Xuất phát từ nguyện vọng bản thân và được sự nhất trí của khoa lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm loài cây rừng làm
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý TNR
Khóa học : 2010 – 2014
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý TNR
Khóa học : 2010 – 2014 Giáo viên hướng dẫn: 1 ThS Nguyễn Đăng Cường
2 TS Nguyễn Thanh Tiến Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan chưa công bố trên các tài liệu Nếu
có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2014
Xác nhận của GVHD Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
Triệu Mạnh Hùng
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo, thực hiện phương châm “học
đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiến” Là một sinh viên khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong 4 năm vừa qua tôi luôn cố gắng học tập và rèn luyện thu lượm những kiến thức khoa học
và thực tiễn từ các thầy giáo, cô giáo
Thực tập tốt nghiệp là khâu cực kỳ quan trọng đối với mỗi sinh viên, giúp cho mỗi sinh viên có điều kiện cũng cố kiến thức đã học tập trong nhà trường và là cơ hội để mỗi sinh viên trau dồi kiến thức thực tế nhằm chuẩn bị hành trang cho công việc sau nay
Xuất phát từ nguyện vọng bản thân và được sự nhất trí của khoa lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực hiện
đề tài
“Nghiên cứu một số đặc điểm loài cây rừng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ của đồng bào dân tộc Nùng tại huyện bình gia – tỉnh Lạng Sơn”
Sau một thời gian thực tập tại xã Tân Văn đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Có được kết quả như ngày hôm nay ngoài sự cố gắng nố lực của bản thân tôi còn được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa lâm nghiệp Đặc biệt là thầy giáo ThS Nguyễn Đăng Cường đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Em cũng chân thành cảm ơn các cô, chú, các bác tại Ủy ban nhân dân xã Tân Văn cũng như các hộ dân địa phương đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại xã
Do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, và thời gian hạn chế nên đề tài còn nhiều hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Trang 5Trung tâm vì Con người
và Rừng The Center for People
and Forests
12 USD Đơn vị tiền tệ chính thức
của Hoa Kì United States dollar
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 9
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 9
2.2.1.1 Những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ 9
2.2.1.2 Những nghiên cứu về Hương 12
2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 13
2.2.2.1 Những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ 13
2.2.2.2 Những nghiên cứu về Hương 17
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 19
2.3.1.1 Vị trí địa lý 19
2.3.1.2 Địa hình, địa mạo 20
2.3.1.3 Khí hậu, thủy văn 21
2.3.1.4 cơ sở hạ tầng 22
2.3.1.5 Dân số và lao động 25
2.3.1.6 Văn hóa - y tế- giáo dục 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
Trang 73.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27
3.4.1.1 Kế thừa tài liệu 27
3.4.1.2 Chuẩn bị dụng cụ cần thiết 28
3.4.1.3 Điều tra ngoại nghiệp 28
3.4.2 Xử lí số liệu 31
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Khảo sát tình hình sử dụng 1 số loài cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ của dân tộc Nùng tại xã Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn 32
4.2 Một số đặc điểm của cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ 34
4.2.1 Phân bố các loài cây nguyên liệu làm Hương thẻ 34
4.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm của cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ 36
4.2.2.1 Cây Hồi 38
4.2.2.1 Cây tre, Nứa 40
4.2.2.3 Keo tai tượng 41
4.2.2.4 Cây quế 42
4.2.2.5 cây Trám trắng 45
4.2.2.6 Cây Kháo xanh 46
4.3 Kinh nghiệm và cách chế biến, sản xuất Hương thẻ của đồng bào dân tộc Nùng tại xã Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn 47
4.3.1 Làm chân nhang 47
4.3.2 Làm bột nhang 48
4.3.3 Làm mình nhang 48
4.3.4 Cách bảo quản 49
Trang 84.3.5 Đóng gói và tiêu thụ 49
4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc sản xuất Hương thẻ của địa phương 49
4.4.1 Thuận lợi 49
4.4.2 Khó khăn 50
4.5 Đề xuất giải pháp quản lý phát triển và sử dụng hợp lý tập đoàn cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ của dân tộc Nùng tại địa phương 51
Phần 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 56
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Thống kê một số loài cây được sử dụng làm nguyên liệu làm
Hương thẻ của đồng bào dân tộc Nùng tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn 32
Bảng 4.2 Thống kê mùa thu hái, mức độ sử dụng các loài cây nguyên
liệu làm Hương thẻ người dân thường được sử dụng hàng năm 33
Bảng 4.3 Phân bố các loài cây nguyên liệu làm Hương thẻ tại khu vực
nghiên cứu theo tuyến 34
Bảng 4.4 Nghiên cứu một số đặc điểm của cây rừng dùng làm nguyên
liệu sản xuất Hương thẻ 37
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Quả hồi 38
Hình 4.2: Bột Hồi 38
Hình 4.3: Cây Nứa 40
Hình 4.4: Chân nhang 40
Hình 4.5: cây Keo 41
Hình 4.6: Bột Keo 41
Hình 4.7: Bột quế 42
Hình 4.8: Cây quế 42
Hình 4.9: Quả Trám 45
Hình 4.10: Gốc Trám 45
Hình 4.11: Cây Kháo xanh 46
Hình 4.12: Bột Kháo 46
Trang 11Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, vai trò của rừng ngày càng được nhận thức rõ hơn bao giờ hết Rừng cung cấp gỗ và lâm đặc sản quý phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của hàng triệu đồng bào miền núi Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một trong những giải pháp tốt nhất cho bảo vệ và phát triển rừng là kinh doanh lâm sản ngoài gỗ Nó cho phép tạo được nguồn thu nhập kinh tế ổn định cho người dân miền núi trong khi vẫn bảo vệ và phát triển được rừng Kinh doanh lâm sản ngoài gỗ đang nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân miền núi
Trong tự nhiên có rất nhiều loại cây rừng có mủ thơm và có mùi đặc trưng, do đó đã được con người từ đời xa xưa đến nay sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó có nghề làm Hương (nhang) Đó là nghề tạo ra sản phẩm được sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trong đời sống người dân mà không
gì thay thế được Thắp nhang là nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong ngày Tết, các dịp lễ của Phật giáo, hoặc các dịp chạp giỗ, lễ, đám ma
Có thể khẳng định, nén nhang đã len lỏi vào tận hang cùng ngõ ngách của đời sống và có một vị trí quan trọng trong cuộc sống của người Việt Nam
Cây nhang, nén hương như chiếc cầu nối thiêng liêng giữa con người với cõi tâm linh, trời đất, thậm chí còn lan rộng đến một số nước ở châu Á và cộng đồng người Việt sống ở châu Âu cũng như toàn thế giới Những ngày cuối năm, các gia đình khi đi mua sắm các thứ lễ vật để chuẩn bị cho ngày Tết, hầu như ai cũng mua những hộp nhang, hương thơm về cúng Phật, cúng ông bà Tổ tiên của mình Khi vào thời khắc giao thừa, lúc giao hòa giữa năm
cũ và năm mới, giữa trời và đất cả dân tộc Việt Nam đón chào hân hoan, cầu mong gia đạo bình an, đời sống thịnh vượng, hạnh phúc và một năm làm ăn phát tài phát lộc Đêm giao thừa, cả gia đình quây quần bên nhau, thắp trên bàn thờ vài nén nhang, hương thơm để cùng tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, cha mẹ, những người kính yêu đã khuất Sự lan tỏa của làn khói trắng, mùi thơm dịu nhẹ thoang thoảng cùng với cái không khí lành lạnh của không gian tĩnh mịch làm cho ta thấy ấm cúng và gắn bó với nhau nhiều hơn Trong tâm
Trang 12thức của người Việt Nam đều tin tưởng ở thế giới bên kia, trong khoảng không gian vô định, có những hình ảnh, những con người đang hướng về chúng
ta, đang ở bên chúng ta hằng ngày Và khi thắp cây nhang, nén hương lên, ta có thể tâm sự với họ, sưởi ấm với cả thế giới này và cả thế giới vô hình kia nữa Đó là lòng kính yêu, thành kính của chúng ta
Nghề làm Hương thẻ hiện nay có rất nhiều nơi trên cả nước sản xuất, trong đó có huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Sản phẩm làm ra chủ yếu để phục
vụ cho nhu cầu sử dụng tại địa phương, chứ chưa phổ biến và lan rộng tới các địa phương khác trong cả nước Do đó, cần có phương pháp sản xuất phù hợp,
mở rộng thị trường tiêu thụ, đồng thời phải tạo ra được sản phẩm mang tính đặc trưng của dân tộc Nùng Một số loài cây nguyên liệu dùng để sản xuất Hương thẻ hiện nay đang giảm dần về số lượng do bị khai khác quá nhiều để
sử dụng cho các mục đích khác nhau, phục vụ nhu cầu của cuộc sống người dân Cần đánh giá đúng những thuận lợi và khó khăn, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển, quản lí bền vững tập đoàn cây rừng dùng làm nguyên liệu sản xuất Hương có trên địa bàn, góp phần tạo công ăn việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm loài cây rừng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ của đồng bào dân tộc Nùng tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn” Nhằm nghiên
cứu và bảo vệ nghề làm Hương, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nùng tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Trang 131.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm nghiên cứu một số loài cây rừng dùng để sản xuất Hương thẻ tại địa phương, quy trình sản xuất và mức độ phân bố các cây nguyên liệu trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng sơn Làm cơ sở khoa học đánh giá thực trạng sản xuất từ nguyên liệu sẵn có, đề xuất các giải pháp phát triển nhằm quản lí tốt nguồn nguyên liệu sản xuất Hương Góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho người dân, tận dụng nguồn lực, tiềm năng tại chỗ và góp phần bảo tồn được đa dạng sinh học, nâng cao giá trị nguồn LSNG ở địa phương
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu các loài cây nguyên liệu trong tự nhiên có thể làm Hương thẻ tại khu vực nghiên cứu
- Tìm hiểu được quy trình sản xuất chế biến Hương thẻ từ cây nguyên liệu ở địa phương
- Đề xuất một số giải pháp phát triển và bảo tồn các loài cây nguyên liệu làm Hương thẻ tại khu vực ngiên cứu
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất một cách có hiệu quả
- Giúp bản thân tôi có thêm kinh nghiệm trong việc giao tiếp cộng đồng, làm việc với người dân, vận dụng kiến thức được học để đi điều tra, thu thập, xử lí số liệu và viết báo cáo một cách chính xác, hiệu quả
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần giữ gìn và phát huy được nghề truyền thống có từ lâu đời ở địa phương, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bảo tồn đa dạng sinh học các cây nguyên liệu bản địa quý, có giá trị
- Tuy đề tài chỉ mới chỉ đề cập một số đặc điểm hình thái, sinh thái loài, lại tiến hành trong một thời gian ngắn nhưng được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn, cùng người dân địa phương, tôi hy vọng đề tài có thể sử
Trang 14dụng để nghiên cứu đặc tính sinh thái các loài cây sử dụng làm nguyên liệu sản xuất Hương thẻ, nhằm bảo tồn các loài thực vật tại Huyện Bình Gia – Lạng Sơn nói riêng và cả nước nói chung
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Trong mỗi người dân Việt Nam đều coi Hương là một công cụ đặc biệt quan trọng đối với đời sống hàng ngày, và đặc biệt là đời sống tâm linh Ai trong chúng ta cũng đã ít nhiều quen với việc thắp Hương, dâng Hương Cho
dù không tin vào thần thánh, vào thế giới bên kia, nhưng chúng ta đều tin rằng nén Hương và hương thơm của nó giúp chúng ta ấm áp tâm hồn Nghề làm Hương được rất nhiều vùng miền trên cả nước làm ra, tuy nhiên mỗi nơi lại mang những nét đặc trưng, bí quyết riêng biệt tạo nên những nén hương mỗi khi thắp lên đều mang hương vị, dấu ấn in đậm ở mỗi vùng Nén hương vòng cháy theo chiều kim đồng hồ như chính vòng xoáy nhân sinh của cuộc đời, đó
là vòng đời của mỗi con người nơi trần thế Và tất cả chúng ta, cuối cùng cũng đi đến một mục đích, vươn tới giá trị đích thực của cõi tâm linh, vươn tới những điều: Chân - Thiện - Mỹ của cuộc đời Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta, dù thành thị hay nông thôn, mỗi khi Tết đến, Xuân về đều thắp lên trong nhà mình một nén hương để tỏ lòng thành kính với ông bà, tổ tiên Một nén hương cầu chúc hạnh phúc cho mọi người trong gia đình, để cầu xin bình
an trong năm mới và để cho không khí của những ngày đầu năm thêm ấm áp
và tươi vui mùa Xuân là mùa có nhiều hội hè, mùa tảo mộ, thanh minh Ngày Xuân cũng là thời gian họp mặt của những người trong gia đình, cùng nhau đi viếng chùa cầu phúc Những nén hương được thắp lên và mọi người cảm thấy ấm lòng Nén hương lúc này không còn là thứ hàng hóa rẻ tiền nữa
mà nó đã trở thành một sản phẩm tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Cùng với những phong tục truyền thống khác, nén hương đã góp phần tạo nên và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.[11]
Thấy được vai trò của lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đối với các nước đang phát triển nhất là các nước vùng nhiệt đới, nhiều tổ chức quốc tế đã tiến hành
Trang 15nhiều dự án nhằm làm rõ vai trò của LSNG, các chính sách liên quan, thông tin tiếp thị, …
Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp đặt tại Indonesia (CIFOR) đã chú trọng nhiều về LSNG Trung tâm đã đề ra phương pháp phân tích với lâm sản thương mại thế giới Trung tâm quốc tế về nông lâm kết hợp (ICRAF) đã và đang thực hiện làm thế nào để sản xuất, nâng cao chất lượng của cây rừng có nhiều tiềm năng Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) và trung tâm đào tạo vùng lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) cũng có nhiều nghiên cứu về LSNG trong đó cách tiếp cận về phương pháp luận về
“từ sản xuất đến hệ thống tiêu thụ” coi nhiệm vụ của rừng là sản xuất cần
thiết cho cung cấp bền vững, phân phối thu nhập, đảm bảo thị trường và chính sách thị trường định chế[13] Trên thế giới cộng đồng quốc tế, có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi tài nguyên rừng vào đầu những năm
1980 Một chiến lược bảo tồn mới được hình thành và khẳng định tính ưu việt của nó Đó là liên kết quản lý bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia với các họat động sinh kế của các cộng đồng địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng, trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định Một dự án đã được thử nghiệm với tên gọi: “quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Pu kheio Wildife Santuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông Bắc Thái Lan Kết quả chỉ rằng
“Điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các họat động thu nhập của họ”
LSNG không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng Đã
từ lâu, LSNG được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại LSNG đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số LSNG đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng Như vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về lâm sản
Trang 16ngoài gỗ để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ Việt nam trong số 12000 loài cây được thống kê có: 76 loài cho nhựa thơm; 160 loài cho dầu; 600 loài cho tanin; 260 loài cho tinh dầu; 93 loài cho chất màu; 1498 loài cho các dược phẩm.
Nhiều loại LSNG đã trở thành nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp, được chế biến và sản xuất ra hàng loạt các sản phẩm như các loài song mây, tre nứa, các loài hoa…Theo chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006 - 2020, định hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đến năm 2020 dự kiến xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ) Đến năm 2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong các ngành hàng sản xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị LSNG xuất khẩu tăng bình quân 15 - 20%; thu hút khoảng 1,5 triệu lao động và thu nhập từ LSNG chiếm
15 - 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn
Các cây LSNG chính là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất, chế biến hương Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân Châu Á bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt Nam như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng Dù không mê tín dị đoan, trong tâm thức mọi người Châu Á đều tin rằng nén hương khi đốt lên, cũng như một nhịp cầu vô hình nối kết hai thế giới hữu hình và vô hình với nhau Tuy nhiên về mặt tâm linh,
có người vẫn còn hiểu một cách mơ hồ, nhất là về ý nghĩa dâng hương theo truyền thống của ông bà Thậm chí ngày nay có người còn không biết vì sao trong nhà mình có một bàn thờ với những pho tượng, hình ảnh Chư Phật Bồ Tát, thần thánh hoặc tổ tiên Phải chăng có một “ông” Phật sống ở trên bàn thờ ?[15]
Theo Pháp sư Tịnh Không về Đốt hương thì hương đại biểu cho hương tín, đây là một tín hiệu mà người xưa đã dùng rất rộng rãi Rõ ràng nhất, nơi Vạn lý trường thành chúng ta thấy cách một đoạn có một phong hỏa đài, phong hỏa đài là đài truyền tin gấp rút Phong hỏa đài giống như cái lò hương
Trang 17Người ta dùng lửa đốt phân sói, mật độ của khói phân sói không giống như khói khác, gió không thể thổi tan và duy trì lâu Ở xa trông thấy chỗ có khói thì biết rằng chỗ kia có biến cố, đây là cách truyền tin gấp của người xưa Việc đốt hương để truyền tin gấp đến chư Phật và Bồ tát khiến cảm ứng đạo giao cũng xuất phát từ ý niệm truyền tin kiểu này
Đạo Phật đã được truyền bá vào Việt Nam từ những thế kỷ trước công nguyên, văn hóa Phật giáo hòa quyện cùng văn hóa bản địa đã tạo ra một văn hóa tín ngưỡng rất đặc thù Tập tục dâng hương theo quan điểm của Phật giáo, Hương thắp lên vừa đạt được ý nguyện tâm linh dâng mùi thơm và chuyển lời cầu nguyện lên ngôi Tam bảo chứng minh, vừa để biểu hiện chính tâm hướng tới điều thiện.[9]
Khi đốt hương, cúng Phật chúng ta thường đọc những câu mật ngữ như: Hương Yên khiết thể, thông xuất tam giới, ngũ uẩn thanh tịnh, tam độc liễu nhiên Trong lúc cầm ba nén nhang vị chủ lễ xướng to bài kệ: Thứ nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh Lưỡng nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc tam giới, nhứt khí tài phân chi hậu Chi diệp biến mãn thập phương Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn xuyên chi tú lệ Tức giới tức định tức huệ Phi mộc phi hỏa phi yên Thâu lai tại nhứt vi trần Tán khứ phổ châu sa giới Ngã kim nhiệt hướng lư trung, đoan thân cúng dường Thập phương thương trú tam bảo, sát hải vạn linh, tất trượng chơn hương, đồng quy chơn tế
Trong Kinh Pháp cú đức Phật dạy: “Không một hương hoa nào bay ngược chiều gió thổi, chỉ hương người đức hạnh bay ngược gió bốn phương”
Hương có rất nhiều loại từ nhiều nơi sản xuất ở trong nước cũng như nhập khẩu từ nước ngoài Dạo qua thị trường hương (nhang) hiện nay có thể thấy hàng trăm nhãn hiệu với nhiều mùi thơm khác nhau, từ “made in Vietnam” đến hàng nhập ngoại mà đa phần là nhang Đài Loan, Trung Quốc Theo giới chuyên môn, hương nhang càng thơm càng độc hại do được ngâm tẩm hóa chất.[14]
Có nhiều người thắc mắc tại sao thắp hương lại dùng những con số lẻ nén nhang 1,3,5,7, 9 v.v Thường thì 3 nén nhang và 2 bàn tay luôn luôn
Trang 18chắp lại và miệng thì lâm râm thầm khấn nguyện? Phải chăng số lẻ là con số tượng trưng cho sự linh thiêng, tượng trưng cho trời vì chiếu theo luật cơ - ngẫu của dịch lý thì số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm Dương tượng trưng cho trời, cho sự linh thiêng, cho vô hình, cho sự trong sạch thanh tịnh, cho sự sinh trưởng phát triển, cho các cõi trên như Tiên, Thánh, Phật
Con số 3 liên quan đến biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt” nghĩa là đôi rồng chầu vào một mặt nguyệt ta thường được trang trí trên các bát nhang,
lư hương lớn nhỏ ở các nơi thờ tự Theo dịch lý đôi rồng là tượng trưng của dương, ứng với hai hào dương trong các quẻ kinh Dịch Còn mặt nguyệt là tượng trưng của âm, ứng với hào âm trong các quẻ Ở đây hào âm (mặt nguyệt) ở giữa, còn đôi rồng chầu hai phía Lưỡng Long triều nguyệt cũng chính là biểu tượng của quẻ Ly
Không những vậy, con số 3 còn liên quan cả một quan niệm triết học
về vũ trụ của người phương Đông: Thiên, Nhân, Địa (Trời, Người, Đất) gọi là tam tài Người xưa rất chú trọng về ý nghĩa Tam Tài, cho nên làm bất cứ việc
gì họ đều xét nét tỉ mỉ về Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa nếu thấy đầy đủ ba yếu tố Tam tài thì mới hành sự và tin tưởng điều ấy sẽ thành công Đứng về mặt ý nghĩa, thắp hương là một biểu hiện mong muốn tiếp xúc với thần linh Vào thời nguyên thủy, khi con người chưa thể giải thích các hiện tượng siêu nhân trong thế giới quan dẫn đến việc thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên
đó và gắn với mỗi hiện tượng siêu nhiên là một vị thần Con người cũng sớm định vị các vị thần là các đấng tối cao, ở cõi trên và cho rằng thần linh đã trực tiếp chi phối nhiều mặt đời sống của chính mình Chính vì vậy con người đã tìm cách giao tiếp với thần linh, không một cách nào có thể giúp con người bay lên cao, chỉ khi tìm thấy lửa dần dần con người nhận thấy khi đốt lửa thì bao giờ khói cũng bay lên Từ đó, con người đã biết sử dụng lửa để giao tiếp với các thần linh.[12]
Tóm lại, tập tục dâng hương là một đạo lý truyền thống của dân tộc có
từ ngàn xưa, đây là những gia bảo tinh thần đáng quý của tổ tiên để lại cho con cháu kế thừa Gia bảo này được hấp thụ những tinh hoa của tư tưởng văn hóa Đông phương Để xác định một lần nữa, dâng hương không phải là một
Trang 19hành động mê tín dị đoan mà là một truyền thống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc, chúng ta không thể quên được nguồn gốc văn hóa Đông phương Đó chính là một trong những biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị tâm linh ấy trong cuộc sống xã hội của họ
Riêng đối với Phật giáo: Việc dâng hương cúng dường chư Phật mang nhiều ý nghĩa, từ sự hiển lý, không những làm tăng vẻ uy nghiêm, phá tiêu chướng khí nơi đạo tràng, mà còn làm cho tỏ ngộ chơn thường, đạt thể tánh tịnh minh Người Phật tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa giá trị của việc dâng hương theo quan niệm Phật giáo, hãy cố gắng giữ gìn truyền thống và thực hiện cho kỳ được việc dâng hương cho trang nghiêm và chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân và giáo dục con em của mình trở thành những con người tài đức vẹn toàn để cống hiến và xây dựng một xã hội văn minh và hạnh phúc
Ngày nay, trong xu thế hướng về nguồn cội để giữ gìn và phát huy những truyền thống bản sắc văn hóa của dân tộc thì tập tục dâng hương lại là một trong những đề tài hướng đến Chân Thiện Mỹ để chúng ta suy ngẫm và phát huy nhiều hơn nữa những giá trị văn hóa tâm linh cao quý này.[8]
2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1 Những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ
- Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ
Trước đây, người ta coi gỗ là sản phẩm chính của rừng, còn các lâm sản khác như song, mây, dầu, nhựa, sợi, lương thực, thực phẩm, dược liệu v.v
do có khối lượng nhỏ lại ít được khai thác, nên thường coi là sản phẩm phụ của rừng Người ta gọi chúng là lâm sản phụ (minor forest products) hoặc đặc sản rừng (special forest products) Trong những thập kỷ gần đây, rừng bị tàn phá mạnh, gỗ trở nên hiếm và sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác như kim loại và các chất tổng hợp dần dần thay thế gỗ trong công nghiệp và các ngành khác Trong khi đó các "Lâm sản phụ" được sử dụng ngày càng nhiều hơn và với những chức năng đa dạng hơn Một số nghiên cứu gần đây đó cho thấy nếu được quản lý tốt thì nguồn lợi từ “Lâm sản phụ” hoàn toàn không nhỏ,
Trang 20đôi khi còn lớn hơn cả gỗ Vì vậy, để khẳng định vai trò của các "Lâm sản phụ" người ta đó sử dụng một thuật ngữ mới thay cho nó là "Lâm sản ngoài gỗ" ("Non - timber forest products" hay "Non - wood forest products")
Các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm khác nhau về lâm sản ngoài gỗ Theo Jenne.H de Beer (1992)[18] “Lâm sản ngoài gỗ được hiểu là toàn bộ động vật, thực vật và những sản phẩm khác ngoài gỗ của rừng được con người khai thác và sử dụng” Năm (1994), trong hội nghị các chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan đã thông qua khái niệm về lâm sản ngoài gỗ như sau:
"Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài
gỗ, củi và than Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải
là các lâm sản ngoài gỗ" Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do
tổ chức Nông lương thế giới tổ chức vào tháng 6/1999 đã đưa ra khái niệm về lâm sản ngoài gỗ như sau: "Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây thân gỗ"
Sau nhiều năm nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ Jenne.H de Beer (2000)
đã bổ sung khái niệm lâm sản ngoài gỗ Theo ông "Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác
từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi" Theo khái niệm này của Jenne.H de Beer
là đơn giản, dễ sử dụng nhưng khác với hầu hết các khái niệm trước đây là ông đã đưa củi vào nhóm lâm sản ngoài gỗ
- Tính đa dạng của lâm sản ngoài gỗ:
Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng về các loài thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ Khi nghiên cứu sự đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào người ta đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong đó
có 223 loài làm thức ăn (Joost Foppes, 1997)[19] Để thuận tiện cho việc nghiên
Trang 21cứu C Chandrasekharan (1995) - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chính như sau:
A Cây sống và các bộ phận của cây
B Động vật và các sản phẩm của động vật
C Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu nhựa thực vật )
D Các dịch vụ từ rừng
Mendelsohn (1989) đã căn cứ vào giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ
để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được; keo dán và nhựa; thuốc nhuộm và ta nanh; cây cho sợi; cây làm thuốc Ông cũng căn cứ vào thị trường tiêu thụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm được sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch Nhóm thứ ba thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trước đây bị lu mờ và ít được chú ý đến
Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về lâm sản ngoài
gỗ trên thế giới với số lượng khổng lồ các giống loài Chúng có dạng sống, đặc điểm sinh thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng Tính phong phú của lâm sản ngoài gỗ có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay Nó chứng tỏ một tiềm năng lớn không chỉ cho phát triển kinh tế, mà còn cho việc xây dựng những hệ sinh thái có tính ổn định và bền vững cao Đây cũng là cơ sở cho các nhà khoa học tiến hành những nghiên cứu đầy đủ hơn về lâm sản ngoài gỗ
ở mỗi khu vực
- Giá trị của lâm sản ngoài gỗ:
Hầu hết mọi người đều thừa nhận lâm sản ngoài gỗ như một yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, lâm sản ngoài gỗ có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng,v.v đồng thời cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình Lâm sản ngoài gỗ cũng là một bộ phận của rừng, nếu lâm sản ngoài gỗ được sử dụng một cách hợp lý thì
nó đóng vai trò to lớn trong quá trình phục hồi và phát triển rừng ở các nước đang phát triển Lâm sản ngoài gỗ được các nhà nghiên cứu coi như một yếu tố góp phần bảo tồn rừng và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt đới (Clark, 1997)[20] Khi nghiên cứu ở lưu vực sông Công Gô ở Cameroon, L.Clark kết
Trang 22luận:" Sự phát triển của lâm sản ngoài gỗ là một yếu tố đóng góp vào sự bảo tồn
của hệ sinh thái rừng" Trong nghiên cứu của mình, Mendelsohn (1989) đó cho
thấy người ta có thể gặp một đám sản phẩm có giá trị rất cao Peter (1989)[17]
đã tìm thấy những khu rừng với 5 loài cây có giá trị kinh tế cao ở vùng Amazon của Peru Hàng năm chúng cho thu nhập từ 200 - 6000 USD/ha Myers (1980)[21] ước lượng khoảng 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu thụ bởi người địa phương và không bao giờ tính ra tiền mặt Rõ ràng là người dân địa phương đã đạt được lợi ích cơ bản của họ từ những khu rừng kế cận Đối với nền kinh tế của một số nước vai trò của lâm sản ngoài gỗ đó được khẳng định chẳng hạn ở Thái Lan trong năm 1987 đó xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đạt giá trị 23 triệu USD, ở Indonesia cũng trong năm đó đạt 238 triệu USD và ở Malaysia trong năm 1986 xuất khẩu hàng hóa sản xuất từ lâm sản ngoài gỗ đạt xấp xỉ 11 triệu USD (Jenne.H de Beer, 1992) Ở Ấn Độ (1982) lâm sản ngoài gỗ chiếm gần 40% giá trị lâm sản và 60% giá trị lâm sản xuất khẩu Indonesia (1989) thu
436 triệu USD từ lâm sản ngoài gỗ (Lã Quý An, 1999)[1] Ở Lào cũng đề ra mục tiêu đến năm 2000 có thể thu hời 50% nguồn lợi của rừng không phải là gỗ (Cứu lấy trái đất, 1993) Trong một số trường hợp lợi ích thu được từ lâm sản ngoài gỗ lớn hơn nhiều so với thu nhập từ các sản phẩm khác
2.2.1.2 Những nghiên cứu về Hương
Nghi thức dâng hương là tập quán mà hầu như mọi người dân châu Á bất kể lứa tuổi nào và sống ở nơi đâu đều biết đến Nén hương đã đi vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng như một nét đẹp truyền thống, gần gũi và thiêng liêng
Để tìm hiểu sâu hơn về lịch sử của việc sử dụng hương nhang Từ buổi
sơ khai, con người đã thấy rằng khi ngọn lửa cháy lên với một vật liệu dùng
để đốt sẽ tỏa một mùi đặc trưng Khi đốt hương, khói hương nghi ngút tạo nên không khí thanh tịnh, ấm áp và trang nghiêm Theo lịch sử ghi lại, việc đốt nhang bắt nguồn từ khoảng năm 3700 BC (cách đây khoảng 5700 năm), từ nước Ấn Độ Đến năm 618 AD vào đời nhà Tần mới có một vị Tăng đem hương trầm qua Trung Quốc, từ đó hình thức đốt nhang được phát triển mạnh
mẽ và hưng thịnh nhất vào đời nhà Minh, sau đó được phổ biến đến khắp các nước láng giềng Có thể nói hình thức đốt hương phổ biến nhất ở Nhật Bản, tại đây họ lại chế thêm nhiều cách đốt hương: sản phẩm quen thuộc nhất là
Trang 23nén trầm hình tròn đầu nhọn vào thế kỉ 17, ngày nay vẫn còn dùng Nhiều tài liệu cho thấy việc đốt nhang đã có từ thời sơ khai Trong các đền thờ của vua chúa Ai Cập (Ancient Egypt) có rất nhiều những hình vẽ hoặc hình chạm trên tượng mô tả nghi thức này Ngày này việc đốt nhang đã trở thành một tập quán trong các ngày lễ hội như Rằm tháng bảy, lễ Vu Lan, Vía quan Thế Âm, ngày tết hái lộc đầu năm, Phật Đàn và những ngày quan trọng trong gia đình như cúng giỗ, đám tang, đám cưới, ăn tân gia … dùng để cúng những vị như Phật Bà Quan Âm, Đức Mẹ Mary, ông bà, Tam Tiên ông; Phúc Lộc Thọ, Thổ
Địa,Táo Quân,Thần Tài…[16]
Ðời Hán Vũ Ðế, vua nước Hồn Da (Hung Nô) đầu hàng, bắt được pho tượng bằng vàng ở cung Cam Tuyền, khi tế không dùng trâu bò, chỉ đốt hương lễ bái Tục đốt hương bắt đầu từ đấy
2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.2.1 Những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ
Với vai trò quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong thời đại hiện nay, việc làm trước tiên để phát triển chúng ta cần nghiên cứu xác định và phân loại được toàn bộ lâm sản ngoài gỗ, sau đó tập trung nghiên cứu một số loại lâm sản ngoài gỗ có thế mạnh ở nước ta Các kết quả nghiên cứu cho thấy lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam rất phong phú đa dạng
Nhận thức được vai trò quan trọng của lâm sản ngoài gỗ từ năm 1978, nhà nước đã thành lập phòng nghiên cứu Lâm đặc sản, về sau phát triển thành Phân viện Đặc sản rừng và nay là Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam Theo quyết định số 639/TCLĐ ngày 27/9/1995 của Bộ Lâm nghiệp thì Trung tâm Nghiên cứu lâm đặc sản có nhiệm vụ chính là nghiên cứu sản xuất, gây trồng, cải tiến và áp dụng các kỹ thuật khai thác, chế biến và bảo quản lâm sản ngoài gỗ Đây là cơ quan đầu ngành về lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam Trong nhiều năm trung tâm đã nghiên cứu, phát hiện những lâm sản ngoài gỗ có giá trị Ngoài ra những nghiên cứu
về lâm sản ngoài gỗ còn được thực hiện ở một số cơ sở nghiên cứu và đào tạo của ngành lâm nghiệp, nông nghiệp và ngành khác như Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội,
Trang 24Trường Đại học Dược, Viện Dược liệu, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, v.v
Trước đây, xuất phát từ tình hình thực tiễn, sản phẩm có giá trị cao được khai thác từ rừng được gọi là "Đặc sản rừng" Từ năm 1986 cho đến nay, với chủ trương chuyển nền kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị trường, đổi mới quản lý rừng, những nhận thức về vai trò của lâm sản ngoài gỗ trong quá trình xóa đói, giảm nghèo và bảo tồn rừng đã có nhiều thay đổi "Lâm sản phụ" và
" Đặc sản rừng" được gọi chung là "Lâm sản ngoài gỗ" Trong cuốn "Tổng quan lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam" các tác giả Vũ Văn Dũng, Hoàng Hữu Nguyên và Trịnh Vỹ (2001)[5] đưa ra khái niệm lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam như sau: " Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật lấy từ rừng hoặc đất rừng, nó không bao gồm gỗ, củi, than gỗ và các sản phẩm không có nguồn gốc sinh vật Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nhóm tre nứa, mây song, cây thuốc, cây làm thực phẩm, gia vị, tinh dầu, dầu bột, nhựa, nhựa
mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng).v.v " Khác với định nghĩa của J.H de Beer, ở Việt Nam các tác giả đã không xếp củi và than gỗ vào lâm sản ngoài gỗ trong khi
đó khi nghiên cứu ở khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, Hà Tĩnh, một số chuyên gia đã xếp củi và than gỗ trong nhóm lâm sản ngoài gỗ
Từ năm 1996 - 2000, khi nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ, một số nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản đã xác định được danh lục các loài lâm sản ngoài gỗ, trong đó có khoảng 40 loài tre nứa, 40 loài song mây,
60 loài cây có chứa ta nanh, 260 loài cho dầu và nhựa, 160 loài chứa tinh dầu,
70 loài chứa chất thơm và hàng trăm loài làm thức ăn (Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản, 2000) Đến năm 2000, theo tài liệu của Viện Dược liệu Việt Nam đã phát hiện được 3830 loài cây làm thuốc thuộc 1033 chi, 236 họ và
101 bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật Con số này đang ngày càng được bổ sung nhiều hơn (Trần Công Khánh, 2000)[7] Đây là những công trình có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để phát hiện và đánh giá tiềm năng các loài lâm sản ngoài
gỗ ở nước ta, từ đó đề xuất phương hướng phát triển lâm sản ngoài gỗ cho từng khu vực một cách khoa học hợp lý Năm 2000[4], Hà Chu Chử, Trần Quốc Tuý và Jenne H de Beer đã đánh giá về lâm sản ngoài gỗ trong cuốn: "
Trang 25Phân tích phân ngành lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam" Nội dung công trình đã đưa ra được khái niệm, cách phân loại, một số vấn đề và những hạn chế lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam Các tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 600 loài cho ta nanh, 93 loài cho chất màu, 160 loài chỉ cho dầu, 260 loài cho tinh dầu và 1498 loài cho các dược phẩm Tác giả cho rằng trong điều kiện hiện nay, cần tập trung nghiên cứu và phát triển về lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là một số loài đặc hữu, giá trị cao, có thế mạnh ở nước ta như thảo quả ở Lào Cai, trúc sào ở Cao Bằng, quế ở Yên Bái.v.v Đây là những công trình nghiên cứu và phân tích tổng hợp các thế mạnh về ngành lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam Công trình đã đưa ra một cách nhìn mới về tình hình phát triển lâm sản ngoài gỗ ở nước ta hiện nay và từ đó xác định hướng
đi cho ngành lâm sản ngoài gỗ trong tương lai Ở Việt Nam, khung phân loại lâm sản ngoài gỗ đầu tiên được chính thức thừa nhận bằng văn bản là “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhất theo ngành” Đây là văn bản kèm theo Nghị định 16/HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng
về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng Theo danh mục này đặc sản được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại được chia làm nhiều nhóm phụ như sau:
- Nhóm cây rừng cho nhựa, ta nanh, dầu và tinh dầu
- Nhóm cây rừng cho dược liệu
- Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và
Năm 2001, Vũ Văn Dũng và cộng sự đã đề xuất cách phân loại mới Theo các tác giả, lâm sản ngoài gỗ được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm:
- Nhóm1: sản phẩm có sợi
Trang 26Năm 1999, khi nghiên cứu ở Vườn quốc gia Ba Vì, D.A Glimour và Nguyễn Văn Sản (1999) kết luận: lâm sản ngoài gỗ là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống của người dân nông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất rừng, làm suy thoái đa dạng sinh học có nguồn gốc
từ đời sống khó khăn của người dân, lâm sản ngoài gỗ bị sử dụng không hợp
lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nước ta là phát triển tài nguyên lâm sản ngoài gỗ
Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án "Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ" tại vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển lâm sản ngoài gỗ
là một trong những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng sống cho người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội trong khu vực (Lê Thạc Cán và các cộng tác viên, 2001)[3] Ngoài những đóng góp vào thu nhập nhằm cải thiện cuộc sống của người dân miền núi, lâm sản ngoài gỗ còn được đánh giá là một yếu tố góp
phần bảo tồn rừng và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt đới Nhiều loài lâm
sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ các dây leo, cây bụi, cây thảo, cây ký sinh hay phụ sinh sống dưới tán rừng, nên việc khai thác chúng một cách hợp lý sẽ không làm phá vỡ cấu trúc của rừng Do đó rừng kinh doanh lâm sản ngoài gỗ vẫn duy trì được vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng
Trang 27Trong công trình nghiên cứu "giá trị và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở 2 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn" (2001)[10] của Phan Văn Thắng và các cộng sự cho thấy giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ đối với người dân rất lớn 90% số
hộ dân sống dựa vào rừng Sản phẩm khai thác chủ yếu hiện nay là gỗ và lâm sản ngoài gỗ như măng, tre, trúc, hồi, giẻ, và cây dược liệu Thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ trong mỗi hộ gia đình đứng thứ 2 trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu nhập kinh tế
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn của lâm sản ngoài gỗ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi cũng như góp phần vào công tác bảo tồn rừng Nó đã làm thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ trong thời kỳ hiện nay, là cơ sở để đề xuất hướng đi mới trong quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và bảo tồn
2.2.2.2 Những nghiên cứu về Hương
Tra sách Vân Ðài Loại Ngữ của Lê Quý Ðôn (trang 184)[6], ta đọc một đoạn biên khảo rất kỹ về nguồn gốc của sự đốt hương, Lê Quý Ðôn viết: Sách Vân Lộc Mạn sao chém: "Sách Lễ Ký nói: "Khi tế trời phải đốt củi ở trên giao đàn (gọi là thái đàn) Sách Chu Lễ nói: "Ðốt củi thui trâu" nghĩa là để cầu thần Ðời sau không đốt củi, lại đốt hương Hương là do phương Tây sản xuất Nhà Phật khi hành lễ cũng đốt hương cho được thanh tịnh, nên khi làm phép thì đốt hương niệm chú Các đạo sĩ cũng đốt hương tẩy uế, Nho giáo thì trái lại Nay tế thánh Khổng Tử và tế thần xã tắc thì rước thần xong, trước khi dâng lụa, phải dâng hương ba lần Lễ gia không làm thế, hoặc chỉ nơi đô ấp mới làm mà thôi
Sách Minh Chí chép: vua Thái Tổ xuống lệnh hàng tháng cứ mồng một
và ngày rằm, từ quan tế tửu trở xuống đều phải làm lễ thích thái, từ quan quận huyện trở xuống phải đến nhà học làm lễ dâng hương Nay xét, danh nho đời Minh là Tống Liêm có nói: "Ngày xưa cầu thần, khi đã dâng lễ vật rồi là đốt
cỏ tiêu cùng mỡ chiên và cơm (chiên hương), nhưng nay thì thắp hương cho giản tiện
Khâu Tuấn nói: "Tế lễ để tỏ lòng thành kính, chứ không cối ở lễ vật Lễ phải tùy nghi, sao đúng nghĩa là được, đừng câu nệ lấy lễ vật ngày nay để cúng thần đời trước"
Trang 28Kinh Thi có câu: "Thủ tiêu tế chi" (lấy cỏ tiêu và mỡ dê tế) Sách Lễ
Ký nói: "Rót rượu xuống đất để giáng thần thì dùng rượu nghệ cho thơm" chớ không đốt hương Lưu Hướng làm bài minh nói cái hỏa lò Bắc Sơn chỉ để đốt hương, chớ không dùng để tế" Ðời Hán Vũ Ðế, vua nước Hồn Da (Hung Nô) đầu hàng, bắt được pho tượng bằng vàng ở cung Cam Tuyền, khi tế không dùng trâu bò, chỉ đốt hương lễ bái Tục đốt hương bắt đầu từ đấy Không phải qua ngõ Trung Hoa và ở Trung Hoa thì chỉ có vua và các quan mới có quyền làm việc tế lễ, còn ở đất Giao Châu thì "nhà tư" người dân đã bắt đầu cúng tế
từ lâu:
"Trương Tân làm thứ sử Giao Châu, đốt hương và đọc những sách tà
ma Vu Sát thì làm tịnh xá (nhà tư) để đốt hương Ðó đều là các nhà tư dùng hương đốt, chớ không phải của cả nước dùng hương thờ thần"
Mỗi lần, trước khi hành lễ ở các chùa, vị chủ lễ thường chắp tay cầm ba nén nhang dâng lên trên trán và đọc thầm bài kệ niệm hương: Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo đám mây hương, phưởng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo, thề trọn đời giữ đạo, theo tự tánh làm lành, cùng pháp giới chúng sanh, cầu Phật từ gia hộ, tâm bồ đề kiên cố, xa bể khổ nguồn
mê, chóng quay về bờ giác Và chúng ta cũng thường nghe những vần thơ như: lặng lẽ chiên đàn tỏa khói hương, đỉnh trầm xông ngát ý thiền môn, lung linh nến ngọc ngời sao điểm, xóa sạch trần gian hết tủi hờn những vần thơ này đã giới thiệu về những nét đẹp văn hóa của sinh hoạt tín ngưỡng, sinh hoạt tâm linh và cho chúng ta thấy nghi thức dâng hương là nét văn hóa rất đẹp trong nghi lễ thiền môn
Ngày xưa, Lý Thường Kiệt với lời Tuyên ngôn: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư đã từng “mượn” y linh của đền thờ Trương Hống, Trương Hát
mà khích lệ ba quân tướng sĩ, Chính sử và Dả sử còn ghi lại những hiện “âm phù”, “báo mộng” của các Thần linh đối với vua chúa đem quân đi chống giặc Tín ngưỡng niềm tin ấy một khi được giải tỏa nó đã từng có những tác dụng không nhỏ trong cuộc sống của con người, nhiều khi có tác dụng làm lay động cả một cộng đồng
Trang 29Theo Phan Kế Bính “Việt Nam phong tục, 1915”[2], đốt hương xuất phát từ Tây Vức Đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách Khi xưa tục Tàu tế tôn Miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộm với mỡ đốt cho thơm Đến đời vua Vũ đế nhà Hán, sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây Vức) Vua nước ấy đầu hàng, dâng một thân tượng bằng vàng, Vua Vũ Đế đem tượng về đặc trong cung Cam Toàn để dâng hương Tế lễ Kể từ đó Tàu mới có tục đốt hương.
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
Trong khoảng thời gian từ năm 1885 - 1890, người Pháp đã sáp nhập các tổng xung quanh Bình Gia thành đơn vị hành chính có tên gọi là châu Bình Gia Năm 1947, châu Bình Gia được đổi thành huyện Bình Gia Ngày 27/12/1975, tỉnh Lạng Sơn nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng, Bình Gia trở thành huyện của tỉnh Cao Lạng Ngày 29/12/1978, tỉnh Lạng Sơn tái lập, Bình Gia thành huyện của tỉnh Lạng Sơn
- Phía Bắc giáp huyện Tràng Định
- Phía Đông giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng
- Phía Nam giáp huyện Bắc Sơn
- Phía Tây giáp huyện Na Rì- Tỉnh Bắc Kạn
Vị trí địa lý không thuận lợi, cơ sở hạ tầng chậm phát triển, đặc biệt là
hệ thống giao thông là yếu tố khó khăn cơ bản cho việc giao lưu phát triển
Trang 30kinh tế - văn hóa - xã hội giữa Bình Gia và các vùng phụ cận, nhất là trung tâm kinh tế lớn của khu vực
2.3.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Bình Gia bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và núi đá Các dãy đồi núi của huyện Bình Gia đều có độ dốc từ 25°- 30° trở lên Các dải thung lũng hẹp có diện tích nhỏ, không đáng kể vì thế không có sản lượng lúa và hoa màu hàng năm không được cao
Địa hình của huyện có thể chia thành 4 dạng chính sau đây:
- Dạng địa hình núi đá gồm các dãy núi đá phân bố chủ yếu ở các xã phía Tây và Tây Nam như xã Tân Văn, Hoàng Văn Thụ, Tô Hiệu và một phần
ở các xã Minh Khai, Quang Trung và Thiện Thuật
- Dạng địa hình núi đất là phổ biến, độ dốc trên 25°- 30°, chiếm tới 70% diện tích đất tự nhiên Ở dạng địa hình này có thể trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên Ở các dải đồi có độ dốc thấp hơn có thể khai thác phát triển mô hình nông lâm - kết hợp
- Các dải thung lũng hẹp hiện nay chiếm khoảng 3,5% diện tích đất tự nhiên, trong đó nhân dân đã khai thác để trồng lúa chiếm khoảng 91,4% diện tích các dải thung lũng
- Các dải đồi thoải có độ dốc 15°- 20°, có diện tích khoảng 4.000 ha Dạng địa hình này có thể khai thác trồng cây ăn quả như đào, lê, mận, mơ, quýt… và trồng cây công nghiệp lâu năm như cây chè
Địa thế hiểm trở được tạo ra bởi những dãy núi đá vôi dốc đứng, hang động và khe suối ngang, dọc… Đó là một trở ngại, hạn chế đến quá trình sản xuất và đi lại của nhân dân trong huyện, nhưng đó cũng là một trong những điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng nếu biết vận dụng và khai thác tiềm năng thiên nhiên…
Địa hình bị chia cắt mạnh là một hạn chế trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong lĩnh vực đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng: suất đầu tư hạ tầng lớn, về quy hoạch bố trí dân cư cũng gặp nhiều khó khăn, việc tìm được khu đất rộng và tương đối bằng để xây dựng các khu công nghiệp, các khu đô thị gặp nhiều khó khăn, việc mở rộng diện tích sản xuất nông
Trang 31nghiệp để tạo ra các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa theo hướng CNH HĐH cũng rất khó thực hiện
-2.3.1.3 Khí hậu, thủy văn
Bình gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Bắc, là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng mang nhưng nét độc đáo riêng biệt Là huyện có mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc Số liệu theo dõi liên tục về khí hậu trong nhiều năm ở huyện, thu được kết quả trung bình như sau:
- Nhiệt độ không khí trung bình năm : 20,80C
- Nhiệt độ tối cao tuyệt đối : 37,30C
- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối : -1,00C
- Lượng mưa trung bình năm : 1540 mm
- Số ngày mưa trong năm : 134 ngày
- Độ ẩm không khí trung bình năm : 82,0 %
- Lượng bốc hơi bình quân năm : 811 mm
- Số ngày nắng trung bình khoảng : 1.466 giờ/năm
Bình Gia có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi Mùa đông thịnh hành gió đông bắc, lạnh, ít mưa; nhiều năm có sương muối Tuy nhiên gió bắc, gió đông bắc và sương muối không gây ảnh hưởng nhiều đến sự sinh tồn và phát triển của cây hồi và các loại cây ăn quả như đào, lê, mơ, mận…
Mùa hè thịnh hành gió Đông Nam và Tây Nam Nền nhiệt độ cao, thích hợp với đặc điểm sinh thái của nhiều loại cây trồng, trong đó có cây hồi và tập đoàn cây ăn quả nêu trên
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng mưa bình quân năm là
1540 mm Trong các tháng mùa mưa lượng mưa bình quân tháng là 212 mm Lượng nước mưa là nguồn nước tưới thiên nhiên cho các loại cây trồng hoa màu lương thực, cây ăn quả và cây hồi
Huyện Bình Gia không ảnh hưởng bởi gió bão nên thích hợp cho phát triển cây trồng dài ngày đặc biệt là cây hồi và cây ăn quả Với nền nhiệt độ và
số giờ nắng trung bình trong năm như trên cũng rất thuận lợi cho việc bố trí
Trang 32mùa vụ, bố trí các loại cây trồng, là điều kiện để chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa góp phần xây dựng nông thôn mới
2.3.1.4 cơ sở hạ tầng
- Hạ tầng kinh tế
- Hệ thống giao thông - vận tải
Tuyến qốc lộ 1B là tuyến nối liền giữa Lạng Sơn và tỉnh Thái Nguyên, phạm vi tuyến quốc lộ 1B chạy qua địa bàn huyện Bình Gia là 19km, năm
2003 đã được cải tạo và nâng cấp với quy mô đường cấp VI miền núi kết cấu mặt đường dải thảm bê tông nhựa đoạn chạy qua thị trấn được xây dựng theo quy hoạch của huyện, hiện trạng đường còn khá tốt
Tuyến quốc lộ 279 rẽ từ thị trấn Bình Gia tại km60 quốc lộ 1B đi sang huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn, phạm vi chạy qua huyện Bình Gia là 46km đã được cải tạo nâng cấp với quy mô đường cấp VI miền núi mặt đường láng nhựa đoạn chạy qua thị trấn được xây dựng theo quy hoạch của huyện hiện trạng còn khá tốt
Đường tỉnh: trên địa bàn huyện Bình Gia có bốn tuyến đường tỉnh với tổng chiều dài chạy qua địa bàn là 103,14km, gồm ĐT226 (Bình Gia - Thất khê); ĐT231 (Na Sầm - Hưng Đạo); ĐT 232 (Hòa Bình - Bình La - Gia Miễn); ĐT 227 (Pắc Khuông - Thiện Long) cụ thể như sau:
- Đường tỉnh ĐT226 giao với quốc lộ 1B tại km60 đi qua địa bàn
huyện 40,5km Đã được cải tạo nâng cấp với quy mô đường cấp V miền núi mặt đường láng nhựa hiện trạng đường xếp loại trung bình khá
- Đường tỉnh ĐT231 có điểm đầu tại km3 đường tỉnh 232 và điểm cuối tại trung tâm xã Hưng Đạo Đoạn tuyến đi qua đi qua huyện dài 28km, đi qua các xã Hồng Phong, Hoa Thám, Hưng Đạo; đoạn tiếp giáp với huyện Văn Lãng đến Bản Thẳm xã Hoa Thám đã được đầu tư xây dựng mặt đường láng nhựa, hệ thống thoát nước trên tuyến hoàn chỉnh hiện tại thông xe tốt Đoạn còn lại từ thôn Bản Thẳm đến Bản Chu, xã Hưng Đạo có chiều dài 6,4km chưa được đầu tư cải tạo nâng cấp hiện tại đường đất rất xấu
- Đường tỉnh ĐT 227 (Pắc Khuông - Thiện Long) có điểm đầu giao với quốc lộ 279 tại km 205 tuyến đi qua các xã Thiện Thuật, Hòa Bình, Thiện
Trang 33Long Điểm cuối tại thôn Nà Lù xã Thiện Long, chiều dài toàn tuyến 26km, tuyến đường vừa được nâng cấp, quy mô đường đạt tiêu chuẩn cấp V đường miền núi
- Đường tỉnh ĐT232B (Hòa Bình - Bình La - Gia miễn) có điểm đầu giao với quốc lộ 1B tại km30 + 400m điểm cuối giao với đường tỉnh ĐTT231 tại km 14+500m có tổng chiều dài 25,5km Đoạn đi qua địa bàn huyện Bình Gia dài 8,64km, tuyến đường vừa được cải tạo, nâng cấp với quy mô đạt tiêu chuẩn cấp V đường miền núi
Đường huyện: Huyện Bình Gia có 6 tuyến đường với tổng chiều dài là 70,8km gồm:
- Đường ĐH60 (Tân Văn - Bình La) chiều dài tuyến 12km, hiện trạng đường đất rộng từ 4 - 5m rất xấu trên tuyến có 3 vị cầu bản và 2 vị trí ngầm tràn kết hợp cầu bản vẫn còn tốt
- Đường ĐH61 (Hoa Thám - Quý Hòa - Vĩnh Yên), tổng chiều dài Tuyến 17km, đường rộng trung bình 3,5km
- Đường ĐH62 (Khau La - Quang Trung) tổng chiều dài tuyến 14km, nền đường rộng trung bình 4m, đường đất rất xấu các công trình thoát nước trên tuyến có 2 vị trí cầu bản còn tốt và nhiều vị trí cống tròn thoát nước địa hình, 5 vị trí tuyến cắt qua khe hiện tại vẫn còn đi ngầm tự nhiên
- Đường ĐH63 (Bản Phân - Mông Ân) có điểm đầu giao với quốc lộ
279 tại km 194+450m điểm cuối tại trung tâm xã Mông Ân chiều dài toàn tuyến 4km(đường đất) nền đường rộng trung bình 4m, công trình thoát nước mới xây dựng một vị trí còn lại chưa xây dựng hệ thống thoát nước ngang qua trên tuyến còn 1 vị trí tuyến cắt qua suối tự nhiên
- Đường ĐH64 (Khuổi Lào - Yên Lỗ) có điểm đầu giao với quốc lộ 279 tại km213 thuộc xã Thiện hòa điểm cuối tại trung tâm xã, toàn bộ tuyến là đường đất rất xấu có tổng chiều dài là 16,3km Nền đường rộng trung bình 5m, đạt tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn loại A với hệ thống công trình thoát nước hoàn chỉnh
- Đường ĐH65 (Hòa Bình - Tân Hòa) có điểm đầu giao với TL227 tại km8 đường Pắc Khuông - Thiện Long tại thôn Nà Mèo xã Hòa Bình toàn bộ
Trang 34tuyến là đường đất rất xấu có tổng chiều dài là 7,5km Nền mặt đường rộng trung bình 3,5km
Hệ thống đường giao thông đô thị ở thị trấn huyện lỵ:
Đường nội thị: Theo quyết định 1323/QĐ - UBND ngày 14/9/2012 của chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn về việc đặt tên đường phố trên địa bàn thị trấn Bình Gia, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Thị trấn Bình Gia gồm các tuyến đường: Đường 19/4; Đường Hoàng Văn Thụ; Đường Trần Hưng Đạo; Đường Ngô Thị Sĩ; Đường Phai Danh và phố Hòa Bình với tổng chiều dài 4,96km, hiện trạng đường rộng từ 3,5 - 5m đường nhựa nhưng hiện nay đã xuống cấp Ngoài nhưng đường chính này còn nhiều các đường ngõ phố hiện tại rải bê tông xi măng Hệ thống thoát nước mới chỉ được đặt tạm chưa được đầu tư đúng mức
Tổng chiều dài các tuyến đường xã 374,6km; Đường liên thôn, bản, ngõ xóm 433,9km đến nay đã được bê tông hóa được 174km
Tuy có nhiều cố gắng trong huy động vốn đầu xây dựng giao thông của các cấp chính quyền nhân dân, song do nguồn tài chính còn hạn chế nên việc đầu tư xây dựng hệ thống giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là hệ thống giao thông nông thôn, chỉ mới phục
vụ được nhu cầu đi lại bình thường, chưa đáp ứng đầy đủ cho việc vận chuyển hàng hóa để phát triển kinh tế; đến nay nhiều tuyến đường chưa được đầu tư nâng cấp, hoặc có đầu tư nhưng chưa đồng bộ giữa đường và cầu nên khả năng lưu thông vận chuyển hàng hóa chưa được thuận lợi
Mạng lưới giao thông trên địa bàn ngoài những tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện đã và đang được xây dựng theo quy hoạch, còn lại nhưng tuyến đường xã, đường thôn chủ yếu là do nhân dân tự mở nên còn manh mún chưa có định hướng quy hoạch cho tương lai
Thủy lợi: Trong những năm qua, được sự quan tâm của UBND từ tỉnh đến huyện, sự phối kết hợp của các ngành và nhân dân trong huyện, hệ thống thủy lợi đã không ngừng được mở rộng và phát triển Công trình hồ chứa có diện tích tưới từ 50ha trở lên đã có 2 công trình với diện tích thiết kế tưới 400ha Các công trình nhỏ hơn 50ha có 20 công trình với diện tích tưới 250ha Các công trình đập dâng có quy mô tưới từ 30ha trở xuống có trên 20 công trình với diện