1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.

80 617 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯƠNG NGỌC ANH Tên đề tài: THEO DÕI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GIỐNG LỢN ĐỊA PHƯƠNG LỢN ĐEN NUÔI TẠI NGUYÊN BÌNH – CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đ

Trang 1

TRƯƠNG NGỌC ANH

Tên đề tài:

THEO DÕI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GIỐNG LỢN ĐỊA PHƯƠNG (LỢN ĐEN) NUÔI TẠI NGUYÊN BÌNH – CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y

Niên khóa : 2010 - 2014

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

TRƯƠNG NGỌC ANH

Tên đề tài:

THEO DÕI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GIỐNG LỢN ĐỊA PHƯƠNG (LỢN ĐEN) NUÔI TẠI NGUYÊN BÌNH – CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y

Niên khóa : 2010 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: T.S Trương Hữu Dũng

Khoa Chăn nuôi thú y- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 3

nghiên cứu khoa học trong suốt 4 năm qua Đặc biệt tôi xin bày tỏ long

biết ơn chân thành và sâu sắc tớ thầy Tiến sĩ Trương Hữu Dũng, thầy đã

tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập vừa qua để tôi hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cùng tất cả các thầy,

cô giáo trong khoa Chăn nuôi – Thú y

Để có được những số liệu điều tra theo yêu cầu của khóa luận còn có sự

giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện của các cô chú cán bộ phòng Khuyến Nông Khuyến Lâm, Trạm thú y huyện Nguyên Bình và toàn thể các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Một lần nữa tôi xin gửi đến các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi – Thú y lời cảm ơn chân thành, lời chúc sức khỏe hạnh phúc và thành đạt

Thái Nguyên,ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Trương Ngọc Anh

Trang 4

trường Đại Học – Cao Đẳng – Trung học chuyên nghiệp Đây là thời gian hết sức cần thiết để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã được học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững phương pháp tiến hành điều tra, nghiên cứu ứng dụng, các biện pháp khoa học kĩ thuật vào sản xuất, tạo cho những tác phong làm việc đúng đắn tính sang tạo để sau khi ra trường trở thành người cán bộ

có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được nhu cầu trong thực tế sản xuất Góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y kể từ ngày 23 tháng 11 năm 2013 đến ngày 31 tháng 5 năm

2014 tôi được phân công thực tập tốt nghiệp tại huyện Nguyên Bình với đề tài:

“Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng”

Qua 5 tháng thực tập được sự hưỡng dẫn tận tình của thầy giáo hưỡng dẫn Tiến sĩ Trương Hữu Dũng và thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi – thú y Ngoài ra còn được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương nơi tôi làm đề tài, cán

bộ phòng khuyến nông - khuyến lâm huyện cùng các cô chú trạm thú y huyện Nguyên Bình và toàn thể bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua được khó khăn trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành nhiệm vụ của mình Nhân dịp này tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó

Do thời gian và trình độ bản thân còn non yếu chắc chắc bản khóa luận của tôi không tránh khỏi thiếu sót, kính mong được sự tham gia góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Trang 5

1.1 Điều tra cơ bản 1

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.1.1 Vị trị địa lí 1

1.1.1.2 Địa hình 1

1.1.1.3 Đất đai 2

1.1.1.4 Khí hậu 2

1.1.1.5 Thủy văn sông ngòi 3

1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 4

1.1.2.1 Tình hình dân cư 4

1.1.2.2 Trình độ dân trí 5

1.1.2.3 Phát triển văn hóa giáo dục và y tế 5

1.1.2.4 Hoạt động của phòng nông lâm nghiệp huyện 6

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện 7

1.1.3.1 Tình hình sản xuất Nghành trồng trọt 7

1.1.3.2 Tình hình sản xuất Nghành chăn nuôi của huyện 10

1.1.4 Những thuận lợi và khó khăn 11

1.1.4.1 Thuận lợi 11

1.1.4.2 Khó khăn 11

1.2 Nội dung phương hướng công tác 13

1.2.1 Nội dung 13

1.2.2 Biện pháp thực hiện 13

1.2.3 Công tác phục vụ sản xuất 13

1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 14

1.2.3.2 Công tác thú y 16

1.3 Kết luận và đề nghị 18

1.3.1 Kết luận 18

1.3.2 Đề nghị 18

Phần thứ hai: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 19

2.1 Đặt vấn đề: 19

Trang 6

2.2.1.2 Đặc điểm về sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn 25

2.2.1.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 28

2.2.1.4 Khả năng sinh sản của lợn nái 31

2.2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 34

2.2.1.6 Vài nét về tập quán và tình hình chăn nuôi lợn đen tại Nguyên Bình 35

2.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam 39

2.2.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn trong nước 39

2.2.2.2 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới 42

2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 43

2.3.1 Đối tượng 43

2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 43

2.3.3 Thời gian theo dõi 43

2.3.4 Nội dung nghiên cứu 43

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu 43

2.3.6 Phương pháp theo dõi trực tiếp 43

2.3.7 Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình lợn lợn Đen 44

2.3.8 Chỉ tiêu sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái sinh sản 44

2.3.8.1 Chỉ tiêu sinh lí, sinh dục: 44

2.3.8.2 Chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn lợn nái Bản địa 44

2.3.8.3 Một số chiều đo chính của lợn nái Đen sinh sản 46

2.3.9 Phương pháp xử lí số liệu 47

2.4 Kết quả và thảo luận 47

2.4.1 Cơ cấu đàn lợn qua 3 năm (2011 - 2013) của huyện Nguyên Bình 47

2.4.2 Phân bố và cơ cấu đàn lợn Đen nuôi tại 3 xã điều tra của huyện Nguyên Bình 48

2.4.3 Một số đặc điểm ngoại hình của lợn đen 50

2.4.4 Một số chỉ tiêu sinh lí sinh dục của lợn nái Đen 53

2.4.4.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Đen 53

2.4.4.2 Khả năng sinh sản của lợn nái địa phương 56

Trang 7

2.5.1 Kết luận 63 2.5.2 Đề nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 8

huyện Nguyên Bình năm 2013 9

Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 17

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn Đen các xã nuôi tại huyện Nguyên Bình - Cao Bằng năm 2010 - 2013 39

Bảng 2.2 Sản xuất thịt lợn trên thế giới trong những năm gần đây 43

Bảng 2.3 Cơ cấu của đàn lợn huyện Nguyên Bình qua 3 năm 47

Bảng 2.4 Phân bố và cơ cấu đàn lợn tại 3 xã của huyện Nguyên Bình năm 2013 49

Bảng 2.5 Phân loại lợn đen theo đặc điểm ngoại hình tại 3 xã của huyện Nguyên Bình 51

Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Đen Nguyên Bình 54

Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái địa phương 56

Bảng 2.8 Tỷ lệ nuôi sống lợn con qua các giai đoạn 60

Bảng 2.9 Một số chiều đo chính của lợn nái trưởng thành 62

Trang 9

DHNTB : Duyên hải nam trung bộ

ĐBSCL : Đồng bằng sông cửu long

KST đường máu : Kí sinh trùng đường máu

NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TN và DBSCL : Tây Nguyên và Đồng bằng sông cửu long

Trang 10

Phần thứ nhất CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT

1.1 Điều tra cơ bản

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trị địa lí

Nguyên Bình là một huyện miền núi vùng cao, nằm ở phía Tây của tỉnh Cao Bằng, trung tâm huyện cách thành phố 35km, với vị trí và tiếp giáp với

các địa phương như sau:

Huyện Nguyên Bình nằm ở vị trí toạ độ 105040’ kinh độ Đông, 22030’

đến 220

50’ vĩ độ Bắc

- Phía Đông giáp huyện Hoà An

- Phía Tây giáp huyện Bảo Lạc và Ba Bể tỉnh Bắc Kạn

- Phía Nam giáp huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn

- Phía Bắc giáp huyện Thông Nông

1.1.1.2 Địa hình

Huyện Nguyên Bình có địa hình núi đồi phức tạp, chủ yếu là núi đá vôi, độ dốc lớn, chia cắt mạnh và cao từ 700m - 1.300m Điểm cao nhất là 1.931m (Phía Oắc), điểm thấp nhất 100m Độ cao trung bình của huyện là 1.100 m Nhìn chung, địa hình của các xã trên địa bàn huyện Nguyên Bình nằm trên vùng núi cao có cao độ từ 500m (Thái Học, Tam Kim, Hưng Đạo, Mai Long) đến 1.400m (Quang Thành, Thành Công, Triệu Nguyên, Yên Lạc)

- Theo kiến tạo địa hình, huyện Nguyên Bình chia thành 2 vùng rõ rệt: + Vùng núi đất gồm các xã Lang Môn, Bắc Hợp, Minh Tâm, Minh Thanh, Tam Kim, Quang Thành, Thịnh Vượng, Thành Công, Hoa Thám, Thể Dục, Hưng Đạo và thị trấn Nguyên Bình

+ Vùng núi đá gồm các xã: Thái Học, Vũ Nông, Yên Lạc, Triệu Nguyên, Mai Long, Phan Thanh, Ca Thành và thị trấn Tĩnh Túc

Trang 11

Theo kết quả đo trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 của Huyện thì diện tích có độ dốc tương đối bằng (từ 80 trở xuống) chiếm 3,12 % diện tích đất của toàn Huyện; diện tích đất có độ dốc trên 250 chiếm 83,54 % diện tích đất

cả huyện; xen kẽ giữa các dãy núi cao là thung lũng tương đối bằng và hẹp, tạo thành những cánh đồng nhỏ để trồng lúa từ một đến vài chục ha

Từ các điều kiện trên đã tạo tiền đề cho sự phát triển cả về nghành trồng trọt lẫn chăn nuôi đại gia súc của huyện

1.1.1.3 Đất đai

Cả huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 83.915,71 ha Trong đó:

- Đất nông nghiệp: 6.509,13 ha chiếm 7.13% so với tổng diện tích

- Đất lâm nghiệp 59.9993 ha chiếm 65,71% so với tổng diện tích trong

đó rừng trồng 9.748,32 ha

- Đất núi trọc và cây bụi: 967,42 ha chiếm 1,06% tổng diện tích

- Núi đá vôi, khe suối, khu dân cư, đường giao thông: 23.823,4 ha chiếm 26,1% tổng diện tích

1.1.1.4 Khí hậu

Khí hậu của huyện thuộc kiểu khí hậu á nhiệt đới với 2 mùa rõ rệt:

- Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc khô hanh, thường xảy ra những đợt rét đậm kéo dài kèm theo sương muối (tháng 12 và tháng 1, tháng 2); Độ ẩm không khí trung bình 82%/năm Lượng bốc hơi bình quân trong năm 831,6 mm, lượng bốc hơi lớn tập trung từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, do đó trong các tháng này thường xuyên xảy ra khô hạn

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, lượng mưa trung bình 1200 mm Trong đó mưa lớn nhất trung bình 2.043,7 mm Lượng mưa trong năm phân bố không đều thường tập trung vào các tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 200C, cao nhất khoảng

35 - 360C, thấp nhất từ 00C đến 60C

Trang 12

+ Gió bão: Gió Đông Nam và Đông Bắc là 2 hướng gió chủ đạo của huyện, tốc độ trung bình 1,4 m/giây, mạnh nhất lên đến 20 m/giây, bị ảnh hưởng bởi bão và áp thấp nhiệt đới Sương muối năm nào cũng tập trung vào tháng giêng, tháng 2 ít nhất 2 - 3 ngày, có nơi có năm kéo dài 5 - 7 ngày, sương mù thường xuyên xuất hiện ở những vùng núi khe sâu, kéo dài thời gian từ 2 - 4 giờ/ngày

Thời tiết khí hậu huyện Nguyên Bình thích hợp cho nhiều loại cây trồng, nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào sống ở độ cao trên 300m của vùng núi đá, nơi thiếu nước, xa sông suối

1.1.1.5 Thủy văn sông ngòi

Chế độ thủy văn các con sông phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực Do đó cùng với diễn biến lượng mưa hàng tháng trong năm thì chế độ thủy văn trên các con sông cũng thay đổi theo hai mùa rõ rệt, mùa lũ và mùa cạn Đa số các con sông, suối trên địa bàn huyện Nguyên Bình đều bắt nguồn từ những dãy núi cao trên 1.000 m ở các xã Thành Công, Hưng Đạo, Quang Thành, Tam Kim, Hoa Thám chảy về Hoà

An Sông lớn nhất của Huyện là sông Hiến Ngoài ra, Huyện còn có 2 con sông nhỏ chảy qua là sông Năng và sông Nguyên Bình (sông Năng chảy dọc

địa giới giữa Nguyên Bình với Ba Bể rồi chảy về Bắc Kạn; sông Nguyên

Bình bắt nguồn từ những dãy núi cao Tĩnh Túc chảy qua xã Thể Dục, thị trấn Nguyên Bình, xã Bắc Hợp rồi chảy ra Hoà An) Dọc những con sông này có nhiều khu đất nông nghiệp hẹp nhưng màu mỡ, những khu vực đất thấp ven sông thường bị ngập lụt Qua số liệu thống kê hàng năm cột ngập lụt trung bình là 196,5 m theo bản đồ hiện trạng đo vẽ năm 1993, lũ xuất hiện tần suất 50- 60%

- Dòng chảy mùa lũ thường từ tháng 6 đến tháng 10, lượng nước trên các sông suối trong mùa lũ chiếm khoảng 65-80% lượng nước cả năm

- Dòng chảy mùa cạn bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau Trong

đó lượng nước ít nhất trên các sông suối kéo dài từ khoảng tháng 1 đến tháng

3 Nhìn chung các con sông suối phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở phía

Đông Nam của huyện, còn vùng núi đá vôi rộng lớn không có nguồn (như các

Trang 13

xã Mai Long, Triệu Nguyên, Thái Học, Vũ Nông) Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất chủ yếu lấy từ các khe lạch nhỏ, khe đá và nước mưa

Đặc biệt, các làng bản trên cao nơi đồng bào Dao; H’Mông cư trú quanh năm

thiếu nước trầm trọng nhất là về mùa khô

1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

1.1.2.1 Tình hình dân cư

Trên địa bàn toàn huyện có 07 dân tộc sinh sống kết quả điều tra dân tộc có:

Dân tộc Tày, Nùng chiếm 47,0 %

Dân tộc Dao chiếm 38,7 %

Dân tộc Mông chiếm 5,6 %

Dân tộc Kinh chiếm 8,6 %

Và các dân tộc khác chiếm tỷ lệ rất ít 0,1%

Mỗi dân tộc trong huyện đều có bản sắc riêng, phong tục tập quán riêng, tạo nên nền văn hóa phong phú đa dạng, có lễ hội truyền thống vẫn

được tổ chức thường xuyên hàng năm đó là bản sắc văn hóa quý báu của

huyện cần được bảo vệ Trong đó, chiếm tỷ lệ lớn nhất là dân tộc Dao Dân tộc Mông và dân tộc Dao sống chủ yếu ở vùng cao hẻo lánh và vùng núi đá Một bộ phận đồng bào này thường sống du canh, du cư hoặc định cư nhưng còn du canh

Tổng dân số toàn huyện là 39 644 người Mật độ dân số bình quân chung của huyện là 47người/Km2 Nhưng điều đáng lưu ý là sự phân bố dân

cư không đều giữa các xã trong huyện Nơi có mật độ đông dân nhất là Thị trấn Nguyên Bình 207người/Km2 và Thị trấn Tĩnh Túc 165 người/Km2 Nơi

có mật độ thấp nhất là xã Thịnh Vượng 16 người/Km2 Vì vậy dẫn đến đòi hỏi yêu cầu bố trí đất dành cho xây dựng nhà ở và các công trình văn hoá phúc lợi cũng có sự khác nhau giữa các khu vực, chính vì thế trong quy hoạch sử dụng

đất đai cần chú ý đến đặc điểm này

Trang 14

1.1.2.2 Trình độ dân trí

Với tổng số 39 644 người bao gồm nhiều dân tộc anh em cùng chung sống do đó rất phong phú và đa dạng về phong tục tập quán canh tác và đời sống văn hóa Những dân tộc ít người được huyện quan tâm phát huy bản sắc dân tộc Mặt khác do nhận thức của họ còn hạn chế nên ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, chưa xóa bỏ được nhưng phong tục lạc hậu nên đời sống chưa được cao

1.1.2.3 Phát triển văn hóa giáo dục và y tế

• Văn hóa giáo dục

Trong những năm qua, hoạt động văn hóa thông tin, thể thao của huyện

có nhiều tiến bộ Thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí… đã góp phần tích cực vào tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước đến nhân dân Các hoạt động văn nghệ quần chúng được tổ chức vào các dịp lễ, tết…qua đó từng bước nâng cao phong trào văn hóa nghệ thuật, duy trì khôi phục bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người dân thêm phong phú Hiện nay huyện có 57 làng, xóm, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa, trong đó có 8 gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa cấp tỉnh, 100%

cơ quan, đơn vị chức năng đăng ký xây dựng cơ quan văn hóa

Thực hiện Nghị Quyết của Đảng công tác giáo dục thực sự được coi là quốc sách hàng đầu, trong 5 năm qua ngành giáo dục – đào tạo có nhiều chuyển biến tiến bộ, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục được đầu tư ngày càng nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng Số trẻ trong độ tuổi đi học được được huy động ra lớp

đạt từ 95% trở lên

Giai đoạn 2010 – 2013 huyện thực hiện chương trình số 05 – CTr/ HU

về thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đạt được kết quả như sau:

Về phổ cập giáo dục THCS đạt 8/20 đơn vị, vượt mục tiêu đề ra, xóa

mù chữ đạt 100% số xã, thị trấn Về nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được nâng lên năm học sau cao hơn năm học trước

Trang 15

Trình độ đội ngũ giáo viên: năm 2010, 2011 tổng số giáo viên toàn ngành

là 696 giáo viên, đến năm 2012 – 2013 tổng số giáo viên là 853 giáo viên

+ Giáo viên dạy giỏi các cấp năm 2010 – 2011 có 156/750 đạt 20,8%, năm 2012 – 2013 có 185/771 đạt 24%

+ Học sinh giỏi các cấp năm 2010 – 2011 là 127 em, năm 2012 – 2013

có 227 em

Tuy nhiên việc phát triển nghành giáo dục của huyện vẫn còn một số hạn chế, bất cập như việc chống mù chữ ở một số xã chưa được quan tâm thường xuyên, còn khoán cho ngành giáo dục, xẩy ra hiện tượng tái mù chữ trở lại; số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chưa đến lớp học chiếm khoảng 4% so với tổng số trẻ trong độ tuổi, chất lượng dạy và học chưa

đồng đều, nhiều phân trường, lớp trẻ cơ sở vật chất còn thiếu thốn, tạm bợ

• Y tế

Mạng lưới y tế từ huyện đến xã được quan tâm, đầu tư xây dựng Đến nay, có 20/20 xã, thị trấn được xây dựng nhà trạm kiên cố để phục vụ cho việc khám và chữa bệnh cho nhân dân Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ y

tế từ huyện đến xã, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng chống các bệnh xã hội, quan tâm đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ y tế để thực hiện tốt chương trình tăng cường cán bộ y tế về các xã và từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến huyện và các phân viện

1.1.2.4 Hoạt động của phòng nông nghiệp huyện

- Phòng nông nghiệp có nhiệm vụ quản lí nhà nước về mọi mặt trong lĩnh vực phát triển nông thôn

- Cơ cấu tổ chức của phòng nông nghiệp gồm các bộ phận:

+ Bộ phận địa chính quản lí tài nguyên đất của cả huyện

+ Bộ phận định canh định cư làm nhiệm vụ đem ánh sáng khoa học chính vụ đồng bào dân tộc ít người nhằm động viên họ sống định canh định

cư, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nâng cao đời sống

Trang 16

+ Bộ phận khuyến nông – khuyến lâm – xóa đói – giảm nghèo làm nhiệm vụ chuyển giao bộ khoa học kĩ thuật cho mọi người dân, là cầu nối cho nông dân được tiếp cận khoa học kĩ thuật Những năm gần đây phòng nông lâm nghiệp và trực tiếp là các cán bộ trạm khuyến nông đã cùng nông dân lập

kế hoạch sản xuất, xây dựng những mô hình trình diễn tại hộ gia đình về giống cây trồng và vật nuôi mới, áp dụng khoa học kĩ thuật, xóa bỏ tập quán canh tác lạc hậu, năng suất cây trồng và vật nuôi ngày càng được nâng cao

1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện

1.1.3.1 Tình hình sản xuất Nghành trồng trọt

Cây trồng nông nghiệp huyện Nguyên Bình chủ yếu là cây lúa, cây ngô

và các loại cây khác như: khoai, sắn, rau đậu các loại Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đất bạc màu là nguyên nhân khách quan làm năng suất cây trồng rất thấp Cây lúa, ngô tuy là giống cây lương thực chủ đạo nhưng giống ngô, giống lúa canh tác ở đây trong những năm trước đây chủ yếu là loại cây giống

địa phương do đồng bào tự để giống có năng suất thấp thời gian sinh trưởng

dài ngày, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào dân tộc Dao, Mông Ngoài ra, một số dược liệu có giá trị cũng từng bước được đầu tư trồng và chăm sóc như sa nhân, sâm đất, …

Tổng sản lượng lương thực năm 2010 đạt 12.627 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 327 kg/người/năm Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 15 triệu đồng/ha/năm Năm 2013 tổng sản lượng lương thực đạt 15.639 tấn, lương thực bình quân đầu người đạt 394 kg/người/năm, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 17 triệu/ha/năm

Nguồn lâm sản đáng chú ý ở huyện Nguyên Bình cũng như ở các xã

đặc biệt khó khăn trong vùng đá vôi là cây chè đắng Đây là loại thảo dược có

giá trị tác dụng cao và được đồng bào ưa dùng trong cuộc sống hàng ngày Trong những năm gần đây, cây chè đắng bị khai thác, chặt phá và đang có nguy cơ bị mai một nếu không có kế hoạch bảo vệ và trồng theo các chương trình dự án Trúc sào là loại cây thích hợp với khí hậu và thổ nhưỡng của hầu hết các xã, đặc biệt là cây trúc sào được phát triển thích hợp các xã vùng núi

đá vôi Trúc sào là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế, dễ chăm sóc và bảo

Trang 17

quản do vậy trúc sào đang được trồng ở nhiều xã theo quy mô và quy trình tập quán của địa phương Tuy nhiên, việc chưa có định hướng thị trường và công nghệ phù hợp nên sản phẩm trúc sào chưa thật sự phát huy được thế mạnh Diện tích trồng một số cây trồng chủ yếu năm 2013:

+ Diện tích trúc sào là: 1435 ha, trong đó trên 900 ha đang được khai thác + Diện tích dong riềng: 100 ha

2004 - 2007 khoảng 53 ha

Các xã Phan Thanh, Thành Công, thị trấn Tĩnh Túc xây dựng vùng trồng cây dong riềng tập trung cho sản xuất miến dong, có thể xem xét mở rộng diện tích sang các xã lân cận có điều kiện tương đồng như Vũ Nông, Quang Thành, Ca Thành

Vùng trồng và phát triển Trúc sào tập trung tại các xã vùng cao núi đá như: Vũ Nông, Yên Lạc, Triệu Nguyên, Lang Môn, Thành Công, Phan Thanh, Ca Thành Vùng trồng và phát triển trồng chè chất lượng cao tập trung

ở các xã: Thành Công, Lang Môn, Bắc Hợp, thị trấn Nguyên Bình

Vùng trồng và phát triển cây lạc, đỗ tương: Minh Tâm, Triệu Nguyên, Minh Thanh, Ca Thành, Thành Công, Hưng Đạo xem xét mở rộng trồng tại các xã có điều kiện như: Yên Lạc, Triệu Nguyên, Vũ Nông

Ngoài ra các vùng có kiểu khí hậu đặc trưng có thể sản xuất các sản phẩm hàng hóa khác như trồng thuốc lá nguyên liệu tại các xã Tam Kim, Minh Tâm, Bắc Hợp, Minh Thanh và trồng rau trái vụ tại các xã như Thái Học, Thành Công, Yên Lạc

Trang 18

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng một số giống cây trồng chính

huyện Nguyên Bình năm 2013

STT Loại cây Diệntích (ha) Năng suất

(tạ/ha)

Sản Lượng (tấn)

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013 huyện Nguyên Bình)

Nhìn chung, diện tích canh tác cây nông nghiệp chủ yếu là một vụ Các loại cây lương thực khác như: khoai lang, khoai sọ, sắn, được trồng trên diện tích không lớn nhưng cũng góp phần giải quyết vấn đề lương thực cho địa phương

Các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc, đỗ tương đang được trồng rộng rãi hơn, nhiều hơn như xã: Tam Kim, Thành Công, Quang Thành

và Thái Học Cây dong rềng là loại cây có khả năng hàng hoá tốt được trồng nhiều ở các xã: Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh và thị trấn Tĩnh Túc Trong 3 năm qua dưới sự chỉ đạo sát sao của phòng nông lâm nghiệp huyện

đặc biệt là đội ngũ cán bộ khuyến nông đã trực tiếp đến từng thôn bản thậm

chí đến từng hộ gia đình để động viên cho nông dân tận dụng triệt để đất canh tác và đầu tư theo quy trình kỹ thuật thâm canh Áp dụng giống cây trồng mới cho năng suất cao nhằm tăng hiệu quả sử dụng vòng quay của đất và tăng giá trị ngày công lao động Từ đó việc sử dụng đất và tăng cường hệ số lên, năng suất, sản lượng cây trồng ngày càng được nâng cao

Trang 19

1.1.3.2 Tình hình sản xuất Nghành chăn nuôi của huyện

• Chăn nuôi trâu, bò

Hiện nay việc phát triển chăn nuôi theo điều kiện từng vùng, của huyện Nguyên Bình đưa chăn nuôi trở thành ngành chính và chiếm tỷ trọng lớn trong kinh tế nông nghiệp, chú trọng chăn nuôi đại gia súc Tiếp tục thực hiện các chương trình dự án phát triển đàn gia súc, gia cầm Chăn nuôi năm 2010 tổng đàn trâu là 10.571 con, tổng đàn bò là 13.176 con, tổng đàn ngựa 263 con Tính đến 2013 tổng đàn trâu là 11.621 con, bò là 12.857 con, tổng đàn ngựa 315 con Tỷ lệ tăng đàn hàng năm đạt: trâu là 3%, bò là 4% nhưng do chết rét trong đợt rét đậm, rét hại 2 tháng đầu năm 2011 đã làm chết hơn 2985 con trâu, bò đã làm giảm đàn trâu bò năm 2011; 2012 và năm 2013

• Chăn nuôi lợn

Chăn nuôi lợn cũng được quan tâm phát triển mạnh, năm 2010 tổng

đàn lợn 29.554 con đến năm 2013 là 34.645 con Ở nhiều xã, chăn nuôi lợn

cũng có nhiều tiến bộ, song cơ cấu con nuôi vẫn chủ yếu là giống cũ địa phương Các loại giống này tuy năng suất không cao, nhưng lại thích nghi với khí hậu, cách chăn nuôi của đồng bào Chăn nuôi ở nhiều vùng vẫn còn duy trì theo phương thức thả rông, ít được đầu tư, do vậy, năng suất thấp sản lượng thịt lợn năm 2013 đạt 785 tấn, dịch bệnh cũng dễ lây lan, khó kiểm soát, ngăn chặn

• Chăn nuôi gia cầm

Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm cũng

được người dân quan tâm Ngoài những giống gia cầm địa phương, thì huyện

đã nhập nhiều giống có năng suất cao chất lượng thịt tốt như : gà Tam Hoàng,

Lương Phượng, Sacso… được bà con nuôi rộng rãi Nhiều hộ đã đầu tư nuôi theo hướng thâm canh, nhưng do khâu phòng dịch bệnh chưa tốt nên dẫn đến hàng năm gia cầm chết dịch nhiều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của gia cầm Năm 2013 tổng đàn gia cầm của huyện có 81.325 con giảm 2.983 con so với năm 2012

Trang 20

1.1.4 Những thuận lợi và khó khăn

1.1.4.1 Thuận lợi

- Nguyên Bình có diện tích tự nhiên tương đối lớn 83.915,71 ha Vị trí nằm cách không xa trung tâm tỉnh lỵ có thị trấn Nguyên Bình, Tĩnh Túc và trung tâm cụm xã Nà Bao là các tiền đề khá thuận lợi cho huyện Nguyên Bình

có khả năng phát triển nền kinh tế đa dạng tổng hợp Yếu tố khí hậu ôn hòa, chế độ nhiệt độ phong phú, độ ẩm tương đối khá nên có thể bố trí đa dạng cây trồng nâng cao hiệu quả sử dụng đất

- Huyện có mạng lưới giao thông khá thuận lợi, có sự quan tâm thích

đáng của trung ương và của tỉnh có thể chuyển dịch nhanh cơ cấu trong thời

gian tới

- Huyện Nguyên Bình có nguồn tài nguyên khoáng sản, lâm sản và thảm thực vật phong phú, đa dạng về thành phần loài và đất đai, khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng nông – lâm nghiệp có giá trị kinh tế như: trúc sào, thuốc lá, chè, đỗ tương, dong riềng, cây dược liệu và các loại cây ăn quả

có nguồn gốc ôn đới khác

- Mặt khác có nhiều di tích lịch sử, có tiềm năng du lịch Phja Oắc – Phja Đén với bản sắc dân tộc đặc sắc

- Nguồn lao động dồi dào số người thất nghiệp vẫn còn nhiều, nếu có hướng đào tạo, khai thác hợp lý nguồn lao động của huyện sẽ đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hội nhập hiện nay

- Hệ thống kết cấu cơ sở hạ tầng của huyện, công trình thuỷ lợi, cơ sở bưu chính viễn thông, mạng lưới cơ sở y tế, giáo dục… đã được tăng cường nhiều hơn trước, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện

- Quỹ đất đai chưa sử dụng của huyện còn gần 2.526,31ha, song tiềm năng về tăng vụ và tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất đai của huyện còn nhiều, trong những năm tới có thể khai thác tiềm năng này để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội

1.1.4.2 Khó khăn

- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện có nhiều mặt không thuận lợi như: núi cao, độ chia cắt lớn, chủ yếu là núi đá vôi, đất canh tác ít, giao thông đi lại còn khó khăn

Trang 21

- Thời tiết khí hậu hàng năm có sự thay đổi bất thường Có năm rét đậm, mưa to hoặc nắng hạn kéo dài, lượng mưa phân bố không đều Có nơi mưa to, lượng mưa lớn gây lũ lụt làm sạt lở cuốn trôi nhà cửa, hoa màu, ách tắc giao thông hoặc nắng to kéo dài làm thiếu nước trầm trọng cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Đặc biệt đồng bào vùng cao xa sông suối, không có nguồn nước

- Ngành trồng trọt ở nhiều xã, đặc biệt là ở các xã đặc biệt khó khăn bị hạn chế rất nhiều, một mặt do diện tích canh tác hẹp, khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước; mặt khác do kỹ thuật canh tác lạc hậu, thiếu kỹ thuật, thiếu phân bón, thuốc trừ sâu, thiếu giống mới có năng suất cao Tiềm năng để phát triển ngành này rất hạn chế, chỉ có hướng duy nhất là đầu tư thâm canh tăng năng suất, tăng vụ, khả năng mở rộng diện tích hầu như không có

- Sản xuất của huyện trong thời gian vừa qua đã có sự tăng trưởng, nhưng chưa ổn định và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, dịch bệnh… các dịch

vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài

- Đất đai sản xuất của Nguyên Bình nhìn chung có độ phì kém, chua nhiều, độ dốc tương đối cao, ít phù hợp với các dự án sản xuất công nghiệp quy mô lớn Nằm xa các trung tâm tiêu thụ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, cũng là một bất lợi của Nguyên Bình trong việc phát triển sản xuất công nghiệp

- Xuất phát điểm kinh tế còn thấp, kết cấu hạ tầng mặc dù đã được cải thiện nhưng còn yếu và thiếu Trong thời gian vừa qua huyện có chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng và đã có sự chuyển biến tích cực, song vẫn còn

ở tốc độ chậm so với mặt bằng chung của tỉnh Sản xuất của huyện đã có sự

tăng trưởng, nhưng chưa ổn định và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, dịch bệnh… các loại dịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài

- Trên địa bàn huyện sản xuất nông, lâm nghiệp là hai ngành sản xuất chính Tuy nhiên việc sử dụng hai loại đất này hiện quả chưa cao, giá trị sản lượng thu được thấp, hệ số sử dụng đất chưa cao

- Hệ thống các tuyến đường giao thông nội huyện và liên vùng còn chưa đồng bộ và rất phức tạp

Trang 22

- Hệ thống lưới điện, thông tin liên lạc chưa phủ sóng toàn huyện và còn nhiều hạn chế Hiện những mạng thông tin di động như Mobi fone, S Fone còn chưa phủ sóng đến Thị trấn Nguyên Bình

- Dân cư sống không tập trung, đa dân tộc, trình độ dân trí thấp, tư tưởng trông chờ ỷ lại còn nhiều, nên khó khăn trong việc quản lý tuyên truyền, và vận động về chủ trương, đường lối, chính sách Đảng và Nhà nước

- Hệ thống thương mại dịch vụ còn yếu và thiếu thốn, hoạt động buôn bán lẻ tẻ, không tập trung Mạng lưới bán lẻ đến xã còn rất thưa vắng Yếu tố thị trường trong quan hệ trao đổi, mua bán còn chưa phát triển, hoạt động kinh tế mang tính tự phát

1.2 Nội dung phương hướng công tác

1.2.1 Nội dung

- Tình hình và tập quán chăn nuôi lợn địa phương

- Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương

1.2.2 Biện pháp thực hiện

- Tuân thủ nội dung và quy chế của phòng khuyến nông – khuyến lâm huyện

- Lập kế hoạch làm việc với phòng khuyến nông – khuyến lâm huyện

và cán bộ thú y xã công tác lại phòng khuyến nông – khuyến lâm huyện Thường xuyên học hỏi kinh nghiệm với các cô chú các cán bộ chuyên môn

- Luôn nhiệt tình với công việc, nêu cao tinh thần trách nhiệm, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất

- Bản thân tích cực bám sát địa bàn, tìm hiểu rõ tình hình chăn nuôi thú

y để thực hiện nhiệm vụ đề ra trong thời gian thực tập

- Tích cực đọc sách báo, tài liệu để nâng cao kiến thức

1.2.3 Công tác phục vụ sản xuất

Trong thời gian thực tập tại cơ sở, với vốn kiến thức đã học trong nhà trường với sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của bản thân Được sự chỉ bảo, giúp

đỡ tận tình của thầy T.S Trương Hữu Dũng cùng toàn thể các thầy cô giáo bộ

môn và các cô chú cán bộ phòng khuyến nông – khuyến lâm huyện Nguyên Bình tôi đã đạt được một số kết quả trong công tác phục vụ sản xuất sau:

Trang 23

1.2.3.1 Công tác chăn nuôi

* Chăn nuôi trâu bò

Chúng tôi đã xuống từng địa bàn xã, từng cơ sở để tìm hiểu phương pháp chăn nuôi của bà con, từ đó tham gia vào giúp đỡ bà con chăn nuôi theo phương thức giản đơn nhưng vẫn mang lại hiệu quả bằng cách xử lí các phụ phẩm nghèo chất dinh dưỡng, nhiều xơ quá khó tiêu hóa của Ngành nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn cho trâu bò bằng cách ủ rơm với urê Đây là biện phát tốt để nâng cao hiệu quả và năng suất chăn nuôi, nguyên liệu gồm 4kg urê + 100 lít nước vào rơm khô Bể có thể dùng bể nổi hoặc bể chìm hoặc túi nilon dày

Vận động bà con cách phơi thức ăn để dự trữ đảm bảo lượng thức ăn cho trâu bò trong những ngày mưa phùn gió rét để tăng cường sức đề kháng chống lại bệnh tật giảm tỉ lệ chết của đàn trâu bò trong vụ đông Vận động bà con thường xuyên vệ sinh chuồng trại và hưỡng dẫn bà con sử dụng sức kéo của trâu, bò một cách hợp lí như không nên cho trâu bò kéo, cày liền trong nhiều giờ vào mùa đông không nên cho trâu bò làm việc quá sớm để tránh cảm lạnh

Trâu bò chửa giai đoạn cuối không nên tiêm vacxin, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, tránh cho thức ăn kém phẩm chất (thối mốc, lên men), chăn thả phải gần chuồng, bãi chăn thả phải bằng phẳng tránh gây tác động kích thích, chuẩn bị công tác đỡ đẻ tốt

Khi trâu bò đẻ khó phải can thiệp để tỷ lệ sơ sinh đạt hiệu quả cao hơn Ngoài ra còn giúp đỡ bà con cách xác định thời gian phối giống thích hợp để làm tăng tỉ lệ thụ thai Cách bố trí chuồng trại, đem phân vào hố ủ để hạn chế

điều kiện kí sinh trùng phát triển, định kì tẩy giun sán và tiêm phòng, khi trâu bò

có biểu hiện khác thường thì phải cách li và có chế độ nghỉ ngơi, ăn uống tốt, báo cáo ngay cho cán bộ thú y cơ sở biết để có biện pháp sử lí, điều trị kịp thời

* Chăn nuôi lợn

Trong chăn nuôi lợn rất nhiều hộ còn coi nhẹ việc công tác vệ sinh xây dựng chuồng trại chưa đúng kĩ thuật, không đảm bảo các điều kiện cho phát triển Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành vận động bà con xây dựng chuồng trại

Trang 24

tốt nhằm đảm bảo khâu vệ sinh chuồng trại đồng thời đảm bảo đủ ánh sáng, chuồng trại phải ấm áp về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, phù hợp với từng lứa tuổi lợn

Học hỏi và giúp đỡ người dân về kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng quản lí lợn nái và lợn con Đối với lợn nái hậu bị, chọn lợn nái hậu bị, không chọn con không biết lí lịch rõ ràng, chỉ chọn con của lợn nái đẻ lứa thứ 3 đến lứa thứ 6 chọn những con có sức khỏe tốt nhất trong đời, cơ thể phát triển cân đối,

có 12 vú trở lên, khoảng cách vú đều nhau, núm vú tròn, thẳng hàng, không

có vú lép, bộ phận sinh dục phát triển bình thường

Giúp đỡ bà con chăm sóc lợn nái chửa: cần phải đảm bảo đủ dinh dưỡng để thai phát triển bình thường Trước khi đẻ một tuần phải giảm thức

ăn giàu đạm để phòng bệnh sưng vú và căng sữa sau khi đẻ Trước khi đẻ 1 –

2 ngày giảm 50% lượng thức ăn, ngày cắn ổ đẻ có thể cho lơn nái nhịn ăn hoàn toàn, cho uống nước hoặc ăn cháo loãng để lợn dễ đẻ, lợn sau khi đẻ cho

ăn thức ăn dễ tiêu hóa

Trong thời gian thực tập chúng tôi đã theo dõi về hiện tượng sắp đẻ của lợn nái để đẻ và chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn Đảm bảo cho lợn đẻ ở nơi kín gió,

ấm áp, có đệm lót mềm cho lợn con và chuẩn bị một số dụng cụ cần thiết như:

khăn lau, kéo cắt rốn, cấp cứu khi lợn con bị ngạt thở bằng cách thổi hơi vào mồm lợn và hô hấp nhân tạo Sau khi lợn con sinh ra dùng rẻ sạch lau dịch nhớt ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn con, sau đó cắt rốn, bấm nanh, cho lợn con bú sữa đầu sau đẻ 1 – 2 giờ, cố định đầu vú cho lợn con theo đúng kĩ thuật Theo dõi khi ra hết nhau nên tránh cho lợn mẹ ăn phải nhau Kiểm tra xem sót nhau không, khi lợn con được 3 – 4 ngày tuổi tiêm Dextran Fe để bổ sung sắt cho lợn con với liều lượng 1ml/con, tiêm nhắc lại lần 2 khi lợn 10 ngày tuổi Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, định kì tẩy giun sán và tiêm phòng định kì Sau khi lợn con cái sửa phải cho lợn nái ăn đầy đủ dinh dưỡng

để nhanh lại sức và chuẩn bị cho kì phối giống tiếp theo

* Chăn nuôi gia cầm

Đối với những hộ gia đình khó khăn về vốn và chưa có kinh nghiệm điều kiện chăn nuôi gia cầm theo phương thức chăn nuôi công nghiệp thì

chúng tôi vận động bà con nuôi gà địa phương theo phương thức nuôi thả vườn hoặc bán chăn thả

Trang 25

1.2.3.2 Công tác thú y

* Công tác tiêm phòng

Trong thời gian thực tập chúng tôi đã tuyên truyền và vận động bà con

là công tác vệ sinh như: Vệ sinh thức ăn nước uống, thức ăn phải sạch sẽ không hư hỏng, không thối mốc…

Vệ sinh chuồng trại: chuồng trại phải thường xuyên quét dọn sạch sẽ, khô ráo, không được cho nước ứ đọng, chuồng đủ ánh sáng, đảm bảo thoáng mát về màu hè và ấm áp về mùa đông, phải có hố ủ phân, phát quang xung quanh chuồng trại

Với phương châm phòng hơn chữa bệnh cũng đủ thấy tầm quan trọng của công tác phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm là biện pháp tích cực và bắt buộc

Trên cơ sở đó, hàng năm trạm thú y huyện tổ chức 2 đợt tiêm phòng vào tháng 3 và tháng 4, đợt 2 vào tháng 9 và tháng 10 Tuy nhiên, việc tiêm phòng dịch cho đàn gia súc, gia cầm còn gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân trình độ nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế cộng với phương thức chăn nuôi quản canh

* Công tác điều trị bệnh

Trong chăn nuôi việc phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho những gia súc, gia cầm ốm là một khâu hết sức quan trọng nhằm đảm bảo sức khỏe cho gia súc, gia cầm, ngăn chặn lây lan dịch bệnh gây ra Trong thời gian thực tập tốt nghiệp cùng với sự giúp đỡ của các cô chú cán bộ thú y cơ sở chúng tôi đã phát hiện và điều trị một số bệnh như sau:

• Bệnh xoắn khuẩn (leptospirosis) (bệnh nghệ ở lợn)

- Triệu trứng: Sốt cao 40 – 40,5oC Mệt mỏi ít ăn, uống nước nhiều Con vật táo bón sau đó ỉa chảy, vàng da, nước tiểu vàng hoặc đi tiểu ra máu

- Điều trị:

- Leptocin: 1ml/5kgP/ngày, ngày đầu 2 mũi, sau 2 – 3 ngày tiêm 1 mũi 1ml/10kgP

- Thuốc bổ trợ: Vitamin B1, Vitamin C

Sau khi tiêm 4 – 6 ngày thấy con vật bắt đầu hồi phục lại sức khỏe Kết quả điều trị 2 con khỏi cả 2

Trang 26

- Điều trị: Dùng thuốc TĐ Colestin SF

pha nước uống và bơm trực tiếp vào miệng gà

kết quả điều trị 20 con còn sống 18 con

Kết quả con vật khỏi bệnh

Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

Kết quả (khỏi – an toàn) (con)

Tỷ lệ (%)

Trang 27

1.3 Kết luận và đề nghị

1.3.1 Kết luận

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, được sự giúp đỡ tận tình của thầy T.S Trương Hữu Dũng và của các thầy cô, chú phòng khuyến nông – khuyến lâm huyện, cùng với sự cố gắng của bản thân tôi đã thu được một số kết quả nhất định Tuy kết quả phục vụ sản xuất này còn khiêm tốn nhưng nó rất quý báu cho bản thân và cho tôi một bài học bổ ích, thiết thực bởi từ đó giúp tôi nâng cao kiến thức về mặt chuyên môn, làm quen với công việc trong thực tế sản xuất nhất là trong chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh gia súc, gia cầm

Qua thời gian thực tập này tôi đã học được nhiều kinh nghiệm của các

cô chú cán bộ chuyên môn, đã trải qua nhiều năm lăn lội với thực tế

Đồng thời đây cũng là cơ hội cho tôi vận dụng lý thuyết đã học vào thực

tiễn sản xuất và nắm vững được tình hình chăn nuôi hiện nay của địa phương

1.3.2 Đề nghị

Trong thời gian tôi thực tập tại phòng Khuyến nông – Khuyến lâm huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng từ kết quả thu được tôi mạnh dạn đưa ra một số ý kiến sau:

- Tăng cường đội ngũ cán bộ khuyến nông thường xuyên phổ biến, hướng dẫn bà con nông dân áp dụng những tiến bộ khoa học hướng kĩ thuật vào sản xuất

- Mở lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khuyến nông cán bộ thú y cơ sở, đầu tư trang thiết bị bệnh vật nuôi tại

địa phương đạt kết quả tốt hơn

- Thường xuyên vận động bà con chú trọng đầu tư con giống, thực hiện tốt các khâu vệ sinh chuồng trại

- Kêu gọi đầu tư của nhà nước, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, các tổ chức khuyến nông về giống, vốn, trang thiết bị…

- Mở rộng quy mô sản xuất, tìm thị trường tốt cho đầu ra sản phẩm chăn nuôi bà con

- Cần phải quan tâm hơn nữa đến tình hình chăn nuôi lợn địa phương (lợn Đen) của huyện để từ đó đề ra biện pháp thích hợp nhằm tăng nhanh đàn lợn có phẩm chất tốt phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng

Trang 28

Phần thứ hai CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Tên đề tài:

“Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn

địa phương (lợn Đen) nuôi tại Nguyên Bình – Cao Bằng”

2.1 Đặt vấn đề:

Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày càng cao của con người, nhu cầu về thực phẩm cũng ngày càng nâng cao không chỉ là giá trị dinh dưỡng,

mà còn phù hợp với khẩu vị ăn hàng ngày và phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Chính vì vậy, ngành chăn nuôi lợn được chú trọng và phát triển bằng cách nhập khẩu, lai tạo nhiều giống lợn khác nhau nhằm nâng cao về cả

số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng nhu cầu của xã hội

Những năm gần đây chương trình nạc hoá đàn lợn luôn là mục tiêu hàng đầu của nhà nước, nhằm cung cấp con giống chất lượng cao cho người chăn nuôi với các giống lợn nạc, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao, đem lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi Ngoài ra, nó còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến Bên cạnh quá trình nạc hoá ngày càng cao, thì các giống lợn nội, lợn địa phương đang bị giảm dần, một số giống lợn có nguy cơ bị tuyệt chủng Ở các vùng nông thôn nghèo, vùng núi cao, nơi không có điều kiện đầu tư vào chăn nuôi thì việc chăn nuôi lợn địa phương vẫn được ưa chuộng và phổ biến Ngoài ra, lợn địa phương còn là nguồn gen quí và đa dạng để bảo tồn, khai thác, lai tạo các giống thương phẩm trong tương lai, nâng cao hiệu quả chăn nuôi cho người dân và tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Vì vậy, ta phải bảo tồn, khai thác các nguồn gen quý hiếm

Các giống lợn địa phương của đồng bào dân tộc cả nước nói chung và

đồng bào dân tộc tỉnh Cao Bằng nói riêng ngày càng được ưa chuộng và nuôi

phổ biến Lợn địa phương của các đồng bào dân tộc tỉnh Cao Bằng, được gọi

Trang 29

bằng nhiều tên khác nhau như: lợn Đen, lợn Bản hoặc lợn Mán Giống lợn này có nhược điểm là khả năng sinh sản và sinh trưởng thấp cùng với trình độ chăn nuôi người dân chưa cao, chủ yếu là chăn nuôi tự phát, công tác vệ sinh thú

y chưa được quan tâm Do vậy, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi chưa cao, đàn lợn còn mắc nhiều bệnh, chưa phát huy được thế mạnh của giống lợn địa phương Tuy nhiên, chúng có một số ưu điểm như chất lượng thịt thơm ngon,

dễ nuôi, ít bệnh tật thích nghi tốt với điều kiện khí hậu vùng núi và tập quán chăn nuôi của đồng bào dân tộc Vì vậy, đây vẫn là giống phù hợp nhất với tập quán chăn nuôi của các đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa Chất lượng thịt của lợn Đen rất thơm ngon được bán với giá cao, nên trong những năm gần đây chăn nuôi lợn Đen là một trong những hướng phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Cao Bằng và các vùng lân cận khác

Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên chúng tôi triển khai nghiên cứu và

điều tra khảo sát một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của lợn Đen nuôi tại tỉnh Cao Bằng đây thực sự là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn rất

lớn trong phục vụ sản xuất, nhằm xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa ở Nguyên Bình nói riêng và cả tỉnh Cao Bằng nói chung

- Mục đích của đề tài là:

+ Khảo sát về sự phân bố của lợn Đen nuôi tại 3 xã của Huyện Nguyên Bình – Tỉnh Cao Bằng

+ Xác định được một số đặc điểm ngoại hình, chỉ tiêu sinh lí động dục

và khả năng sinh sản của lợn Đen nuôi tại Nguyên Bình – Cao Bằng

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

2.2.1.1 Cơ sở về việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của lợn

* Đặc điểm về di truyền của lợn:

Cũng như các loài gia súc khác, đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền mendel Màu sắc lông da như trắng, đen, vàng là những tính trạng chất lượng do một đôi

Trang 30

gen quy định, không thay đổi qua các thế hệ Còn các tính trạng: Số con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ, chất lượng thân thịt là những tính trạng số lượng, do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Văn Thiện và cs, 1998) [27]

Các tính trạng số lượng và chất lượng đều chịu sự tác động giữa kiểu di truyền và môi trường Kiểu di truyền hay kiểu gen là sự có mặt và hoạt động của từng kiểu gen riêng rẽ để ảnh hưởng đến sự hình thành của tính trạng hoặc là sự tổng hợp, sự tác động tương hỗ giữa các gen trong quá trình phát triển cá thể, thể hiện như một thể thống nhất, toàn vẹn, điều hòa toàn bộ đời sống của con vật Kiểu di truyền là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài thông qua sự chọn lọc tự nhiên Kiểu hình là toàn bộ tính trạng của cá thể hình thành biểu hiện gắn với kiểu di truyền nhưng có thể quan sát, phân tích

được và chịu ảnh hưởng thay đổi qua các yếu tố môi trường (Trần Đình Miên,

và cs, 1995) [17]

Cũng theo tác giả trên cho biết: sự phân chia đầu tiên của giá trị kiểu hình là sự phân chia nó thành các phần có thể bị ảnh hưởng của kiểu gen mà môi trường Kiểu gen là một tập hợp đặc biệt của các gen có được của một các thể và môi trường là tất cả các yếu tố không di truyền (non – gentic) Các giá trị có liên hệ với kiểu di truyền và môi tường là giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường Kiểu di truyền quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch từ giá trị này theo hướng này hoặc hướng khác Quan hệ này được biểu thị bằng công thức:

P = G + E

P là giá trị kiểu hình của một tính trạng (Phenotype); G là giá trị kiểu gen (Genotype) và E là giá trị ngoại cảnh hay còn gọi là sai lệch môi trường (Enviroment) Giá trị kiểu gen (G) của giá trị khối lượng do nhều gen có hiệu

ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của

từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hửng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (poligen) Các minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và

át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:

G = A + D + I

Trang 31

Trong đó:

G : Giá trị kiểu gen

A : Giá trị cộng gộp

D : Giá trị sai lệch trội

I : Giá trị sai lệch tương tác

A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác

định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò

quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con

có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao

Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao

Ngày nay, người ta thu được những bằng chứng cho thấy tác động bổ sung một mình của gen không liên quan chặt chẽ với sự di truyền các tính trạng số lượng, mà các kiểu tác động khác của gen như siêu trội, trội và át gen cũng rất quan trọng, hơn nữa điều kiện ngoại cảnh là một nguyên nhân quan trọng của sự biến thiên ở hầu hết các tính trạng Việc xác định ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh tới các tính trạng kinh tế ở gia súc sẽ rất có ích trong việc đưa ra những biện pháp lai giống và chọn lọc có hiệu quả nhất (J.F.lasley, 1974) [39]

Trong chăn nuôi lợn, tính trạng số lượng quyết định đến các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác

là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường Yếu tố

di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống

Trang 32

như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn Hai cá thể giống nhau về kiểu gen nhưng

có thể khác nhau về kiểu hình nếu được nuôi trong hai môi trường khác nhau Một cá thể có năng lực di truyền yếu nên được nuôi trong môi trường thuận lợi hơn dễ được xếp hạng cao hơn cá thể khác có năng lực di truyền cao nhưng được nuôi trong môi trường kém (Nguyễn Thiện và cs, 2005) [26] Vì thế trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi chất lượng cao ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổng hợp gen mới có năng suất chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng và chăm sóc đối với con vật

* Tập tính của lợn

Theo Vũ Đình Tôn và cs, 2005 [29], lợn có tập tính sống theo bày đàn trong tự nhiên, tuy nhiên con đực có thể tách đàn đi riêng một mình, nó đủ sức tự vệ, không cần sự che chở của con khác

Tập tính phòng vệ và đấu tranh sinh tồn của lợn: Lợn đực nhà nuôi riêng, khi hai con gặp nhau, lông gáy dựng đứng, hai hàm răng va vào nhau phát ra tiếng kêu kịch, kịch đe dọa lẫn nhau, bọt mép sùi ra hai bên mũi, lợn

đực xông lên nhằm đe dọa nhau; trong giao phối tự nhiên vào mùa sinh sản

của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh dành lợn cái giữa các con đực

Lợn có tính tò mò cao và hiếu động lợn nhà được tập luyện cho ăn với hiệu lệnh, đúng giờ ăn, ỉa, đái, nằm ngủ đúng chỗ quy định, khi sợ hãi lợn thường kêu rít, cơ bắp run, chụm vào nhau một góc chuồng, lợn thích ngủ nơi tối

Lợn có một số tập tính hoạt động thông thường như đi lại, đứng và ngủ trong thời gian nằm

• Một số tập tính đặc thù của lợn:

- Hoạt động bú sữa của lợn: Khi cho con bú, con mẹ nằm nghiêng, thẳng, hai hàng vú lộ rõ Đàn con mỗi con bú một vú, tranh thủ mút liên tục mỗi con 9 – 10 giây, con mẹ phát ra tiếng kêu “ịt ịt ” liêu tục đều đặn trong khi cho con bú Lợn con mới sinh ra có thể đứng ngay được và có thể tự tìm

vú mẹ để bú, lợn mẹ vừa đẻ vừa cho con bú Trong chăn nuôi lợn nái xem xét hoạt động này có thể đánh giá một phần khả năng tiết sữa của lợn mẹ, sức

Trang 33

khỏe và chất lượng đàn con Nếu thời gian thúc vú nhiều mà tiết sữa ít, chúng

tỏ khả năng sản suất sữa của lợn mẹ hạn chế

- Hoạt động phối giống của lợn đực: Con đực còn có hoạt động nhảy cái, có khả năng phát hiện được con cái động dục, nó tìm cách tiếp cận, nếu con cái tiếp nhận, thì con đực sẽ tiến hành giao phối

- Hoạt động lợn nái đẻ: Lợn nái chuẩn bị đẻ có biểu hiện tìm ổ, cào phá Biết được hoạt động của lợn nái đẻ người chăn nuôi lợn có thể quan sát theo dõi lợn sinh sản tốt hơn, phát hiện tình trạng bệnh lý trong quá trình đẻ của lợn để có thể can thiệp kịp thời (Vũ Đình Tôn và cs, 2005) [29]

Tập tính của lợn thể hiện ra hằng ngày, trong quá trình chăn nuôi chúng

ta theo dõi và phát hiện ra tập tính của lợn, để có biện phát chăm sóc cũng như quy trình chăn nuôi hợp lý, huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện, là cho khả năng thích nghi của lợn trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên phong phú hơn, lợn có thể phát huy hết tiềm năng của nó

* Đặc điểm về sự thích nghi của lợn

Khả năng thích nghi của lợn là khả năng thích ứng với sự thay đổi môi trường sống, từ môi trường cũ sang môi trường mới con lợn vẫn sinh tồn phát triển, giữ vững được các tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm này cho

đời sau

Lợn có khả năng thích nghi cao với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau,

do đó địa bàn phân phối của chúng tương đối rộng rãi trên thế giới

Khả năng thích nghỉ của lợn còn thể hiện ở khả năng duy trì được các

đặc điểm về sinh trưởng phát triển, tính năng sản xuất và di truyền các đặc điểm tốt này cho đời sau Khi di chuyển từ vùng ôn đới sang nhiệt đới và

ngược lại, lợn vẫn giữ được các đặc điểm của giống

Trong thực tiễn sản xuất, người ta lợi dụng đặc điểm này để tập cho lợn

có phản xạ có điều kiện thuận lợi như: Tập cho lợn phản xạ biết bài tiết phân, nước tiểu đúng nơi quy định, tập cho lợn ăn đúng chỗ, đúng giờ, huấn luyện

đực giống nhảy giá để khai thác tinh trong truyền giống nhân tạo (Trần Văn

Phùng và cs, 2004) [19]

Trang 34

* Đặc điểm ngoại hình, thể chất của lợn

Theo Trần Đình Miên và cs, (1975) [16], thông qua việc đánh giá ngoại hình và thể chất của gia súc, có thể chọn làm con giống, cũng như để nuôi thịt

và xác định giá trị của con vật Hơn nữa, có những tính trạng không thể tiến hành cân đo hoặc phân tích bằng phương pháp hóa lý sinh, cho nên càng phải

đánh giá qua ngoại hình và thể chất

Ngoại hình là hình dáng bên ngoài có liên quan đến thể chất, sức khỏe, hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể gia súc và là hình dạng đặc trưng của một phẩm giống Thể chất liên quan chặt chẽ với sức khỏe, con vật có thể chất tốt thì suốt đời khỏe mạnh, nhanh, có sức sản xuất cao, dù điều kiện ngoại cảnh có thay đổi khá nhiều Thể chất có biểu hiện qua ngoại hình là sức khỏe đầy đủ, sức sống, sức đề kháng, sức sinh sản, tính thích nghi của gia súc,

ở cơ thể chắc chắn, ở bộ phận có liên quan trực tiếp đến sức sản xuất như

mông, vai, phát triển ở thịt lợn sẽ cho nhiều thịt Đặc trưng của một phẩm giống trước tiên bao giờ cũng nhìn qua ngoại hình, nhất là đối với màu sắc lông, da hoặc các bộ phận giới tính và thông qua ngoại hình giúp ta biết được hướng sản xuất của con vật

Ngoại hình là một đặc điểm mà khả năng di truyền ít chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố ngoại cảnh Màu sắc lông da là đặc điểm ngoại hình đặc trưng của giống Trong một đàn lợn giống thuần, nếu màu sắc không thuần nhất là có hiện tượng biến dị xấu (Trần Cừ và cs, 1985) [3]

Dựa vào đặc điểm ngoại hình giúp chúng ta có thể quan sát, phân biệt giữa các nhóm lợn đặc thù của từng vùng sinh thái khác nhau

2.2.1.2 Đặc điểm về sinh trưởng, khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn

* Sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng

Sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu cho các khái niệm cũng phần nào khác nhau

Khi nghiên cứu về sinh trưởng, Johansson L (1972) [40] đã có khái niệm như sau: Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ

Trang 35

tiêu đánh giá sự sinh trưởng Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không phải là tăng trưởng Sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng và các chiều của các tế bào mô cơ Ông còn cho biết cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật

Theo Trần Đình Miên và cs (1975) [16], sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất

Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành, quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm, nhưng chủ yếu

là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định

Để xác định sinh trưởng thường dùng phương pháp cân định kỳ khối

lượng và đo kích thước các chiều của cơ thể Ở lợn thường đo ở 4 chiều: Dài thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống và thường cân đo ở các tháng tuổi: sơ sinh, 1, 2, 4, 6, 8, 10, 12, 18, 24, 36

Đối với lợn sinh sản, ngoài việc cân, đo còn phải chú ý tới các thời kỳ

thành thục, thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già, có như vậy ta mới biết được nên phối giống cho lợn vào thời kỳ nào là tốt nhất, để không những cơ thể lợn

mẹ phát triển tốt, mà chất lượng đàn con cũng cao, biết được thời kỳ nào ta nên loại thải lợn nái, để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất

* Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn

Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật:

Trang 36

- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi

- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là trong thai và ngoài thai

+ Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1- 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày

Trong thực tế sản xuất người ta chia ra: lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ Lợn chửa kỳ II rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II Theo Trương Lăng và cs (1995) [10], bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 3,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần Nếu lợn chửa kỳ

II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh, dù nuôi dưỡng tốt, vẫn chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng xuất chuồng

+ Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường từ 28 - 30 ngày Hiện nay, một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 23 và 28 ngày tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ Tuy nhiên, muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn, ta phải bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ, những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không

bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Văn Thiện và cs, 1998) [27]

Theo D.A.Kislowsky, 1930 (dẫn theo Nguyễn Ân và cs, 1983) [2] đã cho biết: Thời gian của các giai đoạn sinh trưởng dài hay ngắn, số lượng giai

đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác

nhau Sự sinh trưởng phát dục không đồng đều được biểu hiện ở sự thay đổi

rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng trọng của cơ thể con vật ở từng lứa tuổi, sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận, cơ quan (mô,

Trang 37

xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm

Trên cơ sở nắm được quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, sẽ giúp cho con người xác định các điều kiện ngoại cảnh, xây dựng các khẩu phần thức ăn thích hợp, để điều khiển sự sinh trưởng phát dục của vật nuôi, theo hướng có lợi nhất Để con lợn phát triển tốt, thì ở một mức độ nhất định nào đó, phải chú ý nhiều hơn ngay lúc con mẹ có thai và trong giai đoạn con vật còn non sẽ dễ dàng thích nghi với điều kiện sống ngoài cơ thể mẹ, nâng cao sức sản xuất và phẩm chất giống sau này

* Đặc điểm sinh sản và khả năng sản xuất của lợn nái

Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sinhvật sống Ở gia súc, quá trình sinh sản không chỉ là sự truyền thông tin di truyền

từ thế hệ này đến thế hệ khác, mà còn liên quan tới sự điều chỉnh nội tiết, đến các giai đoạn khác nhau của quá trình đó

Khi gia súc sinh trưởng phát triển đến một giai đoạn nhất định, thì có

sự thay đổi, biểu hiện đầu tiên của sinh sản đó là sự thành thục về tính Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, (2006) [24] cho biết: Thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng, con

đực có khả năng sinh ra tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng

thụ thai Lợn là gia súc đa thai, sinh đẻ dễ dàng, khả năng thành thục về tính sớm Nguyễn Văn Thiện và cs (1998) [27] cho biết: Lợn cái nội 3 đến 4 tháng tuổi đã có hiện tượng rụng trứng, lợn đã động dục

2.2.1.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái

* Chu kỳ động dục của lợn cái

Lợn cái sau khi thành thục về tính thì có biểu hiện động dục, cứ sau một khoảng thời gian nhất định, cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi

đặc biệt, kèm theo sự rụng trứng và động dục, hiện tượng này lặp đi lặp lại

nhiều lần gọi là chu kỳ động dục, chu kỳ động dục của lợn cái trung bình 21 ngày (18 - 21 ngày)

Trang 38

* Tuổi động dục đầu tiên

Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau tuỳ theo giống Lợn nội tuổi

động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động lần đầu muộn

hơn so với lợn nái nội thuần Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2006) [4] cho biết: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm 4 - 5 tháng tuổi khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn

so với lợn nội thuần Ở lợn lai F1(có 1/2 máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là động dục lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng

65 - 68 kg, không cho lợn phối giống ở thời kỳ này, vì cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái sinh sản bền lâu, cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống Tuổi

động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại

cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1998) [1]

* Tuổi phối giống lần đầu

Thông thường ở lần động dục lần đầu tiên người ta chưa phối giống, vì

ở thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số trứng rụng còn ít Người ta

thường cho phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc ba Tuổi phối giống lần

đầu của lợn thường được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời

gian động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu Thường phối giống vào lúc 6 - 7 tháng tuổi khi khối lượng đạt 40 -

50 kg, đối với lợn ngoại do khối lượng động dục lần đầu lớn, cho nên có thể phối giống từ lần động dục đầu tiên Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg và lợn ngoại phối giống vào lúc 9 tháng tuổi với khối lượng không dưới 80kg

Vậy, tuổi phối giống lần đầu tiên của lợn cái hậu bị là một vấn đề cần

được quan tâm và phối giống cho đúng thời điểm, khi lợn đã thành thục về

tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được khả năng sinh sản

Trang 39

của lợn nái và nâng cao được phẩm chất đời sau Thực tế đã chứng minh rằng, nếu phối giống quá muộn sẽ gây lãng phí kinh tế, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó (Nguyễn Khánh Quắc và

cs, 1995) [20]

* Tuổi đẻ lứa đầu

Là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Sau khi phối giống, lợn có chửa 114 ngày (112 - 116 ngày), cộng thêm số ngày mang thai này lợn sẽ có tuổi đẻ lứa

đầu Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2006) [4: Lợn nái nội trong sản xuất,

tuổi đẻ lứa đầu thường 11- 12 tháng, lứa đầu cho phối lúc 7 tháng tuổi, khối lượng cần đạt từ 45 - 50 kg nếu cho phối với đực ngoại để có đàn con lai kinh

tế Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lần đầu lúc 12 tháng tuổi nhưng không quá 14 tháng tuổi, vậy phải phối giống lứa đầu ở lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng lớn không dưới 65 - 70 kg, đối với lợn ngoại cho phối giống lúc 9 tháng tuổi với khối lượng không dưới 80 - 90 kg

* Lợn nái động dục trở lại sau đẻ

Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2006) [4] cho biết: Sau cai sữa (lúc 50 – 55 ngày) khoảng 3 đến 5 ngày thì lợn nái động dục trở lại Thời gian này cho phối giống lợn dễ thụ thai và trứng chín nhiều, dễ có số con đông Sau khi đẻ

và nuôi con cơ thể lợn mẹ thường bị hao mòn từ 10- 20% so với trước khi đẻ, cần có biện pháp tránh sự hao mòn của cơ thể mẹ sau khi đẻ, không ép phối, nếu lợn nái sau khi cai sữa con, mà cơ thể hao mòn gầy sút Cần bỏ qua một chu kỳ để lợn nái lại sức và nuôi được bền lâu hơn Theo John R Diehl và cs, (1996) [40]: Trong chăn nuôi công nghiệp, có thể gây động dục đồng loạt bằng cách cai sữa đồng thời ở một nhóm lợn mẹ Sau cai sữa 3 - 5 ngày (lúc lợn con 45 - 50 ngày tuổi) lợn nái động dục trở lại Cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao

* Đặc điểm động dục của lợn cái

Sự lớn nhanh và phát triển mạnh của cơ quan sinh dục của lợn cái, đặc biệt là buồng trứng và tử cung, xảy ra ở độ tuổi 6 - 9 tháng với lợn ngoại 4 – 5 tháng với lợn nội Cùng với sự phát triển của cơ quan sinh dục, quá trình rụng trứng cũng được tăng dần theo độ tuổi, số lượng trứng rụng qua mỗi giai đoạn

Trang 40

khác nhau Ở lợn cái, khi 15 tuần tuổi mới xuất hiện các nang trứng đầu tiên, khi ở giai đoạn hậu bị trung bình rụng từ 8 - 14 trứng và số trứng rụng cao nhất ở giai đoạn lợn cái cơ bản là 12 - 20 trứng Số lượng trứng rụng còn phụ thuộc vào giống và tuổi

2.2.1.4 Khả năng sinh sản của lợn nái

* Các chỉ tiêu về số lượng đàn con bao gồm:

Lợn là loài đa thai có khả năng đẻ nhiều con mỗi lứa và nhiều lứa trong một năm, mỗi lứa có thể đẻ từ 6 - 14 con tuỳ theo từng giống Sở dĩ lợn đẻ

được nhiều con mỗi lứa là do số trứng rụng nhiều mỗi lần động dục, trung

bình từ 20 - 25 trứng Tuy nhiên, số con đẻ ra thường thấp hơn số trứng rụng Nhìn chung, ta có thể tăng được số con đẻ ra mỗi lứa nếu tăng tỷ lệ thụ thai và nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái hợp lý khi có chửa Khả năng sinh sản của lợn nái

được đánh giá theo những chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng đàn con

- Số con sơ sinh sống đến 24h/lứa đẻ: Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, nó phản ánh khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái có chửa và kỹ thuật thụ tinh nhân tạo của dẫn tinh viên Trong vòng 24h sau khi đẻ, những lợn con được sinh ra nếu không đạt trọng lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, đầu to, mông bé… sẽ bị chết

- Tỷ lệ nuôi sống: Trong một số ổ lợn, số lượng lợn sinh ra nhiều, nhưng để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của lợn con, người ta chỉ để lại 1 số lợn con nhất định phù hợp với khả năng nuôi con của lợn mẹ để nuôi

Tỷ lệ nuôi sống càng cao thì càng tốt

- Số lợn con cai sữa/nái/năm: Chỉ tiêu này là sự đánh giá tổng quan nhất đối với nghề nuôi lợn nái Người nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là nhờ số lượng lợn con cai sữa trên nái trên năm Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn cai sữa/nái/năm

sẽ cao Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào tập quán chăn nuôi, kỹ thuật chăn nuôi và trình độ chế biến thức ăn cho lợn con Ở các nước tiên tiến

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng một số giống cây trồng chính - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng một số giống cây trồng chính (Trang 18)
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 26)
Bảng 2.2. Sản xuất thịt lợn trên thế giới trong những năm gần đây - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.2. Sản xuất thịt lợn trên thế giới trong những năm gần đây (Trang 52)
Bảng 2.3. Cơ cấu của đàn lợn huyện Nguyên Bình qua 3 năm - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.3. Cơ cấu của đàn lợn huyện Nguyên Bình qua 3 năm (Trang 56)
Bảng 2.4. Phân bố và cơ cấu đàn lợn tại 3 xã của huyện - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.4. Phân bố và cơ cấu đàn lợn tại 3 xã của huyện (Trang 58)
Bảng 2.5. Phân loại lợn đen theo đặc điểm ngoại hình tại 3 xã - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.5. Phân loại lợn đen theo đặc điểm ngoại hình tại 3 xã (Trang 60)
Bảng 2.6.  Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Đen Nguyên Bình - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Đen Nguyên Bình (Trang 63)
Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái địa phương - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái địa phương (Trang 65)
Bảng 2.8. Tỷ lệ nuôi sống lợn con qua các giai đoạn  STT - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.8. Tỷ lệ nuôi sống lợn con qua các giai đoạn STT (Trang 69)
Bảng 2.9. Một số chiều đo chính của lợn nái trưởng thành - Theo dõi một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của giống lợn địa phương (Lợn Đen) nuôi tại huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng.
Bảng 2.9. Một số chiều đo chính của lợn nái trưởng thành (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w