1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.

58 834 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học

Trang 1

-

LÊ ĐÌNH THĂNG

“NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI

CÂY SA MỘC DẦU TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN

THANH HÓA”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : QLTNR

Khóa học : 2010 -2014

Thái Nguyên, 2014

Trang 2

-

LÊ ĐÌNH THĂNG

“NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI

CÂY SA MỘC DẦU TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN

THANH HÓA”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : QLTNR

Khóa học : 2010 -2014 Gỉảng viên hướng dẫn: TS Hồ Ngọc Sơn Khoa Lâm nghiệp - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, 2014

Trang 3

nhiên, do nạn khai thác rừng bừa bãi cũng như khai hoang trồng cây nông nghiệp vượt quá khả năng cho phép nên hiện nguồn tài nguyên nước ta bị suy giảm nghiêm trọng, một số loài đã bị tuyệt chủng hoặc đang đứng trước nguy

cơ tiệt chủng Vì thế bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng là một nhiệm

vụ cấp bách hiện nay Bảo tồn nguồn gen cây rừng là lưu giữ các nguồn gen cây rừng phong phú và đa dạng hiện có, làm nền tảng cho công tác giống cây rừng ở nước ta Vì thế nó vừa phục vụ cho công tác giống vừa gắn liền với việc cung cấp giống trước mắt và lâu dài, đồng thời thiết thực phục vụ cho các chương trình trồng rừng trong nước và trao đổi giống quốc tế Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Khoa Lâm Nghiệp - Trường

Đại học Nông Lâm Thái nguyên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa”

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn T.S Hồ Ngọc Sơn Cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban quản lý KBTTN Xuân Liên và Hạt kiểm lâm Xuân Liên, Trạm kiểm lâm Bản Vịn cùng các bạn đồng nghiệp Nhân dịp này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả mọi người đã tận tình giúp đỡ tôi

Thực tập tốt nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với mỗi sinh viên sau quá trình học tập tại trường Đây là thời gian để mỗi sinh viên cọ sát với những thực tế, đồng thời qua thực tập giúp cho sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn nghiên cứu và có được những kinh nghiệm từ thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực của bản thân nhằm phục vụ tốt cho công việc

Mặc dù đã rất có gắng để hoàn thành khóa luận, nhưng do thời gian và kinh nghiệm, kiếm thức của một sinh viên cá nhân còn nhiều hạn chế Vì vậy, khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những sai sót Tôi kính mong được

sự hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014 Sinh viên thực hiện

LÊ ĐÌNH THĂNG

Trang 4

thập là nghiêm túc, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng ai công

Trang 5

Bảng 2.2 Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng đặc dụng Khu bảo tồn 17Bảng 2.3 Cấu trúc khu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên 19Bảng 4.1 Khu vực phân bố của Sa mộc dầu tại KBTTN Xuân Liên 23Bảng 4.2 Thống kê diện tích phân bố của loài Sa mộc dầu ở các khu vực 25Bảng 4.3 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 01 (tọa độ:0497316-2209675) 26Bảng 4.4 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 02 (tọa độ:0498613-2209200) thuộc

tuyến Huối Cò 27Bảng 4.5 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 03 (tọa độ:0498613-2209200) thuộc

tuyến Huối Cò 28Bảng 4.6 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 04(tọa độ:0498343-2209424) thuộc

tuyến Huối Pà 29Bảng 4.7 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 05 (tọa độ:0498236-2209705) thuộc

tuyến Huối Pà 30Bảng 4.8 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 06 (tọa độ:0498260-2209497) thuộc

tuyến Huối Pà 31Bảng 4.9 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 07 (tọa độ:0510047-2207478) thuộc

tuyến Hang Ong 32Bảng 4.10 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 08 (tọa độ:0510162-2205340)

thuộc tuyến Hang Ong 33Bảng 4.11 Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 09 (tọa độ: 0507438-2205049)

thuộc tuyến Hang Ong 34

Trang 6

Hình 2.2 Sự đa dạng về thành phần loài thực vật theo ngành 19

Hình 4.1 Nơi có Sa mộc dầu 24

Hình 4.2 Nơi có loài Sa mộc dầu phân bố 24

Hình 4.3 Hình thái thân loài cây Sa mộc dầu 36

Hình 4.4 Hình thái lá cây Sa mộc dầu 37

Hình 4.5 Hình thái lá cây Sa mộc dầu 37

Hình 4.6 Hình thái nón Sa mộc dầu 39

Hình 4.7 Quả và lá rụng của cây Sa mộc dầu 39

Hình 4.8 Họp Bản Vịn hàng tháng 41

Trang 7

ÔTC : Ô tiêu chuẩn

D1.3 : Đường kính một mét ba

Hvn : Chiều cao vút ngọn KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 8

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Mục đích nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa học tập 2

1.4.2 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 3

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Tình hình bảo tồn và phát triển loài cây Sa mộc dầu trên thế giới 4

2.2 Tình hình bảo tồn và phát triển loài cấy Sa mộc dầu ở Việt Nam 6

2.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế khu vực nghiên cứu 8

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 8

2.3.1.2 Khí tượng thủy văn 9

2.3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng 11

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

2.3.2.1 Dân số, dân tộc, phân bố dân cư 12

2.3.2.2 Lao động 13

2.3.2.3 Văn hóa - xã hội và giáo dục 13

2.3.2.4 Giao thông 14

2.3.2.5 Y tế 15

2.3.3 Tình hình phát triển kinh tế 15

2.3.3.1 Sản xuất nông nghiệp 15

2.3.3.2 Sản xuất lâm nghiệp 16

2.3.3.3 Thủy sản 16

2.3.4 Nguồn tài nguyên rừng KBTTN Xuân Liên 16

2.3.4.1 Thảm thực vật 16

2.3.4.2 Hệ thực vật 18

Phần 3: 20ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

Trang 9

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.3.1 Xác định phân bố của Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên 20

3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu 20

3.3.3 Nghiên cứu giá trị sử dụng Sa mộc dầu 20

3.3.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển Sa mộc dầu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 20

3.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan 20

3.4.2 Phương pháp điều tra lâm học thông thường 21

3.4.3 Phương pháp phỏng vấn người dân 22

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Phân bố của loài Sa mộc dầu tại KBTTN Xuân Liên 23

4.2 Đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu tại KBTTN Xuân Liên 26

4.2.1 Tổ thành rừng tính theo loài cây tại các ÔTC 26

4.2.2 Cấu trúc tầng thứ cây cao 35

4.2.3 Đặc điểm hình thái 36

4.2.4 Kết quả nghiên cứu về vật hậu 38

4.2.5 Đặc điểm sinh thái học 39

4.2.6 Đặc điểm tái sinh Sa mộc dầu 40

4.3 Giá trị sử dụng nguồn gen Sa mộc dầu 40

4.4 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu 41

4.4.1 Nhóm các giải pháp về kỹ thuật 41

4.4.2 Nhóm giải pháp về chính sách pháp luật, giải pháp kinh tế - xã hội 42

4.4.3 Giải pháp giáo dục, tuyên truyền 43

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Kiến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 10

trong toàn khu bảo tồn: Bách xanh (Calocedrus macrolepis) (Kurz) Benth&Hook, Pơ mu (Fokienia hodginsii) (Dunn) Henry et Thomas, Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) (Blume) D Laub, Kim giao núi đất (Nageia wallichiana ) (C.Presl) O.Kuntze, Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) D Don, Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia) (Hance) Pilger; trong đó có 4 loài có tên trong sách đỏ Thế giới, 3 loài

có tên trong sách đỏ Việt Nam năm 2007

Tuy nhiên, các thông tin, các dẫn liệu khoa học và các nghiên cứu

chuyên sâu về loài cây Sa mộc dầu có nhiều.KBT Xuân Liên với diện tích

26.303,6 ha, là nơi chứa đựng đa dạng sinh học cao, nơi cư trú của rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm và đặc hữu Trong hệ thực vật loài Sa mộc dầu

có nguồn gốc cổ xưa nhất, chúng có vai trò quan trọng để duy trì sự cân bằng trong hệ sinh thái rừng và là đối tượng rất nhạy cảm đối với tác động của con người cũng như những biến đổi của môi trường Loài Sa mộc dầu ở khu BTTN Xuân Liên không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế, thẩm mỹ cao, tuy nhiên những nghiên cứu về loài Sa mộc dầu ở đây còn hạn chế, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng tập thể, cán bộ khu bảo tồn mới dừng lại ở việc điều tra, thống kê thành phần loài và bảo vệ nguyên vẹn, hạn chế sự thất thoát tài nguyên ra khỏi khu bảo tồn; chưa có thông tin đầy đủ

Trang 11

về đặc điểm sinh thái, phân bố của loài Sa mộc dầu dẫn đến quy hoạch thiếu hoặc sai vùng bảo tồn thích hợp cho sự tồn tại của chúng

Để góp phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển loài cây này, được sự nhất trí của khoa Lâm Nghiệp, ban giám hiệu nhà trường, thầy giáo hướng dẫn cùng sự tiếp nhận của ban quản lý khu bảo tồn Xuân Liên - tỉnh Thanh

Hóa, chúng em tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phân bố

và đặc điểm lâm học của loài cây sa mộc (Cunninghamia konishii Hayata)

dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên - tỉnh Thanh Hóa”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được phân bố của Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên: + Phân bố theo đai cao

+ Phân bố theo địa lý

- Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu:

+ Đặc điểm hình thái và vật hậu: thân, lá, hoa/nón quả

+ Đặc điểm sinh thái bao gồm: hoàn cảnh rừng nơi Sa mộc dầu (SMD) phân bố, đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi Sa mộc dầu phân bố (mật độ, tổ thành, tầng thứ, thường gặp)

+ Đặc điểm tái sinh tự nhiên (mật độ, cấu trúc tổ thành cây tái sinh, chất lượng cây tái sinh, phân cấp theo chiều cao và cây có triển vọng, đặc điểm tái sinh)

1.3 Mục đích nghiên cứu

- Xác định được phân bố, nghiên cứu được đặc điểm lâm học của cây

SMD tại khu bảo tồn Xuân Liên

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển SMD

+ Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh

+ Các giải pháp về kinh tế, xã hội và chính sách của nhà nước

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài

Trang 12

1.4.2 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học

- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu loài cây quý hiếm SMD

- Là cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn và phát triển SMD

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình bảo tồn và phát triển loài cây Sa mộc dầu trên thế giới

Theo Warm (1980), Loài Sa mộc dầu thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae) Các loài cây thuộc họ này có dạng gỗ lớn Trên thế giới họ này có 8 chi, khoảng 13 - 14 loài, trong thời đại cổ sinh và Ecôxen, các loài của họ này đã tạo thành những cánh rừng rộng lớn ở vùng Bắc bán cầu Hiện tại hầu như tất cả chúng chỉ còn sót lại tại những vùng rất nhỏ với những loài mọc tự nhiên, đa phần đều tồn tại ở trạng thái trồng Các chi trong họ là:

Sequoia, Metasequoia, Sequoiadendron, Taiwania, Cunninghamia, Taxodium,

Glyptostrobus, Cryptomeria Phân bố ở châu Á (Trung Quốc, Việt Nam) và

châu Mỹ Nhiều loài có kích thước rất lớn như Squoiadendron giganteum, gỗ

đỏ Sequoia sempervirens, Bụt mọc Taxodium mucronatum có chiều cao tới

100m hoặc hơn và đường kính tới 10m và có thể tồn tại tới 3 - 4 ngàn năm Một điều rõ ràng rằng các loài thuộc họ này cho gỗ đẹp, dáng cây cao rất thẳng được trồng rộng rãi ở các vùng có khí hậu ôn đới nóng với mục đích làm cảnh và cho gỗ Thuộc họ này ở Việt Nam có ba chi với 3 loài mọc hoang

dại như: Thủy tùng Glytostrobus pensilis (Staunt Ex D Don) K Koch, Sa mộc dầu Cunninghamia konishii Hayata và Bách tán Đài loan kín Taiwania cryptomerioides Hayata và một số loài nhập trồng làm cảnh lấy bóng mát hay trồng như: Sa mộc Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook., Bụt mọc

Taxodium distichum (L.) Rich và Cryptomeria japonica Riêng chi Taiwania chỉ có một loài T Cryptomerioides được tìm thấy ở Đài Loan từ năm 1906 và gần 100 năm chúng được coi là chỉ có phân bố ở Đài Loan, Tây Nam Vân nam Việc phát hiện loài này ở Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn, không chỉ bổ sung thêm một loài cho hệ thực vật Việt Nam, mở rộng phân bố của loài trên thế giới mà còn đóng góp nguồn gen phục vụ cho việc trồng rừng (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11]

Ngoài ra có tài liệu nêu chi Sa mộc dầu (danh pháp khoa học:

Cunninghamia) là một chi có 1 loài cây thân gỗ, thường xanh, thuộc họ

Hoàng đàn (Cupressaceae) Chúng có nguồn gốc ở khu vực Trung Quốc, Đài

Trang 14

Loan và Việt Nam, các cây lớn có thể cao tới 50-55m Tên gọi khoa học của chi này được đặt theo tên của Dr James Cunningham, một bác sĩ người Anh

đã đưa các loài này vào gieo trồng năm 1702 (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11]

Các loài trong chi Cunninghamia có các lá kim với ngạnh mềm, dai

như da, cứng, màu xanh lục tới xanh lục-lam, mọc vòng xung quanh thân theo hình cung đi lên; các lá này dài 2-7cm và rộng 3-5 mm (tại phần gốc lá), và mang hai dải khí khổng màu trắng hay trắng ánh lục ở phía dưới và đôi khi là

ở phía trên mặt lá Tán lá có thể trở thành màu nâu đồng khi thời tiết quá lạnh

Các nón nhỏ và không dễ thấy khi thụ phấn vào cuối mùa đông, các nón đực mọc thành cụm khoảng 10-30 nón, còn các nón cái mọc đơn lẻ hoặc 2-3 nón cùng nhau (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11].Các nón hạt chín sau 7-8 tháng, dài khoảng 2,5-4,5cm, hình trứng hoặc hình cầu, với các vảy mọc xoắn; mỗi vảy chứa 3-5 hạt Chúng thường phát triển nhanh (với chồi sinh dưỡng mọc trên đỉnh của nón) trên các cây do người trồng; nhưng lại hiếm ở cây mọc hoang, và có thể là giống cây trồng được chọn lọc để dễ dàng nhân giống bằng phương pháp sinh dưỡng trong trồng rừng (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11]

Khi cây càng lớn thì thân của nó có xu hướng tạo ra các chồi rễ mút xung quanh gốc, cụ thể là sau khi bị các vết thương ở thân hay rễ, và các chồi rễ mút này sau đó có thể phát triển để tạo thành cây nhiều thân Vỏ của các thân cây lớn có màu nâu dễ dàng bị lột ra để lộ phần vỏ bên trong màu nâu đỏ [11]

Gỗ Sa mộc dầu là loại gỗ được đánh giá cao tại Trung Quốc, do nó là loại gỗ mềm có hương thơm và khá bền, tương tự như của Hồng sam Bắc Mỹ

(Sequoia sempervirens) và Bách Nhật Bản (Cryptomeria japonica) Cụ thể, nó

được dùng sản xuất các loại quan tài cũng như trong xây dựng đền miếu, tại những nơi mà hương thơm được đánh giá cao Nó cũng được trồng làm cây cảnh trong các công viên và các khu vườn lớn, tại đây thông thường nó cao khoảng 15-30m (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012) [11]

Các tài liệu nghiên cứu gần đây của Tổ chức Bảo tồn thế giới (IUCN) cho thấy ở phạm vi toàn cầu có khoảng 13% số loài thực vật trên thế giới

Trang 15

đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, đe dọa tiềm năng sử dụng của nhân loại trong tương lai Qua xem xét dữ liệu từ 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, mới đây các nhà khoa học Mỹ cho thấy có khoảng 22-47% số loài thực vật có thể bị đe dọa, cao hơn nhiều so với dự đoán 13% của IUCN Các số liệu công

bố năm 1998 cho thấy ở Hoa Kỳ, có tới 29% số loài thực vật (4669 loài trong tổng số 16.108 loài ) đã được liệt kê vào danh sách bị đe dọa Con số các loài thực vật bị đe dọa ở Thổ Nhĩ Kỳ là 21,7%; Tây Ban Nha là 19,5%; Cu Ba 13,6%; Pê Ru 13,1%; Nhật Bản 12,7%; Ôxtrâylia là 14,4% và Braxin là 2,4% (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu, 2006) [10]

Tại Đài Loan, Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) cũng

được coi là gỗ tốt nên bị khai thác trên quy mô lớn, kết quả là các quần thể hiện tại bị chia cắt, nằm rải rác không tập trung Nguồn gen Sa mộc dầu tại Đài Loan đang được lưu giữ bảo tồn trong Ngân hàng hạt giống (Tree Seed Bank) cùng với 152 loài thực vật khác Bên canh đó nguồn gen Sa mộc dầu còn được lưu tại một số Vườn thực vật ở Châu Âu.Tại Đài Loan, sau nhiều thập kỷ khai thác cạn kiệt, từ năm 1950 chương trình trồng rừng quy mô lớn được thực hiện đã góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen loài này Tại Đài Loan Sa mộc dầu phân bố ở độ cao 1300-2800m Sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt

độ trung bình năm 17-22o

C và lượng mưa 2000-3500mm/năm Trên các điều kiện phù hợp cây có thể tăng 1m về chiều cao và 1cm đường kính một năm Nhằm nâng cao chất lượng gỗ và sinh trưởng thì nhiều chương trình nghiên cứu, khảo nghiệm đã được thực hiện từ những năm 1970 Từ những năm 1990 chính phủ đã đóng cửa rừng nhằm ngăn chặn suy giảm nguồn gen lâm nghiệp đồng thời nâng cao giá trị giải trí của rừng (Chung et al., 2009)[15]

2.2 Tình hình bảo tồn và phát triển loài cấy Sa mộc dầu ở Việt Nam

Tài nguyên thực vật rừng ở nước ta rất phong phú và đa dạng tuy nhiên,

do nạn khai thác rừng bừa bãi cũng như khai hoang trồng cây nông nghiệp vượt quá khả năng cho phép nên hiện nguồn tài nguyên nước ta bị suy giảm nghiêm trọng, một số loài đã bị tuyệt chủng hoặc đang đứng trước nguy cơ tiệt chủng

Vì thế bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay Bảo tồn nguồn gen cây rừng là lưu giữ các nguồn gen cây rừng phong phú

và đa dạng hiện có, làm nền tảng cho công tác giống cây rừng ở nước ta Vì thế

Trang 16

nó vừa phục vụ cho công tác giống vừa gắn liền với việc cung cấp giống trước mắt và lâu dài, đồng thời thiết thực phục vụ cho các chương trình trồng rừng trong nước và trao đổi giống quốc tế Mặt khác, các hoạt động về cải thiện giống và cung cấp giống cũng đang làm phong phú thêm hoạt động bảo tồn nguồn gen cây rừng ở nước ta Khai thác và phát triển nguồn gen sẽ vừa góp phần phát triển kinh tế xã hội vừa góp phần bảo tồn nguồn gen

Ở Việt Nam rừng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và xóa đói giảm nghèo vùng miền núi, có 25 triệu người sống trong và gần rừng chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam là

cơ quan đầu ngành trong nghiên cứu và phát triển nguồn gen ở Việt Nam với nhiều chương trình dự án do chính phủ cũng như tổ chức quốc tế tài trợ trong

đó có CSIRO (Úc) Ví dụ dự án “Bảo tồn nguồn gen lâm nghiệp” do Viện Khoa học lâm nghiệp thực hiện từ năm 2001-2005 với khoảng trên 100 loài quan trọng trên diện tích khoảng 150ha tại Cầu Hai (Phú Thọ), Trảng Bom (Đồng Nai), Lang Hanh (Lâm Đồng), Cúc Phương (Ninh Bình) Ngoài ra việc bảo tồn ngoại vi các lâm phân giống cây rừng cũng được thực hiện với 9 loài cây gỗ quan trọng như Lim xanh, Vối thuốc, Pơ mu, Trò chỉ, Sao với gần 10.000 cây cá thể từ hạt hoặc hom Trong dự án “Đa dạng loài và bảo tồn ngoại vi các loài tre ở Việt Nam” do Biodiversity International tài trợ từ năm 2003-2005 đã xác định được danh sách 216 loài tre và hạt trần bị đe dọa,

trong đó có Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) được xếp vào nhóm

bị đe dọa (VU A1cd) (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2008)[14]

Ở nước ta các chương trình trồng rừng trước đây, đặc biệt là Chương trình 327 và chương trình 5 triệu ha đã có một số đề xuất danh mục các loài cây trồng rừng áp dụng cho 9 vùng lâm nghiệp gồm: Tây Bắc, Đông Bắc, Trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và Tây Nam Bộ gồm 104 loài, trong đó có những

loài đáng chú ý như: Chò chỉ (Parashorea chinesis), Dầu rái (Diptericarpus alatus), Giáng hương quả to (Pterocarpus maorocarpa), Gỗ đỏ (Aflezia xylocrpa) (Lê Trần Chấn, 2010) Trong danh sách các loài cây trồng rừng có

nhiều loài thuộc nhóm đối tượng cần bảo tồn nguồn gen là các loài bản địa, đặc biệt là các loài có nguy cơ tuyệt chủng, được ghi vào sách đỏ Việt Nam

Đó là những loài quý hiếm có giá trị khoa học, kinh tế cao như: Hoàng đàn

Trang 17

(Cupresus torulosa), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Thông pà cò (Pinus kwangtungensis) hay Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) [9]

Tại Nghệ An nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài Sa mộc dầu trong tỉnh và nghiên cứu các đặc điểm sinh học và sinh thái của loài Nghiên cứu tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Nghệ An cho thấy tình hình tái sinh của Sa mộc dầu rất kém Cây tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ

lệ cây con có triển vọng thấp Đây là một vấn đề và là một thách thức lớn đang đạt ra trong công tác bảo tồn loài quý hiếm này Quả Sa mộc dầu sau khi chín thì hạt không được tách ra mà vẫn nằm nguyên ở trên nón Nón rụng xuống gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm cây tái sinh ngay trên nón Hiện tượng này hoàn toàn khác so với các loài thuộc ngành Hạt trần mà chúng ta đã nghiên cứu và tìm hiểu Qua đây chúng ta có thể giải thích được tại sao trong

tự nhiên thường thấy Sa mộc dầu tái sinh theo cụm hoặc theo đám.(Nguyễn Văn Sinh, 2009) [10]

Tại Hà Giang, đầu năm 2006 tỉnh đã triển khai dự án “Bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tùng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”, viết tắt là VN/02/2004, do Quỹ môi trường toàn cầu (UNDP-GEF/SGP) tài trợ nhằm bảo tồn và phát triển 4 loài thực vật hạt trần quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng Đó là Thông tre lá ngắn

(Podocarpus pilgori), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis), và Hoàng đàn rủ (Cupressus funebris) Các loài

này nằm trong số 33 loài thuộc họ Thông của thế giới, được xác định là có giá trị kinh tế và sinh thái đặc biệt cao, góp phần thiết thực cho công tác bảo tồn

và phát triển bốn loài hạt trần này ở Hà Giang và Việt Nam.(Lê Trần Chấn và cộng sự, 2006) [3]

2.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

2.3.1.1 Vị trí địa lý

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên thuộc địa bàn hành chính huyện Thường Xuân, cách Thành phố Thanh Hoá khoảng 60km về hướng Tây Nam,

có toạ độ địa lý:

Trang 18

190052' - 200002' độ vĩ Bắc

1040058' - 1050015' độ kinh Đông

Với vị trí địa lý tiếp giáp Khu BTTN Pù Hoạt (Nghệ An) và Khu BTTN Nậm Xam nước CHDCND Lào đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng, như hình 2.1

Với diện tích được giao quản lý sử dụng là 26.303.6 ha thuộc địa bàn 5

xã (Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, Lương Sơn) Trong đó:

Diện tích đã quy hoạch giao quản lý sử dụng ổn định: 23.475.0 ha [1]

Diện tích đất tạm giao: 2.828.6 ha (Diện tích ngập nước hồ Cửa Đạt)

Hình 2.1 Bản đồ phân khu chức năng KBTTN Xuân Liên

2.3.1.2 Khí tượng thủy văn

Khí hậu mang nhiều đặc trưng của vùng khí hậu miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh gần giống với vùng đồng bằng sông Hồng

- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm 23 - 240C, nhiệt độ trung bình tháng 1 là 15,5 - 16,50C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối xuống đến

Trang 19

20C Nhiệt độ trung bình tháng 7 là 27 - 280C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối chưa quá 400C

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm 85 - 86%, tháng có độ ẩm

cao nhất là tháng 04 khoảng 91%, tháng thấp nhất là tháng 11 và 12 từ 83% Mùa đông có sương muối từ 5 - 7 ngày

80 Lượng mưa: Lượng mưa trong năm là 2000 80 2200 mm, phân bố mưa

trong năm không đều, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80% tổng lượng mưa cả năm Các tháng có lượng mưa lớn nhất từ tháng 7 đến tháng 9 thường gây lũ lụt cục bộ Các tháng có lượng mưa thấp nhất từ tháng 12 cho tới tháng 2 năm sau, thường gây hạn hán

60 Lượng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi 76160 895mm/năm, tháng 7 có

lượng bốc hơi lớn nhất đạt 131mm; tháng 2 và 3 có lượng bốc hơi thấp nhất

40 - 43 mm

- Nắng: Do sự ảnh hưởng của địa hình nên số ngày nắng trong khu vực

có sự thay đổi theo vùng Số ngày nắng ở vùng thấp từ 235 - 245 ngày, vùng cao từ 215 - 216 ngày

- Gió: Có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến

tháng 04 năm sau và gió mùa Đông Nam từ tháng 04 đến tháng 09 Ngoài ra, còn có gió Tây khô nóng xen kẽ với gió mùa Đông Nam Gió Tây khô nóng thường xuất hiện vào tháng 5,6,7,8 tập trung vào các thung lũng và vùng thấp Gió thịnh hành là gió Đông Nam có tốc độ trung bình 1,8 m/s Song có gió khô nóng vào đầu mùa hạ (từ 20-30 ngày), gió cực đại đạt tới 39 m/s gây bão (tập trung vào tháng 9)

- Thủy văn:Khu BTTN Xuân Liên là vùng đầu nguồn của Sông Khao, sông Chu và một phần Sông Đặt; là vùng đầu nguồn cung cấp nước sạch, nước tưới cho vùng hạ lưu của tỉnh Thanh Hoá và thành phố Thanh Hoá Trong lòng Khu bảo tồn có Hồ chứa nước Cửa Đạt với diện tích ngập nước 2.828,60 ha (thuộc khu bảo tồn), là một trong những Hồ nước lớn ở Việt Nam Bên cạnh giá trị nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên mặt nước ở đây cũng là một loại tài nguyên du lịch vô cùng quý giá, có sức hấp dẫn du lịch rất lớn [1]

Trang 20

2.3.1.3 Địa chất thổ nhưỡng

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên nằm trên một dãy núi chạy từ Sầm Nưa ở Lào đến các huyện Thường Xuân và Như Xuân của tỉnh Thanh Hoá Các dãy núi này có khá nhiều đỉnh cao như núi Bù Ta Leo (1.040 m), núi Bù Chó (1.563 m), Bù Hòn Hàn (1.208 m) và một ngọn núi không có tên cao đến 1.605 là đỉnh cao nhất trong Khu bảo tồn

Địa hình của khu vực này đặc trưng bởi các dãy núi từ 800 đến 1.600 m

và bị chia cắt bởi những thung lũng sâu và hẹp Các sườn dốc từ Tây sang Đông Địa hình phía Đông đặc trưng là vùng chân núi có độ dốc vừa phải, nhiều trong số hàng loạt các sông suối trong vùng này chảy tương đối phẳng lặng mang phù sa cho các nhánh của nó Sông Chu là con sông hình thành từ Lào, chảy qua Nghệ An trước khi chảy qua Khu bảo tồn thiên nhiên (Lê Trọng Trải et al 1999)

Nền địa chất của vùng rất đa dạng bao gồm cả đá trầm tích, đá phiến, spilite, aldezite, và nhiều loại đá biến chất khác như đá lửa và đá kính (Lê Trọng Trải et al 1999)

Vùng đệm Khu bảo tồn có 6 xã, trong đó có 05 xã (Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Cẩm, Vạn Xuân, Lương Sơn có một phần diện tích được qui hoạch cho vùng lõi Khu bảo tồn) và xã Xuân Cao có đường ranh giới xã giáp ranh với đường ranh giới vùng lõi Khu bảo tồn

Tổng diện tích tự nhiên vùng đệm: 42.723,8 ha, trong đó:

- Đất lâm nghiệp: 35.123,1 ha

+ Đất có rừng: 26.271,3 ha (Đất có rừng trồng 3.671,3 ha chủ yếu được đầu tư từ nguồn vốn Dự án ADB và chương trình 327)

Trang 21

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.3.2.1 Dân số, dân tộc, phân bố dân cư

- Dân tộc: Khu BTTN Xuân Liên nằm trên địa bàn 5 xã với 3 dân tộc

anh em cùng sinh sống Các thông tin về dân số và thành phần dân tộc các xã này được thể hiện ở bảng dưới đây

Bảng 2.1 Thống kê dân số và thành phần dân tộc các xã vùng đệm

(Nguồn tài liệu: Niêm giám huyện Thường Xuân năm 2012)

Cộng đồng dân cư là đồng bào dân tộc ít người chiếm 82,55% Các dân tộc đã có quá trình cộng cư lâu đời giao lưu cả về kinh tế, văn hoá và hôn nhân, nhưng vẫn bảo tồn những nét đặc trưng riêng về văn hoá dân gian truyền thống Đây là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú, độc đáo cần phải được gìn giữ và bảo tồn

- Phân bố dân cư: Dân cư trong vùng phân bố trên 39 thôn bản, thuộc địa bàn 5 xã vùng KBTTN Theo số liệu niên giám thống kê của huyện Thường Xuân đến ngày 31/12/2012 tổng dân số hiện đang sinh sống trên có 26.095 người; bình quân từ 4,5 người/hộ, trong đó nam là: 13.198 người chiếm 50,58%, nữ là 12.896 người chiếm 49,42% Mật độ dân số bình quân là 39 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình năm là 8,7%

Hiện tại có 12 thôn giáp ranh khu bảo tồn/5 xã trong vùng quy hoạch có dân số 9.284 người Số lao động là 3.392 người chiếm tỉ lệ 36,54% dân số, ngành nghề chủ yếu là lĩnh vực nông lâm nghiệp (chiếm gần 98%) và chưa qua đào tạo nghề Trong đó có ba dân tộc sinh sống: Dân tộc Thái chiếm 82,33%, dân tộc Kinh chiếm 17,45%, dân tộc Mường chiếm 0,22% [1]

Trang 22

2.3.2.2 Lao động

Số niên giám thống kê huyện Thường Xuân, năm 2012 cho thấy khu vực 5 xã vùng qui hoạch khu bảo tồn có 13.530 người / 26.095 nhân khẩu trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ lệ 51,9 % tổng dân số, trong đó lao động nữ 6.850 người chiếm 50,7% tổng số lao động Tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, chiếm tới 50,8%

Nhìn chung tuy có lực lượng lao động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động thủ công trong lĩnh vực nông nghiệp, các hoạt động mang tính thời vụ

Hệ số sử dụng lao động thấp dẫn đến lực lượng lao động nhàn rỗi trong năm chiếm khoảng hơn 20% Thời gian sử dụng lao động trong nông thôn bình quân đạt 189 ngày/người/năm Đây là thách thức lớn đối với các cấp chính quyền hiện nay, đồng thời cũng là cơ hội về nguồn nhân lực khi thực hiện các chương trình trên địa bàn [1]

2.3.2.3 Văn hóa - xã hội và giáo dục

- Văn hóa - xã hội:

Những điểm di tích lịch sử và văn hóa tâm linh trong khu vực có sức thu hút khách đến thăm quan du lịch gồm: Di tích tín ngưỡng Bà chúa thượng ngàn và Danh nhân Cầm Bá Thước; các lễ hội truyền thống và văn hóa đặc sắc của các đồng bào dân tộc

Khu di tích đền thờ Danh nhân Cầm Bá Thước, Bà Chúa Thượng ngàn hiện nay đã được xây dựng tôn tạo mới nằm trong trung tâm Khu Du lịch và

đô thị Cửa Đặt đã được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh hoá phê duyệt Qui hoạch năm 2010; đây là cụm di tích kết hợp giữa tín ngưỡng và di tích lịch sử gắn với danh nhân yêu nước thời cần vương chống thực dân Pháp Cầm Bá Thước, thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa hồi đầu thế kỷ 20, đã được Nhà nước xếp hạng và cách cụm di tích

Không xa khoảng 5 km tại xã Vạn xuân có Khu di tích lịch sử: lăng mộ, đền thờ danh nhân Cầm bá Thước (đang được nghiên cứu xếp hạng) Bên cạnh đền thờ Cầm Bá Thước còn có đền thờ Bà Chúa thượng ngàn được xây dựng từ rất lâu đời, đến nay đã được trùng tu nhiều lần Cách Cửa Đạt hơn 1km về phía Đông Nam còn có đền Cô, đây chính là một đền “Trình” trước khi du khách vào

lễ đền Cầm Bá Thước và Bà Chúa Thượng Ngàn Hàng năm người dân thập

Trang 23

phương đi lễ rất đông vào những ngày rằm, ngày tết, suốt từ tháng 10-11 đến tháng 3-4 năm sau

Một số lễ hội truyền thống như: Lễ hội Ca Sa của dân tộc Thái vào tháng giêng âm lịch, lễ hội Lau Kha vào mồng 10 tháng 9 âm lịch của người Thái đen, lễ hội cúng rước Thành Hoàng vào tháng giêng âm lịch tại làng Hạ

ở Thọ Thanh, lễ hội Xóc Bùa của dân tộc Mường ở Xuân Cẩm, Lương Sơn…vào đầu tháng 12 âm lịch thường xuyên được tổ chức Các chòm bản người Thái tổ chức hội hè, ma chay, cưới xin với cơm lam, rượu cần, sản xuất hàng thổ cẩm theo nghề truyền thống phong phú sẽ là rất hấp dẫn đối với khách du lịch Cùng với hồ chứa nước thủy lợi Cửa Đạt đã hoàn thành, kết hợp với các thôn bản người Thái, Mường với kiến trúc nhà sàn, sản xuất ruộng bậc thang bổ sung thêm các sản phẩm du lịch, góp phần hấp dẫn du lịch sinh thái gắn với du lịch văn hóa

2.3.2.4 Giao thông

- Giao thông hiện có trong Khu bảo tồn:

+ Đường giao thông bộ có: Tỉnh lộ Tây Thanh Hóa từ xã Yên Nhân đi qua khu bảo tồn đi Nghệ An dài 15 km, kết cấu đường nhựa và tuyến đường giao thông ven hồ chứa nước Cửa Đạt dài 3,4 km, kết cấu bê tông

+ Đường giao thông thủy nội địa trên hồ chứa nước Cửa Đạt: Bắt đầu

từ bến thuyền Cửa Đạt đi các tuyến Nghệ An, đập phụ Dốc Cáy, đập phụ Hón Can với tổng chiều dài 43 km

Trang 24

- Hệ thống trục giao thông chính chạy qua các xã vùng đệm Khu bảo tồn có: Tỉnh lộ 507 từ thị trấn Thường Xuân đi qua các xã Lương Sơn, Yên Nhân, Bát Mọt với chiều dài 70 km, trong đó: Kết cấu đường nhựa từ thị trấn Thường Xuân đi qua trung tâm xã Yên Nhân dài 52 km; kết cấu đường đất, đá cấp phối

từ Yên Nhân đi cửa khẩu Bản Khẹo, Bát Mọt dài 18 km; tỉnh lộ mới 519 từ thị trấn Thường Xuân đi qua các xã Xuân Cẩm, Vạn Xuân dài 29 km kết cấu đường nhựa; tỉnh lộ Tây Thanh Hóa từ huyện Lang Chánh đi qua xã Yên Nhân

đi Nghệ An, với chiều dài 26 km (trong đó đi trong khu bảo tồn là 15 km) kết cấu đường nhựa [1]

2.3.2.5 Y tế

Theo số liệu thống kê, số trạm y tế là 05 trạm tại Yên Nhân, Lương Sơn, Xuân Cẩm, Vạn Xuân; trạm y tế Cửa đạt và 01 Phân viện tại xã vùng cao Bát Mọt; số y, bác sĩ là 29 người; số giường bệnh là 30 giường Đây là cơ sở và là các điểm chăm sóc sức khỏe tại chỗ kịp thời cho khách du lịch sinh thái đến với khu bảo tồn [1]

2.3.3 Tình hình phát triển kinh tế

2.3.3.1 Sản xuất nông nghiệp

* Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ đạo trong nền kinh tế

của 05 xã khu BTTN Xuân Liên, tuy nhiên do tập quán canh tác sản xuất của người dân còn lạc hậu chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính nên hiệu quả mang lại còn rất thấp Theo số liệu thống kê năm 2013, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 5 xã là: 2.952,32 ha, chiếm 4,43% diện tích tự nhiên Bình quân diện tích lúa nước + màu là 0,07 ha/người Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 7.185,8 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 275 kg/năm Diện tích lúa nước phân bố không đều trong các xã, hàng năm có một số thôn lương thực còn thiếu ăn cục bộ 1-2 tháng đời sống còn gặp nhiều khó khăn, cần phải tạo việc làm thông qua các mô hình, dự án nông lâm nghiệp để thúc

đẩy nền sản xuất nông nghiệp đạt giá trị cao trên một đơn vị diện tích

Ngoài các cây trồng chính, trong khu vực còn có một số loài cây rau đậu với diện tích là 42,5 ha chủ yếu là tự cung tự cấp, đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình và nhân dân quanh vùng, chưa hình thành vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa

Trang 25

* Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi có nhịp độ tăng trưởng khá, tỷ trọng về

giá trị chăn nuôi chiếm khá cao trong sản xuất nông nghiệp, theo thống kê năm 2013 tổng số đàn trâu là: 7.134 con, đàn bò 1.991 con, đàn lợn 5.250 con, Nhím 54 Ngoài ra còn hàng chục ngàn con gia cầm các loại

Chăn nuôi được phát triển trong các hộ gia đình chủ yếu là nhốt + chăn dắt, cắt cỏ, cung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp thực phẩm tại chỗ, các vùng lân cận [1]

2.3.3.2 Sản xuất lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp là thế mạnh của huyện Thường Xuân nói chung và

05 xã khu BTTN Xuân Liên nói riêng Với tổng diện tích đất lâm nghiệp là 56.236,2 ha trong đó diện tích rừng sản xuất là 19.426,7 ha Những năm gần đây nhờ chính sách của Nhà nước mở rộng và các chương trình dự án của KBT

mà sản xuất lâm nghiệp từ khâu cải thiện giống và tập huấn các biện pháp kỹ thuật cho người dân làm tăng năng suất cây trồng Trồng rừng chủ yếu một số loài cây như Luồng, Keo đang được bà con sản xuất theo hướng thâm canh rừng Kết quả phát triển rừng trên địa 5 xã vùng đệm gắn với thực chính sách phát triển rừng sản xuất theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg từ 2009 đến 2012

đã trồng 1745 ha với các loài cây Keo, luồng, Cao su gắn các đề án phát triển kinh tế của địa phương; đến năm 2012 đã có 03 xã Vạn Xuân, Lương Sơn và Xuân Cẩm cơ bản đã hoàn thành việc trồng rừng sản xuất trên địa bàn Tuy lâm nghiệp đang là thế mạnh của vùng nhưng cơ sở chế biến lâm sản lại chưa phát triển, chỉ có một vài cơ sở sơ chế lâm sản thô nhưng quy mô còn rất nhỏ

2.3.3.3 Thủy sản

Hồ Cửa đạt có diện tích trên 3.300 ha hiện đang tạm giao cho trung tâm quản lý khai thác công trình thủy lợi Cửa Đạt quản lý 2.828,6 ha, hàng năm khai thác đánh bắt hàng chục tấn cá các loại Ngoài ra còn có 65,9 ha diện tích ao hồ khác nằm rải rác ở các xã trong KBT nên việc đầu tư phát triển thủy sản nếu như được đầu tư sẽ mang lại thu nhập đáng kể cho người dân trong khu bảo tồn

2.3.4 Nguồn tài nguyên rừng KBTTN Xuân Liên

2.3.4.1 Thảm thực vật

Theo kết quả khảo sát và quan điểm phân loại này, thảm thực vật rừng Xuân Liên được chia thành 2 kiểu rừng chính và các kiểu phụ dưới đây:

Trang 26

Bảng 2.2 Diện tích các kiểu thảm thực vật rừng đặc dụng Khu bảo tồn

(ha)

Tỉ lệ (%)

Thảm thực vật á nhiệt đới (> 800m)

A Rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá rộng á

a1 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường

xanh á nhiệt đới sau khai thác 505,38 2,16

a1 Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh á

nhiệt đới trên đất xương xẩu núi đá vôi 767,15 3,28

a1

Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường

xanh á nhiệt đới đồi núi trung bình phục hồi

sau nương rẫy

77,93 0,33

a1

Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang

hoặc Nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương

rẫy á nhiệt đới

379,16 1,62

Thảm thực vật nhiệt đới (< 800m)

B Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 2.801,33 11,97

b1 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường

xanh nhiệt đới sau khai thác 1.372,35 5,86

b2 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường

xanh mưa ẩm nhiệt đới phục hồi sau nương rẫy 5.293,27 22,61

b3

Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang

hoặc Nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương

rẫy và khai thác kiệt

6.238,14 26,65

b4 Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Giang hoặc Nứa

thuần loại phục hồi sau nương rẫy 3.276,30 14,00 b5 Trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác 941,6 4,02

(Nguồn tài liệu: Lê Xuân Toàn năm 2012)

Trang 27

* Đặc điểm các kiểu thảm thực vật

A Rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá rộng á nhiệt đới:

Kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800m đến 1600m, nhiều nhất ở Bù Ban phía nam Bản Vịn và một diện tích nhỏ phía tây nam bản Vịn, sau đó là khối núi Bù Gió, Bù Tà Leo, có diện tích 1.753,89 ha, chiếm 7,49% tổng diện tích KBT

Kiểu rừng này it bị tác động còn giữ được tính nguyên sinh về cơ bản

Độ tàn che 0,7- 0.8, có lâm phần có độ tàn che đạt 0,9 Thực vật chiếm ưu thế

là các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae),

họ Thầu dầu (Euphoribiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Sến (Sapotaceae) Trong đó phải nói đến các loài cây đóng

vai trò lập quần như Cà ổi (Castanopsis indicac), Sói (Lithocapus dussaudi),

Dẻ đá (Lithocarpus coatilus), Dẻ cau Quercus areca) thuộc họ Dẻ hay loài Cứt

ngựa (Svvietenia macrophylla) thuộc họ Thầu dầu, một số loài trong chi Re

(Cinnamomum) thuộc họ Long não và các loài gỗ tốt thuộc họ Ngọc lan như: Vàng tâm (Manglieti fordiana), Giổi (Talauma michelia hyprlampra) Ở các đỉnh núi cao trên 1200m vai trò lập quần thuộc về loài Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia), Cứt ngựa, Re, Côm tầng (Elaeocarpus dubilus), Giổi… Cũng

ở độ cao này, đáng lưu ý là Pơ mu (Fokonia hodginsii), một loài cây gỗ quý

hiếm có giá trị kinh tế cao và kích thước cao lớn, chiếm tầng vượt tán của lâm phần có thể dễ dàng nhận thấy từ xa, đã tạo ra cho một số lâm phần có kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim Một số lâm phần ở độ cao 800-

1200m, loài cây Sao mặt quỷ (Hopeamollissima) thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) đóng vai trò rất quan trọng trong tổ thành loài cây.Tổ thành loài cây: Pơmu + Sến Mật+ Dẻ + Giổi+ Gội và các loài khác

2.3.4.2 Hệ thực vật

Qua điều tra ban đầu hệ thực vật khu BTTN Xuân Liên, Thanh Hóa đã xác định được 1142 loài, 620 chi và 180 họ Trong đó ngành Mộc lan là đa dạng nhất chiếm 87,3% tổng số loài của khu vực nghiên cứu, với 35 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng được ghi trong sách đỏ Việt Nam chiếm 3,06% Hệ thực vật Xuân Liên có nhiều loài cây có giá trị và cho nhiều công dụng, cây làm thuốc có số loài cao nhất với 296 loài, cây cho gỗ 210 loài, cây ăn được

Trang 28

24 loài, cây làm cảnh 41 loài, thấp nhất là cây cho tinh dầu với 14 loài thể hiên qua hình 2.2

Bảng 2.3 Cấu trúc khu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên

(Nguồn tài liệu: Lê Xuân Toàn,2012)

Hình 2.2 Sự đa dạng về thành phần loài thực vật theo ngành

Trang 29

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Loài cây Sa mộc dầu, Sa mu dầu, Sa mộc quế phong, Ngọc am

(Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae)

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phân bố của loài Sa mộc dầu trong KBTTN Xuân Liên

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện

- Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - tỉnh Thanh Hóa

- Thời gian nghiên cứu: từ 31/12/2013- 20/4/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Xác định phân bố của Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên

3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu

+ Đặc điểm hình thái và vật hậu: thân, lá, hoa/nón quả

+ Đặc điểm sinh thái bao gồm hoàn cảnh rừng nơi Sa mộc dầu phân bố, đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi Sa mộc dầu phân bố (mật độ, tổ thành, tầng thứ, thường gặp)

+ Đặc điểm tái sinh tự nhiên (mật độ, cấu trúc tổ thành cây tái sinh, chất lượng cây tái sinh, phân cấp theo chiều cao và cây có triển vọng, đặc điểm tái sinh)

3.3.3 Nghiên cứu giá trị sử dụng Sa mộc dầu

Đồ gỗ, đóng thuyền, vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất giấy, tinh dầu, làm thuốc…

3.3.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển Sa mộc dầu

- Các giải pháp kỹ thuật, kinh tế xã hội, chính sách

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan

- Kế thừa các tài liệu cơ bản như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương cùng tài liệu liên quan về vấn đề nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước phục vụ cho báo cáo

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ phân khu chức năng KBTTN Xuân Liên - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 2.1. Bản đồ phân khu chức năng KBTTN Xuân Liên (Trang 18)
Bảng 2.3. Cấu trúc khu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Bảng 2.3. Cấu trúc khu hệ thực vật Khu BTTN Xuân Liên (Trang 28)
Bảng 4.1. Khu vực phân bố của Sa mộc dầu tại KBTTN Xuân Liên - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Bảng 4.1. Khu vực phân bố của Sa mộc dầu tại KBTTN Xuân Liên (Trang 32)
Hình 4.1 Nơi có Sa mộc dầu - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 4.1 Nơi có Sa mộc dầu (Trang 33)
Bảng 4.3. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 01 (tọa độ:0497316-2209675) - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Bảng 4.3. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 01 (tọa độ:0497316-2209675) (Trang 35)
Bảng 4.10. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 08 (tọa độ:0510162-2205340) - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Bảng 4.10. Hệ số tổ thành tầng cây cao ôtc 08 (tọa độ:0510162-2205340) (Trang 42)
Hình 4.3. Hình thái thân loài cây Sa mộc dầu - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 4.3. Hình thái thân loài cây Sa mộc dầu (Trang 45)
Hình 4.4. Hình thái lá cây Sa mộc dầu - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 4.4. Hình thái lá cây Sa mộc dầu (Trang 46)
Hình 4.5. Hình thái lá cây Sa mộc dầu - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 4.5. Hình thái lá cây Sa mộc dầu (Trang 46)
Hình 4.7. Quả và lá rụng của cây Sa mộc dầu - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 4.7. Quả và lá rụng của cây Sa mộc dầu (Trang 48)
Hình 4.6. Hình thái nón Sa mộc dầu - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 4.6. Hình thái nón Sa mộc dầu (Trang 48)
Hình 4.8. Họp Bản Vịn hàng tháng - Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thanh Hóa.
Hình 4.8. Họp Bản Vịn hàng tháng (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm