Xuất phỏt từ nguyện vọng của bản thõn và được sự đồng ý của Ban giỏm hiệu của nhà trường, được sự phõn cụng của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuụi Thỳ y và được tiếp nhận của cơ sở thực tập, t
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Trang 3Nguyên, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của thầy giáo, cô giáo Nhờ vậy, tôi đã được các thầy giáo, cô giáo trang bị cho kiến thức khoa học kỹ thuật, cũng như đạo đức của người cán bộ tương lai Thầy, cô đã trang bị cho tôi đầy đủ hành trang va một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống và vào nghề nghiệp sau này
Để có thể hoàn thành tốt được khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân Tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi - Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Quang Tính, cùng với sự giúp đỡ của chú Trường, cô Hằng - là chủ trang trại lợn Trường Hằng xã Đức Thắng, Hiệp Hòa, Bắc Giang đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Bân chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Quang Tính - Bộ môn Dược lý và An toàn thực phẩm đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành bản khóa luận này
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô chú Trường Hằng chủ trang trại lợn và tập thể cán bộ công nhân viên trại chăn nuôi Trường Hằng Đức Thắng - Hiệp Hòa - Bắc Giang Những người đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân của tôi đã hết lòng động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập để tôi hoàn thành tốt khóa luận này
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Phạm Đức Thịnh
Trang 4Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, thực tập
tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các Trường Đại học và Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng
Mỗi sinh viên sau khi kết thúc khóa học của mình đều phải tiến hành một khóa thực tập tốt nghiệp do nhà trường tổ chức Đây là thời gian giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn, học hỏi thêm kiến thức, kinh nghiệm đúc rút ra từ thực tiễn sản xuất để từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào thực tiễn sản xuất Do vậy, thực tập tốt nghiệp trước khi ra trường là một giai đoạn quan trọng và cần thiết đối với mỗi sinh viên
Quá trình thực tập tốt nghiệp là một quá trình rèn luyện, giúp sinh viên
ra trường trở thành kỹ sư thực sự có trình độ kỹ thuật và năng lực làm việc, góp phần vào phát triển sản xuất và xây dựng đất nước
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban giám hiệu của nhà trường, được sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và được tiếp nhận của cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành thực tập tốt
nghiệp trong Trang trại Chăn nuôi với đề tài: “ Tình hình mắc hội chứng tiêu
chảy ở lợn con tại trại lợn Trường Hằng xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị ”
Tuy nhiên do bước đầu làm quen với thực tế, thời gian thực tập có hạn, trình độ kiến thức và kinh nghiệm chưa nhiều nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và bạn bè để bản khóa luận tốt nghiệp được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Phạm Đức Thịnh
Trang 5Trang
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Địa hình đất đai 1
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu thủy văn 2
1.1.1.4 Giao thông 3
1.1.1.5 Nguồn nước 3
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4
1.1.2.1 Tình hình dân cư xung quanh trại 4
1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4
1.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của trại 4
1.1.2.4 Nhiệm vụ chức năng của trại 6
1.1.3 Tình hình sản xuất của trại chăn nuôi 6
1.1.3.1 Tình hình sản xuất chăn nuôi 6
1.1.3.2 Tình hình sản xuất trồng trọt 7
1.1.3.3 Công tác thú y của trại 7
1.1.4 Đánh giá chung 9
1.1.4.1 Thuận lợi 9
1.1.4.2 Khó khăn 9
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 9
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 9
1.2.2 Phương pháp tiến hành 10
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 10
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 10
1.2.3.2 Công tác thú y 12
1.2.3.3 Công tác chẩn đoán: 13
1.2.3.4 Công tác điều trị bệnh: 13
Trang 61.3.2 Đề nghị 18
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 20
2.1 Đặt vấn đề 20
2.1.1 Mục đích của đề nghiên cứu 21
2.1.2 Mục tiêu của đề tài 21
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 21
2.1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 21
2.1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 21
2.2 Tổng quan tài liệu 21
2.2.1 Cơ sở khoa học 21
2.2.1.1 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy 21
2.2.1.2 Nguyên nhân tiêu chảy 23
2.2.1.3 Cơ chế gây tiêu chảy và bệnh lý lâm sàng của bệnh 30
2.2.1.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy 33
2.2.1.5 Triệu chứng và bệnh tích của hội chứng tiêu chảy 34
2.2.1.6 Các biện pháp phòng bệnh 37
2.2.1.7 Điều trị hội chứng tiêu chảy 40
2.2.1.8 Đặc điểm sinh lý lợn con 44
2.2.2 Tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở lợn con trong nước và trên thế giới 48
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 48
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 49
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 52
2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 52
2.3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 52
2.3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 52
2.3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 52
2.3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 53
2.3.4 Nguyên liệu và dụng cụ nghiên cứu 53
Trang 72.3.5.2 Phương pháp theo dõi đàn lợn 54
2.3.5.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 54
2.3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 55
2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 55
2.4.1 Xác định tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo cá thể 55
2.4.2 Xác định tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy theo tính biệt 56
2.4.3 Xác định tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi 58
2.4.4 Một số triệu chứng lâm sàng khi lợn con mắc hội chứng tiêu chảy 60
2.4.5 Đánh giá hiệu quả phòng hội chứng tiêu chảy 61
2.4.6 Đánh giá kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy 62
2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 63
2.5.1 Kết luận 63
2.5.2 Tồn tại 65
2.5.3 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
1 TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 67
2 TÀI LIỆU TIẾNG ANH 70
Trang 8Bảng 1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi của trại qua 3 năm 6
Bảng 1.2 Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn trong trại 8
Bảng 1.3: Chế độ và khẩu phần ăn của lợn nái (kg/con/ngày) 11
Bảng 1.4: Chế độ ăn của lợn nái nuôi con 11
Bảng 1.5: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 17
Bảng 2.1 Các serotype điển hình của vi khuẩn E Coli gây bệnh 50
Bảng 2.2 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo cá thể 55
Bảng 2.3 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy theo tính biệt 56
Bảng 2.4 Tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy qua các tháng trong năm 57
Bảng 2.5 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo lứa tuổi 58
Bảng 2.6 Triệu chứng lâm sàng lợn con mắc hội chứng tiêu chảy 60
Bảng 2.7 Đánh giá hiệu quả phòng hội chứng tiêu chảy 61
Bảng 2.8 Kết quả điều trị bệnh 62
Trang 9Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại Trường Hằng thuộc địa bàn xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang Đức Thắng là xã nằm bao quanh thị trấn huyện Hiệp Hòa Cách thành phố Bắc Giang 30 km về phía Tây Bắc Với tổng diện tích đất tự nhiên 1.009,85 ha, có trục đường quốc lộ 37, tỉnh lộ 295, 296, 288, đường nội
bộ 675 chạy qua, xã Đức Thắng tiếp giáp với trong huyện đó là:
- Phía Đông giáp xã Lương Phong, thị trấn
- Phía Tây giáp xã Hoàng Vân, Thái Sơn, Hùng Sơn
- Phía Bắc giáp xã Ngọc Sơn, Hoàng An
- Phía Nam giáp xã Danh Thắng, Thường Thắng
Nằm bao quanh trung tâm huyện cách thủ đô Hà Nội 65 km về phía Đông Có điều kiện thuận lợi trong giao thông, giao lưu trao đổi hàng hóa dịch vụ, có điều kiện tiếp cận nhanh với các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ mới Đồng thời giúp các hộ phát triện kinh tế dịch vụ, hàng hóa Điều kiện này giúp cho kinh tế của xã phát triển nhanh và đặc biệt giúp cho nhân dân nắm bắt thông tin về thị trường, về công nghệ mới, về nhu cầu lao động…được nhanh hơn
1.1.1.2 Địa hình đất đai
Xã Đức Thắng là một xã miền núi Địa hình đồng ruộng xen kẽ không bằng phẳng và thấp dần về phía Tây Nam của xã
Với tổng diện tích đất tự nhiên 1.009,85 ha:
Diện tích đất nông nghiệp là 560,13 ha
Diện tích đất phi nông nghiệp là 449,72 ha, trong đó:
- Đất ở là 281,22 ha
- Các loại đất khác là 168,5 ha
Trang 10Đất đai của xã chủ yếu là đất vàn và đất trũng Địa hình địa mạo khá phức tạp, xét về tiểu địa hình không đồng đều, cao thấp xen kẽ nhau giữa vàn cao và bãi trũng
Thành phần cơ giới đất tầng canh tác chủ yếu là trung bình, tầng đất dày do đó thuận tiện cho việc thâm canh cấy lúa nước, cây ăn quả và các loại rau màu thực phẩm khác
Địa hình: Phần mặt đất với các yếu tố trên bề mặt của nó như dáng đất, chất đất, thủy hệ, lớp thực vật, đường giao thông, điểm dân cư, các địa vật Trong quân sự, địa hình được đánh giá theo đặc điểm dáng đất, khả năng cơ động, điều kiện quan sát, ngụy trang và các điều kiện tự nhiên khác
Hiệp Hòa là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng, độ nghiêng theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, đồi núi và gò thấp ở một số xã phía Bắc, vùng đồng bằng tập trung ở phía Đông Nam và giữa huyện Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.110 ha (tức 201 km2), trong đó đất nông nghiệp là 13.479 ha chiếm 67%, đất lâm nghiệp 190,3 ha chiếm 0,9%, đất chưa sử dụng 1.653,2 ha chiếm 8,2% Đất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu thủy văn
Theo phân vùng của nhà khí tượng thủy văn, trang trại Trường Hằng trên địa bàn xã Đức Thắng nằm trong vùng Đông Bắc Bắc Bộ mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có bốn mùa rõ rệt, có hai loại gió chính
là gió Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10, khoảng thời gian này mưa nhiều, chiếm khoảng 70m - 75% tổng lượng mưa cả năm, chủ yếu khoảng tháng 7, tháng 8 Bên cạnh đó những tháng này còn có mưa bão gây lụt lội
Từ tháng 11 đến tháng 4 là gió mùa đông bắc thời tiết khô hanh, ít mưa, thời tiết lạnh nhất vào tháng giêng và tháng 2 Nhiệt độ trung bình từ 24 -250C, tổng nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 8600 - 88000C Độ ẩm không khí thoáng cao nhất là 84%, tháng thấp nhất là 70%
Trang 11Với những đặc điểm về thời tiết khí hậu như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp Thời tiết như vậy thích hợp cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi, giúp cho nông dân có thể đa dạng sản phẩm nông nghiệp Song bên cạnh những thuận lợi đó, thời tiết cũng gây cho nông dân những khó khăn về mùa màng thường gặp cho cây trồng khi chuẩn
bị thu hoạch, rồi khí hậu ẩm ướt tạo điều kiện cho sâu bệnh, dịch bệnh của cây trồng và vật nuôi phát triển
Trang trại nằm trong xã Đức Thắng nên cũng rất thuận lợi nguồn nước
xã Đức Thắng có hơn 5 km kênh tưới cấp 1 thường có mực nước xấp xỉ 2 m, bên cạnh đó Đức Thắng còn có hồ đầm rải rác Chế độ thủy văn của xã Đức Thắng có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa cạn
Nhìn chung, khí hậu, thủy văn trang trại Trường Hằng cũng như trên địa bàn xã tương đối thuận lợi cho chăn nuôi và trồng trọt Đem lại giá trị kinh tế và hiệu quả cao cũng như phát triển các ngành phụ, ngành nghề dịch
vụ khác trên địa bàn
1.1.1.4 Giao thông
Nằm bao quanh trung tâm huyện cách thủ đô Hà Nội 65 km về phía Đông Có điều kiện thuận lợi trong giao thông, giao lưu trao đổi hàng hóa dịch vụ, có điều kiện tiếp cận nhanh với các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ mới Đồng thời giúp các hộ phát triện kinh tế dịch vụ, hàng hóa Điều kiện này giúp cho kinh tế của xã phát triển nhanh và đặc biệt giúp cho nhân dân nắm bắt thông tin về thị trường, về công nghệ mới, về nhu cầu lao động…được nhanh hơn
1.1.1.5 Nguồn nước
Nguồn nước được sử dụng cho chăn nuôi của trại được lấy từ giếng khoan được bơm lên bể chứa lớn, qua bể lọc nước, được thường xuyên kiểm tra và vệ sinh, và đưa về các ô chuồng, mỗi ô chuồng đều có van uống tự động Nước dùng cho trồng trọt được lấy từ ao cá và tận dụng nguồn nước tự nhiên Nước bơm từ giếng khoan ước lượng khoảng 100 - 150 m3/ngày đêm
Trang 121.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Tình hình dân cư xung quanh trại
Trang trại Trường Hằng năm trên địa bàn xã Đức Thắng - là một xã nông nghiệp của huyện Hiệp Hòa Hầu hết dân cư sống xung quanh trại là nông dân, sống định cư bằng nghề nông Ngoài ra, tiểu thủ công nghiệp khá phát triển, cũng có một vài hộ gia đình có quy mô VAC hợp lý
Dân trí tại khu vục khá phát triển, người dân nơi đây đoàn kết Tình hình an ninh trật tự ổn định, ít tệ nạn xã hội Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Trang trại
1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Trang trại được cung cấp giống bởi Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, chăn nuôi theo hướng công nghiệp Trang trại được thành lập vào năm
2006 với diện tích khoảng 15.000 m2 Có đội ngũ công nhân giỏi, yêu nghề, đã
có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề Bên cạnh đó cũng có kỹ sư chăn nuôi
ra trường và nhận làm trong trang trại để trau rồi kiến thức, nâng cao tay nghề Đặc biệt trang trại có cấn bộ kỹ thuật giỏi do công ty CP điều về, giàu kinh nghiệm thực tế, năng động, nhiệt tình và có năng lực
Trang trại chăn nuôi gồm:
- 01 chủ trang trại
- 01 kỹ sư có trình độ đại học
- 01 kế toán kiêm thủ quỹ
- 01 người quản lí về điện nước
- 01 thủ kho
- 01 người quản lí về hậu cần
- 04 công nhân trực tiếp đứng chuồng trong đó 2 công nhân có trình độ cao đẳng, trung cấp và 2 công nhân có tay nghề chăn nuôi lâu năm
- 02 công nhân trồng trọt và chăm sóc ao cá
- 01 bảo vệ trang trại
1.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của trại
∗Hệ thống chuồng trại:
Khu chăn nuôi của trại được xây dựng trên khu đất cao, dễ thoát nước và
Trang 13được bố trí cách xa khu hành chính cũng nhu khu dân cư Chuồng trại được xây dựng với những yêu cầu kỹ thuật cao, theo tiêu chuẩn công ty chăn nuôi CP
Hướng chuồng trại theo hướng Đông Tây - Nam Bắc Chuồng có hệ thống làm mát hiện đại, và có hệ thống phun nước trên mái có tác dụng chống nóng rất tốt cho lợn vào mùa hè, hệ thống quạt gió đảm bảo độ thông thoáng cao, trong chuồng có thiết kế máng ăn máng uống tự động Tất cả hệ thống quạt điện, máy bơm nước đều được điều khiển bằng cầu giao tự động Trước cổng ra vào có hệ thống phun sát trùng, có hố sát trùng, trong cửa các ô chuồng cũng được thiết kế hố sát trùng
Ngoài ra, trang trại còn đầu tư thêm 1 trạm biến áp 2 pha và 1 máy phát điện 3 pha đảm bảo cho trại có điện phục vụ 24/24h
Khu vực dành cho chăn nuôi có tổng diện tích hơn 3000 m2 và được bố trí thành 4 dãy chuồng cho lợn con, lợn hậu bị và lợn thịt
Hiện tại trang trại đang tiếp tục xây dựng chuồng theo quy mô lớn theo quy mô công nghiệp Tăng cường thêm hệ thống giếng khoan, hồ chứa nước sạch đảm bảo cung cấp đủ nước phục vụ cho chăn nuôi và sinh hoạt
∗Các công trình phụ trợ:
- Phía trước khu vực sản xuất chăn nuôi có khu hành chính Cạnh phòng quản lý là phòng kỹ thuật với đầy đủ các dụng cụ phục vụ cho sản xuất như: thuốc thú y, xi lanh, kéo, panh, kìm bấm số tai…các dụng cụ chăn nuôi
từ đơn giản tới hiện đại, thuốc sát trùng…
- Tiếp đến là dãy nhà kho chứa thức ăn chăn nuôi, vôi sát trùng và vật
tư xây dựng Bên cạnh nhà kho là phòng sát trùng trước khi vào chuồng nuôi đảm bảo yêu cầu phòng dịch cho chuồng nuôi
- Ngoài ra trại có 4 giếng khoan, 2 bể chứa nước, 4 máy bơm để đảm bảo cung cấp nước cho phục vụ sản xuất và sinh hoạt
- Phía ngoài là khu nhà làm việc của chủ trại, quản lý và kỹ sư, khu vực nhà ở cho công nhân, phòng để dụng cụ bảo hộ lao động và phòng ăn…
- Trại cũng xây dựng bể khí biogas để xử lý chất thải và phục vụ việc nấu ăn cho công nhân
Trang 141.1.2.4 Nhiệm vụ chức năng của trại
Được sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công ty
cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, trại luôn đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
để nâng cao hiệu quả sản xuất Trại là cơ sở sản xuất cung ứng của huyện, của tỉnh, luôn cung cấp lợn giống cho các huyện trong tỉnh và một số vùng lân cận Đối với những lợn không đủ tiêu chuẩn làm giống thì được nuôi làm thương phẩm Ngoài ra, trại còn là mô hình chăn nuôi để các cơ sở tham quan, học hỏi
1.1.3 Tình hình sản xuất của trại chăn nuôi
1.1.3.1 Tình hình sản xuất chăn nuôi
Trong 3 năm gần đây, sản xuất chăn nuôi đã có sự phát triển đi lên khá
rõ rệt Kết quả cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi của trại qua 3 năm
Năm Lợn nái Lợn thịt xuất
chuồng(con)
Lợn hậu bị xuất chuồng(con) Tổng
(Nguồn: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam)
Như vậy, trong 3 năm gần đây ta thấy được mức tăng số đầu gia súc của trại, tuy nhiên mức tăng chưa cao chỉ đủ xuất bán ra thị trường và các tỉnh lân cận Nhưng trại đã và đang có xu hướng xây dựng và mở rộng thêm hệ thống chuồng trại, tăng cường áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ nâng cao hiệu quả chăn nuôi của trại
Ngoài lĩnh vực sản xuất chăn nuôi lợn thì trang trại con sử dụng diện tích ao hồ nhăm tận dụng chất thải chăn nuôi cá
Cán bộ công nhân viên luôn trong tình trạng cấm trại, tức là ăn ở trong trại, 1 tháng được nghỉ 4 ngày, khi đi làm phải mặc quần áo bảo hộ lao động
Trang 151.1.3.2 Tình hình sản xuất trồng trọt
Nhiệm vụ chính của trại là chăn nuôi Nhưng do điều kiện của trại có diện tích lớn nên đã tận dụng diện tích và nguồn chất thải của ngành chăn nuôi để sản xuất trồng trọt và cây ăn quả nhằm cung cấp thực phẩn cho trại Ngoài ra, trại còn trồng thêm nhiều cây lấy gỗ như keo, mỡ, bạch đàn và một số loại cây cảnh như si, sanh
1.1.3.3 Công tác thú y của trại
Trại rất coi trọng công tác phòng chống dịch bệnh, phương châm của
trại: “Phòng bệnh còn hơn chữa bệnh” Do đó, trại thực hiện rất nghiêm ngặt
công tác thú y như: Tổ chức tiêm phòng tất cả các bệnh theo đúng lịch trình tiêm phòng của Chi cục Thú y, do trực tiếp Kỹ sư Thú y của công ty CP thực hiện, thường xuyên phun sát trùng xung quanh chuồng trại, rắc vôi bột trên đường đi lại để khử trùng, người và xe vào trang trại được tắm và phun sát trùng cẩn thận Làm tốt công tác vệ sinh thú y, không để dịch bệnh xảy ra
Trại luôn đề cao chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh Đây là một việc hết sức quan trọng nhằm đảm bảo sức khỏe, khả năng chống đỡ bệnh tật của đàn lợn ở mức cao nhất Hằng ngày tiến hành vệ sinh chuồng trại sạch
sẽ, vệ sinh máng ăn máng uống 2 lần/ ngày trước khi cho lợn ăn, vệ sinh nền chuồng và máng nước, đảm bảo chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè,
ấm áp về mùa mùa đông Thường xuyên vệ sinh chuồng trại theo định kỳ: Tẩy uế sát trùng, tiêu độc toàn bộ khu vực chuồng trại, vệ sinh xung quanh chuồng trại Làm tốt công tác vệ sinh thú y, không để dịch bệnh xảy ra
phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” Trại đã sử dụng các loại vắc xin
tiêm phòng cho đàn lợn ở tất cả các lứa tuổi (vắc xin Tụ dấu, Dịch tả, Phó thương hàn, Lở mồm long móng…)
chẩn đoán và điều trị kịp thời cho đàn lợn mắc bệnh
Trang 16Bảng 1.2 Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn trong trại
Tiêu chảy Uống 1ml/5kgTT
2 3 Tiêm Fe lần 1 Thiếu máu tiêm 1ml/con
3 7 Respisure Suyễn lần 1 tiêm 2ml/con
4 10 Tiêm Fe lần 2 Thiếu máu tiêm 2ml/con
tiêm 2ml/con
9 45 Dịch tả lần 2 Dịch tả tiêm 2ml/con
10 60 Dịch tả lần 3 Dịch tả tiêm 2ml/con
Tuần tuổi Nái
tiêm 2ml/con
Colibacillosis tiêm 2ml/con
Tiêu chảy, viêm
Trang 171.1.4 Đánh giá chung
1.1.4.1 Thuận lợi
Trang trại luôn được sự quan tâm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ban ngành có liên quan: Chi cục Thú y, trạm Thú y huyện Hiệp Hòa…
Chủ trang trại có năng lực, năng động nắm bắt được xu thế xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất hay tinh thần của công nhân
Đội ngũ công nhân yêu nghề, có kinh nghiệm, năng động, nhiệt tình, sáng tạo có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
Trại có chế độ khen thưởng đối với cá nhân có kết quả tốt trong công việc, đồng thời cũng nhắc nhở, khiển trách đối với những công nhân không hoàn thành nhiệm vụ Trại được xây dựng theo quy mô công nghiệp, do đó rất phù hợp với điều kiện phát triển lợn ngoại
Sản phẩm lợn thịt của trại hoàn toàn là máu ngoại với tỷ lệ nạc cao phù hợp với nhu cầu của người dân và thị trường tiêu thụ
Cơ sở vật chất của trại đáp ứng nhu cầu chăn nuôi, sản xuất theo quy
mô công nghiệp
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Để hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập, căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, trên cơ sở phân tích khó khăn, thuận lợi của trại, áp dụng kiến thức đã học trong nhà trường, sách báo vào thực tiễn sản xuất
Trang 18Kết hợp với học hỏi kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật và công nhân tại trại Từ đó, tôi đã đề ra nội dung công việc phải hoàn thành như sau:
- Tham gia chăm sóc nuôi dưỡng các loại lợn: Chăn nuôi lợn nái chửa, lợn nái đẻ, chăm sóc lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa …
- Tiêm vắc xin cho đàn lợn theo định kỳ, theo quy trình chăn nuôi
- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh xảy ra tại trại
- Sát trùng và vệ sinh chuồng trại theo định kỳ
- Tham gia công tác khác
- Tiến hành nghiên cứu chuyên đề khoa học trên đàn lợn tại trại
- Tham gia vào các công tác khác
1.2.2 Phương pháp tiến hành
- Xây dựng kế hoạch cụ thể phù hợp với nội dung của đề tài và tình hình sản xuất của trại
- Vận dụng những kiến thức đã học ở nhà trường, sách vở vào thực tiễn sản xuất
- Tìm tài liệu, học hỏi cán bộ, công nhân kỹ thuật và nhân dân
- Theo dõi các chỉ tiêu nằm trong phạm vi mà mình quan tâm
- Tham khảo và học hỏi nhũng kinh nghiệm quý báu từ cán bộ kỹ thuật
và công nhân tại trại
- Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn để có những bước đi đúng đắn
- Thực hiện đúng kỹ thuật chăn nuôi, bám sát cơ sở sản xuất
- Chấp hành nội quy, quy chế của nhà trường, của khoa và của trại đề ra
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
∗Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
+ Nái chủa kỳ I (ngày thứ 1 - ngày thứ 84): Thức ăn cung cấp thỏa mãn nhu cầu duy trì cơ thể và cho sự phát triển của bào thai với tốc độ chậm, tỷ lệ protein 13%, năng lượng trao đổi 2800 Kcal/g TĂ hỗn hợp
Trang 19+ Nái chửa kỳ II (ngày chủa thứ 85 đến khi đẻ): Thức ăn cung cấp thỏa mãn nhu cầu duy trì cơ thể lợn nái và cho sự phát triển của bào thai với tốc độ nhanh, tỉ lệ Protein 15%, năng lượng trao đổi 3000 Kcal/ TĂ hỗn hợp
+Nái nuôi con: Khảu phần ăn đảm bảo đạm thô 15 - 16%, năng lượng trao đổi dưới 3000 Kcal/kg TĂ hỗn hợp
Bảng 1.3: Chế độ và khẩu phần ăn của lợn nái (kg/con/ngày)
(kg/con/ngày)
(Nguồn: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam)
Bảng 1.4: Chế độ ăn của lợn nái nuôi con STT Ngày sau khi sinh Lượng thức ăn
7 Ngày cai sữa Nhịn ăn, hạn chế cho uống nước
(Nguồn: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam)
hiện bên ngoài để xác định chính xác thời gian đẻ cho lợn, đưa ra kế hoạch trực lợn đẻ Lúc sắp đẻ lợn đi lại không yên, có hiện tượng đái són, bầu vú căng nặn thấy có sữa đầu, từ âm hộ chảy ra dịch nhày…Khi đó phải chuẩn bị dụng cụ đỡ đẻ, ổ úm cho lợn con: giẻ lau sạch, kìm bấm nanh, kéo cắt rốn, kìm bấm lỗ tai, thuốc kháng sinh, oxytoxin…thao tác đỡ đẻ nhanh và đúng kỹ thuật Khi lợn vừa đẻ xong, dùng giẻ khô mềm lau sạch dịch nhớt theo trình tự: mũi, mồm, đầu, mình, 4 chân, để lợn con vào ổ úm sau đó tiến hành cắt
Trang 20dây rốn nếu dây rốn quá dài, bấm nanh, bấm số tai, cắt đuôi, cân khối lượng
sơ sinh, lau sạch bầu vú lợn mẹ rồi cho lợn con bú sữa đầu Chú ý cố định đầu
vú cho lợn con, cho con nhỏ bú vú đầu để cho đàn lợn đồng đều
Nếu lợn mẹ đẻ khó thì can thiệp bằng cách tiêm oxytoxin (4 ml/con) Nếu vẫn không đẻ được thì ngoài tiêm oxytoxin cần đưa tay vào để kéo con
ra, khi kéo phải kéo theo nhịp dặn của lợn mẹ
Khi lợn con được 5 -7 ngày tuổi thì tập cho lợn con ăn cám sớm bằng cám 550SF Cho ăn nhiều bữa trong ngày, mỗi lần một ít để đảm bảo cám luôn mới, thơm ngon, chú ý cung cấp lượng thức ăn hợp lý, tránh cung cấp quá nhiều làm cho lợn con dễ bị tiêu chảy hoặc quá ít không đủ so vói nhu cầu của lợn con
Lợn sau cai sữa thực hiện chế độ ăn như sau:
Ngày tách mẹ giảm 1/2 lượng thức ăn
Ngày tiếp theo giảm 1/3 lượng thức ăn
Ngày tiếp theo giảm 1/4 lượng thức ăn
Từ ngày thứ 4 trở đi cho lợn con ăn bình thường Lợn con mới cai sữa cho ăn cám 550SF đến 35 ngày tuổi, sau đó trộn với cám 551SF với tỉ lệ tăng dần đến khi lợn quen rồi mới chuyển hẳn sang cám 551SF
1.2.3.2 Công tác thú y
Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, việc tiêm phòng vắc xin là một việc làm bắt buộc Tiêm vắc xin cho đàn gia súc sẽ tạo thành miễn dịch đặc hiệu chủ động trong cơ thể chúng để chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh (virus,
vi khuẩn), tăng cường sức đề kháng cho cơ thể Nhận thức rõ về vấn đề này, nên tôi cùng các cán bộ kỹ thuật của trang trại Trường Hằng luôn thực hiện quy trình tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn theo định kỳ, nghiêm túc, nhằm ngăn chặn dịch bệnh xảy ra
Trang trại tổ chức tiêm phòng cho tất cả các loại lợn với quy trình như sau:
- Lợn con mới nhập về tiêm vắc xin phòng các loại bệnh như sau:
Trang 21Dịch tả: Lần 1 lúc 5 tuần tuổi, lần 2 lúc 9 tuần tuổi
Lở mồm long móng: lần 1 lúc 7 tuần tuổi, lần 2 lúc 11 tuần tuổi
Tuy nhiên, lịch tiêm phòng có thể thay đổi tùy theo diễn biến ở địa phương Thời gian tổ chức tiêm phòng thường vào buổi sáng hoặc buổi chiều khi thời tiết mát mẻ, công tác chuẩn bị và tiêm phòng được thực hiện một cách nghiêm túc, cẩn thận
1.2.3.3 Công tác chẩn đoán:
Chẩn đoán kịp thời và chính xác là việc làm hết sức quan trọng, mang lại hiệu quả điều trị cao, giúp cho con vật nhanh chóng hồi phục, giảm tỷ lệ chết, giảm thời gian dùng thuốc Do vậy, giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Hàng ngày, trong quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc, tôi cùng cán bộ kỹ thuật
và công nhân của trại theo dõi, quan sát từng ô chuồng để phát hiện kịp thời những con lợn có biểu hiện bất thường Khi mới mắc bệnh, lợn không biểu hiện triệu chứng điển hình, thường thấy con vật ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt, lười hoạt động
Do vậy, để chẩn đoán được chính sác không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài, mà cần phải dựa vào kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật
1.2.3.4 Công tác điều trị bệnh:
Trong thời gian thực tập tại trang trại, tôi cùng với cán bộ kỹ thuật và công nhân đã tiến hành điều trị và thu được những kết quả như sau:
∗Hội chứng tiêu chảy ở lợn con:
- Nguyên nhân: Hội chứng tiêu chảy ở lợn rất phổ biến và xảy ra ở mọi lứa tuổi, tập trung cao nhất ở giai đoạn lợn con theo mẹ và sau khi cai sữa Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh: Vi khuẩn, vius, ký sinh trùng, độc tố thức ăn, thời tiết thay đổi đột ngột… Các nguyên nhân này tác động lên cơ thể nhất là bộ máy tiêu hóa dẫn tới lợn bị tiêu chảy
- Triệu chứng: Các nguyên nhân gây bệnh khác nhau nên triệu chứng lâm sàng, tình trạng bệnh cũng như tiên lượng của bệnh là khác nhau
+Lợn mỏi mệt, ủ rũ, kém ăn có khi bỏ ăn, một số trường hợp sốt nhẹ
+Ỉa chảy liên tục gây suy nhược, nôn mửa
+Tiêu chảy mất nước nhiều, giảm trọng lượng, còi cọc
+Da khô, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt
Trang 22- Điều trị:
+Chống mất nước, cân bằng điện giải bằng thuốc điện giải, đường glucose
+Cho nhịn ăn 1 - 2 ngày đào thải các chất cặn bã, chất độc, vi khuẩn gây bệnh trong đường ruột ra ngoài
Nếu do thức ăn không đảm bảo thì bỏ ngay thức ăn đó Nếu do nền chuồng
ẩm ướt thì vệ sinh chuồng trại, thu dọn phân, giữ nền chuồng khô ráo, thoáng mát, sưởi cho lợn con khi rét Nếu do nguyên nhân bệnh truyền nhiễm thì dùng một số các loại thuốc sau:
+Nor 100 1 ml/8 -10 kg TT/ngày
+Ampisure 1 ml/10 -15 kg TT/ngày
+Ampicolin 1 ml/10kgTT
+Genta - Tylo 1 ml/8 kg TT/ngày
+Liệu trình 3 -5 ngày, kết hợp với Analgine - C hoặc Glucose và điện giải Kết quả: Điều trị 230 con, số con khỏi là 179, bệnh đạt 77,83%
∗Bệnh suyễn lợn:
Bệnh suyễn lợn là một trong những bệnh truyền nhiễm thường xảy
ra ở lợn với mọi lứa tuổi Lợn mắc nhiều và nặng nhất từ 2 - 4 tháng tuổi
- Nguyên nhân: Do Mycoplasma là tác nhân chính kết hợp với các
vi khuẩn gây bệnh cộng phát sinh Pasteurella multocida, Streptococcus
và Staphylococcus… làm cho bệnh phát triển trầm trọng hơn
- Triệu chứng: Lợn đứng tách riêng, ở góc chuồng ăn kém, thân nhiệt bình thường hoặc hơi cao, lợn ho từng tiếng hay chuỗi dài đặc biệt
ho nhiều vào buổi sáng sớm, chiều tối hay khi vận động nhiều, lợn thở thể bụng thở khó khò khè, ủ rũ, viêm kết mạc có dử Lợn ho nhiều chủ yếu về đêm nhất là những ngày lạnh, lúc đầu ho khan, tần số ho ít sau đó tăng lên, lợn ngồi như chó ngồi và ho
Quan sát vào lúc nửa đêm hoặc về sáng, nhất là những ngày thời tiết mưa lạnh hoặc khi dồn hay đuổi lợn nếu con nào không chạy được và thở thóp bụng, ngồi thở và ho giống tư thế chó ngồi là con đó bị bệnh
- Điều trị: Sử dụng thuốc:
+ Dyamutylin 1 ml/15 - 20 kg TT
Trang 23+ Genta - Tylo 1 ml/8 kg TT
+ Thuốc bổ trợ Anagin - C 1 ml/10 kg TT
Liệu trình dùng trong 3 - 5 ngày
Kết quả: điều trị 55 con, số con khỏi bệnh là 49, tỷ lệ khỏi bệnh đạt 89,1%
∗Bệnh viêm khớp
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn Mycoplasma hyorhinis gây ra Bệnh
xảy ra hầu hết các lứa tuổi, nhưng thường là lợn con dưới 2 tháng tuổi do: Trước đó lợn mẹ bị viêm vú, mầm bệnh theo sữa mẹ qua lợn con vi trùng theo máu của lợn con đi đến các khớp Khi đề kháng của lợn con giảm,
các vi trùng có điều kiện bộc phát gây bệnh ở các khớp xương
- Triệu chứng:
+ Khớp sưng to, đỏ, nóng, ấn tay vào heo co phản ứng đau
+ Lợn bị què, đi lại khó khăn
+ Lợn nằm 1 chỗ ít đi lại, đứng lên nằm xuống rất khó khăn
+ Lợn bị sốt, kém hoặc không ăn uống
+ Không điều trị kịp thời chỗ viêm sẽ sinh mủ ứ trong xoang khớp
ẩm đột ngột…
- Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ từ 3 đến 21 ngày tuổi
Trang 24+Ỉa nhiều lần, phân dính bết vào xung quanh hậu môn, phân có mùi tanh khắm
+ Phân lỏng màu vàng trắng hoặc trắng xám, sau là vàng xanh tùy theo tuổi lợn
+ Gầy sút nhanh, bú kém hoặc bỏ bú, ủ rũ, đi lại không vững, nôn ra sữa chưa tiêu
+ Da, niêm mạc mắt, hậu môn nhợt nhạt
- Điều trị:
Hộ lý: Vệ sinh chuồng trại, thu dọn phân, giữ nền chuồng khô ráo, sưởi
ấm cho lợn con khi rét
Một số liệu pháp điều trị:
+Nor 100 1 ml/8 -10 kg TT/ngày
+Ampisure 1 ml/10 -15 kg TT/ngày
+Ampicolin 1 ml/10 kg TT
+Genta -Tylo 1 ml/8 kg TT/ngày
Liệu trình 3 -5 ngày, kết hợp với Anagine - C hoặc Glucose và điện giải Kết quả: điều trị 155 con, số con khỏi bệnh là 146, tỷ lệ khỏi bệnh đạt 94,2%
∗Bệnh ghẻ ở lợn
- Nguyên nhân: Đây là bệnh ký sinh trùng dưới da của lợn do loại ghẻ
ngứa Sarcoptessuis, ghẻ ngầm Sarcoptes scabiei ký sinh dưới da đục khoét
lớp biểu bì da gây nên
- Triệu chứng:
+ Trên da xuất hiện những nốt đỏ ở chân lông, ngứa như vết muỗi đốt lan dần những vùng da mỏng quanh mũi, vành mắt, cổ, sau lưng, tai, bụng, háng, đôi khi còn thấy ghẻ toàn thân
+ Về sau những chỗ đỏ này dày lên, có những chỗ chảy nước, có mủ đóng vảy, gây viêm chân lông, lợn ngứa ngáy cọ vào thành chuồng, nền chuồng làm xây xát và rụng lông từng đám
+ Heo thịt bị ghẻ thường kém ăn, kém ngủ, gầy ốm, dễ mắc bệnh
+ Heo nái bị ghẻ tiêu tốn nhiều thức ăn, giảm năng suất sinh sản, giảm sữa
Trang 25- Điều trị:
+ Ivermectin với liều lượng 1 ml/5 kg TT
+ Hanmectin - 25 tiêm dưới da với liều lượng 1,5 ml/10 kg TT
+ Các con cùng ô chuồng dùng: Sibasil hoặc tactick thấy hiệu quả tương đối tốt
Kết quả: Điều trị 22 con thì có 18 con khỏi bệnh hoàn toàn Tỉ lệ khỏi đạt 81,2%
1.2.3.5 Công tác khác
+ Chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn của trại
+ Tiêm bổ sung sắt cho lợn còi, thiếu máu
+ Thiến lợn đực mà bên trại nái thiến sót Những con lợn sau khi thiến
sẽ được nuôi làm lợn thương phẩm lấy thịt
+ Phẫu thuật Hecni lợn con và Apxe lợn
+ Chuyển lợn sang các ô, chuồng cần bán, cân bán
+ Nhập lợn con
Bảng 1.5: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT
Diễn giải Nội dung công tác
SL (con) Kết quả (an toàn, khỏi)
2 Điều trị bệnh SL (con) SL (con) Tỷ lệ (%)
- Hội chứng tiêu chảy ở lợn con 230 179 77,83
Trang 26- Nắm vững chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện tác phong làm việc khoa học, biết nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với công việc, đồng thời biết cách tổ chức sản xuất trong một trại chăn nuôi
- Trở nên mạnh dạn, bình tĩnh, trưởng thành lên rất nhiều để hoàn thành tốt công việc được giao, rút ra được nhiều bài học quý báu cho bản thân
cả về kiến thức lẫn chuyên môn cũng như các mối quan hệ xã hội, biết cách chẩn đoán một số bệnh thường gặp trên đàn lợn và điều trị bệnh, biết cách dùng một số loại vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh Những kiến thức
đó là hành trang cho tôi vững bước vào cuộc sống hay công việc sau này Biết được những vướng mắc, khó khăn mà người chăn nuôi thường gặp phải, chủ động giải quyết những vấn đề nảy sinh
- Bên cạnh đó, thời gian qua cũng giúp tôi nhận ra rõ những khuyết điểm, yếu kém của bản thân, nhất là kiến thức về thực tế còn hạn chế, nên cần phải tích cực học hỏi kinh nghiệm của thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đi trước, tích cực nghiên cứu tài liệu, học hỏi nhiều hơn nưa từ thực tế Đồng thời, cần phải rèn luyện đạo đức lối sống, khiêm tốn, giản dị, hòa nhã được mọi người tin yêu
1.3.2 Đề nghị
Trong quá trình thực tập, học tập tại trang trại Trường Hằng, qua đánh giá và bằng những hiểu biết của mình, tôi thấy vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại cần phải khắc phục để công tác chăn nuôi của trang trại đạt kết quả tốt hơn nữa Vì vậy, tôi có một số đề nghị sau:
Trang 27- Thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ hơn trong khâu vệ sinh chăn nuôi cũng như quy trình phòng bệnh Tăng cường tiêm phòng cho đàn gia súc để tạo vành đai an toàn dịch bệnh
- Sử dụng kháng sinh cần có kế hoạch hơn, tránh sử dụng bừa bãi
- Tập trung giải quyết hội chứng tiêu chảy ở lợn con, bệnh viêm phổi lợn, bệnh viêm khớp ở lợn và việc chống nóng chống lạnh cho lợn
- Trang trại cần có những chính sách khuyến khích tinh thần làm việc
có trách nhiệm của công nhân hơn nữa
- Trang trại là một môi trường thực tập, học tập, làm việc tốt cho học sinh, sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y, vì vậy trang trại nên nhận thêm các sinh viên thực tập và những người muốn nâng cao tay nghề chăn nuôi
Trang 28Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn Trường Hằng xã Đức Thắng - Hiệp Hòa - Bắc Giang và biện pháp phòng trị”
2.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam Con lợn được xếp hàng đầu trong số các con vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho người tiêu dùng và phân bón cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay, chăn nuôi lợn có tầm quan trọng đặc biệt, làm tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng
kể cho nền kinh tế quốc dân Để cung cấp lợn giống cho nhu cầu chăn nuôi của trang trại và nông hộ thì việc phát triển đàn lợn là việc làm cần thiết
Nói đến ngành chăn nuôi là phải kể đến chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân
Tuy nhiên, để chăn nuôi lợn có hiệu quả, cần phải giải quyết nhiều vấn
đề, vấn đề vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm Bởi dịch bệnh xảy
ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến đàn lợn, ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm Trong chăn nuôi lợn, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy của lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con Trong đó, hội chứng tiêu chảy ở lợn con là một bệnh thường xuyên xảy ra trong nhiều trại lợn giống và các hộ gia đình nuôi lợn nái ở nước ta
Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh Đã có rất nhiều loại thuốc và hóa dược được sử dụng để phòng và trị bệnh, nhưng các kết quả thu được lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc, chậm lớn
Bảo vệ lợn con khỏi tiêu chảy là góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
Trang 292.1.1 Mục đích của đề nghiên cứu
- Tiến hành điều trị lợn con mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con
- Khuyến cáo với người chăn nuôi về tình hình cảm nhiễm bệnh và hiệu
lực điều trị của thuốc điều trị bệnh
- Kết quả của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi áp dụng các biện pháp
phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con
2.1.2 Mục tiêu của đề tài
- Điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn Trường Hằng xã Đức Thắng - Hiệp Hòa - Bắc Giang
- Tiến hành lợn điều trị lợn con bị tiêu chảy
- Đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế bệnh, tiến tới giảm thiệt hại do hội chứng tiêu chảy gây ra
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài góp phần giải thích được cơ sở khoa học về tình hình mắc hội chứng tiêu chảy của lợn con tại trang trại
Trên cơ sở đó định hướng được biện pháp phòng bệnh và điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con
2.1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Xác định được tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con, là cơ sở
để xác định các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả, góp phần vào việc khống chế hội chứng tiêu chảy lợn con do các loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng gây ra nhằm giảm thiệt hại cho kinh tế chăn nuôi của trang trại
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy
Héi chøng tiªu ch¶y ë lîn lµ mét bÖnh phæ biÕn ®$ vµ ®ang g©y thiÖt h¹i lín cho ngµnh ch¨n nu«i lîn ë n−íc ta Héi chøng tiªu chảy g©y chÕt víi tû lÖ thÊp, nh−ng t¸c h¹i cña nã lµ lµm tæn th−¬ng hÖ nhung mao cña ruét và lµm gi¶m sù hÊp thu thøc ¨n ë lîn, lµm lîn cßi cäc, chËm lín Nguyªn nh©n g©y ra héi chøng tiªu ch¶y rÊt phøc t¹p th−êng dÔ nhÇm lÉn trong sù chÈn ®o¸n vµ
Trang 30®iÒu trÞ bÖnh Tiªu ch¶y nãi chung lµ mét hiÖn t−îng bÖnh lý ë ®−êng tiªu hãa
vµ cã nhiÒu nguyªn nh©n kh¸c nhau
Tiêu chảy là một hội chứng bệnh lý đặc thù, rất phổ biến xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là lợn con Đây là biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa Xuất phát từ nguyên nhân hay triệu chứng lâm sàng, căn cứ vào đặc điểm, thời gian hoặc tính chất của bệnh mà có cách gọi tên khác nhau:
Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy
Bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng
Bệnh phân sữa
Hoặc tiêu chảy là triệu chứng của các bệnh truyền nhiễm như: Phó
thương hàn, E coli, viêm dạ dày ruột truyền nhiễm, dịch tả, Rotavirus
Tiêu chảy xảy ra ở mọi nơi với mọi nứa tuổi, đặc biệt là lợn con Với đặc điểm phân lỏng, ỉa nhiều, chứa nhiều nước, có thể lẫn máu, dịch nhầy, kèm theo nôn mửa … dẫn đến mất nước và các chất điện giải, suy kiệt cơ thể, nếu chầm trọng dễ bị trụy tim mạch và chết
Cho đến nay, hội chứng tiêu chảy của lợn con đã được khẳng định xuất hiện với các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, gây ra bởi nhiều nguyên nhân
Vì vậy, việc tìm ra giải pháp hữu hiệu để khống chế tiêu chẩy là vấn đề gặp rất nhiều khó khăn Trong điều kiện của nước ta hiện nay, hầu hết các cơ sở chăn nuôi lợn đều chưa thể khống chế một cách hiệu quả đối với hội chứng tiêu chảy Lợn con có thể bị mắc bệnh quanh năm, đặc biệt vào vụ Đông Xuân khi thời tiết có những thay đổi đột ngột hay vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm (Sử An Ninh, 1993)[24] Trong những tháng mưa nhiều, nóng
ẩm thì số lợn con bị tiêu chảy tăng lên rõ rệt, có khi tới 90 - 100% toàn đàn (Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng, 1996)[7]
Theo Lê Minh Chí (1995)[3], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố
là nguyên nhân thứ phát Vì vậy, việc phân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn
Trang 31Theo Neil Becker (2000)[49] cho rằng: Bệnh tiờu chảy xảy ra sẽ gõy thiệt hại đỏng kể cho ngành chăn nuụi lợn Quỏ trỡnh bệnh thường xuất hiện ở
3 giai đoạn chớnh:
- Giai đoạn 1: Ở lợn sơ sinh đến vài ngày tuổi
- Giai đoạn 2: Ở lợn con theo mẹ
- Giai đoạn 3: Ở lợn con sau cai sữa
Phạm Sỹ Lăng (2009)[17], tiờu chảy ở lợn là biểu hiện lõm sàng của nhiều tỏc nhõn gõy bệnh khỏc nhau như virus, vi khuẩn, ký sinh trựng, thời tiết, mụi trường ngoại cảnh, độc tố
Tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến và độ tuổi của lợn, dựa vào các yếu tố gây bệnh mà được coi là nguyên nhân chính mà người ta gọi bằng các tên khác nhau như: Bệnh tiêu chảy ở lợn, bệnh phân trắng lợn con, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa
Tình trạng của hội chứng tiêu chảy nói chung chủ yếu mất nước và chất
điện giải làm cho con vật suy kiệt sức và chết Vì vậy, khi điều trị về hội chứng tiêu chảy thường bổ sung nước và chất điện giải Những lợn khỏi bệnh thường bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, thiếu máu, làm cho hiệu quả của ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng không cao
2.2.1.2 Nguyờn nhõn tiờu chảy
Trong lịch sử nghiờn cứu về hội chứng tiờu chảy, nhiều tỏc giả đó cú nhiều nghiờn cứu về nguyờn nhõn gõy bệnh được đỏnh giỏ cao, làm cơ sở cho việc chữa trị bệnh Tuy nhiờn, bệnh tiờu chảy là một hội chứng cú liờn quan đến cỏc yếu tố là nguyờn nhõn gõy phỏt, cỏc yếu tố là nguyờn nhõn thứ phỏt
Vỡ vậy, việc xỏc định nguyờn nhõn gõy tiờu chảy ở từng nơi và trong từng giai đoạn khỏc nhau cũng thu được kết quả khỏc nhau
2.2.1.2.1 Nguyờn nhõn nội tại
Quỏ trỡnh chăm súc nuụi dưỡng lợn nỏi đẻ khụng đảm bảo kỹ thuật: Nghốo dinh dưỡng, thức ăn bị ụi thiu, nấm mốc, chứa nhiều aflatoxin và orchatoxin, thuốc trừ sõu, trừ cỏ, thiếu hoặc khụng cõn bằng cỏc loại axit amin,
Trang 32vitamin và các nguyên tố vi lượng, nhất là Fe, Co, Ca, vitamin B12…làm cho bào thai phát triển kém, do đó lợn con mới sinh dễ mắc hội chứng tiêu chảy
Do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng nhất là thiếu Fe Khi còn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn…
Người ta cũng đã chứng minh những nái chửa nuôi con trong điều kiện ẩm thấp, thiếu ánh sáng tự nhiên, thiếu vận động sẽ sinh ra những lợn con dễ mắc hội chứng tiêu chảy lợn con hơn là nái được nuôi trong điều kiện chuồng trại tốt hơn, mặc dù chúng được ăn cùng loại thức ăn như nhau Cũng kết quả tương tự như vậy, con của những nái hậu bị thường hay mắc hội chứng tiêu chảy lợn con nhiều hơn là con của những nái cơ bản
Do lợn mẹ trước khi sinh bị nhiễm bệnh thương hàn (mặc dù điều trị đã khỏi) nhưng vi trùng vẫn tồn tại trong cơ thể, khi có thai vi trùng xâm nhập qua màng nhau vào thai, heo con đẻ ra bị nhiễm vi trùng nên gây tiêu chảy
Không cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ: Sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao, còn chứa các kháng thể từ mẹ truyền sang, giúp lợn con phòng chống bệnh trong 3 - 4 tuần lễ đầu Cần lưu ý sữa đầu chỉ có giá trị phòng bệnh cho lợn con khi hội đủ 2 vấn đề sau đây: Lợn con phải được
bú càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt, sau 24 giờ kháng thể trong sữa đầu sẽ giảm thấp, đồng thời lúc này men tiêu hóa chất đạm bắt đầu hoạt động sẽ phá hủy hết kháng thể trong sữa đầu
Phải tiêm phòng cho lợn mẹ các bệnh mà lợn con dễ mắc phải, thí
dụ dịch tả, giả dại, thương hàn, tiêu chảy do E coli nhằm tạo miễn dịch
chủ động cho lợn mẹ, và từ đó chất miễn dịch mới được truyền sang cho lợn con Nếu không tiêm phòng cho mẹ, việc lợn bú sữa đầu cũng không tạo ra được cho lợn con khả năng phòng bệnh Không úm cho lợn con, hoặc úm không đúng quy cách làm lợn con bị lạnh, hệ tiêu hóa sẽ hoạt động yếu, thể hiện qua sự giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch tiêu hóa, dẫn đến tình trạng không tiêu, rồi viêm ruột, tiêu chảy
Trang 33Vệ sinh rốn không tốt: Lợn con bị viêm rốn sẽ tiêu chảy, do đó sau khi sinh phải dùng dây và dụng cụ sạch cột và cắt rốn, sát trùng bằng IODINE sau khi cắt và sau đó tiếp tục sát trùng rốn ngày 2 lần cho đến khi rụng
Nhiều trường hợp lợn con mắc chứng tiêu chảy khi lợn mẹ ít sữa hoặc mất sữa buộc lợn con phải gặm mút lung tung trong đó có các chất thải của
lợn mẹ khi bài xuất ra đã có sẵn E coli gây bệnh
Cũng không ít trường hợp lợn nái sau khi sinh bị viêm vú (đặc biệt là
viêm vú do E coli), viêm tử cung và viêm bàng quang cũng do E coli thì
những lợn con của các nái này sẽ bị mắc chứng tiêu chảy ngay từ những ngày đầu mới sinh, tức là bệnh được truyền lây từ mẹ sang con
Trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển, lợn con gặp phải hai thời kỳ khủng khoảng lúc 3 tuần tuổi và lúc cai sữa Lúc 3 tuần tuổi nhu cầu sữa cho lợn con tăng, trái lại lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, một số chất trong cơ thể lợn con giảm dần, đặc biệt là Fe- thành phần cấu tạo hemoglobin Nhu cầu sử dụng sắt ở lợn con mỗi ngày từ 7 - 11mg, mà lượng sắt cung cấp từ sữa mẹ rất
ít, khoảng 2 mg Fe/ngày, cho nên lượng sắt dự trữ của lợn con đến ngày thứ
18 đã tiêu hết và mỗi ngày cơ thể lợn con thiếu từ 5 - 9 mg Fe để tạo
Hemoglobin và một số men chuyên hóa, hô hấp như: Cytochrome,
Cytochromoxdase, Catalase, peroxydase
Nếu trong 4 tuần đầu mà không bổ sung sắt kịp thời thì xuất hiện hội chứng thiếu máu do thiếu sắt và gây rối loạn chuyển hóa sinh học của chu trình Kreb và dễ phát sinh chứng tiêu chảy đối với lợn con
Bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ phát triển chưa hoàn chỉnh, chức năng tiêu hóa của lợn con sơ sinh chưa cao, axit hydroclorua tiết ra không đáng kể và nhanh chóng bị liên kết với niêm dịch hoặc thức ăn trong dạ dày,
do đó hàm lượng hydroclorua tự do trong dạ dày gần như không có Axit hydroclorua tự do bắt đầu xuất hiện từ 25 - 30 ngày tuổi và phát huy khả năng tiêu hóa, diệt khuẩn rõ nhất ở 40 - 50 ngày tuổi
Hydroclorua dịch vị làm trương nở protit, hoạt hóa pepsinogen tạo men tiêu hóa protein và có khả năng diệt khuẩn Tuy nhiên, sữa bị kết tủa
Trang 34dưới dạng Cazein, không tiêu hóa được gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến lợn con bị ỉa chảy
Lợn con sơ sinh có lớp vỏ đại não chưa phát triển hoàn chỉnh, nên khả năng điều hòa thân nhiệt của chúng kém Đồng thời, mỡ dự trữ và lớp
mỡ dưới da của lợn con rất mỏng, chỉ chiếm khoảng 1% khối lượng cơ thể, cũng làm khả năng giữ nhiệt cho cơ thể lợn bị hạn chế, lợn con dễ nhiễm lạnh và dễ mắc hội chứng tiêu chảy
2.2.1.2.2 Nguyên nhân ngoại cảnh
Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức
ăn, nước uống…
Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam, 1997)[20]
Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc ((Trịnh Văn Thịnh, 1985)[41], (Hồ Văn Nam, 1997)[20])
Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001)[39]
Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của con vật, vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003)[12]
Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây ra hội chứng tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh
Trang 352.2.1.2.3 Các nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy là vi khuẩn
Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn
có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ
Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E coli, Salmonella spp,
Shigella, Klebsiella, Cl.perfringens… là những vi khuẩn quan trọng gây ra rối
loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loại động vật
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996)[7] cho biết, chiếm tỷ lệ cao nhất
trong số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi
và khi nó trở thành vai trò chính
Theo Lê Văn Tạo (1997)[38] cho biết, họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:
- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính
- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin
- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ
đó phát triển nhân lên
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997)[20], Archie H (2000)[48] đều cho biết,
vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy
Theo Nguyễn Như Pho (2003)[28] cho rằng, khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Đối với lợn sau cai sữa hoặc
giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do salmonella cao hơn; giai đoạn từ lúc sơ sinh đến sau khi cai sữa thường do E coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần thì thường do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí
Cl.perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1
tuần tuổi đến cai sữa
Trang 36Theo Phạm Sỹ Lăng (2009)[17] cho biết, bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:
2.2.1.2.4 Các nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy là virus
Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995)[3]; Nguyễn Như
Pho (2003)[28], cũng đã cho thấy rotavirus và coronavirus là nguyên nhân
gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ
lệ chết cao
Archie H (2000)[48] cho biết, rotavirus và coronavirus là những virus
gây tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng
Virus gây hội chứng tiêu chảy lây truyền trực tiếp từ lợn ốm sang lợn khỏe hoặc truyền bệnh gián tiếp qua nước tiểu, nước mắt, nước mũi, rơm rác hay dụng cụ chăn nuôi Các virus này gây viêm loét niêm mạc ruột ở nhiều mức độ khác nhau, chính từ đó quá trình tiêu hóa hấp thu ở lợn bị rối loạn,
cuối cùng là triệu chứng ỉa chảy: Adenovirus, rotavirus (bệnh viêm ruột),
coronavirus (viêm dạ dày - ruột ỉa chảy truyền nhiễm - TGE), herpesvirus
(bệnh giả dại - Aujeszky), pestivirus (dịch tả lợn) (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn
Hữu Vũ, 2004)[19]
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006)[16] cho rằng, bệnh tiêu chảy ở lợn do
rotavirus thường chỉ xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1-3 tuần lễ và lợn
con sau cai sữa khoảng 6 tuần lễ Bệnh tiêu chảy ở lợn do rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E coli có độc lực và các
loài cầu trùng gây bệnh
Trang 372.2.1.2.5 Hội chứng tiêu chảy do nấm mốc
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm
mốc Một số loài như Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả năng sản
sinh nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)
Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh Aflatoxin gây độc cho nhiều loại gia súc, gia cầm và mẫn cảm nhất
là vịt, gà, lợn
Lợn khi nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy
ra máu Nếu trong khẩu phần có 500 - 700µg Aflatoxin/kg thức ăn sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài,1997)[35]
2.2.1.2.6 Các nguyên nhân do ký sinh trùng
Ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu hóa nói riêng là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn và gia súc khác Ký sinh trùng gây hội chứng tiêu chảy tồn tại trong phân, nước tiểu, thức ăn khi vào
cơ thể gặp điều kiện thuận lợi chúng sinh trưởng và phát triển thành các ký sinh trùng gây bệnh:
Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh
bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và phân bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số nhà khoa học nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985)[26], Lê Văn Tạo (1993)[36], Hồ Văn Nam và cs (1997)[20] thì: Dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính
Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng
(Eimeria), Isospora suis, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp
Nematoda (Ascaris suum,Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus…)
Trang 38Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn
con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003)[28]
Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006)[13]
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009)[14]
Cầu trùng và một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị Đang và cs, 2010)[4] Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường nhiễm cầu trùng là 35,54%, giun đũa là 31,82%, giun lươn là 41,32%, giun tóc là 23,14% Lợn chủ yếu nhiễm nhẹ, không có lợn nào nhiễm nặng Trong khi
đó, lợn tiêu chảy nhiễm cầu trùng là 56,93%, giun đũa là 35,77%, giun lươn là 60,58%, giun tóc là 28,47% Tỷ lệ nhiễm nặng biến động từ 7,83- 13,46%
2.2.1.3 Cơ chế gây tiêu chảy và bệnh lý lâm sàng của bệnh
2.2.1.3.1 Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh và đường sinh bệnh của E coli là đề tài thu hút nhiều
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới cơ chế sinh bệnh và tiến triển của bệnh như: Những tổn thương ở đường ruột, phủ
tạng cho phép E coli xâm nhập Tuy nhiên, để gây bệnh, số lượng E coli sinh
ra phải đủ lớn mới có thể gây bệnh cho lợn
Đến nay, người ta cho rằng cơ chế sinh bệnh của E coli ở lợn con được
biểu hiện thông qua:
- Vi khuẩn E coli bằng cách trực tiếp hay gián tiếp xâm nhập vào
đường hô hấp hoặc phía trên của ruột non
- Tấn công, phá hủy hệ thống lông nhung của tế bào niêm mạc ruột gây
ỉa chảy mất nước dữ dội, giảm đáng kể bề mặt hấp thu của ruột non
Trang 39- Ở trong ruột khi gặp được điều kiện thuận lợi vi khuẩn E coli nhân
lên với số lượng lớn, sinh sản ra yếu tố kháng khuẩn Colicin V, yếu tố này diệt hoặc hạn chế sự phát triển của vi khuản đường ruột khác đặc biệt là vi
khuẩn có lợi Khi vi khuẩn E coli có số lượng lớn sẽ tràn lên ruột non Chúng
tấn công, phá hủy hệ thống lông nhung, tế bào biểu mô làm phá hủy lớp tế bào này gây ra viêm ruột Hiện tượng này gây ra ỉa chảy mất nước dữ dội, giảm dáng kể bề mặt hấp thu của ruột non
- Sự sinh sôi của E coli trong ruột non, đặc biệt là ruột già, làm chúng
xâm lấn, phá hủy tế bào niêm mạc, gây viêm ruột, sau đó ỉa chảy mất nước
Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình này sau và ngược lại, song không thể phân biệt được từng quá trình
Vũ Văn Ngũ (1975)[23], Trịnh Văn Thịnh (1985)[41] cho rằng: do một tác nhân bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây tiêu chảy
Khi lợn ỉa chảy nhiều sẽ dẫn đến mất nước gây rối loạn chức năng sinh
lý tiêu hóa Do rối loạn tiêu hóa dẫn đến sự rối loạn cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột Một số vi khuẩn có hại phát triển nhanh, song song với sự phát triển về số lượng của vi khuẩn có hại, độc tố của nó tiết ra cũng tăng nhiều Độc tố vào máu làm rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc ở thận (Hồ Văn Nam, 1997)[21]
Do cơ chế phòng hộ của lợn con chưa được phát triển hoàn thiện, stress
và các yếu tố khác làm giảm khả năng phòng vệ của con vật Những yếu tố di truyền, nồng độ HCL trong dạ dày thấp, thay đổi hệ vi sinh vật trong đường ruột, khả năng phòng hộ không đặc hiệu của sữa đầu và kháng thể đặc hiệu
Trang 40giảm, cảm nhiễm các bệnh khác (rotavirus, virus gây dịch tả ỉa chảy, cầu
trùng…) kể cả môi trường và yếu tố quản lý, cũng có nguyên nhân giảm khả
năng kháng bệnh ở lợn con Khi đó, E coli xâm nhập với số lượng đủ lớn sẽ
phát triển thành tác nhân gây bệnh
Tóm lại: E coli muốn gây được bệnh phải có những điều kiện sau:
+ Phải có khả năng bám dính vào lông nhung (kháng nguyên Ficubriae)
+ Phải có yếu tố xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô
+ Sản suất độc tố đường ruột
- Sản sinh các độc tố ruột ( Enterotoxin ) Những E coli trong ruột bám
trên hệ thống lông nhung, tăng sinh và sản xuất độc tố Những độc tố này ảnh hưởng trực tiếp đến áp suất thẩm thấu màng tế bào niêm mạc ruột, gây rối loạn chức năng trao đổi chất của tế bào Đặc biệt ảnh hưởng lên quá trình trao đổi nước và các chất điện giải
Lê Văn Năm và cs (1998)[22] cho biết, E coli tiết ra độc tố gồm 2
nhóm: độc tố chịu nhiệt (ST) và nhóm độc tố kém chịu nhiệt (LT)
Enterotoxin thuộc nhóm LT bám trên bề mặt tế bào làm nước và muối tràn ra ngoài và nó ngăn cản không cho nước và muối hấp thu trở lại
Bởi vậy nước ngấm vào ruột và bị đẩy ra ngoài cho nên lợn con tiêu chảy mất nước Enterotoxin, thuộc nhóm ST cũng làm nước ngấm ra nhưng không ngăn nước hấp thu ngược vào tế bào nên lợn ít tiêu chảy hơn
Theo Lê Văn Thọ (2007)[43], vi khuẩn E coli sản sinh độc tố đường
ruột (Enterotoxin) tác động vào quá trình trao đổi muối nước ở ruột làm cho nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể mà ngược lại được thẩm suất từ cơ thể vào ruột Nước tập chung vào ruột làm cho ruột căng
lên, cộng với các khí do E coli trong ruột lên men tạo ra càng làm cho ruột
thêm căng, sức căng của ruột càng kích thích vào hệ thần kinh thực vật ở ruột tạo nên những cơn nhu động đẩy nước và phân ra ngoài, gây nên tiêu chảy
2.2.1.3.2 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc đó là sự biến đổi về chức năng, tình trạng mất nước và chất điện giải, trạng thái trúng độc của cơ thể bệnh