- Chăm sóc nuôi dưỡng đàn gia cầm - Tham gia một số công việc khác - Thực hiện đề tài “Xác định tỷ lệ cầu trùng và hiệu quả phòng, trị bệnh của hai loại thuốc Hancoc và Bio – anticoc ở g
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Khoa : Chăn nuôi thú y Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Giáo viên hướng dẫn: TS Ngô Nhật Thắng
Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em đã nhận được sự dạy bảo và giúp đỡ ân cần của các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y, cũng như các thầy cô giáo khác trong trường
đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, tạo cho em có được lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô giáo, cán bộ khoa Chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dạy bảo tận tình chúng em trong toàn khóa học
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Ngô Nhật Thắng đã trực tiếp hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên khích lệ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin kính chúc các thầy cô lãnh đạo nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Đàm Đình Tiến
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong chương trình đào tạo của nhà trường, giai đoạn thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự giúp
đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng, tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Xác định tỷ lệ cầu trùng và hiệu quả phòng, trị bệnh của hai loại thuốc Hancoc và Bio – anticoc ở gà Lương Phượng Hoa tại trại gà thương phẩm huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
Do thời gian và trình độ có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Đàm Đình Tiến
Trang 5TP : Thành phố
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản 11
Bảng 1.2 Lịch phòng Vacxin cho gà 12
Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 14
Bảng 2.1 Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà 20
Bảng 2.2 Thí nghiệm trên gà Lương Phượng 39
Bảng 2.3 Tỷ lệ nuôi sống của gà Lương Phượng qua các tuần tuổi 43 Bảng 2.4 Ảnh hưởng của hai thuốc Hancoc và Bio- anticoc đến tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của gà Lương Phượng qua kiểm tra mẫu phân 45
Bảng 2.5 Ảnh hưởng của thuốc Hancoc đến tỉ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Lương Phượng theo lứa tuổi 47
Bảng 2.6 Ảnh hưởng của thuốc Bio – anticoc đến tỉ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Lương Phượng theo lứa tuổi 48
Bảng 2.7 Kết quả mổ khám bệnh tích qua các tuần tuổi 50
Bảng 2.8 Kết quả khi sử dụng Hancoc và Bio – anticoc để trị cầu trùng trên gà Lương Phượng 51
Bảng 2.9 Chi phí thuốc dành cho phòng, trị bệnh cầu trùng 52
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
Hình 2.1 Biểu đồ so sánh cường độ nhiễm cầu trùng qua kiểm tra mẫu phân
lô I và lô II 46
Trang 8MỤC LỤC
Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH CƠ BẢN 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Địa hình đất đai 1
1.1.1.3 Khí hậu - thủy văn 2
1.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 2
1.1.2.1 Tình hình dân cư 2
1.1.2.2 Giao thông thủy lợi 2
1.1.2.3 Trình độ dân trí 3
1.1.2.4 Tập quán sản xuất 3
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 3
1.1.3.1 Ngành trồng trọt 3
1.1.3.2 Ngành lâm nghiệp 4
1.1.3.3 Ngành chăn nuôi 5
1.1.3.4 Công tác thú y 6
1.1.4 Đánh giá chung 7
1.1.4.1 Thuân lợi 7
1.1.4.2 Khó khăn 7
1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT 8
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 8
1.2.2 Biện pháp thực hiện 8
Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời gian thực tập tại cơ sở bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện như sau: 8
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 8
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 8
1.2.3.2 Công tác thú y 11
1.2.3.3 Các công tác khác 14
1.2.4 Kết luận 15
Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 16
2.1 ĐẶT VẦN ĐỀ 16
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 16
2.1.2 Mục tiêu của đề tài 17
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 17
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 17
2.2.1.1 Đại cương về cơ thể gia cầm 17
Trang 92.2.1.2 Những hiểu biết về bệnh cầu trùng gia cầm 18
2.2.1.2.1 Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia cầm 18
2.2.1.2.2 Bệnh cầu trùng gà 19
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 34
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 34
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 36
2.2.2.3 Một vài nét về gà thí nghiệm 37
2.3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.3.1 Đối tượng 38
2.3.2 Địa điểm 38
2.3.3 Thời gian 38
2.3.4 Nội dung nghiên cứu 38
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu 39
2.3.5.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 39
2.3.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 39
2.3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 42
2.4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 43
2.4.1 Ảnh hưởng của thuốc Hancoc và Bio – anticoc đến tỷ lệ nuôi sống của gà Lương Phượng 43
2.4.2 Ảnh hưởng của hai thuốc Hancoc và Bio- anticoc đến tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của gà Lương Phượng 45
2.4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng của gà Lương Phượng qua kiểm tra phân 45
2.4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi gà 46
2.4.3 Kết quả mổ khám bệnh tích gà bị bệnh cầu trùng 50
2.4.4 Hiệu quả điều trị của thuốc Hancoc và Bio – anticoc trên gà Lương Phượng 51
2.4.5 Chi phí thuốc dành cho phòng, trị bệnh cầu trùng 52
2.5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 53
2.5.1 Kết luận 53
2.5.2 Tồn tại 53
2.5.3 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
I.Tài liệu trong nước 55
II Tài liệu tiếng nước ngoài 56
Trang 10Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH CƠ BẢN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đồng Hỷ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên nằm cách trung tâm thành phố 7 km, với tổng diện tích tự nhiên là 457,75 km2
- Phía đông giáp với huyện Phú Bình
- Phía tây giáp với huyện Phú Lương
- Phía nam giáp với thành phố Thái Nguyên
- Phía bắc giáp với huyện Võ Nhai
Đồng Hỷ có 17 xã và 3 thị trấn, trong đó có 2 xã vùng cao Tuy là một huyện miền núi nhưng Đồng Hỷ có vị trí giáp với thành phố Thái Nguyên, có quốc lộ 1B và dòng sông Cầu chảy qua địa bàn, là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của huyện
- Địa hình
Huyện Đồng Hỷ có diện tích tự nhiên là 457,75 km2
, có địa hình phức tạp gồm núi đá, núi đất và cánh đồng xen lẫn đồi núi
Toàn huyện chia làm 3 vùng rõ rệt: Vùng núi phía Bắc, vùng trung tâm
và vùng phía Nam
Vùng núi phía Bắc: Gồm các xã như Văn Lăng, Hòa Bình, Tân Long, Quang Sơn, Hóa Trung, Minh Lập, Sông Cầu chủ yếu là đất đồi dốc, đất trồng lúa ít, tập trung cây lâm nghiệp, chè, ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và trồng lúa nương rẫy
Vùng trung tâm: Gồm các xã như Chùa Hang, Cao Ngạn, Hóa Thượng là vùng có diện tích trồng lúa lớn nhất, cánh đồng tương đối bằng phẳng, ngoài ra còn trồng thêm rau màu chăn nuôi tiểu gia súc
Vùng núi phía Nam: Gồm các xã như Khe Mo, Văn Hán, Cây Thị là các xã vùng núi của huyện chủ yếu là ruộng xen lẫn đồi núi thích hợp cho việc trồng lúa và chăn nuôi đại gia súc
Trang 11Là huyện thuộc vùng Đông Bắc Bộ nên khí hậu cũng chịu ảnh hưởng chung của tiểu khí hậu trong vùng được chia làm 2 mùa rõ rệt
Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2037mm, nhiệt độ trung bình là
23oC, mùa hè có ngày lên đến 37 - 39oC, mùa đông có khi nhiệt độ xuống còn
Do tính chất vị trí địa lý nên sự phân bố dân cư trong huyện chưa được đồng đều, các khu vực gần thị trấn, gần trục đường chính mật độ dân cư đông, sống tập trung hơn
Huyện vẫn còn nhiều hộ nghèo, năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo trong huyện vẫn còn 21,16%
- Giao thông: Đồng Hỷ có sông Cầu chảy qua và quốc lộ 1B nối liền trung tâm huyện với thành phố Thái Nguyên và một số huyện lỵ khác đã thúc
Trang 12đẩy quá trình phát triển kinh tế, xã hội của huyện Một số tuyến đường từ trung tâm huyện đến các xã đã được rải nhựa và bê tông hóa Song do địa bàn phân bố rộng, một số tuyến đường giao thông vẫn chưa được tu sửa lại làm cho việc đi lại của người dân còn gặp khó khăn, đặc biệt là 2 xã vùng cao Văn Lăng và Tân Long
- Thủy Lợi: Huyện đã kiên cố hóa một số kênh mương thủy nội đồng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tười tiêu, nông dân chủ yếu vẫn trông chờ vào nguồn nước tự nhiên nên hiệu quả sản xuất chưa cao Nguồn nước sạch phục vụ chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng kịp thời, chủ yếu tập trung ở một số trại chăn nuôi lớn như: Tân Thái
Huyện đã duy trì và củng cố tốt thành quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong huyện
Toàn huyện có 49 trường học công lâp, trong đó:
- Trường tiểu học: 27 trường
- Trường trung học cơ sở: 20 trường
Bênh cạnh đó, hiện nay nhiều gia đình trong huyện đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi thâm canh quy mô nhỏ và bước đầu đạt kết quả tốt
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt là nghành sản xuất chính của nhân dân trong huyện do huyện
có diện tích đất đai và khí hậu phong phú Đây là những yếu tố cơ bản để huyện phát triển nghành trồng trọt
Trang 13* Rau đậu các loại
- Rau các loại: Tổng diện tích là 1210,8 ha, sản lượng đạt 18160 tấn/năm, năng suất đạt 150 tạ/ha
- Đậu các loại: Tổng diện tích là 339,6 ha, sản lượng đạt 208 tấn/năm, năng suất đạt 6,11 tạ/ha
* Cây công nghiệp hàng năm
- Đỗ tương: Tổng diện tích là 220,9 ha, sản lượng đạt 275 tấn/năm, năng suất đạt 12,44 tạ/ha
- Lạc: Tổng diện tích là 363,7 ha, sản lượng đạt 374 tấn/năm, năng suất đạt 10,27 tạ/ha
- Mía: Tổng diện tích là 1210,8 ha, sản lượng đạt 18160 tấn/năm, năng suất đạt 150 tạ/ha
- Cây chè: Thực hiện mô hình cải tạo và sản xuất chè an toàn, trồng mới được 60 ha chè cành
Phần lớn đất tự nhiên của huyện là đất đồi núi phù hợp cho việc phát triển kinh tế Vườn – Rừng Qua 5 năm thực hiện chương trình PAM, toàn huyện đã trồng được trên 6000 ha rừng Rừng chủ yếu là bạch đàn, keo tai tượng, mỡ nhiều xã cơ bản đã phủ xanh đất trống đồi núi trọc Diện tích rừng tự nhiên được chia khoang vùng cho nhân dân chăm sóc, bảo vệ và trồng
bổ sung Năm 2007 diện tích trồng rừng tập trung (trồng mới) đạt 1096 ha
Trang 14- Huyện có diện tích đồi núi rộng, có nguồn thức ăn phong phú
- Người dân chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng nên sản phẩm phụ của ngành trồng trọt tương đối lớn Đó là nguồn thức ăn bổ sung để thúc đẩy nghành chăn nuôi phát triển
* Chăn nuôi lợn
Lợn là loài gia súc được nuôi chính của nhân dân trong huyện Tổng đàn lợn thịt trong huyện là 53869 con, trong đó có 10241 lợn nái, 43628 lợn thịt, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 4716 tấn/năm
* Chăn nuôi trâu bò
Trâu bò là loài gia súc quan trọng được nuôi chủ yếu để cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng trọt và cung cấp thực phẩm cho con người Trong những năm gần đây, đàn trâu bò không ngừng được gia tăng Tổng đàn trâu trong huyện là 15789 con, trong đó có 14796 trâu cày kéo Tổng đàn bò trong huyện là
5375 con, trong đó bò cày kéo là 1163 con Sản lượng thịt là 33 tấn/năm
* Chăn nuôi dê
Đồng Hỷ có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đàn dê Một
số xã có núi đá vôi như: Hóa Thượng, Hóa Trung, Quang Sơn, Tân Long có diện tích chăn thả lớn, nguồn thức ăn phù hợp với đặc tính loài dê Tuy nhiên,
số lượng dê ở đây chưa nhiều (huyện mới có 1236 con dê), do ngành chăn nuôi dê chưa được chú ý đầu tư, nông dân chưa xác định được lợi ích của nghành chăn nuôi dê Mặt khác, phương thức chăn nuôi của người dân nơi đây chủ yếu là chăn thả tự do, mang tính quảng canh Vì vậy, tình trạng dê bị đồng huyết nhiều làm cho dê sinh con ra bị còi cọc, chậm lớn, tỷ lệ chết của
dê con từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi rất cao
Trang 15* Chăn nuôi ong
Đồng Hỷ có diện tích đồi núi lớn, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển đàn ong Toàn huyện có 3404 đàn ong, cho 19882 lít mật/năm
* Chăn nuôi gia cầm
Chăn nuôi gia cầm là ngành chăn nuôi có từ rất lâu đời Trong những năm gần đây chăn nuôi gia cầm đã có những bước chuyển biến rõ rệt Nhiều gia đình đã đầu tư vốn vào chăn nuôi gia cầm quy mô lớn, theo phương thức chăn nuôi công nghiệp các giống cao sản như : CP707, Lương Phượng, Ngan Lai Pháp dòng R51, R71, Do đó, đàn gia cầm trong huyện luôn được duy trì trên 515000 con, sản lượng thịt gia cầm đạt 728 tấn/năm, số trứng các loại đạt
8494000 quả/năm
* Nuôi trồng thủy sản
Huyện có diện tích mặt nước ao hồ khoảng 210 ha Những năm gần đây
đã được chuyển giao khoa học kỹ thuật và xây dựng mô hình nuôi cá, tôm càng xanh Sản lượng thủy sản đạt 180 tấn/năm Tuy nhiên, do diện tích mặt nước nhỏ, lẻ, nằm rải rác, thời tiết khô hạn, mặt khác, do người dân chưa thực
sự quan tâm đầu tư khai thác đến nguồn lợi thủy sản nên việc nuôi trồng thủy sản còn nhiều hạn chế
Huyện Đồng Hỷ có mạng lưới thú y từ huyện đến cơ sở, từ trạm thú y huyện đến Thú y viên Hàng năm, trạm tổ chức tốt công tác tiêm phòng cho gia súc, gia cầm nên công tác tiêm phòng đạt hiệu quả cao, không để xảy ra dịch lớn Hàng năm, vào tháng 3 – 4, và tháng 9 – 10, trạm thú y, phòng nông nghiệp kết hợp với Thú y cơ sở tiến hành tiêm phòng tốt cho đàn gia vật nuôi trên địa bàn huyện như:
- Tiêm vacxin Tụ huyết trùng trâu bò
- Tiêm vacxin Tụ dấu lợn
- Tiêm vacxin Cúm gia cầm
- Tiêm vacxin dại cho chó
Trang 16- Vấn đề vệ sinh, tiêm phòng dịch cho đàn gia súc, gia cầm đã được người dân quan tâm nhiều so với trước
- Địa hình phức tạp nhất là các xã vùng cao, dân sống rải rác, rất khó khăn cho công tác điều tra đàn gia súc, gia cầm
- Tập quán chăn nuôi của người dân cơ bản là lạc hậu
- Đời sống vật chất, tinh thần của người dân còn rất khó khăn, còn nhiều hộ nghèo đói
- Có nhiều thành phần dân tộc khác nhau, trình độ dân trí không đồng đều nên việc phổ biến, tuyên truyền khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế
- Đối với trạm thú y: Do cơ sỏ vật chất còn hạn chế, thiều các dụng cụ thí nghiệm cần thiết nên công tác chẩn đoán và thí nghiệm không thu được những kết quả thuận lợi cho việc phòng ngừa dịch bệnh
Trang 171.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
- Tìm hiểu tình hình sản xuất, chăn nuôi của huyện
- Tham gia vệ sinh, phòng chống dịch bệnh
- Chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm
- Chăm sóc nuôi dưỡng đàn gia cầm
- Tham gia một số công việc khác
- Thực hiện đề tài “Xác định tỷ lệ cầu trùng và hiệu quả phòng, trị bệnh của hai loại thuốc Hancoc và Bio – anticoc ở gà Lương Phượng Hoa tại trại gà thương phẩm huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
1.2.2 Biện pháp thực hiện
Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời gian thực tập tại cơ
sở bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện như sau:
- Tìm hiểu tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập và khu vực vành đai
- Tham gia công tác chẩn đoán, chăm sóc nuôi dưỡng đàn gia cầm
- Thường xuyên liên hệ, xin ý kiến chỉ đạo chuyên môn của thầy giáo hướng dẫn
- Lấy mẫu, soi kính hiển vi để xác định noãn nang cầu trùng gây bệnh
- Nghiêm chỉnh chấp hành các quy định tại cơ sở và phòng thí nghiệm
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
Kết hợp với thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học của mình tôi đã tiến hành nuôi gà theo từng quy trình kỹ thuật cụ thể như sau:
* Công tác chuẩn bị chuồng trại:
Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống từ 10 – 15 ngày
và quét dọn sạch bên trong và bên ngoài, sau đó quét vôi và phun sát trùng bằng dung dịch formol 3% Tất cả dụng cụ chăn nuôi như máng ăn, máng uống, quây, chụp sưởi đều được vệ sinh sạch sẽ và phun thuốc sát trùng trước khi đưa vào chuồng nuôi Đệm lót được sử dụng là trấu được phơi khô sạch sẽ và phun thuốc sát trùng trước khi đưa gà vào nuôi một ngày Tùy theo thời tiết mà đệm lót dày hay mỏng, khoảng từ 5 – 10 cm, phải chuẩn bị đệm
Trang 18lót khi cần bổ sung Chuồng nuôi khi đưa gà vào sử dụng phải đảm bảo về các thông số kỹ thuật, chuồng phải đảm bảo khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm
áp về mùa đông có chụp sưởi, rèm che và đèn chiếu sáng
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà mà ta áp dụng quy trình chăm sóc cho phù hợp
- Giai đoạn úm gà con: Khi nhập gà về chuồng nuôi chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây và cho uống nước ngay, nước uống cho gà phải sạch và pha thêm B.complex, điện giải, vitamin C cho gà uống hết lượt sau 1h mới cho ăn bằng khay
Giai đoạn đầu nhiệt độ trong quây là 35 – 37oC Sau 1 tuần tuổi nhiệt
độ cần thiết là trên 30oC, sau đó nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh chụp sưởi, đảm bảo nhiệt độ thích hợp theo quy định Trường hợp nếu gà tập trung đông, tụ đống dưới chụp sưởi là hiện tượng gà thiếu nhiệt cần hạ thấp chụp sưởi, hoặc tăng bóng điện Nếu gà tản đều dưới chụp sưởi là nhiệt độ thích hợp, gà đứng há mồm ra thở và tản rộng là nhiệt độ nóng quá, quây gà, máng ăn, máng uống đều điều chỉnh theo tuổi gà, ánh sáng phải đảm bảo cho gà ăn
- Nuôi gà thịt (giai đoạn 21 – 70) ngày tuổi: Ở giai đoạn này gà phát triển nhanh nên ăn nhiều Thức ăn cho gà ở giai đoạn này có kích thước to hơn để phù hợp với khẩu vị của gà Thành phần dinh dưỡng phải đảm bảo protein thô 21%, năng lượng trao đổi là 2900 kcal/kg thức ăn Hàng ngày phải cung cấp đủ thức ăn nước uống cho gà ăn tự do và thay nước 2 lần/ ngày
- Nuôi gà sinh sản (từ 21 ngày tuổi trở đi): Thời gian nuôi gà sinh sản được chia ra thành các giai đoạn khác nhau: Giai đoạn gà con, giai đoạn gà dò
và hậu bị, giai đoạn sinh sản
- Giai đoạn gà con (từ 4 – 6 tuần tuổi): Giai đoạn này gà tiếp tục sinh trưởng với tốc độ nhanh nên việc cung cấp thức ăn cho gà phải đảm bảo đầy
đủ cả số lượng và chất lượng, cụ thể là: Hàm lượng protein thức ăn phải đạt từ
18 – 20%, năng lượng trao đổi đạt từ 2750 – 2800 kcal/kg Ngoài ra, cần phải đảm bảo đầy đủ và cân đối các axit amin thiết yếu đặc biệt là lyzin và methionin Ở giai đoạn này, gà được nuôi với chế độ ăn tự do
Trang 19- Giai đoạn gà dò và hậu bị (từ 7 tuần tuổi đến đẻ bói): Nuôi dưỡng gà trong giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng để nâng cao khả năng sinh sản của gà ở giai đoạn tiếp theo Vì vậy, yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc trong giai đoạn này phải đảm bảo cho gà sinh trưởng, phát dục bình thường, gà không quá béo, không quá gầy và đảm bảo độ đồng đều cao về khối lượng Thức ăn trong giai đoạn này phải đảm bảo có 15 – 17% protein, năng lượng trao đổi biến động từ 2600 – 2700 kcal/kg thức ăn
Chế độ chăm sóc trong giai đoạn này hết sức quan trọng phải thường xuyên theo dõi khối lượng của gà để điều chỉnh tăng giảm thức ăn cho phù hợp Chú ý khống chế thức ăn phù hợp để đến khi gà vào đẻ đạt khối lượng chuẩn quy đinh cho từng giống
Về cách cho ăn có thể áp dụng theo 2 phương pháp sau: Một là cho 3 ngày ăn 1 ngày nhịn hoặc là ngày nào cũng cho ăn theo khẩu phần khống chế Khẩu phần này được xác định tùy theo khối lượng cơ thể gà Cứ 50g khối lượng cơ thể vượt so với quy định giảm 5g thức ăn/gà/ngày, nhưng lượng thức ăn không thấp hơn ở tuần trước Chỉ cho ăn một bữa để giảm những ảnh hưởng xấu và stress cho gà Khi phân phối thức ăn vào máng, phải đảm bảo trong vòng 4 phút tất cả các máng đều có thức ăn Máng ăn cho gà giai đoạn này cần treo cao cho gờ miệng máng luôn ngang với lưng gà để tránh rới vãi thức ăn (chú ý trong giai đoạn nuôi khống chế phải khống chế cả nước uống)
Hàng ngày theo dõi và giám sát tình trạng sức khỏe của gà Khi phát hiện ra gà có những triệu chứng biểu hiện bệnh tiến hành chẩn đoán và có biện pháp điều trị kịp thời cho đàn gà Trong quá trình nuôi dưỡng chúng tôi tiến hành tiêm chủng Vacxin cho gà theo chủng loại liều lượng và lịch phòng bệnh cho gà hàng tuần Thực hiện nghiêm ngặt chế độ chiếu sáng về thời gian
Trang 20để làm gà mái làm quen Thường xuyên bổ sung đệm lót mới và vệ sinh sạch
sẽ, hạn chế gà đẻ xuống sàn
Kiểm tra loại thải gà mái đẻ kém, không đẻ Căn cứ vào tỷ lệ đẻ, khối lượng gà hàng tuần điều chỉnh khối lượng thức ăn cho phù hợp Trứng được thu nhặt 2 lần/ngày để hạn chế đảm bảo trứng không bị dập vỡ
* Chế độ chiếu sáng
Chế độ chiếu sáng cùng với chế độ ăn có tác dụng kích thích hay kìm hãm sự phát dục của gà trống và gà mái sớm hay muộn hơn quy định Chúng tôi thực hiện chế độ chiếu sáng theo hướng dẫn của viện chăn nuôi như sau:
Bảng 1.1 Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản Tuần tuổi Thời gian Cường độ W/m 2 chuồng nuôi
Chúng tôi sử dụng vacxin phòng bệnh cho đàn gia cầm theo lịch như sau:
Trang 21Bảng 1.2 Lịch phòng Vacxin cho gà Ngày
10 Gumboro lần 2 Nhỏ miệng 1 – 2 giọt
25 Gumboro lần 3 Nhỏ miệng 1 – 2 giọt
Lasota lần 2 Nhỏ mắt hoặc mũi 1 giọt
35 Newcastle hệ 1 Tiêm dưới da 0,5 ml/con
43 Cúm gia cầm lần 2 Tiêm dưới da gáy
* Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD, hen gà)
- Nguyên nhân: Bệnh do Mycoplasma galliseptum gây ra Các yếu tố
tác động gây nên bệnh cho gà như điều kiện thời tiết, dinh dưỡng kém, chuồng trại không đảm bảo vệ sinh (chật chội, ẩm thấp) làm cho gà giảm sức
đề kháng và dễ mắc bệnh
- Triệu chứng: Gà mắc bệnh có biểu hiện chảy nước mắt, nước mũi, thở khò khè, phải há mồm ra để thở, xõa cánh, gà hay khoét mỏ xuống đất, đứng ủ rũ, có tiếng rít rất điển hình (nghe rõ về đêm), gà kém ăn, gầy đi nhanh chóng
- Bệnh tích: Xác gà gầy, nhợt nhạt, khi quản có dịch, niêm mạc có
chấm đỏ, phổi nhợt nhạt Khi ghép với E.colli thấy xuất huyết dưới da, lách
sưng, ruột xuất huyết
Trang 22- Điều trị:
+ Anti – CRD: Liều 2g/l nước uống, dùng liên tục trong vòng 3 – 5 ngày Tất cả các loại bệnh khi điều trị cần kết hợp với các loại thuốc nhằm
tăng sức đề kháng như: B.complex (1g/3 lít nước), vitamin C, đường glucose
+ Bệnh CRD thường ghép với bệnh E.colli, do đo khi điều trị bệnh
chúng tôi sử dụng Bio – Enragloxacin 10%, liều lượng 1ml/2 lít nước uống dùng trong 3 – 5 ngày
* Bệnh bạch lỵ gà con
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và
Salmonella pullorum gây ra
- Triệu chứng: Gà con mắc bệnh biểu hiện kém ăn, lông xù, ủ rũ, phân
có màu trắng, phân loãng dần và dính quanh hậu môn Đối với gà thường ở thể mãn tính
Eimeria gây ra Bệnh thường gây tác hại nhiều nhất đối với gà con 1 tuần đến
3 tháng tuổi, tỷ lệ chết cao, con khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn Hiện nay
đã có 9 loài cầu trùng thuộc giống Eimeria được phát hiện, trong đó có 6 loài
thường gây bệnh, đó là:
1 Eimeria necatrix 4 Eimeriamitis
2 Eimeriabrunetti 5 Eimeria acevulia
3 Eimeria maxima 6 Eimerianecatrix
* Triệu chứng:
- Thể cấp tính: Gà biểu hiện mệt mỏi, ủ rũ, kém ăn, phân loãng toàn nước hoặc phân màu gạch cua, phân sáp, phân lẫn máu tươi hoặc hoàn toàn máu tươi Gà gầy dần, lông xù, cánh xõa, gầy dần và chết
Trang 23- Thể mãn tính: Biểu hiện gần giống thể cấp tính nhưng mức độ nhẹ hơn Phân lỏng, lầy nhầy lẫn máu, gà gầy, tỷ lệ chết thấp
* Điều trị: Sử dụng một trong các loại thuốc sau:
1 Esb3 30% 1,5-2g/lít nước (uống 3 ngày liên tục, nghỉ 2 ngày, dùng tiếp 2 ngày nữa)
2 Hancoc 1,5-2ml/lít nước uống, dùng liên tục 4-5 ngày
3 Baycox 2,5% 1g/lít nước (dùng 2 ngày liên tục)
4 Bio-anticoc 1g/lít nước uống, dùng liên tục 5 ngày
Bên cạnh đó còn sử dụng thêm các thuốc trợ sức, trợ lực như: GlucoK-C; T; All-Zym, điện giải
Trong thời gian thực tập, ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thí nghiệm, bản thân tôi còn tham gia một số công việc khác như: Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh, tiêm Vacxin cho gia súc, gia cầm
Bảng 1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Tỷ lệ (%)
+ Sát trùng chuồng trại m2 800m2
Trang 24đã đem lại những bài học thiết thực cho bản thân
Để thực hiện tốt nhiệm vụ trước hết cần nắm vững kiến thức chuyên môn, tranh thủ học hỏi kiến thức thực tế, phải say mê nghề nghiệp, thường xuyên học tập kinh nghiêm của người đi trước Ngoài ra, cần đi sâu vào thực
tế, làm tốt công tác dân vận, tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương
và sự ủng hộ của bà con nông dân, hiểu được tâm tư, nguyện vọng của họ trong quá trình chăn nuôi, nắm bắt được tình hình chăn nuôi của người dân hiện nay
Trang 25Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
“Xác định tỷ lệ cầu trùng và hiệu quả phòng, trị bệnh của hai loại thuốc Hancoc và Bio – anticoc ở gà Lương Phượng Hoa tại trại gà thương phẩm huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
2.1 ĐẶT VẦN ĐỀ
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nghành chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí rất quan trọng, các sản phẩm của chăn nuôi gia cầm luôn có vị trí tiêu thụ đứng hàng đầu so với các sản phẩm động vật khác Nó không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao, cân đối mà còn chế biến được nhiều món ăn ngon phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Bên cạnh đó, chăn nuôi gia cầm cũng phù hợp với nhiều đối tượng chăn nuôi, chi phí đầu tư thấp, quay vòng vốn nhanh, góp phần không nhỏ nâng cao đời sống người chăn nuôi Ngành còn cung cấp các sản phẩm phụ cho nghành công nghiệp chế biến và trồng trọt Chính vì lẽ đó mà trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm rất được chú trọng đầu tư, nhiều giống mới được tạo ra, được nhập khẩu về nước, những tiến bộ di truyền mới được ứng dụng trong chăn nuôi ngày càng nhiều Vì thế chăn nuôi gia cầm đã thu được những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng
Trước nhu cầu thực tiễn sản xuất trên, nước ta đã nhập một số giống gà lông màu có khả năng sinh trưởng tốt, trong đó có giống gà Lương Phượng, được nhập khẩu từ Trung Quốc, là gà lông màu, có khả năng thích nghi cao với khí hậu Việt Nam, dễ nuôi, nhanh lớn, thịt thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nghành chăn nuôi, thì dịch bệnh xảy
ra ngày càng nhiều, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và ảnh hướng đến sức khỏe con người Một trong những bệnh thường gặp nhất phải kể đến là bệnh cầu trùng Nó làm cho khả năng sinh trưởng cũng như chất lượng sản phẩm kém, nếu không được phòng trị kịp thời sẽ gây thiệt hại rất lớn về kinh tế
Trang 26Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh cầu trùng gây ra trên đàn gia
cầm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác định tỷ lệ cầu trùng và hiệu quả phòng, trị bệnh của hai loại thuốc Hancoc và Bio – anticoc ở gà Lương Phượng Hoa tại trại gà thương phẩm huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” 2.1.2 Mục tiêu của đề tài
- Điều tra tình hình nhiễm bệnh cầu trùng trên đàn gà Lương Phượng
tại trại gà thương phẩm xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh cầu trùng trên đàn gà
Lương Phượng
- Xác định sự ảnh hưởng của việc dùng thuốc đến tỷ lệ sống của gà
Lương Phượng trong phòng và trị bệnh cầu trùng
- Bản thân tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Đại cương về cơ thể gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại Gia cầm có nhiều đặc điểm giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ, thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng sau ấp nở thành gia cầm non Quá trình trao đổi chất của gia cầm lớn, thân nhiệt cao (40 – 42oC) nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phân như: Hệ tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, tuần hoàn, sinh dục Nhưng cấu tạo giải phẫu sinh lý gia cầm lại
có nhiều đặc điểm khác với gia súc Đặc biệt là hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ sinh dục trong đó:
- Hệ hô hấp của gia cầm gồm: Xoang mũi, khí quản, phế quản và 9 túi khí chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch hoàn của gia cầm nằm trong mà quá trình sinh sản vẫn diễn ra bình thường
- Hệ tiêu hóa: Cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo và chức năng bao gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến,
dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy và gan
Trang 27Khoang miệng của gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ
có vai trò lấy, thu nhận thức ăn, không có tác dụng nghiềm nhỏ Thức ăn vào miệng được thấm nước bọt, sau được nuốt xuống thực quản, thực quản phình
to tạo thành diều Trong thức ăn được thấm ướt, làm mềm một phần hydrat cacbon tạo ra quá trình vi sinh vật diều Thức ăn từ diều qua dạ dày tuyến tương đối nhanh Dịch vị của dạ dày tuyến có HCl và men pepsin tham gia phân giải protein thành pepton Sau đó thức ăn được nghiền nhỏ và thấm đều dịch vị Ở dạ dày cơ dưới tác dụng của HCl và men pepsin protein tiếp tục được phân hủy, hydrat cacbon cũng được phân giải nhờ tác dụng của vi sinh vật trong thức ăn Thức ăn từ dạ dày cơ được chuyển xuống ruột non dưới tác dụng của dịch ruột, dịch tụy và dịch mật các chất dinh dưỡng cơ bản trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu
Ở ruột non quá trình tiêu hóa diễn ra là chủ yếu, glucid được phân giải thành đường đơn Lipit thành glyxerin và acid béo, protein thành các peptid
và các acid amin để cơ thể hấp thụ và lợi dụng được
Ở manh tràng quá trình phân giải các chất trên còn tiếp tục diễn ra nhờ men ở đường ruột tồn tại và do vi sinh vật tiết ra nhưng rất ít Quá trình tiêu hóa chất xơ của gia cầm cũng nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật lên men nhưng hoạt động kém
Thức ăn qua đường tiêu hóa của gà rất nhanh (gà con 2 – 4 giờ), gà lớn
4 - 5 giờ) Do đặc điểm này nên khi gà nuốt phải noãn nang cầu trùng thì noãn nang sẽ cùng thức ăn chuyển theo đường tiêu hóa xuống ruột non, manh tràng, trực tràng, nên quá trình xâm nhập, gây bệnh của cầu trùng xảy ra nhanh, vòng đời của cầu trùng ngắn (5 – 7 ngày)
2.2.1.2 Những hiểu biết về bệnh cầu trùng gia cầm
2.2.1.2.1 Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia cầm
Bệnh cầu trùng là một loại bệnh kí sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật nuôi thuần chủng, thú hoang và con người do một nhóm
nguyên sinh đơn bào thành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, chủng
Eimeria, 2 giống Eimeria và Isospora Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, tỷ
lệ chết cao, đặc biệt là súc vật non Ờ gà và thỏ, bệnh gây thiệt hại lớn nhất (tỷ
lệ chết cao ở gà con, thỏ con có thể lên tới 80 – 100%)
Trang 28Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài là một kén hay là noãn nang
(Oocyst) là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu Có 3
lớp vỏ: Lớp ngoài cùng rất mỏng, bên trong có chứa nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, giữa nguyên sinh chất có chứa một nhân tương đối to
Cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ hình
thành 4 bào tử, mỗi bào tử hình thành 2 bào tử con Bào tử con có hình lê, chính bào tử con này sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan và gây ra những tổn thương bệnh lý
Cầu trùng thuộc giống Isospora thì nhân và nguyên sinh chất phân chia thành
hai bào tử, mỗi bào tử phân chia thành 4 bào tử con và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột
Cùng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một số loài cầu trùng ký sinh riêng Cầu trùng gà không ký sinh lên ngan, ngỗng Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng kí sinh ở manh tràng không ký sinh ở ruột non và ngược lại ở gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau Gà con bị nhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà lớn, gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng
2.2.1.2.2 Bệnh cầu trùng gà
Bệnh cầu trùng gà nói riêng và bệnh cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung
là một bệnh phổ biến khắp thế giới Nó được A Luvenhuch phát hiện từ năm
1632 tức là cách đây trên 370 năm và cùng với thời gian nghiên cứu về dịch
tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch thuốc và điều trị đã được các nhà khoa học mọi thời đại dày công nghiên cứu và khám phá (Lê Văn Năm, 2003) [13] Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1996) [8], thì bệnh cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ 2 sau bệnh do vi trùng gây nên Cầu trùng gà có vòng đời ngắn (5 – 7 ngày) và không cần ký chủ trung gian Bệnh cầu trùng gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà nhất là chăn nuôi công nghiệp mật độ cao (tỷ lệ chết từ 50 – 70% số gà nhiễm bệnh) Bệnh thường gây hậu quả nghiêm trọng
ở gà từ 5 – 90 ngày tuổi Gà con sau khi mắc bệnh rất khó hồi phục, chậm lớn, còi cọc, ở gà trưởng thành chủ yếu là vật mang trùng và giảm tỷ lệ đẻ
Trang 29Theo Lê Văn Năm (1999) [12], cầu trùng làm tăng số gà còi cọc, giảm tốc
độ tăng trọng, gây chết từ 30 – 100% ở gà con (nếu không chữa kịp thời), giảm 20 – 40% sản lượng trứng ở gà đẻ
Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà
Trải qua quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã chỉ ra tác nhân gây bệnh cầu trùng gia cầm với những đặc điểm sinh học của chúng
Bảng 2.1 Một số đặc điểm phân loại cầu trùng gà Diễn giải
Loài
Hình dạng Kích thước (µm) Lỗ noãn Sinh sản
bào tử (giờ)
- Eimeria tenella thường ký sinh ở manh tràng, Oocyst màu xanh nhạt
Đây là loài gây bệnh mạnh nhất ở gà con Thời gian sinh bào tử giao động tương đối lớn (18- 48 giờ)
- Eimeria maxima chủ yếu ký sinh ở đoạn giữa ruột non Oocyst có màu hơi vàng, vỏ Oocyst hơi sần sùi là những đặc điểm dễ nhận thấy khi
phân loại
- Eimeria acervulina có hình dạng Oocyst gần giống E.maxima nhưng
kích thước nhỏ hơn Một đặc điểm có ý nghĩa quan trọng về phân loại từ thời gian sinh bào tử 13 – 17 giờ ở nhiệt độ 28 – 30oC (ngắn nhất so với thời gian sinh bào tử của các loài cầu trùng khác)
- Eimeria mitis có đặc điểm dễ phân biệt là Oocyst dạng tròn, thời gian
sinh bào tử biến động tương đối lớn (24 – 48 giờ) Thường ký sinh ở đầu ruột non Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ, trong các tế bào biểu bì nhung mao
Trang 30thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6 – 21 thể phân đoạn và các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5
- Eimeria necatrix là loài có độc lực cao song mức độ phổ biến và khả năng gây bệnh thấp hơn loài E.tenella, vị trí gây bệnh ở ruột non và cả manh tràng, nhưng Oocyst E.necatrix có thời gian sinh bào tử ít biến động và không bao giờ tới 48 giờ như E.tenella
- Eimeria paraecox có Oocyst hình bầu dục, nguyên sinh chất dạng tròn
có nhân giữa, hạt cực không rõ là đặc điểm khác biệt so với các loài cầu trùng khác cùng có vị trí ký sinh đầu ruột non
- Eimeria mivatia loài cầu trùng này thường gây bệnh ở bề mặt niêm mạc ruột, Oocyst có kích thước chiều ngang nhỏ nhất trong số 3 loài cầu trùng
gà có hạt cực
- Eimeria hagani là loài có độc lực yếu, thường ký sinh ở phân đầu ruột non Oocyst có thời gian sinh sản bào tử ổn định nhất so với Oocyst các loài
ký sinh ở phần đầu ruột non (48 giờ)
- Eimeria brunetti là loài cầu trùng có độc lực cao, thường ký sinh ở
ruột già Đây là loài có thời gian sinh sản bào tử luôn ổn định 24 giờ Thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếu trong ruột già, đôi khi ký sinh ở phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt
Ở nước ta, kết quả phân loại cầu trùng tìm được cho thấy tùy từng khu vực
có thể có từ 5 – 8 loài cầu trùng gây bệnh cho gà
Theo Hoàng Thạch và cs (1999) [17], đã tìm thấy sự có mặt của 8 loại cầu trùng gây bệnh trên gà nuôi tại miền Nam nước ta So với 9 loại cầu trùng tìm thấy của các tác giả trên thế giới thì Việt Nam chưa thấy nói tới
E.paraecox Phân loại cầu trùng tìm thấy trên các đàn gà nuôi tại các tỉnh phía
Bắc, các tác giả qua nhiều thời gian nghiên cứu về phân loại như: Dương Công Thuận (1995) [20]; Phan Lục, Bạch Mạch Điều (1999) [10] đã cho biết
có 6 loại cầu trùng gà đã được phát hiện là: E.tenella, E.necatrix, E.maxima,
E.mitis, E.brunetti, E.acervulina
Trang 31Vòng đời của cầu trùng gà
Vòng đời của cầu trùng gà gồm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn ở ngoài tự nhiên: Noãn nang được thải theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào tử
(cầu trùng Eimeria phát triển thành 4 bào tử) Lúc đó trở thành noãn nang gây
nhiễm (Oocyst gây nhiễm)
+ Giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ: gà nuốt noãn nang gây nhiễm vào
tới ruột, noãn nang vỡ ra giải phóng 4 bào tử gọi là Trophotozoit bám vào tế bào biểu mô ruột, tiếp tục phát triển thành Schizotes Schizotes tiếp tục phát triển và phân chia tạo thành Schizogonie và vỡ thành Schizogoit, Schizogoit tiếp tục phát triển thành Merozoit rồi thành tế bào đực (tiểu phôi tử) và tế bào
cái (đại phôi tử) Tế bào đực và tế bào cái kết hợp với nhau tạo thành hợp tử
rồi thành noãn nang (Oocyst) Noãn nang theo phân gà ra ngoài và tiếp tục
vòng đời tiếp theo Thời gian hoàn thành vòng đời 5 – 7 ngày
Sự nhiễm bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng là một bệnh phổ biến, do sức đề kháng cao đối với tác động điều kiện khí hậu không thuận lợi, các loại thuốc sát trùng, thiếu biện pháp có hiệu lực chống sự xâm nhập của bệnh, khả năng tái sinh sản lại nhanh
Noãn nang cầu trùng ở trong đất có thể duy trì sức sống đến 4 – 9 tháng, có thể sống được 15 – 18 tháng ở sân, nơi râm mát Môi trường ẩm ướt
và nhiệt độ ôn hòa là điều kiện thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển, nhiệt
Schizontes
Schizogoni
e
Schizogoit Hợp tử
Tế bào cái (Đại phôi tử)
Tế bào đực (Tiểu phôi tử)
Mezoroit
Trang 32Sức đề kháng của noãn nang đối với nhiệt độ cao và khô hạn tương đối yếu Khi độ ẩm 21 – 30%, nhiệt độ 18 - 40oC thì E.tenella sau 1 – 5 ngày sẽ chết
Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải noãn nang cầu trùng có sức gây bệnh Noãn nang lẫn vào trong thức ăn, nước uống, đất, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi trở thành nguồn lây nhiễm bệnh Các loài chim, gà, gia súc, động vật gặm nhấm, côn trùng, người đều có thể là nguồn reo rắc căn bệnh Người ta đã nghiên cứu khi thấy ruồi hút phải noãn nang vào tời ruột ruồi thì
nó có thể duy trì sức gây nhiễm trong 24 giờ
Thời gian nhiễm bệnh cầu trùng được chia thành 2 thời kỳ:
- Thời kỳ tiền phát: Kéo dài từ khi gà nhiễm phải noãn nang cầu trùng cho đến khi xuất hiện nang trứng trong phân
- Thời kỳ phát bệnh: Từ khi xuất hiện nang trứng trong phân đến khi nang trứng biến mất hoàn toàn khỏi cơ thể
Khi nuôi dưỡng quản lý không tốt, sẽ tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển và gây bệnh nặng Thức ăn thiếu sinh tố cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển rầm rộ Gà nuôi trong môi trường ẩm thấp, sân chơi quá nhỏ, thức ăn không tốt, vệ sinh thú y kém, chuồng nuôi chật hẹp, sự thiếu hiểu biết tuân thủ quy tắc chăn nuôi là điều kiện thuận lợi cho bệnh cầu trùng phát triển, lây lan
Mùa phát bệnh cầu trùng thường vào mùa xuân, thu Ở những xí nghiệp chăn nuôi lớn, nuôi gà nhiều theo lối tập trung công nghiệp, mật độ cao, bệnh có thể phát ra bất cứ thời gian nào Sự nhiễm bệnh chỉ xảy ra qua đường tiêu hóa
Bệnh cầu trùng gà thường tiến triển âm thầm, âm ỉ làm con vật còi cọc, chậm lớn, sức đề kháng giảm, dễ kế phát bệnh khác Khi gặp điều kiện thuận lợi cầu trùng phát triển thành ổ dịch lớn, mang tính hủy diệt, tỷ lệ chết cao, đặc biệt ở gà con tỷ lệ chết có thể lên tới 100% Ngoài ra, bệnh còn làm giảm tốc độ sinh trưởng 12 – 30%, gà đẻ giảm 20 – 40% sản lượng trứng Với gà công nghiệp thì rất mẫn cảm với bệnh vì sức đề kháng kém, gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế cho chăn nuôi gà
Trang 33Quá trình sinh bệnh
Quá trình sinh bệnh được hình thành từ những tác động trực tiếp của mầm bệnh Quá trình sinh bệnh có thể có hại gây bệnh cho ký chủ xảy ra phụ thuộc vào số lượng cầu trùng, số lượng các tế bào chúng ký sinh và phá hủy tại đường ruột, đường mật và thận Ngoài việc trực tiếp phá vỡ các tế bào niêm mạc dẫn đến rối loạn chức năng cho những cơ quan chúng khu trú, mà tại đó chúng còn phá vỡ các mao mạch, mao quản xung quanh gây chả máu bệnh trong, xuất huyết,
Theo Kolapxki và Paskin (1980) [7], trong niêm mạc, ký sinh trùng phát triển mạnh bằng sinh sản vô tính và làm cho hàng loạt tế bào biểu bì chết Người ta xác định rằng, một con vật mắc bệnh cầu trùng thải ra môi trường hàng ngày từ 9 – 980 triệu nang trứng Điều đó có nghĩa là trong cơ thể con vật ốm, hàng ngày bị chết trên 500 triệu tế bào biểu bì ruột Không những các tế bào chứa cầu trùng mà cả những tế bào bên cạnh, những mao mạch, mao quản cũng bị phá hủy
Theo Lê Văn Năm (2003) [13], từ những tác động trực tiếp của mầm bệnh, các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng trong cơ thể gà và các yếu tố thứ phát, nhờ vào khả năng tái sinh nhanh ở tất cả các loài, đặc biệt các loài có độc lực cao gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột Từ đó một số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp dưới niêm mạc, các mạch quản thần kinh bị hủy hoại đã hình thành các điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật khác phát triển, xâm nhập vào cơ thể làm bệnh càng nặng và có thể gây bội nhiễm các bệnh khác Do niêm mạc bị tổn thương nên nhiều đoạn ruột không tham gia vào quá trình tiêu hóa làm cho con vật bị thiếu dinh dưỡng gây rồi loạn tiêu hóa, dẫn tới ngưng đọng các độc tố, phù nề các cơ quan và mô bào Sự phá hủy các
tế bào ruột làm cho viêm ruột gây rối loạn chức năng và hấp thu và vận động của ruột gây ra ỉa chảy, quá trình viêm tăng sinh làm dịch gỉ tiết ra nhiều gây khó khăn hấp thu chất dinh dưỡng làm mất sự cân bằng nước tiểu trong cơ thể gà
Các thể bào tử cầu trùng nhiễm vào các tế bào biểu bì ở những khe hốc,
ở đó từ 24 – 48 giờ, sự phát triển các thể phân lập đời 1 sẽ kết thúc Mỗi thể phân lập chứa tới 900 đoạn Các thể phân đoạn của đời 1 nhiễm vào tế bào
Trang 34biểu bì màng niêm mạc manh tràng, sau đó di cư sâu vào lớp biểu bì, ở đó 72 giờ, sau khi chúng nhiễm vào sẽ phát triển các thể phân lập đời 2 Các thể phân lập đời 2 này qua 24 giờ chúng phân giải, phá hủy những lớp biểu bì bên dưới, phá hủy lưới mao mạch gây ra xuất huyết mạnh Sau đó, thể phân lập đời 2 lại chui vào tế bào biểu bì màng niêm mạc và bắt đầu hình thành các tế bào giao tử cái, các tế bào giao tử đực Thể phân lập có tới đời 3 tiến triển ở các tế bào biểu bì
Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là các thể phân lập đời 2, phát triển thành số lượng lớn trong các vách ruột sẽ phá hủy màng niêm mạc ruột, gây ra chảy máu nhiều Lớp dưới niêm mạc, xoang ruột chứa đầy những tế bào biểu bì bị hủy hoại Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rối loạn, màng niêm mạc bị tổn thương là cửa mở cho vi khuẩn, các độc tố xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiễm trùng, nhiễm độc tố
Cầu trùng sinh ra độc tố làm gà trúng độc, thể hiện ở những rối loạn về thần kinh: Sã cánh, lờ đờ, kém nhanh nhẹn Cầu trùng chiếm đoạt dinh dưỡng
là dịch tổ chức tế bào biểu mô ruột làm gà thiếu dinh dưỡng
Những điều trên cho thấy sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể gà bị bệnh cầu trùng Sự phát triển quá trình bệnh lý cuối cùng dẫn tới suy sụp trạng thái chung của gà ốm, cuối cùng là gà chết
Sự miễn dịch của gà đối với bệnh cầu trùng
Tất cả các giống gà đều mắc bệnh cầu trùng Gà từ 20 ngày tuổi tới 2 tháng tuổi bị bệnh nặng nhất Sau khi gà khỏi bệnh gà sẽ có miễn dịch với loài cầu trùng chúng đã nhiễm phải Song vấn đề miễn dịch trong bệnh cầu trùng cho tới nay vẫn chưa được công nhận đầy đủ nhất, vì vậy chúng tôi cho rằng vấn đề này cần được nghiên cứu rộng rãi hơn Miễn dịch đối với bệnh cầu trùng gà là miễn dịch có trùng và do sự tái nhiễm thường xuyên đã đảm bảo cho sự ổn định mầm bệnh trong cơ thể gà có miễn dịch
Những nghiên cứu tiếp tục về miễn dịch cũng đã xác nhận rằng: Cường độ miễn dịch trong bệnh cầu trùng không đồng đều và phụ thuộc vào loài cầu trùng, vào liều cầu trùng gây miễn dịch, số lượng gây nhiễm, khả năng gây nhiễm của loài cầu trùng, trạng thái cơ thể gà và nhiều yếu tố khác Cường độ