1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.

67 335 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mạn tính, làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng.. Xuất phá

Trang 1

- -

VŨ THỊ HẢI

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO

GIUN TRÒN TRICHOCEPHALUS SPP GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN

YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y

Khoa : Chăn nuôi thú y

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

- -

VŨ THỊ HẢI

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO

GIUN TRÒN TRICHOCEPHALUS SPP GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN

YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y

Khoa : Chăn nuôi thú y

Giáo viên hướng dẫn : TS Phan Thị Hồng Phúc

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

Yên Sơn , em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do

giun tròn Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị”

Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của nhà trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ Trạm Thú y huyện Yên Sơn, cán bộ

xã và các hộ gia đình chăn nuôi lợn tại các xã ở địa phương nơi em thực tập cùng với sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập và trong thời gian thực tập

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn

TS Phan Thị Hồng Phúc, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS Nguyễn Thị Bích Ngà đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp CNTY 42 đã quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Một lần nữa em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc cán bộ, nhân viên Trạm thú y huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang mạnh khỏe, công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt và thành công trong cuộc sống

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Vũ Thị Hải

Trang 4

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2

3.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 2

3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

2.1.1 Những hiểu biết về giun Trichocephalus 3

2.1.1.1 Vị trí của giun T suis trong hệ thống phân loại động vật học 3

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn 3

2.1.1.3 Vòng đời của giun T suis lợn 6

2.1.1.4 Sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh 7

2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn 8

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do giun T suis gây ra ở lợn 8

2.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis 8

2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh 11

2.1.2.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 12

2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn 14

2.1.2.6 Biện pháp phòng và trị bệnh giun T suis cho lợn 17

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 20

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22

Trang 5

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 26

3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 26

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 26

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 26

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 27

3.3.1 Xác định loài giun và hình thái, kích thước của giun Trichocephalus spp ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 27

3.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 27

3.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh giun T suis lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 27

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.4.1 Phương pháp xác định loài giun và hình thái, kích thước của giun Trichocephalus spp ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 27

3.4.1.1 Phương pháp xác định thành phần loài giun T suis ký sinh ở lợn 27

3.4.1.2 Phương pháp đo kích thước của giun T suis trưởng thành và trứng 28

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 28

3.4.2.1 Phương pháp điều tra công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh giun T suis nói riêng cho lợn ở huyện Yên Sơn 28

3.4.2.2 Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình nhiễm giun T.suis ở lợn 28

3.4.2.3 Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu, thu nhận trứng giun T suis 30

Trang 6

3.4.3.1 Xác định khối lượng lợn để tính liều thuốc sử dụng 31

3.4.3.2 Phương pháp xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn 31

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 32

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Xác định loài giun và hình thái, kích thước của giun Trichocephalus spp ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 33

4.1.1 Kết quả mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn Trichocephalus spp ở huyện Yên Sơn 33

4.1.2 Kết quả định danh loài giun T suis ký sinh ở lợn tại huyện Yên Sơn 34

4.1.3 Một số đặc điểm sinh học của giun T suis ở huyện Yên Sơn 35

4.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh T suis lợn 37

4.2.1 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun T suis cho lợn nói riêng ở tỉnh Tuyên Quang 37

4.2.2.Tình hình nhiễm giun T suis lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 38

4.2.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis lợn ở các địa phương 38

4.2.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo tuổi lợn 40

4.2.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo phương thức chăn nuôi 42

4.2.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo tình trạng vệ sinh thú y 44

4.3 Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 46

4.3.1 Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 46

4.3.2 Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 47

4.4 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn 48

Trang 7

5.3 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 9

huyện Yên Sơn 33

Bảng 4.2 Kết quả định danh loài giun tròn giống tóc ký sinh ở lợn tại huyện Yên Sơn 35

Bảng 4.3 Một số đặc điểm sinh học của giun T suis ở huyện Yên Sơn 36

Bảng 4.4 Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun T suis cho lợn nói riêng ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang 37

Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis lợn ở các địa phương 38

Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis theo tuổi lợn 40

Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis 42

theo phương thức chăn nuôi 42

Bảng 4.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T suis 44

theo tình trạng vệ sinh thú y 44

Bảng 4.9 Hiệu lực của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 46

Bảng 4.10 Độ an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn trên thực địa 47

Trang 10

Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis 7

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ lợn nhiễm giun T suis ở các địa phương 39

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ lợn nhiễm giun T suis theo tuổi 42

Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ lợn nhiễm giun T suis theo phương thức chăn nuôi 44

Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ lợn nhiễm giun T suis theo tình trạng vệ sinh thú y 45

Trang 11

PHẦN 1 : MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp, có hơn 80 % dân số sống bằng nghề nông, vì vậy phát triển kinh tế không thể không nói đến ngành chăn nuôi và trồng trọt

Trong ngành chăn nuôi thì nghề chăn nuôi lợn chiếm một vị trí hết sức quan trọng, cung cấp phần lớn số lượng thịt trên thị trường, bên cạnh đó còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt

Sở dĩ ngành chăn nuôi lợn chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi là nhờ các đặc điểm sinh vật học ưu việt của lợn như: Khả năng sinh sản cao, ăn tạp, chi phí thức ăn/1kg thức ăn tăng trọng thấp, thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng được nhu cầu xã hội

Để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, ngoài việc chú ý tới các yếu tố như giống, khí hậu, điều kiện chăn nuôi thì công tác thú y cũng là một công việc rất quan trọng, quyết định đến năng suất chăn nuôi và sự phát triển của đàn lợn Công tác thú y còn góp phần nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm của ngành chăn nuôi

Đặc biệt nước ta nằm trong vùng Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới nóng

ẩm nên thuận lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh

cho vật nuôi Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn

ra ở thể mạn tính, làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn

và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng Nguy hiểm hơn,

ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập gây bệnh Trong bệnh ký sinh

Trang 12

trùng thì bệnh do giun tròn Trichocephalus spp ký sinh ở đường tiêu hóa

được coi là loại bệnh phổ biến trên đàn lợn ảnh hưởng đến chất lượng và số

lượng sản phẩm

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang chúng tôi

nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn

Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

và biện pháp phòng trị’’

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Xác định loài giun và hình thái, kích thước của giun Trichocephaluss spp ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis lợn tại huyện

Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ

bệnh và biện pháp phòng trị bệnh giun T suis ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh

Tuyên Quang

3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi về

biện pháp phòng trị bệnh giun T suis cho lợn có hiệu quả

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Những hiểu biết về giun tròn Trichocephalus suis

2.1.1.1 Vị trí của giun T suis trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Skrjabin K.I (1979) [38], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] vị trí

của giun tròn Trichocephalus suis (T suis) trong hệ thống phân loại động vật

như sau:

Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933

Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928

Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928

Họ Trichocephalidae Baird, 1953

Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911

Giống Trichocephalus Schrank, 1788

Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T suis lợn

Theo Skrjabin K I (1979) [38], hình thái cấu tạo của giun tròn T suis

như sau: Con đực: Dài trung bình 40,35 mm; tối thiểu 33 mm; tối đa 48 mm Chiều dài phần trước trung bình 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1mm (12 - 19 mm) Tỷ lệ chiều dài phần trước với phần sau 1,68 : 1 Thân phủ lớp cutin, trên lớp cutin có nhiều rãnh ngang nên lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,044 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092

mm Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc

Trang 14

xích Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi Hệ thống sinh dục gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân Đuôi con đực vòng xoắn

ốc Giao gai hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn Gai có chiều dài nằm trong khoảng từ 1,74 - 2,84 mm Chỗ rộng nhất của gai gốc gai dài 0,084 - 0,110

mm Có bao gai bọc xung quanh và cùng với gai nhô ra khỏi lỗ huyệt Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân 24 - 42; Ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 46 Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044

mm Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai 0,079 - 0,159 mm Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay

là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân Chiều dài của chỗ gập 0,242 - 0,330 mm; rộng 0,290 - 0,352 mm

Con cái: Thân dài trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53

mm Phần trước mỏng, phần sau dày Chiều dài phần trước của thân trung bình 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau 15 mm (13 - 18 mm) Trên danh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ Âm hộ nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự

do (0,050 - 0,075 mm) Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4 µm) Tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, nằm ngay trước âm hộ, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng Đuôi con cái tù Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm Màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến vàng sẫm

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] đã mô tả giun T suis như sau:

Con đực: Dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng

Trang 15

xoắn lò xo Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn Bao gai phủ đầy gai nhỏ Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi

Con cái: Cơ thể dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài 23 - 33 mm Ống sinh dục đơn Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm

Phan Địch Lân và cs (2005) [16] cho biết: Loài giun T suis trông giống

như một sợi tóc, màu trắng Cơ thể chia làm hai phần rõ rệt:

Phần đầu: Nhỏ, dài như sợi tóc, chiếm 2/3 chiều dài cơ thể, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt

Phần sau: Ngắn và to hơn phần đầu, bên trong chứa các cơ quan nội tạng của giun như: Ruột, cơ quan sinh dục…

Giun đực: Dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun

Giun cái: Dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm

hộ ở đoạn cuối thực quản Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm Hai cực có hai nút trong, vỏ dày

có 2 lớp

Hình 2.1 Giun Trichocephalus suis

a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực

(Nguồn: Phan Địch Lân và cs, 2005)[16]

Trang 16

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: Hình thể của giun T suis

giống như một sợi tóc màu trắng Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản

2.1.1.3 Vòng đời của giun T suis lợn

Skrjabin K I (1979) [38] cho biết: Giun T suis phát triển không cần

vật chủ trung gian Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng

Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [30], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4]

tuổi thọ của giun T suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng

Bonner Stewart T và cs (2000) [36] cho biết: Khi lợn nuốt phải những

ấu trùng giun T suis này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm

mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành

Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], thời gian hoàn thành vòng đời

của giun tròn T suis là 30 ngày

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15], vòng đời phát triển của

giun T suis diễn ra theo sơ đồ sau:

Trang 17

Hình 2.2 Sơ đồ vòng đời của giun T suis

Giun T suis trưởng thành kí sinh ở manh tràng đẻ trứng, trứng theo

phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng) qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm Trứng này lẫn vào thức ăn, nước uống, nếu gia súc ăn phải, vào đường tiêu hóa trứng nở thành ấu trùng, thọc sâu phần đầu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng

thành Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy từng loài giun T suis nhưng đối với T suis cần 30 ngày

2.1.1.4 Sức đề kháng của trứng giun T suis lợn ở ngoại cảnh

Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [23], ở ẩm độ tối đa (gần 100%) và nhiệt độ 22oC thì trứng phát triển được đến giai đoạn trứng cảm nhiễm Nhưng cũng điều kiện ẩm độ như trên mà ở 30oC thì trứng sẽ chết sau 1

tháng Nhiệt độ phát triển thuận lợi nhất của trứng giun Trichuris trichiura

(giun tóc người) ở ngoại cảnh là 25 - 30oC Thời gian là 17 - 30 ngày tỷ lệ trứng có ấu trùng gần 90% Nhiệt độ lên quá 50oC làm hỏng phần lớn trứng

trước khi tới giai đoạn trứng cảm nhiễm Như vậy, trứng giun T suis và trứng giun Trichuris trichiura có giới hạn nhiệt độ phát triển thuận lợi ở ngoại cảnh

tương tự nhau

Trang 18

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], trứng giun T suis bị diệt dưới

tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên tới

45oC sẽ làm hủy trứng giun T suis Tuy nhiên, trứng non có khả năng chịu

đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng cảm nhiễm

Theo Lehand S Shapiro (2005) [45], trứng giun T suis có thể tồn tại

rất lâu (vài năm) trong đất Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: Ở

30oC cần 17 ngày, ở nhiệt độ thất hơn, thời gian này kéo dài hơn Ở 10oC trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống Nhiệt độ từ 45oC trở

lên diệt được trứng giun T suis Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15]: Trứng giun T suis có vỏ dày nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh

2.1.2 Bệnh giun T suis ở lợn

2.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do giun T suis gây ra ở lợn

Bệnh ký sinh trùng thường là những bệnh mãn tính, làm giảm mức sinh trưởng và sinh sản của gia súc, ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi Lợn nuôi lấy thịt chậm lớn, sụt cân, phẩm chất thịt giảm (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982) [29]

Bonner Stewart T và cs (2000) [36] cho biết: Tại Mỹ, nội ký sinh trùng

ở lợn hàng năm gây thiệt hại ước tính khoảng 538 triệu đô la, bao gồm thiệt hại do lợn chết, tiêu hủy, giảm thu và chi phí để tẩy giun sán

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], T suis ký sinh là một trong

những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi và tạo điều kiện cho các

mầm bệnh khác xâm nhập Lợn bị bệnh giun T suis giảm tăng trọng từ

15 - 20% so với lợn khỏe

2.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T suis

* Động vật mắc bệnh

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [35], lợn nhà và lợn rừng đều cảm

nhiễm với giun T suis

Trang 19

Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [34], người nhiễm bệnh sau khi

nuốt phải trứng giun T suis lẫn trong nước hay thức ăn thực vật chưa được nấu chín Sau khi vào người, trứng cảm nhiễm phát triển thành giun T suis

trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người Giun đẻ trứng, trứng này được bài xuất ra ngoài qua phân người, sau khi phát triển thành trứng cảm nhiễm thì có khả năng gây nhiễm lại lợn (tuy nhiên tỷ lệ trứng phát triển chỉ

có 11%, trong khi trứng giun T suis ở lợn có tỷ lệ phát triển là 86%) Bùi Qúy Huy (2006) [7] cho biết : Giun T suis ở lợn và giun Trichuris trichiura ở

người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng nguyên, do

đó bệnh giun T suis dễ lây sang người

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [12] cho biết: Lợn sau khi cai sữa ở

tỉnh Thái Nguyên nhiễm giun T suis 23,01% - 27,01%

* Đường lây nhiễm

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [17], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống

Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa lợn bệnh và lợn khỏe trong cùng một

ô chuồng Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ

Lây nhiễm gián tiếp: Dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tác nhân mang mầm bệnh Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm

giun T suis từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác

Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng

giun theo bụi, mang trứng giun T suis từ chuồng này sang chuồng khác gây

phát tán mầm bệnh

* Tuổi mắc bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [26], bệnh thường xảy ra nặng nề đối

với lợn con dưới 6 tháng tuổi Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun T suis

nhẹ hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng

Trang 20

Lương Văn Huấn và cs (1990) [6] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun T suis

theo tuổi lợn như sau:

Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4%

Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 21,2%

Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5%

Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4%

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], lợn ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi

nhạy cảm nhất với giun T suis Kết quả điều tra tại hợp tác xã Tiền Phong (Hà Nội), lợn Ỉ lai Yorkshire, Berkshire có tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn dưới

2 tháng tuổi là 16%, trong khi lợn 5 tháng tuổi nhiễm 13,5 % và lợn 7 tháng tuổi nhiễm 6,2% Tại hợp tác xã Đông Mỹ (Hà Nội) tỷ lệ lợn dưới 2 tháng

tuổi nhiễm giun T suis là 20,8 % Ngày tuổi bình quân phát hiện trứng giun

T suis trong phân lợn nội là 74 ngày (từ 58 - 89 ngày), lợn lai Landrace 56

ngày (43 - 64 ngày), lợn Berkshire 61 ngày (56 - 75 ngày), lợn lai Yorkshire 76 ngày và lợn ngoại 62 ngày (38 - 81 ngày)

Theo Phạm Sĩ Lăng và cs (2009) [19], tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn

theo tuổi ở Hà Nội như sau: Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30%, lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8%

* Vùng mắc bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], bệnh giun T suis ở lợn phân bố

trên toàn thế giới Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các

tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm T suis từ

4,3 - 30% (ở lứa tuổi từ 2 - 6 tháng) và 0,56 - 7,8% (ở lứa tuổi trên 6 tháng)

Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [26], kết quả điều tra ở các lò mổ các

tỉnh, tỷ lệ nhiễm giun T suis ở lợn như sau: Nghĩa Lộ: 40,3% ; Quảng

Ninh: 33,7% ; Thanh Hóa: 12,5%; Hải Hưng: 15,1% ; Nam Hà: 33,3%; Hà Bắc: 27,3%

Trang 21

* Phương thức chăn nuôi

Giun tròn T suis là loài phát triển trực tiếp nên tỷ lệ nhiễm trong đàn

lợn là rất cao, lên đến 100% Còn những loài giun sán phải qua ký chủ trung gian thì tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thức ăn trồng ở nước hay ở cạn, sự tồn tại của ký chủ trung gian và điều kiện vệ sinh chăn nuôi (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [28]

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [28], mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân lợn tại xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho biết: Tỷ

lệ nhiễm các loài giun tròn ở lợn thả rông là 47 % (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [28] Bornay F J và cs (2003) [49] cho biết: Kiểm tra 5 trại lợn chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tại tỉnh Alicante (Tây Ban

Nha) thấy tỷ lệ nhiễm T suis là 11%

2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh

* Đường xâm nhập

Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [19) Nguyễn Thị

Kim Lan và cs (2012) [15] cho biết: Bệnh giun T suis lây nhiễm trực tiếp

không qua vật chủ trung gian Trứng cảm nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ

qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn trứng giun T suis

* Đường bài xuất mầm bệnh

Lợn mắc bệnh sau một thời gian bài xuất trứng theo phân ra ngoài ngoại cảnh Vì vậy, trứng được phát triển rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành trứng cảm nhiễm (trứng có ấu trùng bên trong)

* Vị trí gây bệnh

Giun T suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng

và kết tràng

Trang 22

* Quá trình sinh bệnh

Phần đầu của giun T suis nhỏ, dài, cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn

thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể vật chủ Ngoài ra, trong

quá trình sinh sống, giun T suis thải ra cặn bã và độc tố làm con vật trúng độc

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [1999]: Giun T suis lấy dịch

tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy

Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn, giun T suis còn gây tác

hại nặng nề cho lợn

- Tác hại cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], Phạm

Sỹ Lăng và cs (2006) [18], phần đầu của giun T suis cắm sâu vào thành ruột

gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạn tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ

- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], giun

T suis ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm nhập

Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn

- Tác hại tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun T suis bài tiết

ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa

2.1.2.4 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

* Triệu chứng lâm sàng

Theo Skrjabin K.I (1979) [38], triệu chứng bệnh giun T suis phụ thuộc

vào cường độ nhiễm Khi nhiễm nặng lợn có biểu hiện da khô, xù lông, ỉa

chảy rồi bị táo bón… Độc tố do T suis tiết ra có tác dụng gây bệnh mạnh,

làm cho vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo và bị phân hủy

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [17]: Phần đầu của giun T suis cắm

sâu vào thành ruột để hút chất dinh dưỡng gây tổn thương, tạo điều kiện cho

Trang 23

viêm ruột già nhiễm khuẩn Các tổn thương cũng có thể gây xuất huyết ruột

già, nên lợn có hội chứng lỵ

Lợn trưởng thành nhiễm giun T suis thường không thể hiện rõ các triệu

chứng lâm sàng Lợn con ở các lứa tuổi 2 - 4 tháng bị nhiễm giun xuất hiện các dấu hiệu: Ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhày như mũi, lẫn máu Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải cong lưng để rặn, nhưng phân chỉ ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị kiết lị Nếu không được điều trị kịp thời lợn con sẽ bị kiệt sức rồi chết sau 6 - 10 ngày Lợn bị bệnh mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm

Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không có nhung mao nhưng có vi nhung mao Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nước còn ruột già là nơi hấp thu nước Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu bù trừ nước khi ruột non tiết nhiều Tuy nhiên những tổn thương ở ruột già do tác

động của giun T.suis kí sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước, dẫn đến

tiêu chảy

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15]: Khi nhiễm nhẹ thì triệu trứng không rõ, khi nhiễm nặng thì con vật ăn kém, gầy yếu, thiếu máu, tiêu chảy, trong phân có lẫn máu và những mảnh niêm mạc ruột bị bong tróc Con vật có khi bị kiết lỵ, đi ngoài liên tục nhưng mỗi lần đi rất ít phân, phân lẫn máu và chất nhày Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ và lợn 6 tháng tuổi trong giai đoạn vỗ béo thì rất ít bị bệnh

* Bệnh tích

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [29], khi lợn bị nhiễm bệnh giun

T suis nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm Niêm mạc ruột

bong ra

Phạm Sỹ Lăng (2009) [19] mổ lợn bệnh thấy: Niêm mạc ruột bị viêm, xuất huyết Trên niêm mạc có nhiều giun trưởng thành cắm sâu vào niêm mạc ruột

Trang 24

Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4] cho biết: Về mặt tổ chức học, giun

T suis ký sinh gây viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vết

loét và tạo nhiều niêm dịch

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15]: Lợn bị bệnh giun T suis xác chết gầy, có nhiều giun T suis ở ruột già (nhất là manh tràng) Một số giun T suis vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được Trên

niêm mạc ruột có những lỗ loét to bằng hạt đậu xanh Khi bị nhiễm nặng, toàn

bộ ruột già có giun T suis ký sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần sùi, xuất huyết,

lớp chất nhầy trên niêm mạc có màu hồng sẫm Niêm mạc ruột có thể bị bong tróc từng mảng

2.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun T suis ở lợn

* Với gia súc sống

Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu

định lượng Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun T suis ký sinh Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm giun T suis ở lợn Nghiên cứu định lượng nhằm xác định số lượng trứng

trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun

Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉa chảy…

Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể

Trang 25

trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến

hành xét nghiệm phân tìm trứng giun T suis (theo Nguyễn Thị Kim Lan và

- Phương pháp phù nổi (Fulleborn)

Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muối NaCl bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun Trứng sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 hoặc 400

Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lít nước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bề mặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn

Cách xét nghiệm phân: Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân khoảng 5 -

10 gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán Để phân vào cốc (nên dùng cốc nhựa) cho tiếp nước muối bão hòa vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khối lượng phân Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua phễu lọc vào

lọ tiêu bản Cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được giữ lại

Sau khi đã để yên từ 15 - 20 phút, dùng vòng vớt lớp váng phía trên mặt dung dịch để lên phiến kính sạch, đậy lá kính và kiểm tra dưới kính hiển

vi tìm trứng giun tròn

Trang 26

2 với thời gian và tốc độ như trên, dùng vòng vớt để vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên các phiến kính sạch, đậy lá kính, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm trứng giun

- Phương pháp Cherborvich: Phương pháp này hoàn toàn giống phương pháp Darling, chỉ khác dung dịch bão hòa sử dụng là MgSO4

Thường dùng để chẩn đoán, xét nghiệm phân tìm trứng giun tròn có tỷ trọng cao (khi có ấu trùng bên trong) Cách tiến hành tương tự như phương pháp Darling nhưng dùng dung dịch MgSO4 bão hòa có tỷ trọng cao hơn nước muối (NaCl) bão hòa để làm nổi những trứng đã hình thành ấu trùng bên trong khi theo phân ra ngoài

Trang 27

chết tự nhiên trong nước sạch, sau đó bảo quản trong dung dịch Barbagallo (dung dịch Barbagallo gồm 30 ml Formol; 7,5g NaCl; nước cất 1000 ml) và

Hagsten Dr (2000) [37] cho rằng, thực chất của bất kỳ chương trình khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết Và điều này phụ thuộc trước hết vào sự ô nhiễm nơi đó Mức độ ô nhiễm cao là những nơi lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh thú y kém, ít sử dụng các thuốc phòng và trị bệnh cho lợn

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], để phòng bệnh T suis cần thực

hiện tốt các biện pháp sau:

Vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn chế sự phát tán trứng giun, kết hợp với sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo định kỳ như: Dung dịch NaOH 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% để diệt trứng giun

Việc phòng bệnh giun T suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng nói

chung có ý nghĩa rất quan trọng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả trong việc

phòng ngừa bệnh T suis, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, giảm

thiệt hại kinh tế chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị sạch sẽ Không sử dụng chung các dụng

cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải được xây ở nơi

Trang 28

cao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đông ấm, hè mát

- Ở các cở sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng những hóa dược đặc hiệu tẩy

dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn từ 2 - 4 tháng

- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom ủ phân để diệt trứng giun Hiện nay có hai phương pháp ủ đó là ủ yếm khí (biogas) và ủ hiếu khí (ủ phân compost), khi ủ phân nhiệt độ trong hố ủ có thể lên đến 60oC làm cho trứng giun sán bị chết

- Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong

tự nhiên

- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực

- Thức ăn phải đảm bảo về chất lượng, nước uống sạch sẽ

- Có kế hoạch tẩy giun T suis định kỳ cho lợn

Tất cả các nghiên cứu trước đây cho thấy việc phòng ngừa các bệnh giun tròn cho lợn gồm: Diệt giun trong cơ thể lợn, mục đích làm cho con vật khỏe mạnh và ngăn ngừa ngoại cảnh không bị ô nhiễm; diệt trứng giun ở ngoại cảnh mục đích đề phòng cho lợn không bị nhiễm bệnh

* Biện pháp trị bệnh

Nguyễn Xuân Bình (1996) [1] cho biết, hiện nay trên thị trường có

nhiều thuốc điều trị bệnh giun T suis Tuy nhiên, tác giả khuyên nên dùng

một trong các hóa dược sau để tẩy giun T suis cho lợn:

Trang 29

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], để tẩy giun T suis có hiệu quả

cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:

+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác Sau đó tẩy cho những lợn

bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát

hiện được

+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9) Lượng phân lợn thải ra phải đem ủ nhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc

Theo Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [21], Levamisol tên thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay pha nước uống có phổ tác dụng rộng với giun tròn Ngoài ra, Fenbendazol tên

thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong

3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh đối với giun T suis

Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2], các thuốc dùng để điều trị bệnh giun tròn có hiệu quả cao như:

Levamisole: Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng

thành Hiệu lực tẩy giun T suis là 72 - 99%

Ivermectin: Tác dụng trên phổ rộng đối với nhiều loại giun tròn Tiêm dưới da liều 0,3 mg /kg TT lợn, có tác dụng làm giảm 94 - 100 % các giai

đoạn chưa trưởng thành của giun T suis

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19], có thể dùng một trong các hóa dược

sau để tẩy giun T suis cho lợn:

Mebenvet: Dùng liều 50 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn một lần

Fenbendazol: Liều 30 mg /kg TT, trộn thức ăn cho lợn ăn từ 6 - 15 ngày Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT, trộn thức ăn hoặc tiêm cho lợn

Trang 30

Febentel: Liều 20 mg /kg TT thuốc dùng dạng uống

Ivermectin: Liều 0,2 - 0,3 mg /kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần,

Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức

là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và

dễ dùng nhất

Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt,

bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho con vật nuôi vào lại

Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có

hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazole có tác dụng

tẩy nhiều loài giun tròn Có các loại thuốc điều trị giun tròn như:

Menbendazol; Levamisol; Ivermectin; Febentel; Oxybendazol

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Năm 1975 - 1979 điều tra ở 10 địa điểm thuộc 10 vùng địa lý khác nhau

trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau trên khoảng 2000 con lợn bằng cách xét nghiệm phân cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đầu gai

(Macracanthoruynobis hirudinageus) là 0,18%, giun T suis là 2,3%, giun đũa

Trang 31

(Ascaris suum) là 56%, các loài giun xoăn (Strongilata) là 3,25% Tuổi lợn

nhiễm các loại giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên một tỷ lệ nhiễm chung là 49 - 65,9% Qua mổ khám thấy các loài giun sán chính ở lợn là:

Ascaris suum, Metastrongylus enlongatus, T suis, Oesophagostomum

dentatum (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1975) [24]

Theo Nguyễn Đăng Khải (1996) [8] , tỷ lệ nhiễm T suis ở 7 vùng kinh

Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn và cs (1990) [6], ở các tỉnh:

Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, lợn nhiễm giun T suis với tỷ lệ

14%; Quảng Nam, Đà Nẵng 8,75%; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5%; Phú Yên, Khánh Hoà 8,3%; Lâm Đồng 10%; Đồng Nai 26,3%; Bình Dương, Bình Phước 10%; Tây Ninh 8,6%; thành phố Hồ Chí Minh 39,0%; Long An 11%, Tiền Giang 2%; Cần Thơ, Sóc Trăng 8,69 - 30%

Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], kết quả điều tra mổ khám ở 7 tỉnh miền Bắc và miền Trung như sau: Tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 13 - 43 % với

cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con /lợn Tỷ lệ nhiễm giun T suis từ

Trang 32

12,5 - 40,3% Tác giả còn cho biết: Do giun T suis lợn và loài giun tóc gây

bệnh cho người có rất nhiều điểm giống nhau về mặt hình thái Do vậy, bệnh này ở lợn có thể lây sang người, người nhiễm bệnh một cách tự nhiên do nuốt

trứng giun T suis của lợn chứa ấu trùng Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun T suis trưởng thành, cư trú ở ruột và gây bệnh giun tóc

ở người Sau khi trứng giun T suis được bài xuất ra ngoài qua phân người có

khả năng gây nhiễm lại cho lợn (tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11% so với trứng

của lợn có tỷ lệ phát triển là 86%)

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [12], khi nghiên cứu T suis và các

loại ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn tại Thái Nguyên thấy: Đàn lợn nuôi ở

Thái Nguyên nhiễm T suis, Oesophagostomum sp và Fasciolopsis buski Trong đó, lợn bình thường nhiễm T suis 23,01%; Oesophagostomum 20,86%; Fasciolopsis buski 18,71%; tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,01 %;

23,85% và 16,95%, mức độ nhiễm T suis ở lợn tiêu chảy lớn hơn lợn bình thường

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa Lợn sau cai sữa tại Thái Nguyên mắc tiêu chảy là 11,81 % Ở

lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại Ascaris suum, Oesophagostomum sp., Strongyloides, Fasciolopsis buski và T suis nhưng ở

lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và mức độ nặng hơn (theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009 ) [14]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Hale O M và Stewart T B (1979) [41], đã tiến hành thí nghiệm như sau: 48 lợn ở 83 ngày tuổi có khối lượng trung bình 25,7 kg /con Căn cứ vào tính biệt và khối lượng ban đầu, số lợn này được chia thành 4 nhóm, mỗi

nhóm 12 con Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm bằng một trong 4 mức như sau:

Trang 33

Nhóm 1 : 0 trứng giun T suis /kg TT

Nhóm 2 : 550 trứng giun T suis /kg TT

Nhóm 3 : 1100 trứng giun T suis /kg TT

Nhóm 4 : 1650 trứng giun T suis /kg TT

Khẩu phần ăn và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng ở mỗi nhóm được thực

hiện như nhau trong suốt thời gian thí nghiệm

Trứng giun T suis dùng để gây nhiễm được lấy từ những lợn bị bệnh giun T suis nặng trong tự nhiên Những trứng này được nuôi trong dung dịch

Kali Bicromat 1% trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 25oC và chỉ những trứng

đã phát triển thành trứng cảm nhiễm (trứng có ấu trùng) mới được gây nhiễm cho lợn Mỗi nhóm lợn được gây nhiễm qua đường tiêu hóa bằng một số lượng trứng như đã trình bày Lợn thí nghiệm được theo

dõi trong vòng 77 ngày

Kết quả thí nghiệm như sau: Khối lượng cuối cùng (khi kết thúc thí nghiệm) và tăng trọng hàng ngày của lợn gây nhiễm bị ảnh hưởng dưới tác

động của giun T suis Mức độ bị ảnh hưởng tỷ lệ thuận với số lượng trứng giun T suis đã gây nhiễm ban đầu Khi kết thúc thí nghiệm, lợn không bị nhiễm giun T suis nặng hơn 23% và tăng trọng hàng ngày nhanh hơn 35% so

với những lợn bị nhiễm trung bình 1650 trứng giun T suis /kg thể trọng (P < 0,05)

Vào ngày thứ 21 sau gây nhiễm, khối lượng trung bình của những lợn gây nhiễm bắt đầu giảm xuống so với những lợn đối chứng (lợn nhóm 1) Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu của Powers (1960) khi tác giả cho rằng có sự khác nhau về khối lượng giữa nhóm lợn đối chứng và nhóm lợn thí

nghiệm trong 3 tuần đầu sau gây nhiễm

Kết quả sau 77 ngày, tất cả những lợn gây nhiễm (lợn nhóm 2, 3 và 4) đều bị tiêu chảy với những mức độ khác nhau Lợn ở nhóm 4 (gây nhiễm với

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Giun Trichocephalus suis - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Hình 2.1. Giun Trichocephalus suis (Trang 15)
Hình 2.2. Sơ đồ vòng đời của giun T. suis - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Hình 2.2. Sơ đồ vòng đời của giun T. suis (Trang 17)
Bảng 4.1. Kết quả mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.1. Kết quả mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn (Trang 43)
Bảng 4.2. Kết quả định danh loài giun tròn giống Tricocephalus spp. ký - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.2. Kết quả định danh loài giun tròn giống Tricocephalus spp. ký (Trang 45)
Bảng 4.3. Một số đặc điểm sinh học của giun T. suis ở huyện Yên Sơn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.3. Một số đặc điểm sinh học của giun T. suis ở huyện Yên Sơn (Trang 46)
Bảng 4.4. Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và   bệnh giun T. suis cho lợn nói riêng ở  huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.4. Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh giun T. suis cho lợn nói riêng ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang (Trang 47)
Bảng 4.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis  lợn ở các địa phương  Địa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis lợn ở các địa phương Địa (Trang 48)
Bảng 4.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tuổi lợn - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tuổi lợn (Trang 50)
Bảng 4.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis (Trang 52)
Bảng 4.8. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.8. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis (Trang 54)
Bảng 4.9. Hiệu lực của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.9. Hiệu lực của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa (Trang 56)
Bảng 4.10. Độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis  cho lợn trên thực địa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.10. Độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa (Trang 57)
Hình 1: Lợn bị nhiễm giun T. suis  Hình 2: Soi phân bằng phương pháp Fullerb - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Hình 1 Lợn bị nhiễm giun T. suis Hình 2: Soi phân bằng phương pháp Fullerb (Trang 67)
Hình 3: Trứng T. suis  mới thải theo           Hình 4: Giun T. suis cắm sâu - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng trị.
Hình 3 Trứng T. suis mới thải theo Hình 4: Giun T. suis cắm sâu (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w