Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất trí của phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2010 - 2014
Thái nguyên, năm 2014
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Sửu
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái nguyên, năm 2014
Trang 3Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất trí của phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa lợn tại huyện Phú Lương
- tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”
Trong quá trình thực hiện đề tài, được sự giúp đỡ và chỉ bảo ân cần của các thầy cô giáo trong trường, khoa Chăn nuôi Thú y; lãnh đạo và toàn thể các cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương và thú y địa phương
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
TS Nguyễn Văn Sửu, đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực
tập và hoàn thành bản khóa luận này
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và toàn thể các cán
bộ phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, gia đình chú Nguyễn Minh Tân
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe hạnh phúc thành đạt
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Đinh Nam Hướng
Trang 4Thực tập tốt nghiệp là phần quan trọng trong chương trình đào tạo của các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên,
nó giữ vai trò quan trọng đối với sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên tiếp cận, làm quen với thực tiễn sản xuất, có điều kiện áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất để hệ thống, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường, nâng cao tay nghề chuyên môn Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Sửu cùng với sự tiếp nhận của phòng nông nghiệp
huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên, em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
tình hình mắc bệnh giun đũa lợn tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”
Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo phòng Nông Nghiệp huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên cùng tập thể cán
bộ công nhân viên, sự hướng dẫn tận tình của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự
nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian hạn chế, kinh nghiệm còn thiếu trong thực tiễn sản xuất, kiến thức hạn hẹp nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được
sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của các thầy, cô giáo và các và các bạn
để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Đinh Nam Hướng
Trang 5Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra tình hình cơ bản của huyện Phú Lương 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Địa hình, đất đai 1
1.1.1.3 Giao thông vận tải 1
1.1.1.4 Điều kiện khí hậu, thời tiết 2
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 2
1.1.2.1 Dân số và lao động 2
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng 2
1.1.2.3 Văn hóa xã hội 3
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 4
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 4
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi 6
1.1.4 Đánh giá chung 7
1.1.4.1 Thuận lợi 7
1.1.4.2 Khó khăn 8
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 9
1.2.1 Nội dung 9
1.2.1.1 Công tác áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi 9
1.2.1.2 Công tác thú y 9
1.2.1.3 Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học 9
1.2.2 Phương pháp tiến hành 9
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 10
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 10
1.2.3.2 Công tác thú y 12
1.3 Kết luận, tồn tại và đề nghị 14
1.3.1 Kết luận 14
1.3.2 Tồn tại 15
1.3.3 Đề nghị 15
Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 16
2.1 Mở đầu 16
2.1.1 Đặt vấn đề 16
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.3 Mục đích nghiên cứu 17
2.1.4 Ý nghĩa của đề tài 17
2.1.4.1 Ý nghĩa khoa học 17
Trang 62.2.1.1 Những hiểu biết chung về giun đũa lợn 17
2.2.1.2 Bệnh giun đũa lợn 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 28
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.3.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 35
2.4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn tại một số xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 35
2.4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo lứa tuổi 36
2.4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh 38
2.4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi 40 2.4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tính biệt 43
2.4.6 Các biểu hiện lâm sàng của lợn khi bị nhiễm giun đũa 44
2.4.7 Hiệu lực tẩy của 2 loại thuốc Levamisol và Mebendazol 45
2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 46
2.5.1 Kết luận 46
2.5.2 Tồn tại 47
2.5.3 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I Tài liệu trong nước 48
II Tài liệu dịch 49
III Tài liệu nước ngoài 47
Trang 7Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 - 2013 5
Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Phú Lương năm 2011 - 20136 Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 14
Bảng 2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn ở một số xã thuộc huyện Phú Lương - Thái Nguyên 35
Bảng 2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo lứa tuổi 37
Bảng 2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh 39
Bảng 2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi 40
Bảng 2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa lợn theo tính biệt 43
Bảng 2.6 Các triệu chứng lâm sàng của lợn khi bị nhiễm giun đũa 44
Bảng 2.7 Kết quả điều trị bệnh giun đũa lợn của một số loại thuốc 45
Trang 8TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
TTGDTX : Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 9Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra tình hình cơ bản của huyện Phú Lương
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía Bắc (theo Quốc lộ 3)
Đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm,
và cây công nghiệp
1.1.1.3 Giao thông vận tải
Đường bộ của Phú Lương có nhiều đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua: Quốc lộ số 3 (Hà Nội - Cao Bằng) chạy suốt từ phía Nam lên phía Bắc huyện Phú Lương, đi qua 8 xã, thị trấn (Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Giang Tiên, Phấn Mễ,
Đu, Động Đạt, Yên Đổ, Yên Ninh); đường số 254 từ km 31 lên Định Hóa;
Trang 10Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu (Cổ Lũng) qua huyện Đại Từ sang Tuyên Quang… mang lại cho Phú Lương nhiều thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1.4 Điều kiện khí hậu, thời tiết
Khí hậu, thời tiết của Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C Nhiệt
độ bình quân cao nhất trong mùa nóng 27,20
C (cao nhất là tháng 7, có năm lên tới 280C - 290C) Nhiệt độ bình quân thấp nhất mùa lạnh là 200C (thấp nhất là tháng 1: 15,60C) Số giờ nắng trung bình là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ khoảng 11Kcal/cm2 Lượng mưa trung bình ở Phú Lương từ 2.000mm đến 2.100mm/năm, độ ẩm (k) dưới 0,5 nên thường xuyên xảy ra khô hạn
(Nguồn: Phòng địa chính - Huyện Phú Lương)
1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.1.2.1 Dân số và lao động
Năm 2013, dân số của huyện là 108.187 người, tỷ lệ tăng dân số qua các năm từ 2012 là 1,05% và năm 2013 là 1,09% Tốc độ tăng dân số bình quân từ 2009 - 2013 là 1,06%, số người trong độ tuổi lao động chiếm 45,8% dân số, chủ yếu là lao động nông nghiệp
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng
Huyện Phú Lương chủ yếu là sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc - gia cầm Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người dân có thể trồng 2 vụ lúa và 1 vụ hoa màu trong một năm Năm 2013, sản lượng lúa đạt 93.183 tấn và sản lượng màu đạt 126.183 tấn Trong những năm gần đây, Phú Lương đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng các cụm công nghiệp nhằm thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại
Năm 2012, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản đạt 196,0 tỷ đồng, năm
2013 đạt 268,2 tỷ đồng (tốc độ tăng bình quân 6,96% giai đoạn 2009 - 2013): trong đó nông nghiệp tăng 6,04%/năm (trong ngành nông nghiệp:
Trang 11trồng trọt tăng ổn định 4,18%/năm, chăn nuôi tăng mạnh 9,76%/năm; ngành dịch vụ nông nghiệp tăng mạnh đạt 18,86%), thủy sản tăng 28,45%/năm; lâm nghiệp tăng 30,08%/năm
1.1.2.3 Văn hóa xã hội
+ Năm học 2011 - 2012 ngành giáo dục tiếp tục giữ vững quy mô mạng lưới trường tổng số 63 đơn vị trường học: 17 trường mầm non; 27 trường tiểu học; 16 trường THCS và 01 TTGDTX, 02 trường PTTH Giáo dục Mầm non có số trẻ ra lớp tăng 1,9% so với năm học trước; giáo dục tiểu học tỷ lệ huy động trẻ vào lớp 1 giảm 0,2% so với năm học trước; giáo dục THCS số lớp giảm 18 lớp, số học sinh giảm 693 em so với năm học trước
- Công tác y tế
Toàn huyện có một bệnh viện lớn là bệnh viện Phú Lương, với quy
mô 500 giường bệnh, các xã đều có trạm y tế xã, các thôn đều có y tá chăm sóc sức khỏe cho người dân Ngoài ra còn có các phòng khám tư nhân
Chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân ngày càng được quan tâm, nhất là các đối tượng phụ nữ, trẻ em Thường xuyên quan tâm, tuyên truyền dưới nhiều hình thức, kết hợp với nhiều biện pháp nghiệp vụ chuyên môn
kỹ thuật, đã làm giảm tỷ lệ phát triển dân số hàng năm
Trang 121.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Trồng trọt là nền tảng của sản xuất nông nghiệp với chức năng cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là cơ sở để phát triển chăn nuôi và cũng là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị
Ngành trồng trọt đóng vai trò rất quan trọng Do vậy sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển Cây nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn là cây lúa, với diện tích trồng khá lớn (3000 ha) Để nâng cao hiệu quả sản xuất, người dân đã thực hiện thâm canh tăng vụ (2 vụ/năm), đưa các giống lúa mới có năng xuất cao và sản xuất như: giống lúa Nếp Vải đặc sản, giống Khang Dân 18, Kim Cương 90, Nhị Ưu 838 Ngoài
ra, còn có một số cây khác được trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, ngô, đậu tương… và một số rau màu khác được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông
Hệ thống thủy lợi phát triển, đủ nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt toàn huyện với 3 con sông: sông Chu, sông Đu, sông Cầu
- Cây ăn quả: Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song diện tích vườn tạp
là chủ yếu, cây trồng thiếu tập trung lại chưa thâm canh, nên năng suất thấp
Sản phẩm chủ yếu mang tính chất tự cung tự cấp, chưa mang tính kinh doanh Cây ăn quả chủ yếu: na, nhãn, vải…
- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm vùng trung du miền núi, do đó diện tích đất đồi núi khá cao Huyện đã có chính sách chuyển giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích đất lâm nghiệp đã được nâng cao (năm
2013 đã trồng mới và trồng lại được 43,5 ha rừng) Huyện đã hướng dẫn hoạt động và khai thác gỗ trên địa bàn theo quy định Trong năm 2013, hiện tượng chặt phá rừng trái phép đã giảm Huyện đã làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy, trong năm không xảy ra cháy rừng
Trang 13- Cây đặc sản:
+ Cây chè: Với diện tích trồng chè đã có, huyện khuyến khích bà con trồng thêm và đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm tiến tới cạnh tranh trên thị trường
Diện tích chè và một số cây trồng được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 - 2013 Năm
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương)
Qua bảng 1.1 cho thấy: Mấy năm trở lại đây, diện tích và sản lượng một số loại cây trồng chính có những biến động nhất định Lúa và chè vẫn
là cây trồng chủ đạo trên địa bàn huyện Trong đó, tổng diện tích lúa năm
2011 là 17.562 ha, sản lượng đạt 98.391 tấn, đến năm 2013, thì diện tích giảm xuống còn 17.108 ha nhưng sản lượng đạt 98.365 tấn Tổng diện tích cây chè năm 2011 là 4.350 ha, sản lượng 34.000 tấn, đến năm 2013, thì diện tích giảm xuống còn 4.100 ha nhưng sản lượng đạt 35.000 tấn Đạt được kêt quả trên là do người dân đã ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất, đưa năng suất lên cao Diện tích và sản lượng ngô giảm mạnh,
Trang 14thay vào đó các cây hoa màu ngắn ngày, nhưng đem lại năng suất cao như khoai tây, lạc và các cây hoa màu (bắp cải, su hào…) vào sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Nguyên nhân của sự thay đổi đó là
do người dân thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng vốn đầu tư cho những loại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế Việc đưa các loại cây có giá trị vào sản xuất được chú trọng, cho nên năng suất và sản lượng cây trồng không ngừng được nâng lên
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Số lượng gia súc, gia cầm của huyện có sự biến động qua 3 năm gần đây Kết quả điều tra số lượng gia súc, gia cầm được trình bày ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Phú Lương
năm 2011 - 2013 STT Vật nuôi Năm 2011 (con) Năm 2012 (con) Năm 2013 (con)
4 Gia cầm 2.100.00 2.200.000 2.500.000
(Nguồn: Trạm Thú y huyện Phú Lương)
Qua bảng số liệu cho thấy:
- Chăn nuôi trâu, bò: Số lượng trâu giảm nhẹ qua các năm Năm
2011, toàn huyện có 5.683 con trâu Đến năm 2013, số lượng trâu giảm xuống còn 5.390 con Số lượng bò tăng từ 35.357 con trong năm 2011 lên 38.000 con vào năm 2013 Nguyên nhân của việc tăng số lượng như vậy, là
do trong những năm gần đây người dân đã chú trọng hơn đến chăn nuôi, phát triển kinh tế
- Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây trên địa bàn các xã xuất hiện một số gia đình nuôi từ 10 - 20 lợn nái sinh sản và vài trăm lợn thịt, cùng
Trang 15với sự thành lập và phát triển của trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện, do đó số lượng đàn lợn của huyện không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2011, số lượng là 165.000 con, đến năm 2013 số lượng tăng lên 171.000 con
- Chăn nuôi gia cầm: Số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt Năm
2011, số lượng đàn gia cầm là 2,1 triệu con nhưng đến năm 2013 số lượng đàn gia cầm đã tăng lên 2,5 triệu con Có sự tăng lên không ngừng về số đàn như vậy là do mấy năm trở lại đây người chăn nuôi đã chú trọng hơn trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, công tác tiêm phòng được thực hiện triệt để Giá bán sản phẩm cao đem lại hiệu quả kinh
tế cho người chăn nuôi
* Công tác thú y: Huyện Phú Lương hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm Công tác kiểm tra xuất nhập con giống và kiểm soát giết mổ được thực hiện nghiêm ngặt
Hiện nay, người dân đã nhận thức được lợi ích của việc tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm nên công tác tiêm phòng đạt hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất Hàng năm vào tháng 3 - 4 và tháng 9 – 10, Trạm Thú y huyện Phú Lương kết hợp với thú y cơ sở các xã tiến hành tiêm phòng tất cả đàn trâu, bò, lợn, gia cầm và chó
- Với trâu, bò: Tiêm vaccine Tụ huyết trùng, LMLM
- Với lợn: Tiêm vaccine Tụ dấu + Dịch tả
- Với gia cầm: Tiêm vaccine cúm gia cầm H5N1,…
1.1.4 Đánh giá chung
1.1.4.1 Thuận lợi
- Huyện Phú Lương nằm trên tuyến quốc lộ III theo trục kinh tế Hà Nội - Thái Nguyên - Cao Bằng, đây là thuận lợi lớn nhất để kinh tế huyện phát triển liên vùng
Trang 16- Có tiềm năng về tài nguyên: than đá, vật liệu xây dựng với các cụm, điểm công nghiệp (KCN thị trấn Đu + Động Đạt 26,9 ha) phát triển tạo ra địa bàn hấp dẫn thu hút đầu tư
- Có tiềm năng lớn về du lịch, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa và cảnh quan đẹp, có khu du lịch Đền Đuổm nối liền với các quần thể du lịch thuộc khu ATK và có nhiều cảnh đẹp tự nhiên khác… trong tương lai nếu thu hút đầu tư sẽ mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách
- Nằm trong tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh công nghiệp, người dân có truyền thống lao động cần cù và sớm được tiếp cận với văn hóa công nghiệp
- Dựa trên các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhận định thì huyện Phú Lương có tiềm năng phát triển kinh tế theo hướng tổng hợp
và đa dạng
- Về kinh tế: huyện có xuất phát điểm tương đối thuận lợi hơn so với một số huyện trong tỉnh, thuộc loại trung bình khá so với tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11,39%/năm
1.1.4.2 Khó khăn
- Nền kinh tế của huyện phát triển dựa chủ yếu vào nông lâm nghiệp, trình độ lao động còn lạc hậu, chưa đáp ứng được sản xuất Hệ thống cơ sở
hạ tầng còn thấp, đặc biệt ở những xã đồi núi xa trục đường quốc lộ, tỉnh lộ
- Trong số diện tích đất nông lâm nghiệp, đất dốc từ 8 - 150 trở lên chiếm trên 16,7%, vì vậy khó khăn cho phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở
hạ tầng
- Trong nông nghiệp công tác chuyển giao ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất còn nhiều hạn chế, chưa tập thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm còn thấp, chưa có nhiều mô hình sản xuất điển hình mang lại hiệu quả cao
Trang 17- Tiến độ thực hiện một số đề án còn chậm, công nghiệp - TTCN chưa có chuyển biến tích cực, phần lớn các cơ sở CN - TTCN và dịch vụ nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực song chênh lệch tỷ trọng giữa
1.2.1.1 Công tác áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi
- Công tác giống: tư vấn giúp bà con một số giống vật nuôi đem lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng, tư vấn, phổ biến kiến thức về chăn nuôi cho bà con nông dân
1.2.1.3 Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
“Nghiên cứu tình tình hình mắc bệnh giun đũa lợn tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”
Trang 18- Có kế hoạch cụ thể cho bản thân, sắp xếp thời gian biểu, công việc cho hợp lý để thu được kết quả tốt nhất, chính xác nhất
- Tham gia tích cực vào công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn và một số vật nuôi khác
- Tham gia công tác chuyển giao kỹ thuật cho các hộ sản xuất
- Luôn luôn chấp hành đúng và tham gia các hoạt động tại cơ sở, tiếp thu ý kiến của giáo viên hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế
để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn
- Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới mà bản thân được học
và tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tại cơ sở, song song với quá trình điều tra tình hình nhiễm giun đũa lợn, chúng tôi đã tiến hành đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn nuôi thú y vào sản xuất giúp nhân dân địa phương
Qua quá trình điều tra nắm bắt được những thuận lợi, khó khăn của huyện để phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại Chúng tôi đã tuyên truyền và chứng minh bằng thực tế giúp nhân dân hiểu thêm về chăn nuôi thú y, làm quen với những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi hộ gia đình, đặc biệt chú trọng công tác phòng bệnh cho vật nuôi, đồng thời tiến hành nhiều công tác chuyên môn
Trong thời gian thực tập tại phòng Nông Nghiệp huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên, ngoài việc thực hiện chuyên đề còn tham gia vào một số công tác như:
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
* Công tác giống
Trong thời gian thực tập, qua tìm hiểu về công tác giống của huyện Phú Lương, chúng tôi thấy rằng:
Trang 19- Đối với đàn trâu, bò: Giống trâu, bò của huyện chủ yếu là giống nội nên tầm vóc nhỏ bé, năng suất thịt không cao Trong những năm gần đây việc thực hiện Sind hóa đàn bò đã thay thế phần nào bò truyền thống bằng
bò lai Sind, có giá trị kinh tế cao hơn
- Đối với đàn lợn: Trong những năm vừa qua đàn lợn nái địa phương của huyện là Móng Cái có tỷ lệ nạc thấp, tầm vóc không lớn không còn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân, đã được chuyển sang đàn nái sinh sản theo hướng nạc và đang ngày càng phát triển mạnh Chúng tôi đã tư vấn
bà con cách chọn lợn để gây cho đàn nái sinh sản và một số địa chỉ để mua giống tốt Bên cạnh đó là việc thuyết phục người chăn nuôi chuyển từ phương pháp cho lợn phối trực tiếp sang phương pháp thụ tinh nhân tạo sử dụng tinh của lợn ngoại được cung cấp bởi các trung tâm, cơ sở sản xuất tinh có uy tín, chất lượng cao
- Đối với đàn gia cầm: Đa số các hộ chăn nuôi nhỏ, quy mô hộ gia đình vẫn nuôi các giống gà nội là chủ yếu, chăn thả tự do, tận dụng nguồn thức ăn là các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt nên hiệu quả thấp Các trang trại và gia đình chăn nuôi với quy mô lớn hơn đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị cho chồng trại và đưa một số giống gà, vịt hướng thịt, hướng trứng vào chăn nuôi đạt hiệu quả tốt
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Khi đã có giống tốt thì việc chăm sóc nuôi dưỡng giữ vai trò quyết định năng suất chăn nuôi Chúng tôi vận động bà con đảm bảo vệ sinh chuồng trại, phối hợp thức ăn theo khẩu phần phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi để có đàn gia súc, gia cầm khỏe mạnh Hướng dẫn
bà con định kỳ tẩy giun sán và tiêm phòng dịch bệnh cho vật nuôi
Về thức ăn: Qua tìm hiểu chúng tôi thấy bên cạnh các trang trại chăn nuôi với quy mô lớn sử dụng thức ăn công nghiệp và bán công nghiệp thì đa
Trang 20số các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ sử dụng các loại thức ăn có sẵn như: ngô, khoai, thóc gạo Với khẩu phần như thế không đủ chất dinh dưỡng cho vật nuôi đặc biệt là các chất vi lượng tuy cần số lượng nhỏ nhưng vô cùng cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi nên khả năng tăng trọng thấp Chúng tôi phổ biến cho bà con cách phối hợp khẩu phần và sử dụng thêm thức ăn bổ xung như bột cá, đậu tương, premix khoáng - vitamin vào thức
ăn hàng ngày cho gia súc, gia cầm
tụ huyết trùng, nhiệt thán, dịch tả lợn
Chúng tôi cùng trạm thú y huyện Phú Lương đã tham gia công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn theo chương trình tiêm phòng
* Công tác chẩn đoán và điều trị
Trong quá trình thực tập, theo yêu cầu của nhân dân trên địa bàn chúng tôi đã tiến hành chẩn đoán và điều trị một số bệnh như sau:
- Bệnh lợn con ỉa phân trắng (Conlibacillosis)
Triệu chứng của lợn khi mắc bệnh thường là: lợn yếu, chậm chạp, thân nhiệt tăng Bệnh thường hay gặp ở lợn con từ 10 - 20 ngày tuổi Lợn
ốm khát nước, phân lỏng, có màu trắng vàng lẫn bọt khí, mất nước, gầy sút cân nhanh, nếu không điều trị kịp thời lợn sẽ chết
Điều trị: Phardiasol, liều dùng 6ml/10kg TT
- Bệnh giun tròn đường tiêu hóa
Trang 21Bệnh giun tròn đường tiêu hóa rất phổ biến, đặc biệt là giun đũa và giun lươn Chúng tôi đã gặp một số con lợn có biểu hiện gầy còm, lông xù, chậm lớn Những con nhiễm nhẹ thì triệu chứng không biểu hiện rõ
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi Fullerborn, qua kiểm tra những con có triệu chứng trên đều nhiễm giun
Điều trị:
+ Dùng Levanmisol: 6 - 6,5 mg/kg TT Tiêm bắp
+ Menbedazol: 5mg/kg TT Cho uống hoặc trộn vào thức ăn
Sau 2 tuần, tiến hành kiểm tra phân đều đã sạch trứng, lợn trở lại bình thường, ăn uống tốt
- Bệnh ghẻ
Đây là bệnh ký sinh trùng dưới da của lợn do loại ghẻ ngứa
Sarcoptessuis gây nên, kèm theo viêm da mãn tính với triệu chứng ngứa,
hình thành các nếp nhăn và vẩy dày Chúng đào hang dưới da, ăn tế bào biểu bì và dịch tế bào Thường thấy biểu hiện trên vùng da quanh mắt, má
và tai, sau đó lây qua vùng lưng, bụng và các phần khác Nếu không điều trị kịp thời da sẽ dầy lên, mất tính đàn hồi, dễ vỡ và bị dồn thành nếp, lông rụng dần dần đến da bị sừng hóa Đôi khi quan sát thấy ghẻ toàn thân, trong trường hợp này lợn giảm ăn, gầy, chậm lớn, có khi chết do nhiễm trùng
Điều trị:
Tiêm Invermectin liều 1ml/kg TT, kết hợp với tắm ghẻ cho lợn bệnh
và những con cùng ô chuồng bằng Tactick, thấy hiệu quả tốt
Ngoài công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm, tôi và các cán bộ thú y của cơ sở thực hiện một số công tác khác: Thiến lợn đực, tiêm dextran - Fe cho lợn con, trực và đỡ đẻ cho lợn
Trang 22Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Số lượng
(con)
Kết quả (An toàn, khỏi)
Số lượng (con)
1.3 Kết luận, tồn tại và đề nghị
1.3.1 Kết luận
Qua thời gian 6 tháng thực tập, với những kiến thức được học tập ở nhà trường, sự phấn đấu vươn lên và lòng say mê nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao, không ngại khó, ngại bẩn, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt
Trang 23tình của giáo viên hướng dẫn, cán bộ thú y của huyện Phú Lương, tôi đã thu được những kết quả nhất định Quá trình thực tập cũng đã giúp tôi củng cố
về kiến thức chuyên môn lẫn thực tế, đặc biệt những kiến thức trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho gia súc, gia cầm làm cơ sở cho chuyên môn sau này
1.3.2 Tồn tại
Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định trong công tác phục vụ sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi trong thời gian thực tập tôi tự nhận thấy mình còn một số hạn chế sau:
- Do thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên kết quả thu được còn chưa cao
- Đôi khi còn chưa chủ động trong công việc
1.3.3 Đề nghị
Do hiểu biết của người dân về thú y còn hạn chế, cần tuyên truyền sâu rộng cho người dân hiểu về chăn nuôi thú y, từ đó biết áp dụng những biện pháp khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi
Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ
Tiêm phòng đầy đủ cho đàn gia súc, gia cầm
Thức ăn nước uống phải hợp vệ sinh, sạch sẽ
Thực hiện công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ thường xuyên tránh lây lan dịch bệnh
Trang 24Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
đã có nhiều chính sách phát triển ngành chăn nuôi, ngành chăn nuôi cũng có những bước phát triển mới Nhu cầu của con người ngày một nâng cao,vì thế yêu cầu đối với các sản phẩm chăn nuôi cũng ngày càng cao
Trong các ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vì một mặt nó
là nguồn cung cấp thực phẩm thường xuyên cho nhu cầu của con người, mặt khác là nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ: mỡ, lông, da cho ngành công nghiệp chế biến Đối với nước ta ngành chăn nuôi lợn không những góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn giúp nhiều hộ gia đình làm giàu, góp phần giải quyết công ăn việc làm, giúp người dân có thêm thu nhập
Trong thực tiễn chăn nuôi, tình hình dịch bệnh trong những năm gần đây xảy ra ngày càng phức tạp với nhiều loại dịch bệnh, gây tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thì bệnh ký sinh trùng cũng gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi lợn Bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa lợn nói riêng tuy không gây chết hàng loạt nhưng nó làm lợn gầy gò, giảm sinh trưởng, ảnh hưởng tới năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm
Huyện Phú Lương là một huyện trung du miền núi, ngành chăn nuôi lợn chưa được người dân chú ý nên đàn lợn bị mắc bệnh ký sinh trùng khá
Trang 25nhiều Để giúp người dân hiểu được tác hại của bệnh giun đũa lợn và có biện pháp phòng trị bệnh, từng bước nâng cao năng suất chất lượng của ngành chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu tình tình hình mắc bệnh giun đũa lợn tại huyện Phú
Lương - tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tình hình nhiễm giun đũa lợn ở một số xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn
- Nghiên cứu các biện pháp phòng và trị bệnh giun đũa lợn
- Xác định hiệu lực của thuốc Levamisol và Mebendazol
2.1.3 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp các thông tin mới về bệnh giun đũa lợn
- Đề xuất các phương pháp phòng và trị bệnh giun đũa lợn hiệu quả
2.1.4 Ý nghĩa của đề tài
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hóa là những bệnh ở thể mãn tính, triệu chứng bệnh không rõ ràng Đó cũng là nguồn gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài
và lây lan sang các con khác, làm cho bệnh càng có điều kiện phát sinh mạnh, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi
2.2.1.1 Những hiểu biết chung về giun đũa lợn
* Giun đũa lợn trong hệ thống phân loại động vật
Trang 26Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10]; Phan Thế Việt và cs (1997) [20] giun đũa lợn có trong hệ thống phân loại động vật như sau:
* Hình thái
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] cho biết hình thái của giun đũa như sau:
+ Giun đũa lợn màu trắng sữa Hình ống, hai đầu hơi nhọn
+ Đầu có 3 môi bao quanh miệng (1 môi ở phía trên lưng và 2 môi ở phía bụng) Trên rìa môi có 1 hàng răng cửa rất rõ
+ Giun đực dài 12 - 22 cm, đường kính 2,7 - 3mm, đuôi cong về phía bụng, có 2 gai giao hợp bằng nhau (1,2 - 2 mm), không có túi giao hợp
+ Giun cái dài 29 - 35 cm, đường kính 4 - 5 mm, đuôi thẳng
+ Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước 0,056 - 0,087 x 0,046 - 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp, lớp ngoài cùng là màng protit, màu vàng cánh dán, nhấp nhô làn sóng
*Vòng đời
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] cho biết: Giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian Mỗi giun cái đẻ mỗi ngày khoảng 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1925) Trứng theo phân ra ngoài ở nhiệt độ khoảng 240C và độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trứng nở thành ấu trùng, sau 1 tuần nữa thì ấu trùng lột xác Lúc đó trứng đã nở thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này thì ấu trùng kỳ I nở ở ruột, chui vào mạch máu và niêm mạc, theo máu về gan
Trang 27Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, lột xác thành ấu trùng kỳ II Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày, hầu hết
ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất sau 12 ngày vẫn có ấu trùng ở phổi Khi tới phổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III
Ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản rồi cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu, được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa
và phát triển thành giun trưởng thành Trong khi di hành một số ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não Hoàn thành vòng đời cần 54 - 62 ngày
Giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa phân giải tổ chức niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ giun đũa không quá 7 - 10 tháng Nhưng nếu điều kiện bất lợi (ký chủ sốt cao) thì tuổi thọ giun ngắn hơn
Sơ đồ vòng đời của giun đũa ký sinh trong ruột lợn
Lẫn vào thức ăn, nước uống
Lợn nuốt phải
Qua niêm mạc
Trang 282.2.1.2 Bệnh giun đũa lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2007) [8], bệnh giun đũa lợn phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Phi và Châu Á Lợn con mắc bệnh giun đũa sinh trưởng và phát dục không đầy đủ, sản phẩm thịt giảm đến 30% Ở Việt Nam, bệnh giun đũa lợn thấy ở tất cả các vùng sinh thái, trong các cơ sở chăn nuôi tập trung và hộ gia đình
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], bệnh giun đũa lợn là một bệnh phổ biến ở nước ta, lợn mắc bệnh giun đũa chủ yếu từ 2 - 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần, ở lợn dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp Bệnh do loài
Ascaris suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà, lợn rừng
và châu Phi Nguyên nhân bệnh giun đũa lợn rất phổ biến vì vòng đời của
nó đơn giản, có thể truyền trực tiếp và có sức đề kháng cao
- Tuổi mắc bệnh giun đũa: Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [18], lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao và cường độ lớn ở lợn từ 3 - 5 tháng tuổi Theo Bùi Quý Huy (2006) [2], lợn từ 2 - 6 tháng tuổi mắc bệnh với tỷ lệ cao, tuy nhiên mọi lứa tuổi đều mắc Nhìn chung, lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi
2 - 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần
Nguyên nhân có tình trạng này là do điều kiện khí hậu nước ta nóng
và ẩm, thuận lợi cho trứng giun phát triển Mặt khác công tác thú y ở các cơ
Trang 29sở chăn nuôi mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa được thực hiện tốt, chưa ủ phân, còn bón phân tươi vào ruộng trồng cây thức ăn cho lợn
- Động vật cảm nhiễm: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [9], lợn nhà
và lợn rừng ở các lứa tuổi 1 - 4 tháng tuổi nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao nhất
và bị bệnh nặng hơn lợn trưởng thành Lợn con dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm giun đũa 39,2%; 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 48,0%; trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 24,9%
- Đường truyền bệnh: Theo nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Xuân Bình (2005) [1], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], Phạm Sỹ Lăng và
cs (2009) [9], thì bệnh được truyền chủ yếu qua đường miệng, qua thức ăn, nước uống có nhiễm trứng giun đũa Lợn liếm dụng cụ, máng ăn, nền chuồng và đất ở bãi chăn nên trứng dễ theo vào đường tiêu hóa Khi bón phân tươi cho cây trồng, cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng Khi lợn ăn phải sẽ bị nhiễm bệnh Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nhiễm phải trứng giun đũa nhiễm ở đầu vú mẹ
- Phương thức chăn nuôi: Thường 70% lợn nuôi ở các gia đình theo phương thức truyền thống như cho lợn ăn bèo, rau sống đều mắc bệnh ký sinh trùng Lợn nuôi theo phương pháp mới không cho ăn bèo, rau sống thì
ít mắc bệnh hơn Lợn nuôi ở vùng đồi núi, trung du không ăn rau sống dưới nước, lợn con chưa ăn rau bèo cũng mắc bệnh (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [11]
Trang 30Theo Anderdahl (1997) [21], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau 5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bị suyễn Khi ấu trùng theo máu vào gan và dừng lại ở mạch máu gây lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây hoại tử tế bào gan
Khi ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển đến tế bào gây vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi
có thể kéo dài 5 - 14 ngày có khi làm con vật chết Khi giun trưởng thành thì gây loét niêm mạc ruột non, lợn có triệu chứng đau bụng, khi số lượng giun nhiều sẽ gây tắc và thủng ruột, có khi giun chui vào ống mật làm tắc ống dẫn mật gây hiện tưởng hoàng đản
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần kinh (tê liệt hoặc hưng phấn)
Giun lấy dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ Kết quả làm cho ký chủ gầy còm chậm lớn
* Triệu chứng
Khi lợn nhiễm ít giun, triệu chứng không rõ Bệnh giun đũa thường biểu hiện rõ ở những lợn nuôi thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin, nhiễm nhiều giun (Chu Thị Thơm và cs, 2006) [18]
Phạm Sỹ Lăng (2007) [8] cho biết: bệnh giun đũa thường có triệu chứng rõ rệt và tác hại nhiều ở lợn 2 - 4 tháng tuổi
Giun ký sinh trong ruột non của lợn, lấy chất dinh dưỡng từ ký chủ, tiết độc tố Lợn trưởng thành biểu hiện lâm sàng không rõ, phần nhiều mang giun đũa, trở thành nguồn reo rắc mầm bệnh: gầy, chậm lớn, sút cân, rối loạn tiêu hóa Từ đó con vật gầy yếu suy nhược, còi cọc, thiếu máu Lúc này bệnh hay thể hiện ở thể mãn tính
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] khi ấu trùng ở phổi gây viêm phổi (thân nhiệt cao, ăn kém, hô hấp nhanh, ho) Khi nhiều giun thì