươi, cứ vài năm lại cho ra mắt một tác phẩm bề thế, đóng đinh vào tâm thức người đọc như ông, thì thật hạnh phúc!

1.3.2 Một ngả rẽ thú vị

Nguyễn Xuân Khánh cầm bút đã lâu, nhưng sự nghiệp của ông chỉ thực

sự được ghi dấu bắt đầu từ Hồ Quý Ly Dõi theo lộ trình văn chương đầy nhọc

nhằn và vinh quang của ông, ta bất ngờ bắt gặp một ngả rẽ thú vị

Trang 36

Một lần trải lòng với bạn đọc, Nguyễn Xuân Khánh tâm sự: những tác

phẩm chính của ông phải kể đến bốn cuốn tiểu thuyết: Miền hoang tưởng (lấy bút danh là Đào Nguyễn), Trư cuồng, Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn Hai

cuốn sách đầu viết về những vấn đề nóng bỏng thời hiện đại, lúc nhà văn 40

và 50 tuổi Theo ý nghĩ của ông, đời mỗi nhà văn chỉ có thể quan tâm tới một, hai vấn đề mà thôi Hai cuốn đầu là mối quan tâm thứ nhất Hai cuốn sau chính là mối quan tâm về lịch sử và văn hóa Việt

Kể từ Trư Cuồng những năm 70 cho đến Hồ Quý Ly những năm cuối

90 (thế kỷ XX), tới Mẫu Thượng Ngàn (2003) là những biến chuyển rõ rệt

trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh Ở đó, vấn đề trung tâm trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh đã chuyển từ “người trí thức” thành vấn đề “tri

thức” Trư cuồng là những suy tư Kinh Dịch trong cảnh nuôi heo Miền hoang tưởng là tiểu thuyết của sự suy tư về nghệ thuật mà đời mỗi nghệ sĩ đích thực đều như một Trương Chi Từ Hồ Quý Ly đến Mẫu Thượng Ngàn đã thấy

xuyên suốt một mối quan tâm đến lịch sử Việt và văn hóa Việt

Khác với nhiều nhà văn quan tâm đến thời hiện tại, cái hôm nay đang diễn ra, Nguyễn Xuân Khánh cũng như một số nhà văn có hứng thú với đề tài lịch sử đã lựa chọn viết về quá khứ, những thời điểm lịch sử đặc biệt với một

độ lùi thời gian khá xa Bối cảnh của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh là thời điểm lịch sử đầy biến động và phức tạp Ở Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh

không chọn thời nào mà ông chọn thời cuối Trần sang Hồ - một thời kỳ phải cứu tử, phải đổi mới, thậm chí phải thoát xác - đau thương nhưng sôi động,

hoành tráng với những nhân vật vô cùng hấp dẫn, nhất là Hồ Quý Ly, nhà cải

cách hết sức đặc sắc, gắn liền với số phận của đất nước, của Thăng Long -

Đông Đô và Tây Đô Ở Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh chọn bối

cảnh lịch sử là Hà Nội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gắn với việc người Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, việc xây Nhà Thờ Lớn, cuộc chiến tranh của người Pháp với quân Cờ Đen

Trang 37

Lịch sử đã chứng minh, văn hóa là nền tảng bền vững cho một dân tộc tồn tại, phát triển Là người cầm bút, Nguyễn Xuân Khánh luôn trăn trở không yên trước những vấn đề về văn hóa Nhà văn quan niệm văn hóa còn thì dân tộc còn, mà văn hóa Việt Nam chính là văn hóa làng Đó là cái mà xưa kia người phương Bắc và phương Tây muốn xóa bỏ để đồng hóa chúng ta mà không được Văn hóa làng ăn vào máu thịt và làm nên cái “mùi vị riêng” cho

tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh Sau Hồ Quý Ly, đọc Mẫu Thượng Ngàn, ta

nhận thấy rõ Nguyễn Xuân Khánh có thế mạnh và am hiểu sâu rộng tính chất thuần Việt của con người Việt trải qua dòng chảy nổi chìm của lịch sử dựng nước và giữ nước Đau đáu về văn hoá Việt, Nguyễn Xuân Khánh tha thiết

muốn thể hiện cái nhìn văn hóa và luôn muốn tìm ra những gì mới mẻ Từ Hồ Quý Ly đến Mẫu Thượng Ngàn là một sự vượt qua chính mình đầy ngoạn

mục, là hành trình tư tưởng từ nhận thức lịch sử tới cảm quan văn hoá của nhà văn

Từ Hồ Quý Ly đến Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh đã dùng văn

chương phác hoạ rõ nét văn hoá phong tục Việt Và như thế, văn hóa làng qua tâm hồn Nguyễn Xuân Khánh đã trở thành những câu chuyện lung linh!

Không được in bản thảo Làng nghèo, hình ảnh cái làng cứ trở đi trở

lại trong tâm trí nhà văn Kinh qua chiến trường lửa đạn, cả thời bình với cuộc mưu sinh khó nhọc, ngay cả trong lúc khốn cùng nhất, Nguyễn Xuân Khánh

chưa bao giờ từ bỏ mơ ước, tái hiện lại “Làng nghèo” Và rồi “làng” được tái

hiện lại trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, nhưng không phải là một cái

làng kháng chiến nữa mà là làng văn hoá Từ một Làng nghèo viết về cuộc

kháng chiến chống Pháp, tác giả lại mở rộng ra viết về văn hoá Việt, văn hoá

làng Bằng cách xử lý chất liệu theo khuynh hướng tiểu thuyết hoá lịch sử, đúng hơn là tiểu thuyết hóa văn hoá, nhà văn đã đưa người đọc vào một cõi

linh thiêng đầy mê đắm

Mẫu Thượng Ngàn là một tiểu thuyết phong tục, tràn ngập âm thanh

và màu sắc Ở đó, những nét phong tục tập quán cổ xưa của vùng làng quê

Trang 38

Bắc Bộ được miêu tả thật tỉ mỉ và cụ thể, khiến người đọc không khỏi ngạc nhiên với vốn kiến thức văn hóa uyên thâm và sâu rộng của tác giả Trước tiên

là hình ảnh “cây đa đầu làng” - biểu tượng thân thiết của người dân Bắc bộ

được đưa vào truyện một cách nhẹ nhàng, gần gũi và thiêng liêng Rồi đến cả những tục lệ cưới xin, đặc biệt là sự trở về với đạo Mẫu, một tôn giáo có từ ngàn đời của người dân quê Cách thờ cúng, trang hoàng nơi tưởng niệm và tôn thờ Mẫu như thế nào? Các buổi lên đồng, đàn hát ra sao? Người dân tập

trung dâng lễ vật và thành kính đến đám rước ông Đùng bà Đà - đám rước

phồn thực gắn liền với tục “trải ổ” mà người dân Cổ Đình, nhất là thanh niên nam nữ đến tuổi trưởng thành rất yêu thích… đều được tác giả đi sâu giới thiệu, khiến người đọc như đang được nhập thân vào lễ hội ngày xưa

Dồn sức vào niềm đam mê mới, Nguyễn Xuân Khánh viết tiếp tiểu

thuyết Đội gạo lên chùa Tiến sĩ Nghệ thuật học Nguyễn Thị Minh Thái, sau

khi đọc xong tác phẩm đã thắc mắc, không hiểu ở cái tuổi 79, Nguyễn Xuân Khánh lấy đâu ra sức lực mà viết, mà cắt nghĩa toàn những điều “khủng khiếp” về đạo Phật về quá trình du nhập vào Việt Nam và được Việt Nam hóa thế nào trong hai cuộc kháng chiến với tinh thần “đồng hành cùng dân tộc”

Nhà văn Hoàng Quốc Hải lại nhận định, Mẫu Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa thuộc dòng tiểu thuyết văn hóa phong tục Người nghiên cứu về văn hóa

phong tục thì nhiều, nhưng hiếm ai đưa được nó lên tầm tiểu thuyết, và để làm được, đòi hỏi một vốn sống sâu rộng [84] Nguyễn Xuân Khánh không chỉ là nhà tiểu thuyết mà còn là nhà văn hoá Việt

Nét đặc sắc trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân

Khánh không chỉ ở cái “tạng văn hoá làng” mà còn là sự nhạy cảm với các vấn đề tiếp biến văn hoá và những nghĩ suy về sức sống của dân tộc qua

những đụng độ văn hoá Việt - Pháp, Đông - Tây trước nạn ngoại xâm Khi

viết, nhà văn rất có ý thức đặt văn hoá Việt trong sự thay đổi, trong sự giao

Trang 39

thời để khắc hoạ đậm nét bức tranh về văn hóa làng Việt Nam, về cuộc giao lưu văn hóa nông thôn bản địa và văn hóa Tây

Trong tác phẩm, Nguyễn Xuân Khánh đã lý giải một cách thuyết phục nhất về một vấn đề khó lý giải nhất xưa nay là “Bản sắc văn hoá Việt” Bản sắc không thể là thứ vay mượn được, vì thế bản sắc văn hoá Việt đâu phải xuất phát từ đạo Giáo, đạo Nho, đạo Phật đã hàng ngàn năm chế ngự trên xứ

sở này mà khởi nguồn của nó là Đạo Mẫu, một thứ đạo dân gian, một thứ đạo

bất thành văn, phi vật thể nhưng, nói theo cách của nhà văn Nguyên Ngọc, đã thấm sâu âm thầm có lẽ từ thưở mới hình thành của dân tộc Đạo Mẫu rất Việt, rất phương Nam, rất dồi dào, bất tận, bất tử, như Đất, như Mẹ, như người Đàn bà [83] Điều đáng nể phục ở Nguyễn Xuân Khánh là bên cạnh cái

khung cảnh thôn dã thanh bình của ngôi làng có tên Cổ Đình, ông đã đặt thêm một cái đồn Tây, trong đó có một nhà truyền giáo người Pháp Chính trong hoàn cảnh ấy, mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên từ mảnh đất mang đậm dấu ấn của miền quê Bắc bộ sẽ tự bộc lộ những cách ứng xử trước thời cuộc, trước lịch sử Đây chính là điểm mấu chốt để nâng tác phẩm lên một tầm khái quát cao, giúp người đọc ngầm hiểu một điều rằng: Tự lâu rồi, người Việt đã rất nhạy cảm, thích ứng nhanh trước mọi biến thiên thời cuộc Chính vì thế bao đời nay, mọi sự xâm thực nhằm đồng hoá dân tộc và nền văn hoá bản địa của các thế lực lớn tới đây dường như đều thất bại, có thì cũng chỉ làm tha hoá nó trên bề mặt chứ không thể xoá nhoà tất cả Văn hoá Việt có những lúc thay đổi cực mạnh, tuy nhiên thay đổi đến mức gốc rễ thì không nhiều

Đọc nhiều, suy ngẫm và đúc kết, Nguyễn Xuân Khánh có cái nhìn bình tĩnh trước những đổi thay thời cuộc Ở ông có chút hoài cổ nhưng không bảo thủ, ông biết tiếc những cái đẹp đã mất đi nhưng lại hiểu rất rõ về quy luật của đời sống Văn hóa không có nghĩa là đứng dậm chân tại chỗ Văn hóa có tiếp thu và phát triển Giữa truyền thống và hiện đại, ta phải giữ những truyền thống nào phù hợp với đời sống hiện đại Truyền thống nào không phù hợp thì

Trang 40

phải bỏ, phải xây dựng cả cái mới Cuộc giao lưu với phương Tây, cụ thể là với người Pháp, đã gây cho dân tộc ta bao tủi nhục đau đớn; nhưng nếu bình tĩnh mà suy xét, cuộc va chạm lịch sử ấy cũng làm cho chúng ta thức tỉnh khỏi giấc mơ dài để tạo ra những cơ hội tiến vào con đường hiện đại Ẩn ngầm

trong Mẫu Thượng Ngàn là sự giao lưu văn hóa Đông Tây, chúng ta phải

chấp nhận văn hóa Tây Phương, vì nó cũng có nhiều cái hấp dẫn Nhân vật người con hoang là biểu tượng của sự kết hợp đó, nhưng làm sao đứa con hoang đó đừng lạc giữa bầy đàn dân tộc Đạo Mẫu là cách để người Việt giữ bản sắc của mình, thấy được cái đẹp của nó và cái yếu của mình để chấp nhận Đặt diễn tiến lịch sử song hành với cái hằng thể của văn hoá, tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh đã đạt đến chiều sâu nhân bản và khám phá được nhiều phương diện của đời sống

Điều quan trọng nhất trong tác phẩm viết về đề tài lịch sử không phải

là chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử Cao hơn, tác phẩm là những suy tư về lịch

sử - văn hoá, lấy vấn đề lịch sử - văn hoá phản chiếu lại cuộc sống con người

hôm nay Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh dù viết về quá khứ cách đây hàng mấy trăm năm hay gần hơn đều có khả năng mở rộng biên độ phản ánh hiện thực bởi tính thời sự cập nhật của nó Có thể thấy các vấn đề nhận thức và

thẩm mĩ mà Mẫu Thượng Ngàn đặt ra đều là vấn đề của hiện tại, chỉ có khung

cảnh thiên nhiên, ngôn ngữ, lễ hội, tập tục là có vẻ “tuyệt đối trung thành” với lịch sử Cách xử lý lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh khá tự do và đầy tính chủ quan Nó được thẩm thấu qua trải nghiệm và được tái dựng lại theo kiến giải riêng của nhà văn, khiến người đọc nghĩ rằng lịch sử đích thực của tác phẩm

là hư cấu Điều này phù hợp với tinh thần của tiểu thuyết, “không ngừng nhận thức lại” bằng thái độ hoài nghi khoa học Tự do xem xét lịch sử với kiến giải mới khiến cho lịch sử trở nên sống động, không phải là quá khứ hoàn kết, nó thúc đẩy lòng ham hiểu biết, trí tò mò và hứng thú tư duy của người đọc

Ngày đăng: 23/07/2015, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w