1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị.

56 679 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 507,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất trí của phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG QUANG MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG QUANG MINH

Trang 3

Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa

Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất trí của phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện nghiên cứu đề tài :

"Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”

Trong quá trình thực hiện đề tài, được sự giúp đỡ và chỉ bảo ân cần của các thầy cô giáo trong trường, khoa Chăn nuôi Thú y; lãnh đạo và toàn thể các cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương và thú y địa phương

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường, khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ

em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Văn Sửu, đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và

hoàn thành bản khóa luận này

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương, gia đình chú Nguyễn Minh Tân đã tạo

điều kiện thuận lợi và trực tiếp giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở

Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe hạnh phúc thành đạt

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Hoàng Quang Minh

Trang 4

Thực tập tốt nghiệp là phần quan trọng trong chương trình đào tạo của các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nó giữ vai trò quan trọng đối với sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên tiếp cận, làm quen với thực tiễn sản xuất, có điều kiện

áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất để hệ thống, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường, nâng cao tay nghề chuyên môn

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa

Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sự hướng dẫn của

TS Nguyễn Văn Sửu cùng với sự tiếp nhận của phòng nông nghiệp huyện

Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên, em đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu tình

hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”

Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo phòng Nông Nghiệp huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên cùng tập thể cán

bộ công nhân viên, sự hướng dẫn tận tình của thầy, cô giáo hướng dẫn và sự

nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian hạn chế, kinh nghiệm còn thiếu trong thực tiễn sản xuất, kiến thức hạn hẹp nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của các thầy, cô giáo và các và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Hoàng Quang Minh

Trang 5

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

TTGDTX : Trung tâm giáo dục thường xuyên

Trang 6

Trang

Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 - 2013… 5

Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Phú Lương năm 2011 - 2013 6

Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 13

Bảng 2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà ở các địa điểm kiểm tra 33

Bảng 2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo lứa tuổi 35

Bảng 2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo mùa vụ 37

Bảng 2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà theo phương thức chăn nuôi 38

Bảng 2.5 Triệu chứng lâm sàng của gà bị nhiễm giun đũa 39

Bảng 2.6 Kết quả mổ khám bệnh tích gà bị bệnh giun đũa 40

Bảng 2.7 Kết quả điều trị bệnh giun đũa gà 41

Trang 7

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1

1.1 Điều tra tình hình cơ bản của huyện Phú Lương 1

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.1.1 Vị trí địa lý 1

1.1.1.2 Địa hình, đất đai 1

1.1.1.3 Giao thông vận tải 1

1.1.1.4 Điều kiện khí hậu, thời tiết 2

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 2

1.1.2.1 Dân số và lao động 2

1.1.2.2 Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng 2

1.1.2.3 Văn hóa xã hội 3

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 4

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 4

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi 6

1.1.4 Đánh giá chung 7

1.1.4.1 Thuận lợi 7

1.1.4.2 Khó khăn 8

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 9

1.2.1 Nội dung 9

1.2.1.1 Công tác áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi 9

1.2.1.2 Công tác thú y 9

1.2.1.3 Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học 9

1.2.2 Phương pháp tiến hành 9

1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 10

1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 10

1.2.3.2 Công tác thú y 12

Trang 8

1.3.2 Tồn tại 14

1.3.3 Đề nghị 14

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 15

2.1 Đặt vấn đề 15

2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 15

2.1.2 Mục tiêu của đề tài 16

2.1.3 Mục đích nghiên cứu 16

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 16

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 16

2.2.1.1 Những hiểu biết về giun đũa ký sinh ở gà 16

2.2.1.2 Bệnh giun đũa ở gà 18

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27

2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Đối tượng 29

2.3.2 Địa điểm 29

2.3.3 Thời gian 29

2.3.4 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 29

2.3.4.1 Nội dung nghiên cứu 29

2.3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 31

2.4 Kết quả và phân tích kết quả 33

2.4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà ở các xã thuộc

huyện Phú Lương 33

Trang 9

2.4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà theo phương thức chăn nuôi 38

2.4.5 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng và mổ khám bệnh tích khi gà bị bệnh giun đũa 39

2.4.5.1 Tỷ lệ và triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh giun đũa 39

2.4.5.2 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh giun đũa 40

2.4.6 Kết quả điều trị bệnh giun đũa gà 41

2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 42

2.5.1 Kết luận 42

2.5.2 Đề nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

I Tài liệu tiếng Việt 44

II Tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài 45

III Tài liệu tiếng nước ngoài 45

Trang 10

Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra tình hình cơ bản của huyện Phú Lương

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Phú Lương là huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, nằm trong tọa độ địa lý từ 21036 đến 21055 độ vĩ Bắc, 105037 đến 105046 độ kinh

Đông; phía Bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn), phía Nam và Đông Nam

giáp thành phố Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Định Hóa, phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ, phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ; huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía Bắc (theo Quốc lộ 3)

Đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm,

và cây công nghiệp

1.1.1.3 Giao thông vận tải

Đường bộ của Phú Lương có nhiều đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua:

Quốc lộ số 3 (Hà Nội - Cao Bằng) chạy suốt từ phía Nam lên phía Bắc huyện Phú Lương, đi qua 8 xã, thị trấn (Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Giang Tiên, Phấn Mễ,

Đu, Động Đạt, Yên Đổ, Yên Ninh); đường số 254 từ km 31 lên Định Hóa;

Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu (Cổ Lũng) qua huyện Đại Từ sang Tuyên Quang… mang lại cho Phú Lương nhiều thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội

Trang 11

1.1.1.4 Điều kiện khí hậu, thời tiết

Khí hậu, thời tiết của Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C Nhiệt

C (cao nhất là tháng 7, có năm lên tới 280C - 290C) Nhiệt độ bình quân thấp nhất mùa lạnh là 200C (thấp nhất là tháng 1: 15,60C) Số giờ nắng trung bình là 1.628 giờ, năng lượng bức

xạ khoảng 11Kcal/cm2 Lượng mưa trung bình ở Phú Lương từ 2.000mm đến 2.100mm/năm, độ ẩm (k) dưới 0,5 nên thường xuyên xảy ra khô hạn

(Nguồn: Phòng địa chính - Huyện Phú Lương)

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

1.1.2.1 Dân số và lao động

Năm 2013, dân số của huyện là 108.187 người, tỷ lệ tăng dân số qua các năm từ 2012 là 1,05% và năm 2012 là 1,09% Tốc độ tăng dân số bình quân từ 2009 - 2013 là 1,06%, số người trong độ tuổi lao động chiếm 45,8% dân số, chủ yếu là lao động nông nghiệp

1.1.2.2 Điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng

Huyện Phú Lương chủ yếu là sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc - gia cầm Nhờ được đầu tư hệ thống mương máng tốt mà người dân có thể trồng 2 vụ lúa và 1 vụ hoa màu trong một năm Năm 2012, sản lượng lúa đạt 93.183 tấn và sản lượng màu đạt 126.183 tấn Trong những năm gần đây, Phú Lương đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng các cụm công nghiệp nhằm thu hút đầu tư, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn để phát triển thương mại

Năm 2012, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản đạt 196,0 tỷ đồng, năm

2013 đạt 268,2 tỷ đồng (tốc độ tăng bình quân 6,96% giai đoạn 2009 -2013): trong đó nông nghiệp tăng 6,04%/năm (trong ngành nông nghiệp: trồng trọt tăng ổn định 4,18%/năm, chăn nuôi tăng mạnh 9,76%/năm; ngành dịch vụ

Trang 12

nông nghiệp tăng mạnh đạt 18,86%), thủy sản tăng 28,45%/năm; lâm nghiệp tăng 30,08%/năm

1.1.2.3 Văn hóa xã hội

đồng chưa kể vốn của dân đóng góp) đã xây dựng được tổng số 293 phòng

học (cấp 4 là 119 phòng; cao tầng là 174 phòng) Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia là 15 trường Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn ngành học Mầm non là 100%; Tiểu học đạt 97,46% (trong đó trên chuẩn là 32,4%); bậc THCS đạt chuẩn 95,7% (trong đó trên chuẩn 23,3%)

+ Năm học 2012 - 2013 ngành giáo dục tiếp tục giữ vững quy mô mạng lưới trường tổng số 63 đơn vị trường học: 17 trường mầm non; 27 trường tiểu học; 16 trường THCS và 01 TTGDTX, 02 trường PTTH Giáo dục Mầm non

có số trẻ ra lớp tăng 1,9% so với năm học trước; giáo dục tiểu học tỷ lệ huy

động trẻ vào lớp 1 giảm 0,2% so với năm học trước; giáo dục THCS số lớp

giảm 18 lớp, số học sinh giảm 693 em so với năm học trước

- Công tác y tế

Toàn huyện có một bệnh viện lớn là bệnh viện Phú Lương, với quy mô

500 giường bệnh, các xã đều có trạm y tế xã, các thôn đều có y tá chăm sóc sức khỏe cho người dân Ngoài ra còn có các phòng khám tư nhân

Chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân ngày càng được quan tâm, nhất là các đối tượng phụ nữ, trẻ em Thường xuyên quan tâm, tuyên truyền dưới nhiều hình thức, kết hợp với nhiều biện pháp nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật, đã làm giảm tỷ lệ phát triển dân số hàng năm

Trang 13

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp

1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Trồng trọt là nền tảng của sản xuất nông nghiệp với chức năng cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là cơ sở để phát triển chăn nuôi và cũng là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị

Ngành trồng trọt đóng vai trò rất quan trọng Do vậy sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển Cây nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn là cây lúa, với diện tích trồng khá lớn (3000 ha) Để nâng cao hiệu quả sản xuất, người dân đã thực hiện thâm canh tăng vụ (2 vụ/năm), đưa các giống lúa mới có năng xuất cao và sản xuất như: giống lúa Nếp Vải đặc sản, giống Khang Dân 18, Kim Cương 90, Nhị Ưu 838 Ngoài ra, còn có một

số cây khác được trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, ngô, đậu tương… và một số rau màu khác được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa đông

Hệ thống thủy lợi phát triển, đủ nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt toàn huyện với 3 con sông: sông Chu, sông Đu, sông Cầu

- Cây ăn quả: Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song diện tích vườn tạp

là chủ yếu, cây trồng thiếu tập trung lại chưa thâm canh, nên năng suất thấp

Sản phẩm chủ yếu mang tính chất tự cung tự cấp, chưa mang tính kinh doanh Cây ăn quả chủ yếu: na, nhãn, vải…

- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm vùng trung du miền núi, do đó diện tích đất đồi núi khá cao Huyện đã có chính sách chuyển giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích đất lâm nghiệp đã được nâng cao (năm

2012 đã trồng mới và trồng lại được 43,5 ha rừng) Huyện đã hướng dẫn hoạt

động và khai thác gỗ trên địa bàn theo quy định Trong năm 2013, hiện tượng

Trang 14

chặt phá rừng trái phép đã giảm Huyện đã làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy, trong năm không xảy ra cháy rừng

- Cây đặc sản:

+ Cây chè: Với diện tích trồng chè đã có, huyện khuyến khích bà con trồng thêm và đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm tiến tới cạnh tranh trên thị trường

Diện tích chè và một số cây trồng được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1: Diện tích và sản lượng một số cây trồng chính từ năm 2011 - 2013

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Lúa 17.562 95.391 17.312 91.280 17.108 98.356 Ngô 3.278 8.388 3.296 9.088 3.310 11.921

Khoai tây 675 3.337 677 3.612 688 3.886 Rau màu 1.536 132.000 1.539 135.616 1.551 136.318 Chè 4.350 34.000 4.200 33.000 4.100 35.000

(Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương)

Qua bảng 1.1 cho thấy: Mấy năm trở lại đây, diện tích và sản lượng một

số loại cây trồng chính có những biến động nhất định Lúa và chè vẫn là cây trồng chủ đạo trên địa bàn huyện Trong đó, tổng diện tích lúa năm 2011 là 17.562 ha, sản lượng đạt 98.391 tấn, đến năm 2013, thì diện tích giảm xuống còn 17.108 ha nhưng sản lượng đạt 98.365 tấn Tổng diện tích cây chè năm

2011 là 4.350 ha, sản lượng 34.000 tấn, đến năm 2013, thì diện tích giảm xuống còn 4.100 ha nhưng sản lượng đạt 35.000 tấn Do người dân đã ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất nên đã đưa năng suất lên

Trang 15

cao Diện tích và sản lượng ngô giảm mạnh, thay vào đó các cây hoa màu ngắn ngày, nhưng đem lại năng suất cao như khoai tây, lạc và các cây hoa màu (bắp cải, su hào…) vào sản xuất đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Nguyên nhân của sự thay đổi đó là do người dân thay đổi cơ cấu cây trồng, tăng vốn đầu tư cho những loại cây trồng đạt hiệu quả kinh tế Việc

đưa các loại cây có giá trị vào sản xuất được chú trọng, cho nên năng suất và

sản lượng cây trồng không ngừng được nâng lên

1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Số lượng gia súc, gia cầm của huyện có sự biến động qua 3 năm gần

đây Kết quả điều tra số lượng gia súc, gia cầm được trình bày ở bảng 1.2

Bảng 1.2: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Phú Lương năm 2011 - 2013

STT Vật nuôi Năm 2011 (con) Năm 2012 (con) Năm 2013 (con)

4 Gia cầm 2.100.00 2.200.000 2.500.000

(Nguồn: Trạm Thú y huyện Phú Lương)

Qua bảng số liệu cho thấy:

- Chăn nuôi trâu, bò: Số lượng trâu giảm nhẹ qua các năm Năm 2011, toàn huyện có 5.683 con trâu Đến năm 2013, số lượng trâu giảm xuống còn 5.390 con Số lượng bò tăng từ 35.357 con trong năm 2009 lên 38.000 con vào năm 2011 Nguyên nhân của việc tăng số lượng như vậy, là do trong những năm gần đây người dân đã chú trọng hơn đến chăn nuôi, phát triển kinh tế

- Chăn nuôi lợn: Những năm gần đây trên địa bàn các xã xuất hiện một

số gia đình nuôi từ 10 - 20 lợn nái sinh sản và vài trăm lợn thịt, cùng với sự thành lập và phát triển của trang trại chăn nuôi gia công trên địa bàn huyện,

Trang 16

do đó số lượng đàn lợn của huyện không ngừng tăng lên qua các năm Năm

2011, số lượng là 165.000 con, đến năm 2013 số lượng tăng lên 171.000 con

- Chăn nuôi gia cầm: Số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt Năm 2011, số lượng đàn gia cầm là 2,1 triệu con nhưng đến năm 2013 số lượng đàn gia cầm đã tăng lên 2,5 triệu con Có sự tăng lên không ngừng về số đàn như vậy là do mấy năm trở lại đây người chăn nuôi đã chú trọng hơn trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trừ dịch bệnh, công tác tiêm phòng được thực hiện triệt để Giá bán sản phẩm cao đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

* Công tác thú y: Huyện Phú Lương hàng năm đã tổ chức tốt kế hoạch tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm Công tác kiểm tra xuất nhập con giống

và kiểm soát giết mổ được thực hiện nghiêm ngặt

Hiện nay, người dân đã nhận thức được lợi ích của việc tiêm phòng cho

đàn gia súc, gia cầm nên công tác tiêm phòng đạt hiệu quả cao, góp phần làm

giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất Hàng năm vào tháng 3 - 4 và tháng 9 -

10, Trạm Thú y huyện Phú Lương kết hợp với thú y cơ sở các xã tiến hành tiêm phòng tất cả đàn trâu, bò, lợn, gia cầm và chó

- Với trâu, bò: Tiêm vaccine Tụ huyết trùng, LMLM

- Với lợn: Tiêm vaccine Tụ dấu + Dịch tả

- Với gia cầm: Tiêm vaccine cúm gia cầm H5N1,…

1.1.4 Đánh giá chung

1.1.4.1 Thuận lợi

- Huyện Phú Lương nằm trên tuyến quốc lộ III theo trục kinh tế Hà Nội

- Thái Nguyên - Cao Bằng, đây là thuận lợi lớn nhất để kinh tế huyện phát triển liên vùng

- Có tiềm năng về tài nguyên: than đá, vật liệu xây dựng với các cụm,

điểm công nghiệp (KCN Thị trấn Đu + Động Đạt 26,9 ha) phát triển tạo ra địa

bàn hấp dẫn thu hút đầu tư

Trang 17

- Có tiềm năng lớn về du lịch, có nhiều di tích lịch sử, văn hóa và cảnh quan đẹp, có khu du lịch Đền Đuổm nối liền với các quần thể du lịch thuộc khu ATK và có nhiều cảnh đẹp tự nhiên khác… trong tương lai nếu thu hút

đầu tư sẽ mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách

- Nằm trong tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh công nghiệp, người dân có truyền thống lao động cần cù và sớm được tiếp cận với văn hóa công nghiệp

- Dựa trên các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhận định thì huyện Phú Lương có tiềm năng phát triển kinh tế theo hướng tổng hợp

và đa dạng

- Về kinh tế: huyện có xuất phát điểm tương đối thuận lợi hơn so với một số huyện trong tỉnh, thuộc loại trung bình khá so với tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11,39%/năm

1.1.4.2 Khó khăn

- Nền kinh tế của huyện phát triển dựa chủ yếu vào nông lâm nghiệp, trình độ lao động còn lạc hậu, chưa đáp ứng được sản xuất Hệ thống cơ sở hạ tầng còn thấp, đặc biệt ở những xã đồi núi xa trục đường quốc lộ, tỉnh lộ

- Trong số diện tích đất nông lâm nghiệp, đất dốc từ 8 - 150 trở lên chiếm trên 16,7%, vì vậy khó khăn cho phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng

- Trong nông nghiệp công tác chuyển giao ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất còn nhiều hạn chế, chưa tạo thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chất lượng và sức cạnh tranh sản phẩm còn thấp, chưa có nhiều mô hình sản xuất điển hình mang lại hiệu quả cao

- Tiến độ thực hiện một số đề án còn chậm, công nghiệp - TTCN chưa

có chuyển biến tích cực, phần lớn các cơ sở CN - TTCN và dịch vụ nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực song chênh lệch tỷ trọng giữa ba lĩnh vực không lớn

Trang 18

- Hệ thống thủy lợi xuống cấp, chưa đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu của sản xuất nông nghiệp

1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất

1.2.1 Nội dung

1.2.1.1 Công tác áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi

- Công tác giống: tư vấn giúp bà con một số giống vật nuôi đem lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi

- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng, tư vấn, phổ biến kiến thức về chăn nuôi cho bà con nông dân

- Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập

- Có kế hoạch cụ thể cho bản thân, sắp xếp thời gian biểu, công việc cho hợp lý để thu được kết quả tốt nhất, chính xác nhất

- Tham gia tích cực vào công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn và một số vật nuôi khác

- Tham gia công tác chuyển giao kỹ thuật cho các hộ sản xuất

- Luôn luôn chấp hành đúng và tham gia các hoạt động tại cơ sở, tiếp thu ý kiến của giáo viên hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn

Trang 19

- Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới mà bản thân được học và tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất

1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất

Trong thời gian thực tập tại cơ sở, song song với quá trình điều tra tình hình nhiễm giun đũa gà, chúng tôi đã tiến hành đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn nuôi thú y vào sản xuất giúp nhân dân địa phương

Qua quá trình điều tra nắm bắt được những thuận lợi, khó khăn của huyện để phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại Chúng tôi đã tuyên truyền và chứng minh bằng thực tế giúp nhân dân hiểu thêm về chăn nuôi thú y, làm quen với những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi hộ gia đình, đặc biệt chú trọng công tác phòng bệnh cho vật nuôi, đồng thời tiến hành nhiều công tác chuyên môn

Trong thời gian thực tập tại phòng Nông Nghiệp huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên, ngoài việc thực hiện chuyên đề tôi còn tham gia vào một số công tác như:

1.2.3.1 Công tác chăn nuôi

- Đối với đàn lợn: Trong những năm vừa qua đàn lợn nái địa phương của huyện là Móng Cái có tỷ lệ nạc thấp, tầm vóc không lớn không còn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân, đã được chuyển sang đàn nái sinh sản theo hướng nạc và đang ngày càng phát triển mạnh Chúng tôi đã tư vấn

Trang 20

bà con cách chọn lợn để gây cho đàn nái sinh sản và một số địa chỉ để mua giống tốt Bên cạnh đó là việc thuyết phục người chăn nuôi chuyển từ phương pháp cho lợn phối trực tiếp sang phương pháp thụ tinh nhân tạo sử dụng tinh của lợn ngoại được cung cấp bởi các trung tâm, cơ sở sản xuất tinh có uy tín, chất lượng cao

-Đối với đàn gia cầm: Đa số các hộ chăn nuôi nhỏ, quy mô hộ gia đình vẫn nuôi các giống gà nội là chủ yếu, chăn thả tự do, tận dụng nguồn thức ăn

là các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt nên hiệu quả thấp Các trang trại và gia đình chăn nuôi với quy mô lớn hơn đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị cho chồng trại và đưa một số giống gà, vịt hướng thịt, hướng trứng vào chăn nuôi

đạt hiệu quả tốt

* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng

Khi đã có giống tốt thì việc chăm sóc nuôi dưỡng giữ vai trò quyết định năng suất chăn nuôi Chúng tôi vận động bà con đảm bảo vệ sinh chuồng trại, phối hợp thức ăn theo khẩu phần phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi để có đàn gia súc, gia cầm khỏe mạnh Hướng dẫn bà con định kỳ tẩy giun sán và tiêm phòng dịch bệnh cho vật nuôi

Về thức ăn: Qua tìm hiểu chúng tôi thấy bên cạnh các trang trại chăn nuôi với quy mô lớn sử dụng thức ăn công nghiệp và bán công nghiệp thì đa

số các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ sử dụng các loại thức ăn có sẵn như: ngô, khoai, thóc gạo Với khẩu phần như thế không đủ chất dinh dưỡng cho vật nuôi đặc biệt là các chất vi lượng tuy cần số lượng nhỏ nhưng vô cùng cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi nên khả năng tăng trọng thấp Chúng tôi phổ biến cho bà con cách phối hợp khẩu phần và sử dụng thêm thức ăn bổ xung như bột cá, đậu tương, premix khoáng - vitamin vào thức ăn hàng ngày cho gia súc, gia cầm

Trang 21

1.2.3.2 Công tác thú y

* Công tác phòng bệnh

Với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” việc ngăn ngừa dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm là công việc cực kỳ quan trọng Tiêm phòng là một việc rất được quan tâm, bởi nếu tiêm phòng không triệt để và thường xuyên thì dịch bệnh sẽ xảy ra Để giảm thiệt hại cho đàn gia súc, cần định kỳ tiêm phòng những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: lở mồm long móng, tụ huyết trùng, nhiệt thán, dịch tả lợn

Chúng tôi cùng trạm thú y huyện Phú Lương đã tham gia công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn theo chương trình tiêm phòng

* Công tác chẩn đoán và điều trị

Trong quá trình thực tập, theo yêu cầu của nhân dân trên địa bàn chúng tôi đã tiến hành chẩn đoán và điều trị một số bệnh như sau:

- Bệnh lợn con ỉa phân trắng (Conlibacillosis)

Triệu chứng của lợn khi mắc bệnh thường là: lợn yếu, chậm chạp, thân nhiệt tăng Bệnh thường hay gặp ở lợn con từ 10 - 20 ngày tuổi Lợn ốm khát nước, phân lỏng, có màu trắng vàng lẫn bọt khí, mất nước, gầy sút cân nhanh, nếu không điều trị kịp thời lợn sẽ chết

Điều trị:

Dùng Phardiasol, liều dùng 6ml/10kg TT, cho uống

- Bệnh bại liệt sau đẻ

Lợn có triệu chứng nằm một chỗ, ít đi lại, khi phải đứng 2 chân sau chụm lại, nhiều khi không đứng dậy được

Điều trị:

Dùng Calci - Magie Glutamat, tiêm bắp, 1ml/5kg TT

- Bệnh ghẻ

Trang 22

Đây là bệnh ký sinh trùng dưới da của lợn do loại ghẻ ngứa

Sarcoptessuis gây nên, kèm theo viêm da mãn tính với triệu chứng ngứa, hình

thành các nếp nhăn và vẩy dày Chúng đào hang dưới da, ăn tế bào biểu bì và dịch tế bào Thường thấy biểu hiện trên vùng da quanh mắt, má và tai, sau đó lây qua vùng lưng, bụng và các phần khác Nếu không điều trị kịp thời da sẽ dầy lên, mất tính đàn hồi, dễ vỡ và bị dồn thành nếp, lông rụng dần dần đến

da bị sừng hóa Đôi khi quan sát thấy ghẻ toàn thân, trong trường hợp này lợn giảm ăn, gầy, chậm lớn, có khi chết do nhiễm trùng

Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện qua bảng 1.3

Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất Nội dung công việc Số lượng

Trang 23

Qua bảng 1.3 ta thấy kết quả tiêm phòng an toàn 100% Tuy nhiên, kết quả trong suốt thời gian thực tập chưa cao nhưng phần nào đã giúp tôi vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, thêm tự tin vào tay nghề của mình

1.3 Kết luận, tồn tại và đề nghị

1.3.1 Kết luận

Qua thời gian 6 tháng thực tập, với những kiến thức được học tập ở nhà trường, sự phấn đấu vươn lên và lòng say mê nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao, không ngại khó, ngại bẩn, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, cán bộ thú y của huyện Phú Lương, tôi đã thu được những kết quả nhất định Quá trình thực tập cũng đã giúp tôi củng cố về kiến thức chuyên môn lẫn thực tế, đặc biệt những kiến thức trong chẩn đoán và

điều trị một số bệnh cho gia súc, gia cầm làm cơ sở cho chuyên môn sau này

1.3.2 Tồn tại

Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định trong công tác phục vụ sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi trong thời gian thực tập tôi tự nhận thấy mình còn một số hạn chế sau:

- Do thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên kết quả thu được còn chưa cao

- Đôi khi còn chưa chủ động trong công việc

1.3.3 Đề nghị

Do hiểu biết của người dân về thú y còn hạn chế, cần tuyên truyền sâu rộng cho người dân hiểu về chăn nuôi thú y, từ đó biết áp dụng những biện pháp khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi

Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ

Tiêm phòng đầy đủ cho đàn gia súc, gia cầm

Thức ăn nước uống phải hợp vệ sinh, sạch sẽ

Thực hiện công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ thường xuyên tránh lây lan dịch bệnh

Trang 24

Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Tên đề tài: “Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”

2.1 Đặt vấn đề

2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta nói chung và của huyện Phú Lương nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Các sản phẩm của nó không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác Điều này đòi hỏi sự nâng cao không ngừng về số lượng và chất lượng của gia cầm, đem lại nguồn thực phẩm

có giá trị dinh dưỡng cao và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Để thực hiện

được điều đó, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã sớm áp dụng các tiến bộ của

khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc chăm sóc và phòng bệnh cho gia cầm có ý nghĩa quan trọng và quyết định đến thành quả của người chăn nuôi

Đối với nước ta, chăn nuôi gà không những góp phần xóa đói giảm

nghèo cho người dân mà đã có nhiều hộ gia đình vươn lên làm giàu từ chăn nuôi gà Tuy nhiên cùng với sự phát triển của đàn gà thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến ngày càng phức tạp , nhất là đối với hình thức chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình không áp dụng được triệt để các biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm có tính chất lây lan mạnh, gây thiệt hại lớn thì bệnh ký sinh trùng cũng gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi Trong đó có bệnh giun đũa gà là một bệnh thường xuyên xảy ra Bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun đũa gà nói riêng không gây chết gà nhưng làm cho gà mắc bệnh trở lên còi cọc, chậm lớn,…ảnh hưởng đến sinh trưởng, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm

Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh giun đũa gây ra trên

đàn gia cầm, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình mắc

Trang 25

bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị”

2.1.2 Mục tiêu của đề tài

Xác định tỷ lệ và cường độ gà nhiễm giun đũa tại một số xã thuộc huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Xác định ảnh hưởng của mùa vụ tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà Xác định ảnh hưởng của lứa tuổi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà Xác định ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà

Xác định hiệu quả của việc dùng thuốc trong phòng và trị bệnh giun đũa

2.1.3 Mục đích nghiên cứu

Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho gà, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân Bản thân tập làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học

2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1.1 Những hiểu biết về giun đũa ký sinh ở gà

* Vị trí của giun đũa trong hệ thống phân loại động vật

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [16] giun đũa có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Ngành: Nemathedminthes Schneides: 1886

Lớp: Nematoda (+) Rudalphi: 1808

Giun đũa gà có tên khoa học là Ascaridia galli thuộc bộ Ascaridata và

họ Ascaridae

* Hình thái cấu tạo cơ thể

Orlov (1975) [17] cho biết giun đũa tương đối to, màu trắng ngà, con

đực dài từ 3 - 10 cm, ở đuôi có giác to trước lỗ huyệt cấu tạo bằng chất kitin,

có hai gai giao hợp to bằng nhau, kích thước của chúng thay đổi từ 0,54 - 2,4

Trang 26

mm Con cái dài từ 7 - 12 cm Theo Dương Công Thuận (1995) [14], giun cái

đẻ nhiều trứng, trứng có màu xám, kích thước 75 - 90 x 45 - 60 µm

Phan Thế Việt và cs (1977) [16] cho biết: Ascaridia galli ký sinh ở ruột non gà, gà tây màu vàng nhạt, trắng, quanh miệng có 3 lá môi, trên mỗi lá môi có răng Giun đực có kích thước 26 - 70 x 0,17 - 0,23 mm, có cánh đuôi

và 10 đôi gai chồi, hai gai giao hợp nhọn dài bằng nhau (0,63 - 1,95 mm) phía trên phình to

Giun cái dài 65 - 110 mm, âm hộ ở đoạn giữa của giun Trứng hình bầu dục có kích thước 0,075 - 0,092 x 0,045 - 0,057 mm, màng ngoài nhẵn, màu tro nhạt, là loài truyền trực tiếp không cần ký chủ trung gian Giun cái trưởng thành trung bình mỗi ngày đẻ 72.500 quả trứng

* Vòng đời

Vòng đời của giun đũa gà không cần ký chủ trung gian Giun cái sau khi thụ tinh đẻ trứng với số lượng rất nhiều (72.500 trứng/ngày) Trứng theo phân ra ngoài, nếu gặp điều kiện tự nhiên thích hợp (nhiệt độ, độ ẩm) trứng phát triển thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh, trứng này lẫn vào thức ăn, nước uống của gà, theo đường tiêu hóa vào dạ dày, ấu trùng bắt đầu nở ra, tiếp tục đi đến ruột non, sau 1- 2 giờ ấu trùng chui vào các tuyến ở ruột và phát triển ở đó 19 ngày, sau đó ấu trùng rời khỏi tuyến ở ruột, trở lại xoang ruột và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời là

35 - 58 ngày

Trang 27

Theo Dương Công Thuận (1995) [14] giun đũa có thể sống trong cơ thể

gà một năm, giun cái trưởng thành lại đẻ trứng và liên tục thải ra ngoài gây ô nhiễm môi trường và tiếp tục lây lan

Nghiên cứu của Orlov (1975) [17] nêu rằng đời sống của A.galli trong ruột gà kéo dài từ 9 - 14 tháng trung bình gần 1 năm

* Ảnh hưởng gây bệnh

Bệnh giun đũa là bệnh phổ biến rộng rãi và rất nặng nề ở gà Đặc biệt là

gà con, số lượng và cường độ cảm nhiễm của chúng luôn cao hơn gà trưởng thành (Nguyễn Thất và cs, 1975) [10] Herrick - 1925, Acken Porter và Beach (1935) đã xác định bằng thực nghiệm rằng, gà trưởng thành có sức đề kháng với giun đũa cao hơn nhiều so với gà con, và trong cơ thể gà lớn tuổi giun đũa lớn chậm hơn gà con Sau 3 tuần lễ, giun đũa trong cơ thể gà con 58 ngày tuổi

đạt 26,78 mm, mà trong cơ thể gà 114 ngày tuổi đạt 11,88 mm

Orlov (1975) [17] chứng minh rằng sự phát triển của giun đũa trước giai đoạn thành thục trong cơ thể gà con dưới 3 tháng tuổi kéo dài từ 30 - 35 ngày, nhưng gà 3 tháng tuổi thời kỳ này kéo dài đến 30 ngày

Theo Orlov (1975) [17] thức ăn có phẩm chất tốt có vai trò to lớn trong việc tăng cường sức đề kháng của gà với sự cảm nhiễm bệnh giun đũa, khi bổ sung protit động vật vào khẩu phân sẽ tăng cường sức đề kháng của gà con với bệnh giun đũa Bất cứ tình trạng suy yếu nào của cơ thể do ảnh hưởng của thức

ăn kém, bệnh tật, mất máu có khả năng gây cảm nhiễm giun đũa nặng hơn

2.2.1.2 Bệnh giun đũa ở gà

* Đặc điểm dịch tễ

Bệnh giun đũa phổ biến khắp nơi trên thế giới, nguồn lây bệnh là từ gà mắc bệnh khi đã khỏi về mặt lâm sàng, gây bệnh thông qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ của công nhân, phương tiện vận chuyển, chim hoang, chó, mèo, côn trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5]

Trang 28

Bệnh giun đũa gà phổ biến rất rộng ở các tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [4] tỷ lệ nhiễm giun đũa gà

ở các tỉnh từ 33,3% - 69,8% Tuy nhiên tỷ lệ nhiễm giun đũa gà còn phụ

thuộc vào tình trạng vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thức ăn, nước uống, nếu vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống kém thì tỷ lệ nhiễm giun đũa gà tăng cao

và ngược lại

Orlov (1975) [17] cho biết điều kiện khí hậu ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh giun đũa ở gà Về mùa đông thì trứng không phát triển được nhưng khả năng sống của chúng vẫn tồn tại trong suốt mùa Về mùa xuân, hè tia nắng chiếu thẳng có thể gây chết trứng

Permin và cs (1997) [24] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán theo mùa và khí hậu tại 6 làng trong vùng Morogoro (Tanzania) trên 600 gà

được lựa chọn ngẫu nhiên, kết quả là: tất cả các gà đều nhiễm giun sán với

mức độ trung bình là 4,8 loài giun sán/gà ở mùa mưa và 5,1 loài giun sán/gà ở mùa hè

Mpoame và cs (1989) [22] kiểm tra trên 315 gà mua tại chợ Dschang (phía tây camaroon) kết quả tìm thấy 10 loài giun sán

Nghiên cứu về hệ thống giun sán trong hệ thống gia cầm ở Đan Mạch, Permin và cs (1999) [25] cho biết, khi kiểm tra tỷ lệ nhiễm giun sán trên 268 con gà trưởng thành được lựa chọn ngẫu nhiên từ 16 trang trại ở Đan Mạch (từ tháng 10/1994 đến tháng 10/1995) kết quả như sau: Gà thả vườn nhiễm

nhiều loại giun sán trong đó Ascaridia galli nhiễm với tỷ lệ 63,8%, đối với gà nuôi nhốt A.galli nhiễm 5% và gà nuôi theo hình thức bán chăn thả nhiễm

A.galli 37,5% Theo Orlov (1975) [17], khẩu phần ăn và vấn đề dinh dưỡng

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo lứa tuổi - Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị.
ng 2.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo lứa tuổi (Trang 44)
Bảng 2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo mùa vụ - Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị.
Bảng 2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở gà theo mùa vụ (Trang 46)
Bảng 2.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà theo phương thức chăn nuôi - Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị.
Bảng 2.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà theo phương thức chăn nuôi (Trang 47)
Bảng 2.5. Triệu chứng lâm sàng của gà bị nhiễm giun đũa - Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị.
Bảng 2.5. Triệu chứng lâm sàng của gà bị nhiễm giun đũa (Trang 48)
Bảng 2.6. Kết quả mổ khám bệnh tích gà bị bệnh giun đũa - Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị.
Bảng 2.6. Kết quả mổ khám bệnh tích gà bị bệnh giun đũa (Trang 49)
Bảng 2.7. Kết quả điều trị bệnh giun đũa gà - Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị.
Bảng 2.7. Kết quả điều trị bệnh giun đũa gà (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w