Em xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên tại trại giống lợn ngoại của trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Hòa Bình đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài trong thời gian thực tập.. Được
Trang 1SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2010 - 2014
Thái nguyên, năm 2014
Trang 2SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2010 - 2014
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái nguyên, năm 2014
Trang 3Thái Nguyên và sau 5 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo và bạn bè Đến nay em đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy TS Nguyễn Đức Hùng, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên tại trại giống lợn ngoại của trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Hòa Bình đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài trong thời gian thực tập
Một lần nữa em xin chúc toàn thể thầy cô giáo cùng toàn thể gia đình sức khỏe hạnh phúc thành công hơn nữa trong công việc giảng dạy và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Lý Kim Đạt
Trang 4châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình dạy và học của các trường Đại học nói chung và của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen dần với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, nắm bắt được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, để sau khi ra trường trở thành một cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn
Được sự quan tâm nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường ban Chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự
tiếp nhận giúp đỡ tận tình của cán bộ Trại giống lợn ngoại, em đã tiến hành
thực tập tại trại với đề tài: “Nghiên cứu tình hình mắc bệnh Viêm Tử Cung
ở đàn lợn nái tại Trại Lợn Ngoại thuộc trung tâm giống vật nuôi và thủy sản tỉnh Hòa Bình, thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh”
Do thời gian và trình độ có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bản khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Kính mong sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 6Bảng 1.1: Cơ cấu đàn lợn của trang trại (2012 - 2014) 5
Bảng 1.2: Lịch sát trùng 13
Bảng 1.3: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 14
Bảng 1.4: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 20
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 44
Bảng 2.2 Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 45
Bảng 2.3 Cơ cấu đàn lợn nái qua 3 năm 2012 - 2014 47
Bảng 2.4a: Tỷ lệ và cường độ nhiễm của đàn lợn nái 48
Bảng 2.4b Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung so với tổng số
nái nhiễm 48
Bảng 2.5 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở lợn nái theo lứa đẻ 51
Bảng 2.6: Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở lợn nái theo tháng trong năm 53
Bảng 2.7 Hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của 2 phác đồ 55
Bảng 2.8 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị bệnh viêm tử cung 56
Bảng 2.9 Hoạt động sinh lý sinh dục và tỷ lệ thụ thai của lợn nái 57
Trang 7
Hình 2.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái 50
Hình 2.2 Biểu đồ cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái 50
Hình 2.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm theo lứa đẻ 52
Hình 2.4 Biểu đồ cường độ nhiễm bệnh theo lứa đẻ 52
Hình 2.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh theo tháng theo dõi 54
Hình 2.6 Biểu đồ cường độ nhiễm bệnh theo tháng theo dõi 54
Trang 8Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai 1
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu thuỷ văn 2
1.1.1.4 Nguồn nước 3
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 3
1.1.2.1 Tình hình dân cư xung quanh trại 3
1.1.2.2 Tình hình phát triển y tế - giáo dục 3
1.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại, cơ sở vật chất kỹ thuật 4
1.1.3 Tình hình sản xuất của Trại 5
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi 5
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 6
1.1.4 Đánh giá chung 6
1.1.4.1 Thuận lợi 6
1.1.4.2 Khó khăn 6
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 7
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 7
1.2.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 7
1.2.1.2 Công tác thú y 8
1.2.1.3 Công tác giống 8
1.2.1.4 Công tác khác 8
1.2.2 Phương pháp thực hiện 8
1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 9
1.3.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 9
1.3.1.1 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái và lợn con theo mẹ 9
1.3.1.2 Phát hiện lợn nái động dục 11
1.3.1.3 Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 11
Trang 91.3.2.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 14
1.3.2.4 Công tác khác 20
1.4 Kết luận và đề nghị 21
1.4.1 Kết luận 21
1.4.2 Đề nghị 21
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đặt vấn đề 22
2.1.1 Mục tiêu của đề tài 23
2.1.2 Ý nghĩa đề tài 23
2.2 Tổng quan tài liệu 23
2.2.1 Cơ sở khoa học 23
2.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái 23
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 26
2.2.1.3 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản 30
2.2.1.4 Biện pháp phòng và trị bệnh 35
2.2.2 Giới thiệu về thuốc kháng sinh dùng trong các phác đồ điều trị 37
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 40
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 40
2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 42
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 44
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 44
2.3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 44
2.3.3 Nội dung nghiên cứu 44
2.3.4 Phương pháp theo dõi 44
2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47
2.4.1 Cơ cấu đàn lợn nái nuôi tại trại giống lợn ngoại của Trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Hòa Bình 47
2.4.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 48
2.4.3 Tỷ lệ và cường độ viêm tử cung ở lợn nái theo lứa đẻ 50
Trang 10điều trị 56
2.4.7 Ảnh hưởng của các phác đồ điều trị khác nhau tới hoạt động linh lý sinh dục và khả năng thụ thai 57
2.5 Kết luận,tồn tại và đề nghị 58
2.5.1 Kết luận 58
2.5.2 Tồn tại 59
2.5.3 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
I Tài liệu tiếng việt 60
II Tài liệu dịch 61
III Tài liệu nước ngoài 62
IV Tài liệu trên Website 62
Trang 11Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại giống lợn ngoại thuộc trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Hòa Bình Nằm trên địa bàn Xóm Bãi Yên, Xã Dân Chủ, Thành phố Hòa Bình, cách thành phố Hà Nội 78km về phía Tây Dân Chủ là một xã trung du nằm ở phía Đông Nam của thành phố Hòa Bình, phía Đông giáp huyện Kỳ Sơn và huyện Kim Bôi, phía Tây giáp huyện Cao Phong và huyện Đà Bắc, phía Nam giáp huyện Cao Phong phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ Nhìn chung, đây là một vị trí thuận lợi cho một trang trại chăn nuôi do xa khu công nghiệp, xa đường giao thông chính, trường học… nhưng khá thuận tiện trong việc vận chuyển thức ăn, thuốc và xuất nhập lợn
1.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai
Dân Chủ là một xã bán sơn địa thuộc địa phận Thành phố Hòa Bình có địa hình tương đối phức tạp xen kẽ giữa núi đồi và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn Thành phố so với mực nước biển là 278 m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ Tây bắc xuống Đông nam, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ Sông Hồng và miền núi Tây bắc Bắc Bộ Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động Địa hình cắt xả có nhiều khe suối, hồ tự nhiên đất đai ở đây được sử dụng chủ yếu cho nông nghiệp Cơ cấu đất đa dạng nên thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau, thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển Xã có diện tích đất tự nhiên là 704,63 ha Trong đó:
- Đất nông nghiệp 436,70 ha gồm:
Đất sản xuất nông nghiệp 390,67 ha
Đất nuôi trồng thủy sản 16,84 ha
Đất nông nghiệp khác 2,79 ha
- Đất phi nông nghiệp 267,93 ha gồm:
Đất ở 55,23 ha
Trang 12Đất chuyên dùng 102,62 ha
Đất tín ngưỡng tôn giáo 2,64 ha
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 9,26 ha
Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 31,95 ha
- Đất chưa sử dụng 28,47 ha gồm:
Đất bằng chưa sử dụng 15,36 ha
Đất đồi núi chưa sử dụng 22,4 ha
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu thuỷ văn
Trại chăn nuôi giống lợn ngoại của trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Hòa Bình nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa đông, nóng về mùa hè, mang đặc trưng khí hậu của vùng nhiệt đới gió mùa Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, mùa hè bắt đầu từ tháng 4 đến tháng
10 Lượng mưa trung bình là 1.864 mm Do có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên có thể phát triển cây trồng, vật nuôi phong phú và được chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông
Khí hậu của xã Dân Chủ có những đặc trưng sau:
Nhiệt độ trung bình của xã: 23 - 26oC
Để khắc phục tình trạng trên Trại đã cho xây dựng hệ thống quạt thông gió, bạt che chắn, hệ thống đèn sưởi ấm cho lợn con… luôn đảm bảo cho chuồng lợn mát, thông thoáng về mùa hè và ấm về mùa đông
Trang 131.1.1.4 Nguồn nước
Nguồn nước dùng trong chăn nuôi của trại được lấy từ nước sạch của Thành phố, đảm bảo vệ sinh và đủ cho nhu cầu sinh hoạt của công nhân, nước dùng cho lợn trong trại Nguồn nước dùng cho cây trồng được lấy từ ao cá và
tự nhiên
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.1.2.1 Tình hình dân cư xung quanh trại
Thành phố Hòa Bình có tổng số dân 93.402 người nằm ở 8 phường và
7 xã
+ Tổng số người trong độ tuổi lao động 54.152 người trong đó:
Lao động nam 27.360 người
Trang 14Đến nay, toàn xã đã được công nhận về phổ cập bậc tiểu học và trung học cơ sở, trình độ văn hoá của nhân dân trong xã đã được nâng cao
1.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại, cơ sở vật chất kỹ thuật
* Cơ cấu của trại được tổ chức:
Trại có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực
tế, Ban lãnh đạo trại nặng động, nhiệt huyết trong công việc Đặc biệt các cán
bộ kỹ thuật ở đây lại là một công nhân rất nhiệt tình trong công việc gắn bó với trại trong thời gian dài nên có nhiều kinh nghiệm trong nghề Trại gồm có
7 người được cơ cấu như sau:
- Giám đốc trung tâm: 1 người
- Trưởng phòng quản lý: 1 người
- Quản lý kỹ thuật: 5 người
* Điều kiện, cơ sở vật chất của trại
Trại mới được thành lập năm 2010, là đơn vị của Trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Sở Nông nghiệp Tỉnh Hòa Bình
Tổng diện tích của trang trại khoảng 3 ha, trong đó 1,8 ha dùng để chăn nuôi, 0,4 ha là ao xử lý chất thải, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại: nhà điều hành, phòng làm việc, phòng ở cho công nhân, nhà bếp (chiếm khoảng 0,8 ha)
Khu vực sản xuất của Trại được đặt trên một khu vực đất cao, dễ thoát nước và xa khu điều hành Chuồng xây dựng theo hướng Đông - Nam, Nam- Bắc đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông, chuồng xây theo kiểu hai mái, có 2 dãy ô chuồng với lối đi ở giữa Diện tích đất khu vực sản xuất được bố trí xây dựng cho nái cơ bản bao gồm: 1 dãy chuồng đẻ (dãy chuồng có sức chữa 78 con), 2 dãy chuồng nái chửa (mỗi dãy chuồng có thể chữa 157 con),1 chuồng nuôi lợn đực chứa 8 con, 01 chuồng nuôi lợn con sau cai sữa và 01 chuồng nuôi lợn thịt, 01 chuồng cách ly Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc Xung quanh trại có hệ thống tường rào bảo vệ, cổng ra vào có hệ thống hố sát trùng để ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào
Hệ thống chuồng xây dựng bán khép kín Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 2 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, và chuồng nái chửa, chuồng cách ly Hai bên tường có dãy ô thoáng lắp lưới thép B40 và che
Trang 15bạt Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa Về mùa đông có hệ thống bóng điện 200W để sưởi Phòng pha chế tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thuỷ dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước máy thành phố Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, được xây dựng ở đầu chuồng Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể chữa nước sạch và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới đầu các chuồng
Các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ khác: Nằm trong khu vực sản xuất của trang trại bao gồm phòng làm việc của kỹ thuật, 2 nhà kho, 2 phòng sát trùng
1.1.3 Tình hình sản xuất của Trại
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của Trại là sản xuất con giống, cung cấp nhu cầu lợn con nuôi giống và nuôi thịt cho trang trại và người chăn nuôi trong khu vực Trại chăn nuôi thuộc sự quản lý của nhà nước do kinh phí nhà nước xây dựng nên nhằm phát triển con giống tốt phục vụ cho nhân dân
Trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,3 - 2,4 lứa/năm Số con sơ sinh là 12,91 con/đàn, số con cai sữa: 10,95 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của giám đốc trung tâm Hoạt động chăn nuôi của trại chủ yếu chăn nuôi lợn nái
Bảng 1.1: Cơ cấu đàn lợn của trang trại (2012 - 2014)
Loại lợn Số lượng lợn của các năm (con)
Trang 16Qua bảng cơ cấu đàn lợn của Trại 3 năm qua ta thấy số lượng đàn lợn
có sự thay đổi không đáng kể cụ thể trong 2 năm 2012 đến 2013 giảm 16 con còn trong 2 năm tiếp theo 2013 đến 2014 lại tăng 39 con Cơ cấu đàn lợn có
sự thay là do Trại mới được xây dựng, cuối năm 2012 phải hứng chịu đợt dịch tai xanh nên Trại phải tiêu hủy đàn lợn đi, cho đến năm 2014 Trại mới lại bổ sung đàn
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Do diện tích đất đai của Trại còn hạn chế nên trong thời gian vừa qua Trại không đầu tư vào trồng trọt, Trại chỉ trồng một số loại cây như chuối, keo, xoài sấu… để tạo bóng mát, tiết kiệm diện tích và tạo cảnh quan
1.1.4 Đánh giá chung
1.1.4.1 Thuận lợi
- Trại được sự quan tâm tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ đúng đắn của các cấp, các ngành có liên quan như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Thú y thành phố, Hiệp hội chăn nuôi tỉnh Hòa Bình giúp đỡ tạo điều kiện cho trại phát triển
- Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi cho việc chăn nuôi, kinh doanh,
xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
- Cán bộ quản lý năng động, nhạy bén nắm bắt được thời cơ trong kinh doanh, luôn quan tâm tới đời sống của cán bộ công nhân trong trại
- Trại có những chính sách thiết thực tạo điều kiện cho cán bộ cũng như công nhân, từ đó khích lệ được tinh thần làm việc hăng say cũng như sự gắn
bó lâu dài với trại
1.1.4.2 Khó khăn
- Do quỹ đất của trại còn hạn chế nên việc mở rộng quy mô của trại còn gặp khó khăn, đồng thời diện tích đất dành cho cán bộ còn hạn hẹp
- Trong những năm gần đây dịch bệnh liên tiếp xảy ra ngày càng nhiều
và phức tạp như: lở mồm long móng, tai xanh… nên chi phí dành cho việc phòng chữa bệnh tốn kém gây thiệt hại cho trang trại
- Trang thiết bị của trại một số đã cũ và hỏng gây khó khăn cho việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn
Trang 17- Đặc điểm của ngành chăn nuôi lợn là ngành có chu kỳ sản xuất dài, tốc độ quay vòng vốn chậm nên thu hồi vốn lâu Mặt khác để đầu tư cho một chu kỳ sản xuất đòi hỏi một lượng vốn lớn, trong khi đó kinh phí đầu tư cho sản xuất còn hạn hẹp
* Đánh giá về điều kiện khí hậu mang đặc trưng kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho bệnh truyền nhiễm, bệnh kí sinh trùng, do nấm, vi khuẩn, virus gây ra các dạng bệnh khác nhau như bệnh ngoài da, bệnh đường ruột, bệnh sinh sản Đặc biệt trong chăn nuôi lợn nái sinh sản thường hay gặp bệnh viêm tử cung, đây là căn bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra để lại hậu quả nghiêm trọng trên cả lợn nái (giảm sức đề kháng, giảm sinh sản…), cũng như thế hệ lợn con sau này Thời tiết khí hậu cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu, nắng nóng về mùa hè và giá rét về mùa đông, kéo theo lượng mưa và ẩm độ trong năm cũng thay đổi rõ rệt Điều kiện khí hậu thay đổi làm ảnh hưởng không nhỏ đến chăn nuôi, thời tiết khí hậu ẩm ướt, hạn hán… là nguy cơ sinh sôi ra các mầm bệnh gây nên dịch bệnh cho vật nuôi
Thời tiết thay đổi thất thường nóng quá hay lạnh quá làm cho con vật
dễ bị stress, làm giảm sức đề khác từ đó mà vật nuôi dễ bị mắc bệnh, gây ảnh hưởng đến người chăn nuôi
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Để hoàn thành tốt công việc, trong thời gian thực tập tôi đã căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, trên cơ sở phân tích những khó khăn, thuận lợi của trại, áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế sản xuất, kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ đi trước, tôi đã đề ra một số nội dung sau:
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
- Công tác thú y
- Công tác giống
- Công tác khác
1.2.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
- Tìm hiểu về quy trình chăn nuôi các loại lợn: lợn nái, lợn con theo
mẹ, lợn đực
Trang 18- Tham gia công tác vệ sinh chuồng trại
- Tham gia công tác chăn nuôi, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn tại trại
1.2.1.2 Công tác thú y
- Tham gia tiêm phòng vaccine cho đàn lợn theo quy trình tiêm phòng của trại
- Vệ sinh dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ phối… theo quy trình vệ sinh thú y
- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh mà đàn lợn mắc phải trong quá trình thực tập
1.2.1.3 Công tác giống
- Tham gia chọn lọc lợn đực giống và cái giống từ các đàn nái đẻ để giữ lại và cung cấp cho bà con nhân dân
- Tiến hành lập hồ sơ theo dõi từng cá thể ghi chép các biểu hiện sinh
lý, sinh dục tiến hành phối giống phù hợp
1.2.1.4 Công tác khác
- Tham gia đỡ đẻ cho lợn nái, cắt tai, cắt đuôi cho lợn con, thiến lợn đực và tiêm bổ sung sắt cho đàn lợn con
- Tham gia công tác truyền giống nhân tạo
- Kết hợp giữa phục vụ sản xuất và chuyên đề nghiên cứu khoa học
- Tham gia tích cực vào công tác phục vụ sản xuất
- Tham khảo ý kiến, tranh thủ sự giúp đỡ của ban lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm của trại chăn nuôi
- Nhiệt tình khiêm tốn học hỏi, vận dụng những kiến thức đã học vào phục vụ sản xuất để nâng cao tay nghề và củng cố kiến thức chuyên môn
- Trực tiếp tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn thí nghiệm
Trang 19- Thường xuyên liên lạc xin ý kiến của Thầy giáo hướng dẫn để có bước đi đúng đắn
- Tuân thủ nghiêm ngặt nội quy của trường, khoa, cơ sở thực tập và yêu cầu của giáo viên hướng dẫn
- Xác định cho mình động cơ làm việc đúng đắn, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước không ngại khó khăn, vất vả
1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.3.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
1.3.1.1 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái và lợn con theo mẹ
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò quan trọng tới sự sinh trưởng và phát triển của đàn lợn Hiểu được tầm quan trọng này nên trang trại đã xây dựng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho các đàn lợn ở những giai đoạn khác nhau
Trong quá trình thực tập tại trang trại, tôi đã tham gia chăm sóc nái chửa, nái đẻ, tham gia đỡ đẻ chăm sóc cho hai đàn lợn con theo mẹ đến cai sữa, vệ sinh, chăm sóc, theo dõi đàn lợn thí nghiệm Hàng ngày kiểm tra lợn, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, lấy cám cho lợn ăn, rửa máng, xịt gầm, cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân Quy trình chăm sóc nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa như sau:
* Đối với nái mang thai: Để khối lượng sơ sinh của lợn cao, lợn con khoẻ mạnh thì chăm sóc lợn mẹ giai đoạn mang thai là hết sức quan trọng Lợn nái mang thai được chia làm hai giai đoạn
Nái chửa kỳ I (từ ngày thứ 1- ngày thứ 84): Đây là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi làm tổ ở tử cung, bào thai phát triển chậm nên thức ăn cung cấp cho lợn giai đoạn này cần thoả mãn nhu cầu duy trì cơ thể và một phần nhỏ bào thai Dinh dưỡng đảm bảo 13% protein và năng lượng trao đổi
là 2800kcal/kg thức ăn hỗn hợp
Nái chửa kỳ II (từ ngày thứ 85 đến khi đẻ): Đây là giai đoạn cuối của quá trình mang thai, thai phát triển nhanh, khối lượng sơ sinh của lợn con được quyết định trong giai đoạn này Do vậy thức ăn cung cấp cần thoả mãn nhu cầu duy trì cơ thể đồng thời đảm bảo cho bào thai phát triển nhanh Dinh
Trang 20dưỡng đảm bảo tỷ lệ protein là 17% và năng lượng trao đổi là 3000 kcal/kg thức ăn hỗn hợp
- Lợn nái chửa được ăn loại cám 966, 567SF với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:
Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn cám 966, khẩu phần 1,5
- 2 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn cám 966, khẩu phần 2,5 - 3 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày
Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi đến trước khi đẻ 7 - 10 ngày ăn cám 567SF, khẩu phần 3,5- 4 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần trong ngày
- Đối với nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7- 10 ngày Trước khi chuyển lợn lên, chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với khẩu phần ăn 3 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng, chiều
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 2 ngày, giảm lượng cám cho ăn để phân trong trực tràng không quá lớn, tạo điều kiện cho lợn nái đẻ dễ, tránh được lợn con bị chết ngạt do ở trong tử cung quá lâu Mỗi ngày giảm 1 kg cám đến ngày đẻ dự kiến còn khẩu phần ăn là 0,5 kg/con/ngày
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày, khẩu phần ăn tăng dần từ 0,5 - 5 kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều Đối với nái nuôi con quá gầy có thể cho ăn tăng khẩu phần lên 6 kg/con/ngày Điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp nhu cầu của chúng
* Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:
Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành bấm nanh hoặc mài nanh, cắt rốn Lợn con 2 - 3 ngày tuổi bấm số tai, cắt đuôi và tiêm sắt cho lợn, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy
Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng
Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng cám hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF
Trang 21Lợn con được 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng dịch tả
Lợn con được 21 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn
Lợn con ở đây được cai sữa sớm (21 ngày tuổi) và được cho tập ăn từ rất sớm (4 - 6 ngày tuổi), nhằm nâng cao khối lượng lợn con cai sữa, giảm hao mòn lợn mẹ, tăng sức đề kháng cho lợn con Cách tập cho lợn con ăn sớm như sau: Đầu tiên cho một ít thức ăn vào trong máng ăn đặt vào ô chuồng để lợn con làm quen dần với thức ăn Sau khi lợn con đã quen và ăn được, từ từ tăng lượng thức ăn lên
1.3.1.2 Phát hiện lợn nái động dục
Qua thực tế thực tập tại trang trại, dưới sự chỉ bảo của các cán bộ kỹ
thuật tôi thấy lợn nái động dục có những biểu hiện sau:
- Lợn phá chuồng, ăn ít rồi bỏ ăn
- Khi cho lợn nái đi qua các ô chuồng lợn đực thì vểnh tai, khi có tác động trực tiếp thì đứng ì
- Lợn có biểu hiện bồn chồn hay đứng lên nằm xuống, ta quan sát được vào khoảng 10 - 11 giờ trưa
- Cơ quan sinh dục có biểu hiện: Âm hộ xung huyết, sưng, mẩy đỏ, có dịch tiết chảy ra trong, loãng và ít, sau đó chuyển sang đặc dính
1.3.1.3 Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
- Bước 1: Trước khi dẫn tinh cho lợn nái, quan sát triệu chứng động dục
trước đó và đã xác định khoảng thời gian dẫn tinh thích hợp nhất
- Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ gồm: khay đựng, ống dẫn tinh quản, xilanh
đảm bảo về thể tích để đựng tinh dịch bơm đã được tiệt trùng cẩn thận
- Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (80 - 100ml) và số lượng
tinh trùng cần có trong một liều dẫn tinh 1,5 - 2,0 tỷ tinh trùng tiến thẳng
- Bước 4: Vệ sinh lợn nái
- Bước 5: Dẫn tinh
- Bước 6: Sau khi dẫn tinh xong, phải vệ sinh dụng cụ sạch sẽ Số lần
lợn nái được dẫn tinh trong 1 chu kỳ động dục là 2 lần cách nhau từ 10 - 15 giờ Sau khi dẫn tinh được 21 - 25 ngày phải tiếp tục quan sát, kiểm tra kết quả thụ thai, phát hiện những lợn cái động dục lại để kịp thời dẫn tinh lại Kết quả thụ thai ở kỳ động dục nào được ghi vào kết quả thụ thai của chu kỳ động dục ấy
Trang 221.3.2 Công tác thú y
Trong chăn nuôi, công tác thú y đóng vai trò quan trọng, nó góp phần ngăn chặn sự phát triển, lây lan của mầm bệnh, quyết định hiệu quả chăn nuôi Tập trung chủ yếu vào 2 khâu: vệ sinh phòng bệnh và phòng bệnh bằng vaccine
1.3.2.1 Vệ sinh phòng bệnh
Để góp phần nâng cao chất lượng, năng suất của đàn lợn trong thời gian thực tập tại Trại tôi đã tích cực tham gia công tác vệ sinh cùng với cán bộ, công nhân tại trại:
- Định kỳ vệ sinh môi trường xung quanh trại như: Khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, rắc vôi, diệt con vật mang mầm bệnh như chuột, ruồi, vệ sinh khu vực nhà ở của công nhân, khu vực xung quanh bếp ăn
- Hàng ngày vét máng của lợn mẹ và lau chùi máng lợn con sạch sẽ
- Định kỳ xịt gầm và tẩy rửa sàn chuồng
- Sau khi lợn con được xuất tham gia tháo dỡ các tấm nan chuồng ra mang ngâm ở hố sát trùng bằng dung dịch NaOH 10%, ngâm trong 1 ngày sau đó mang cọ sạch và phơi khô Khung chuồng cũng được cọ sạch, xịt bằng dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng khoảng 5%, sau đó xịt lại bằng dung dịch vôi xút Gầm chuồng cũng được vệ sinh sạch sẽ tiêu độc khử trùng kỹ Để khô 1 ngày tiến hành lắp các tấm nan vào, sau đó đuổi lợn chờ đẻ từ nái chửa 2 xuống
- Khi có dịch bệnh xảy ra công tác vệ sinh thú y được tiến hành nhanh chóng, thường xuyên và triệt để hơn lúc nào hết
Lịch sát trùng được trình bày ở bảng 1.2
Trang 23Bảng 1.2: Lịch sát trùng
Thứ
Trong chuồng
Ngoài Chuồng
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng nái
chửa Chuồng đẻ
Chuồng cách ly
Phun sát trùng
Phun sát trùng toàn
bộ khu vực
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Thứ 3 Phun sát
trùng
Phun sát trùng + quét vôi đường
đi
Quét hoặc rắc vôi đường đi
Phun sát trùng
Phun sát trùng
Phun sát trùng
Thứ 7
Vệ sinh
tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng khu
1.3.2.2 Công tác phòng bệnh
Quy trình tiêm phòng, cho đàn lợn của trang trại được thực hiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc Tiêm phòng cho đàn lợn nhằm tạo ra trong cơ thể chúng một sức miễn dịch chủ động, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể
Quy trình phòng bệnh bằng thuốc, bằng vaccine cho các loại lợn (lợn con theo mẹ và lợn nái hậu bị, lợn nái sinh sản) thể hiện ở bảng 1.3:
Trang 24Bảng 1.3: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái
Loại lợn Ngày tuổi Phòng
bệnh
Vaccine/
Thuốc/chế phẩm
Đường đưa thuốc
Liều lượng (ml/con)
Lợn con
Tiêu chảy Nova-Ampicol Uống 2
3 - 6 ngày Cầu trùng Nova - Coc 5% Uống 2 16- 18 ngày Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
Lợn hậu
bị
25, 29 tuần tuổi Khô thai Parvo Tiêm bắp 2
26 tuần tuổi Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
27, 30 tuần tuổi Giả dại Begonia Tiêm bắp 2
Lợn nái
sinh sản
10 tuần chửa Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
Định kỳ hàng năm vào tháng 4, 8, 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn vaccine giả dại Begonia tiêm bắp 2 ml/con
- Đối với lợn đực
Lợn đực hậu bị mới nhập về: 3 tuần tiêm phòng vaccine dịch tả Coglapest,
4 tuần tiêm phòng vaccine lở mồng long móng Aftopor, vaccine giả dại Begonia
Lợn đực đang khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 bằng vaccinedịch tả Coglapest Tháng 4, 8, 12, tiêm phòng vaccine lở mồm long móng Aftopor, vaccine giả dại Begonia
1.3.2.3 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Để điều trị bệnh cho gia súc đạt hiệu quả cao, thì việc phát hiện bệnh kịp thời và chính xác giúp ta đưa ra được phác đồ điều trị tốt nhất làm giảm tỷ
lệ chết, giảm thời gian sử dụng thuốc và giảm thiệt hại về kinh tế Vì vậy, hàng ngày tôi và cán bộ kỹ thuật tiến hành kiểm tra, theo dõi đàn lợn ở tất cả các ô chuồng để phát hiện ra những con bị ốm Trong thời gian thực tập, tôi
Trang 25thai hay chết lưu nên phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ sản làm xây sát tổn
thương tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn bên ngoài xâm nhập vào gây viêm
+ Do sát nhau, nhau bị thối rữa
+ Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái
+ Do lợn đực nhảy trực tiếp mà niệu quản và dương vật bị viêm, sẽ truyền bệnh sang lợn nái
+ Do sàn chuồng không được vệ sinh sạch, lợn nái không được vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi đẻ
+ Mặt khác, do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Bệnh sẩy thai truyền nhiễm và phó thương hàn
-Triệu chứng:
Lợn nái mắc bệnh thể hiện:
+ Thể cấp tính: Lợn bỏ ăn, sốt cao 410C - 420C trong vài ngày đầu Âm
hộ sưng tấy, dịch xuất tiết từ âm đạo chảy ra nhầy, trắng đục hoặc nâu, mùi hôi, đôi khi có màu lờ đờ Lợn đứng nằm, bứt rứt không yên, biếng ăn
Nếu viêm tử cung còn sót nhau thì ngoài mủ máu còn thấy những màng nhầy hôi thối Nếu dịch tiết màu trắng đục là viêm âm hộ thường, còn mủ chảy nhiều hơn, có mùi hôi thối là viêm tử cung nặng
+Thể mãn tính: không sốt, âm môn sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy, trắng đục tiết ra Dịch nhầy tiết không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt từ vài ngày đến một tuần Lợn nái thường thụ tinh không đậu thai hoặc khi đã có thai bị tiêu đi vì quá trình viêm nhiễm từ niêm mạc âm đạo, tử cung lây sang thai của lợn
- Điều trị: Để hạn chế quá trình viêm lan rộng, kích thích tử cung co bóp thải hết dịch viêm ra ngoài và đề phòng hiện tượng nhiễm trùng cho cơ thể, tôi tiến hành điều trị như sau:
* Phác đồ I:
+ Genta - Tylosin, tiêm bắp 1ml/10kg TT
+ Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
+ Thuốc bổ tiêm bắp Catosal®10% 30ml chia làm 2 mũi
+ Thụt rửa bằng thuốc Biocid - 30
+ Thụt 1 triệu UI Penicilin + 1g Streptomycine
* Phác đồ II
+ Bio-D.O.C., tiêm bắp 1ml/10kg TT
Trang 26+ Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
+ Thuốc bổ tiêm bắp Catosal®10% 30ml chia làm 2 mũi
+ Thụt rửa bằng thuốc Biocid - 30
+ Thụt 1 triệu UI Penicilin + 1g Streptomycine
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi đã điều trị khỏi 16 con lợn nái bị mắc bệnh viêm tử cung
Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn, mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như: E.coli, streptococus, staphylococus, klebsiella…
+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú
mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú
+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm + Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
- Triệu chứng: Bệnh xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có con đến một tháng Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy hơi nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn, nếu bị nặng thì bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao 40,50C
-420C kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy,
xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100%
- Điều trị:
Trang 27Cục bộ: phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế đầu vú bằng novocain 0,25 - 0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần tránh lây lan sang vú khác
Tiêm quanh vùng bầu vú bị viêm bằng Nor100 1ml/10kgTT
Toàn thân:
Tiêm Analgin: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi đã điều trị khỏi 7 con lợn bị mắc bệnh viêm vú
Bệnh tiêu chảy ở lợn con
- Nguyên nhân: Là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gram (+), vi khuẩn đường tiêu hoá gây ra; do lợn con sau khi sinh bị nhiễm lạnh; do lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung; do lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần; do lợn con không được tiêm sắt…
- Triệu chứng: Trong chuồng lợn con có hiện tượng nôn ra sữa, sàn chuồng có phân lỏng màu vàng hoặc màu trắng Lợn ỉa chảy liên tục, trên người
có dính phân, phân lỏng, mùi thối khắm, lợn bỏ ăn hoặc ăn kém, mệt mỏi, có con bụng chướng to
- Điều trị:
Tiêm Ampisure: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Tiêm Nor100: 1ml/10kgTT/1lần/ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi đã điều trị khỏi 90/100 con lợn con bị mắc bệnh tiêu chảy
Bệnh viêm bao khớp
- Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi và xảy ra nhiều nhất vào mùa đông khi nhiệt độ xuống quá thấp hoặc, do da bị trầy xước nên vi khuẩn có điều
kiện xâm nhập và gây bệnh
- Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh, tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần
tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân
Trang 28Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ
khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
- Điều trị: Tiêm Vetrimoxin: 1ml/10kgTT/1lần/2ngày
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi đã điều trị khỏi 3/4 con lợn bị viêm bao khớp
Bệnh phân trắng lợn con
- Nguyên nhân:
+ Do trực khuẩn E.coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột
Enterobacteriaceae gây ra
+ Sàn chuồng bẩn làm cho bầu vú của lợn mẹ bẩn khi lợn con bú sẽ làm cho vi khuẩn E.coli xâm nhập vào đường tiêu hoá
+ Do lợn ít sữa khiến lợn con đói, lợn gặm nhấm nền sàn, chuồng tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể
+ Do lợn mẹ bi viêm vú làm cho thành phần, chất lượng sữa thay đổi, nên lợn bị rối loạn tiêu hoá
- Triệu chứng:
Bệnh xảy ra ở thể quá cấp, cấp tính, mãn tính Lợn bị bệnh thường kém
ăn, ủ rũ, mắt, miệng, hậu môn nhợt nhạt, ỉa chảy phân trắng lỏng, có mùi hôi tanh khó chịu, sau chuyển chuyển sang hơi vàng, khắm, phân bết sau hậu môn, lợn đi lại không vững, mất nước và chất điện giải, gầy sút nhanh Lợn bị bệnh nếu không chữa kịp thời sau 3 - 5 ngày sẽ chết
- Điều trị:
Bệnh phân trắng lợn con có nhiều loại thuốc điều trị nhưng tại trang trại có điều trị bằng thuốc sau:
Nova - Ampicol: 2 g/lít nước cho uống
Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi đã điều trị khỏi 122/130 con lợn con bị mắc bệnh phân trắng
Bệnh viêm phổi
- Nguyên nhân: sức đề kháng của lợn giảm, thời tiết thay đổi đột ngột,
chênh lệch nhiệt độ ngày đêm tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh
Trang 29- Triệu chứng: Lợn bỏ ăn, ủ rũ, ít hoạt động, nằm một chỗ, sốt nhẹ, lợn
ho thành tiếng hay từng cơn, đặc biệt ho nhiều vào buổi sáng sớm và chiều tối hay những khi vận động mạnh
- Điều trị:
Tiêm: Dynamutylin 1ml/10kgTT/1 lần/ ngày
Tiêm: ADE 2ml/10kgTT/ 1lần/ ngày
Tiêm liên tục trong 3 - 6 ngày
Trong thời gian thực tập tại trại chúng tôi đã điều trị khỏi 11/12 con lợn
+ Do chiều hướng, tư thế thai không bình thường, thai dị hình
+ Do lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình nuôi từ hậu
bị đến khi lợn chửa, đẻ như ít vận động, cơ bụng, cơ hoành, cơ liên sườn yếu
và xương chậu hẹp
- Triệu chứng:
Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi khó chịu, nước ối tiết nhiều và lẫn có máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo
- Điều trị:
Tuỳ vào từng trường hợp mà có những biện pháp can thiệp khác nhau: Nếu thấy lợn mẹ rặn nhiều mà bào thai vẫn không được đẩy ra ngoài thì dùng thủ thuật kéo thai ra ngoài: Lấy dầu nhờn vazơline bôi trơn cánh tay rồi đưa vào tử cung Kiểm tra thai còn sống hay đã chết rồi nhanh chóng đưa hết các bào thai và nhau thai ra ngoài Sau đó tiêm Lutalyse với liều 2ml/con kết hợp với tiêm Vetrimoxin 1ml/ 10 kg TT
Nếu lợn mẹ không có hiện tượng rặn đẻ mà thời gian đẻ kéo dài thì tiêm Oxytocin với liều 2ml/ con đối với lợn nái đẻ lứa thứ 3 trở lại và 3ml/con đối với lợn nái đã đẻ nhiều lứa
Trang 30Bảng 1.4: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc Số lượng
(con)
Kết quả (an toàn/ khỏi)
Số lượng (con)
Tỷ lệ (%)
Trang 311.4 Kết luận và đề nghị
1.4.1 Kết luận
Sau một thời gian thực tập tại trại giống lợn ngoại của trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Hòa Bình được sự quan tâm, giúp đỡ của các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Chăn nuôi - Thú y, Ban lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật và toàn bộ công nhân của trại, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Đức Hùng, tôi đã có cơ hội tiếp xúc thực
tế, vận dụng những kiến thức đã học ở nhà trường, sách vở vào thực tế sản xuất Từ đó giúp tôi củng cố, nâng cao kiến thức cho bản thân, mạnh dạn,
tự tin hơn trong công việc
+ Biết cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh thông thường xảy ra trên lợn + Biết cách sử dụng các loại vaccine, các loại thuốc đã được sử dụng + Biết cách chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn, bổ sung những kiến thức không biết từ thực tế vào vốn kiến thức của mình
1.4.2 Đề nghị
Qua quá trình thực tập ở trại tôi xin đưa ra một số đề nghị sau:
+ Trại nên tu sửa lại một số công trình thiết bị, dụng cụ chăn nuôi đã bị hỏng + Mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư và nâng cấp thêm về cơ sở vật chất + Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn chu đáo về cách quan sát phát hiện bệnh kịp thời giúp cho công tác điều trị nhanh đỡ tốn kém mang lại hiệu quả cao hơn
+ Nên mở lớp đào tạo về chuyên môn cho cán bộ trại để họ có tay nghề chắc giúp cho việc chăm sóc, phát hiện lợn bệnh được tốt hơn
+ Tăng cường công tác quản lý chăm sóc nuôi dưỡng, thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y trong khu vực chăn nuôi
+ Tăng cường sự đoàn kết gắn bó hơn nữa, nâng cao trách nhiệm hơn
của mỗi cán bộ công nhân viên của trại
Trang 32Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
“Nghiên cứu tình hình mắc bệnh Viêm Tử Cung ở đàn lợn nái tại Trại Lợn Ngoại thuộc trung tâm giống vật nuôi và thủy sản tỉnh Hòa Bình, thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh”
2.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, cùng với sự hội nhập kinh tế của Việt Nam với các nước trên thế giới, ngành chăn nuôi nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đặc biệt là nghề chăn nuôi lợn Sản phẩm của nghề chăn nuôi lợn mang lại giá trị lớn cho con người, đó là nguồn cung cấp thực phẩm với số lượng lớn, chất lượng tốt cho chúng ta Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn cũng cung cấp một lượng năng lượng không nhỏ cho cuộc sống và cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ như: da, lông, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến
Chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn xuất khẩu ra thế giới mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi Ngoài ra chăn nuôi lợn còn tận dụng được sức lao động nhàn rỗi, tận dụng được phế phẩm cho nông nghiệp… chính vì vậy lợn được nuôi nhiều ở hầu hết các tỉnh trên toàn quốc
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, chăn nuôi lợn nước ta có những bước phát triển như: Tổng đàn tăng,
cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất, chất lượng cao… Chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình ngày càng giảm thay vào đó là các trang trại với quy mô nhỏ và vừa ngày càng tăng…
Tuy nhiên, chăn nuôi lợn là hoạt động kinh tế luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn Ngoài các nguyên nhân như sự cạnh tranh với các ngành nghề khác, các chính sách, chi phí đầu vào, chi phí thức ăn…, chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh, lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng, đặc biệt là bệnh sản khoa Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm tử cung Bệnh viêm tử cung là bệnh sinh sản do một số vi khuẩn như: Escherichia coli,
Trang 33Streptococcus, Staphylococcus….,gây ra Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt như các bệnh truyền nhiễm nhưng gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợn nái: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai… nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm phát triển làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của chăn nuôi lợn Với mục đích góp phần vào nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả phòng trị bệnh, tiết kiệm chi phí nái nuôi tại trại lợn giống ngoại, chúng tôi tiến hành đề
tài “Nghiên cứu tình hình mắc bệnh Viêm Tử Cung ở đàn lợn nái tại Trại lợn
ngoại thuộc trung tâm giống vật nuôi và thủy sản tỉnh Hòa Bình, thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh”
2.1.1 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại Trại lợn giống ngoại thuộc trung tâm giống vật nuôi và thủy sản Hòa Bình
- Xác định được mức độ ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn ở lứa tiếp theo
- Xác định được hiệu lực của 2 phác đồ điều trị bệnh
2.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [9], cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh
Trang 34dục bên ngoài
+ Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo
+ Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình
- Bộ phận sinh dục bên trong
* Buồng trứng (ovarian)
Buồng trứng lợn nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai
Cấu tạo: phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền tuỷ có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ gồm ba thành phần:
Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non (fulliculo oophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng
và phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (stratum glanulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum)
Trần Thị Dân (2004) [3] cho biết, phía ngoài của buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền: Miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tác dụng về sinh dục Miền tuỷ của buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh mạch bạch huyết và mô liên kết Trên buồng trứng có từ 70.000-100.000 noãn bào, ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng
* Ống dẫn trứng: (vòi Fallop)
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
Trang 35- Tua diềm: có hình giống như tua diềm
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời
* Tử cung (Uterus)
Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn lại Độ dài này thích hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng
- Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 40-65cm Thân tử cung dài 5cm Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều dài răng lược thông với âm đạo
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản Gồm:
- Chuyển vận tinh trùng
- Làm tổ, chửa và đẻ
* Âm đạo (Vagina)
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Âm đạo lợn dài 10-12cm, là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi 3 lớp:
+ Lớp liên kết bên ngoài
+ Lớp cơ trơn: Bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung
+ Lớp niêm mạc: Trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài âm đạo ra còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh ra và là ống thải các chất dịch từ bên trong tử cung
Bộ phận sinh dục bên ngoài: là những phần ta có thể nhìn thấy, sờ thấy
và quan sát được, gồm: âm môn, âm vật và tiền đình
Trang 36* Âm môn
Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulvae)
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi)
* Âm vật (clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn Âm vật giống như dương vật con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như cấu tạo dương vật của con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới
* Tiền đình (vestibulum)
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình mới vào âm đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết ra dịch nhầy
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
* Sự thành thục về tính dục
- Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục đã phát triển hoàn thiện và có thể bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt, các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
- Giống
Các giống lợn khác nhau có độ tuổi thành thục về tính khác nhau
Phạm Hữu Doanh (1985) [2] cho rằng, các giống lợn nội có độ tuổi thành thục về tính vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Trong khi đó
Trang 37tuổi động dục ở lợn ngoại là từ 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội × ngoại) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
- Điều kiện nuôi dưỡng quản lý
Chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc sẽ sớm thành thục về tính và ngược lại
- Điều kiện ngoại cảnh
Sự kích thích của con đực cũng làm ảnh hưởng tới sự thành thục về tính của lợn nái hậu bị Theo một số tác giả, nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn nái (trên 90kg) động dục ở 165 ngày tuổi Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục
về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo giống
- Chu kỳ động dục: Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể con vật hết khả năng sinh sản (buồng trứng hết tế bào trứng) Một chu kỳ động dục của lợn dao động khoảng 18-22 ngày, trung bình là 21 ngày
+ Giai đoạn trước động dục kéo dài 1-2 ngày Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ động dục Ở giai đoạn này các noãn baophát triển mạnh, các noãn bao chín, tế bào tách trứng khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung chảy ra, niêm dịch chảy nhiều, con vật xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, xung huyết, đỏ, bóng ướt, mép âm hộ hé mở, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra, con vật giảm ăn, hay kêu rống, hay nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng của mình Thần kinh con vật bị kích thích, con vật có biểu hiện băn khoăn, ngơ ngác, đi lại không yên, đái dắt, kêu (hoặc không kêu)
Buồng trứng có nang trứng phát triển, màng nhầy tử cung dày lên, tụ huyết, cổ tử cung hé mở, đỏ hồng, bóng ướt, niêm dịch nhiều, lỏng và trong suốt, dễ đứt, khó kéo dài, âm đạo đỏ hồng, ướt bóng
+ Giai đoạn động dục: Kéo dài từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 tiếp theo của giai đoạn trước Giai đoạn này dài hay ngắn tuỳ theo giống Lợn ngoại và lợn
Trang 38lai, thường kéo dài 4-5 ngày Ở giai đoạn này con vật biểu hiện hưng phấn cao
độ, phá chuồng, giảm ăn uống, kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác và để con khác nhảy lên lưng của mình, thích gần đực, lúc gần đực luôn ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khuỵ xuống sẵn sàng chịu đực, âm hộ giảm độ sưng, hơi thâm, se lại có vết nhăn mờ, nước nhờn chảy ra, dính, đục, âm đạo bớt đỏ
+ Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn động dục Ở giai đoạn này lợn nái dần trở lại trạng thái bình thường, âm
hộ giảm độ nở, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng Trên buồng trứng thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7-8 mm và bắt đầu tiết Progesterone giảm tiết Oestrogen
+ Giai đoạn yên tĩnh: Thường bắt đầu từ ngày sau khi rụng trứng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến Giai đoạn này kéo dài từ 10-
12 ngày, cổ tử cung đóng chặt, không có niêm dịch, lợn nái trở lại trạng thái bình thường
* Thời điểm phối giống thích hợp: Trứng rụng vào ống dẫn trứng và có khả năng thụ thai trong thời gian 8-10h kể từ sau khi rụng Tinh trùng sống trong đường sinh dục cái còn khả năng thụ tinh 34-72h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai là cho phối giống vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục của lợn nái nội ngắn hơn, cần cho phối 2 lần ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khoá đuôi” của thời kỳ rụng trứng
* Quá trình mang thai và đẻ:
Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [28] cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hoá giữa tinh trùng và trứng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày Khi mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố Progesterone ức chế sự phát triển của bao noãn Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
+ Chửa kì I: Là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kì II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ