Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Nguyễn văn Sửu và được sự tiếp nhận của t
Trang 1LÝ THU HÀ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BỆNH CẦU TRÙNG Ở GÀ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2LÝ THU HÀ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BỆNH CẦU TRÙNG Ở GÀ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Sửu
Khoa Chăn nuôi - Thú y - trường ĐHNL Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
Trang 3cơ sở, đến nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp này Để làm được
điều đó, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú
y, các thầy cô giáo đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt thời gian học
tập tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo
TS Nguyễn Văn Sửu đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Trạm thú y huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng, cùng toàn thể nhân dân địa phương đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận
lợi để em thực hiện đề tài tốt nghiệp được tốt hơn
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người
đã thường xuyên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện và dành cho em sự động viên quý
báu nhất trong suốt quá trình học tập
Thái nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Lý Thu Hà
Trang 4của Nhà trường Thực tập tốt nghiệp là thời gian giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp với thực tiễn sản xuất, giúp sinh viên hệ thống lại kiến thức, củng cố tay nghề, học hỏi kinh nghiệm, nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất Đồng thời, tạo cho mình sự tự lập, tự tin vào bản thân, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, có lối sống lành mạnh để trở thành người cán bộ có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực làm việc độc lập đáp ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất
Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Nguyễn văn Sửu và được sự tiếp nhận của trạm thú y, thực tập tại các
nông hộ chăn nuôi của một số xã trong huyện, thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh cầu trùng ở gà và biện pháp phòng trị tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”
Mặc dù em đã cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian thực tập ngắn, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, kiến thức còn hạn chế nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5TT : Thể trọng
Trang 6Trang
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1 Điều tra tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Địa hình, đất đai 1
1.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 2
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.2.1 Điều kiện kinh tế 2
1.1.2.2 Điều kiện xã hội 3
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 5
1.1.3.1 Ngành trồng trọt 5
1.1.3.2 Ngành chăn nuôi 5
1.2 Nhận xét chung 7
1.2.1 Thuận lợi 7
1.2.2 Khó khăn 7
1.3 Nội dung, phương pháp thực hiện tốt nghiệp 7
1.3.1 Nội dung thực tập tốt nghiệp 7
1.3.2 Biện pháp tiến hành 8
1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 8
1.4.1 Công tác tuyên truyền 8
1.4.2 Công tác thú y 8
1.4.2.1 Công tác phòng bệnh 8
1.4.2.2 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 9
1.4.3 Tham gia các công việc khác 11
1.5 Kết luận về công tác phục vụ sản xuất 12
1.5.1 Bài học kinh nghiệm 12
1.5.2 Tồn tại 13
1.5.3 Đề nghị 13
Trang 72.1.2 Mục tiêu của đề tài 14
2.1.3 Mục đích nghiên cứu 15
2.2 Tổng quan tài liệu 15
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 15
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất ở gia cầm 15
2.2.1.2 Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm 17
2.2.1.3 Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà 18
2.2.1.4 Vòng đời của cầu trùng gà 21
2.2.1.5 Dịch tễ học bệnh cầu trùng gà 22
2.2.1.6 Bệnh lý lâm sàng 24
2.2.1.7 Phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng gà 29
2.2.1.8 Phòng trị bệnh cầu trùng gà 30
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 34
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 34
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 38
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 39
2.3.1 Đối tượng 39
2.3.2 Địa điểm 39
2.3.3 Thời gian 39
2.3.4 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 40
2.3.4.1 Nội dung nghiên cứu 40
2.3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 40
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu 40
2.3.5.1 Phương pháp lấy mẫu phân 40
2.3.5.2 Phương pháp kiểm tra mẫu phân 40
2.3.5.3 Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng 41
2.3.5.4 Phương pháp theo dõi biểu hiện triệu chứng lâm sàng 41
2.3.5.5 Phương pháp mổ khám và xác định bệnh tích 41
Trang 8thuộc huyện Trùng Khánh 42
2.4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo giống gà 44
2.4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi 45
2.4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo mùa vụ 46
2.4.5 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng khi gà bị bệnh cầu trùng 47
2.4.6 Tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo độ tuổi 48
2.4.7 Bệnh tích gà nghi mắc cầu trùng 49
2.4.8 Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà 49
2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 50
2.5.1 Kết luận 50
2.5.2 Tồn tại 51
2.5.3 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
I Tài liệu Tiếng Việt 52
II Tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài 53
III Tài liệu nước ngoài 53
Trang 9Trang
Bảng 1.1: Tổng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 5
Bảng 1.2: Lịch phòng vaccine cho đàn gà 9
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 12
Bảng 2.1 Hình thái và đặc tính sinh học của 9 loại cầu trùng 21
Bảng 2.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà ở các địa điểm kiểm tra 43
Bảng 2.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo giống gà 44
Bảng 2.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi 45
Bảng 2.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo mùa vụ 46
Bảng 2.6: Triệu chứng lâm sàng của gà bị nhiễm bệnh cầu trùng 47
Bảng 2.7: Tỷ lệ gà chết do cầu trùng theo độ tuổi 48
Bảng 2.8: Bệnh tích gà nghi mắc cầu trùng 49
Bảng 2.9: Kết quả điều trị bệnh cầu trùng gà 50
Trang 10Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều tra tự nhiên
Huyện có 20 đơn vị hành chính bao gồm 19 xã và 01 thị trấn trong đó
có 7 xã giáp biên giới và 12 xã đặc biệt khó khăn, dân số của huyện là 49271 người được chia thành 230 xóm hành chính với 3 dân tộc chính (tày, nùng, kinh) mật độ dân số 106,3 người/km quy mô hộ là 5,22 người/hộ
1.1.1.2 Địa hình, đất đai
Đất là tư liệu sản xuất, chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được nên diện tích đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp
Đất đai huyện Trùng Khánh nhìn chung màu mỡ, phì nhiêu thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây nông nghiệp và lâm nghiệp Với tổng diện tích đất tự nhiên là 46.693 ha
Đất nông nghiệp 42.548 ha chiếm 91,12% diện tích đất tự nhiên
Đất phi lâm nghiệp 3.714 ha chiếm 7,96% diện tích đất tự nhiên
Đất chưa sử dụng 429 ha chiếm 0,92% diện tích đất tự nhiên
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp, đất để sản xuất nông nghiệp 9.372 ha, đất lâm nghiệp 33.120 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 56 ha
Huyện Trùng Khánh có địa hình rất đa dạng, mang đặc thù của địa hình miền núi, được phân bố từ cao xuống thấp, đất canh tác chủ yếu là đất dốc, trong đó núi đá chiếm một phần đáng kể Do địa hình đồi núi như vậy làm cho việc đi lại của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa lũ
Trang 111.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Huyện Trùng Khánh có khí hậu đặc trưng của vùng miền Đông Bắc Cao Bằng thuộc khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa chia làm bốn mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông)
Mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 có mưa phùn, độ ẩm cao
Mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 6 có nắng gắt, mưa nhiều và thường kéo dài sang tháng 7, tháng 8 lượng mưa hàng năm từ 1500 - 1700
Mùa thu từ tháng 7 đến tháng 9 nhiệt độ không khí biến thiên giảm dần
và thấp hơn nhiều so với nhiệt độ trung bình của mùa hạ, nhiệt độ mát dịu nhưng có sự chênh lệch lớn giữa nhiệt độ ban ngày và nhiệt độ ban đêm
Mùa đông trời khô hanh lượng nước bốc hơi mạnh, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên không khí lạnh kéo dài sang cả tháng 1 và đầu tháng 2
có năm xuất hiện sương muối
Huyện có 2 con sông chính chảy qua là Sông Quây Sơn và Sông Bắc Vọng cùng nhiều sông, suối lớn nhỏ khác chảy qua các khe núi đá Hệ thống sông, suối phụ thuộc vào lượng mưa là chủ yếu.Về mùa khô lượng mưa giảm dần và còn rất ít không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân
* Hệ thống giao thông thủy lợi
Nhìn chung cơ sở hạ tầng của huyện cũng tương đối hoàn chỉnh, thuận tiện cho thông thương Hệ thống đường giao thông thủy lợi thuận tiện, đảm bảo phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Các hệ thống đường liên thôn, liên xã, hệ thống kênh mương nội đồng được xây dựng, mặt khác địa bàn huyện có đường quốc lộ chạy qua, đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc thông thương các mặt hàng nông sản, chăn nuôi của huyện
Bên cạnh đó do đặc điểm là một huyện miền núi cho nên số km đường được dải nhựa và hệ thống bê tông hóa của huyện còn thấp, chỉ đạt khoảng 40%, còn lại là 60% đường cấp khối Chính vì vậy nó là yếu tố gây khó khăn
cho bà con khi tham gia giao thông, hạn chế việc trao đổi thông thương 1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Trùng Khánh là huyện miền núi, do đó cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông -
Trang 12lâm nghiệp đạt tỷ trọng 85,62% Ngành công nghiệp là tiểu thủ công nghiệp đạt tỷ trọng 13,11% và ngành dịch vụ sản xuất, đời sống đạt 1,27% Những năm qua Đảng bộ và Chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo đầu tư đúng mức cho phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với ngành chăn nuôi tạo nên tốc độ cho phát triển kinh tế nhanh và toàn diện trên mọi lĩnh vực
Với thực trạng tăng trưởng kinh tế của huyện trong năm 2012 theo giá trị sản xuất tăng bình quân 17% Trong đó, Nông - Lâm nghiệp tăng 6,8%; tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng 19,8%; dịch vụ tăng 21,7%; lương thực thực phẩm theo đầu người tăng 643kg/người/năm vào năm 2011 tăng lên 720kg/người/năm vào năm 2012
1.1.2.2 Điều kiện xã hội
Toàn huyện Trùng Khánh có 230 xóm nằm trong địa giới hành chính của 19 xã và 1 thị trấn trong đó có 12 xã đặc biệt khó khăn Theo số liệu thống kê năm 2012 của phòng thống kê Nông nghiệp huyện Trùng Khánh thì huyện có 3 dân tộc chính đó là Tày, Nùng, Kinh Trong đó dân tộc Tày và Nùng chiếm chủ yếu Tổng dân số toàn huyện là 49271 người, mật độ dân
số 106,3 người/km quy mô hộ là 5,22 người/hộ Do đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn kinh tế của huyện chưa phát triển còn phụ thuộc vào môi trường tự nhiên
Số người làm trong ngành công nghiệp vẫn khá cao so với các ngành nghề khác Vậy với tiềm năng và sức mạnh có sẵn của huyện vẫn cần có kế hoạch làm giảm số lao động nông nghiệp, giảm số người lao động không có việc làm mở thêm hoặc cử lao động đi học một số ngành nghề mới mà địa phương còn thiếu, đồng thời phải khôi phục ngành nghề truyền thống
- Về văn hóa: Trong thời gian qua huyện đã xây dựng được phong trào văn hóa và bảo tồn các di sản văn hóa địa phương, đời sống văn hóa ngày càng được nâng cao với chủ trương lành mạnh như cưới hỏi, tang lễ, lễ hội Hiện nay toàn huyện có 19/19 xã, thị trấn, trên 90% thôn bản đã có điện Hiện nay phong trào thể dục, thể thao quần chúng trong huyện khá phát triển, thu hút được mọi tầng lớp nhân dân tham gia Đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên
- Về giáo dục: Toàn huyện có 10 trường mầm non, 20 trường tiểu học,
13 trường trung học cơ sở và 3 trường trung học phổ thông, tính đến nay
Trang 13trong huyện có 16/19 xã đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ thi đỗ tốt nghiệp các cấp đạt 93,5% Ngành giáo dục huyện Trùng Khánh sau khi đã phổ cập giáo dục tiểu học xong hiện nay tiếp tục duy trì công tác giáo dục trung học cơ sở Vấn đề hiện nay đối với ngành giáo dục huyện là phải đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ở trong các trường Đặc biệt là phải nâng cao tỷ lệ cho học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hàng năm
- Về y tế và chăm sóc sức khỏe: Công tác y tế của huyện hàng năm đã duy trì và thực hiện tốt việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tất cả các chương trình quốc gia về y tế như: Tiêm chủng mở rộng, khám chữa bệnh lưu động, tuyên truyền cổ động kế hoạch hóa gia đình, tệ nạn xã hội luôn được quan tâm thực hiện tốt Tuy nhiên bên cạnh mặt mạnh huyện vẫn còn hạn chế cần khắc phục từng bước như trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất và các trang thiết bị chưa đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân… Ngoài ra cũng còn phải tuyên truyền hơn nữa về y tế tới bà con nhân dân, đặc biệt ở các vùng cao, vùng sâu Vì ở đây bà con dân tộc vẫn còn mang nặng phong tục mê tín dị đoan lạc hậu
- Về giao thông: Trùng Khánh là một huyện miền núi, có địa hình phức tạp tập trung chủ yếu là đồi núi đá, chính vì vậy giao thông là vấn đề hết sức khó khăn của huyện, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa Nơi mà các phương tiện giao thông chưa đến được việc đi lại của bà con nông dân là rất khó khăn Chạy qua trung tâm huyện và một số xã của huyện có duy nhất Quốc lộ 3, vừa qua quốc lộ này được nâng cấp mở rộng, góp phần đáng kể việc đi lại, giao lưu buôn bán của bà con dọc hai bên quốc lộ có nhiều thuận lợi hơn trước Tuy nhiên việc phát triển giao thông huyện còn chậm, công tác xây dựng chưa hoàn chỉnh, bê tông hóa đường giao thông thôn xóm gần như chưa có
- Về thủy lợi: Hệ thống công trình thủy lợi đã được chú trọng, đặc biệt
là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự hỗ trợ vốn của tỉnh hệ thống thủy lợi đã được kiên cố hóa hàng năm Cụ thể toàn huyện có 300 công trình thủy lợi trong đó có 95 công trình kiên cố (đập, mương) đảm bảo diện tích chủ động tưới nước cho 1.262 ha
Trang 141.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1 Ngành trồng trọt
Đối với huyện Trùng Khánh, trồng trọt được coi là sản xuất chính Do
đó phần lớn số hộ của huyện làm nông nghiệp, trong mấy năm gần đây ngành nông nghiệp của huyện có sự phát triển mạnh mẽ về năng suất và sản lượng chủ yếu là trồng lúa nước, ngô, đậu tương, thuốc lá… Do đổi mới cơ cấu canh tác, thâm canh tăng vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản suất và thay thế các giống cũ bằng những giống lúa mới giống lúa có năng suất cao Người dân cũng đã bỏ được thói quen tự để giống lúa phục vụ cho sản xuất mùa vụ tiếp theo,
đó là một sự đột phá lớn về hướng nhìn và phát triển nông nghiệp của huyện
1.1.3.2 Ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi là ngành kinh tế luôn phát triển, bên cạnh trồng trọt
là ngành truyền thống có từ lâu đời Trước đây phương thức chăn nuôi của người dân còn lạc hậu, dẫn đến năng suất không cao, sản phẩm chăn nuôi không cung cấp đủ cho nhân dân mà phải nhập từ nơi khác đến Đặc biệt là trong vài năm gần đây có thể nói đó là bước phát triển lớn đối với các ngành chăn nuôi của huyện
Bên cạnh đó, huyện Trùng Khánh có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển ngành chăn nuôi trâu, bò, dê và gia cầm Do địa phương có diện tích đất bãi tự nhiên rộng, có nguồn thức ăn phong phú cho chăn nuôi trâu, bò, dê Ngoài ra đất ở đây cũng rất thích hợp cho việc trồng cỏ, để chủ động trồng cỏ, để chủ động về nguồn thức ăn Tổng số đàn gia súc, gia cầm của toàn huyện trong những năm gần đây Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Tổng đàn gia súc, gia cầm qua các năm Năm
Chỉ Tiêu Đơn vị 2011 2012 2013 So sánh năm 12/13
Trang 15+) Chăn nuôi trâu bò: Cả huyện có tổng số trâu là 14.349 con (2013) đạt 100,06% so với năm 2012 (14.339 con) Đối với đàn bò trong năm 2013
có số lượng là 8.728 con đạt 101,21% so với năm 2012 (8.623)
Nhìn chung trâu bò là đối tượng gia súc quan trọng phù hợp với điều kiện của một huyện miền núi mà sản xuất nông nghiệp là chính Trâu bò được nuôi ở gia đình với mục đích sử dụng chính là sức kéo và lấy phân bón cho ngành trồng trọt, với quy mô nhỏ, số trâu bò nuôi trong hộ gia đình còn ít
Trâu = 1,89 con/hộ Bò = 1,48 con/hộ Phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả tự do Do mục đích sử dụng quy mô đàn nhỏ và công tác giống chưa được chú trọng, chủ yếu là giống nội năng suất thấp
Trong thời gian vừa qua vào thời điểm cuối năm 2012 và đầu năm 2013
do thời tiết rét đậm rét hại đã làm thiệt hại rất lớn về số lượng vật nuôi của huyện đặc biệt là trâu bò chết rét Để khắc phục thiệt hại này thì Nhà nước đã
có nhiều dự án để thúc đẩy ngành chăn nuôi với các dự án hỗ trợ cho vay không lãi xuất ngân hàng để đầu tư chăn nuôi Ngoài ra năm 2012 Trâu bò còn bị mắc bệnh Tụ huyết trùng gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người dân
+) Chăn nuôi lợn: Với tổng đàn lợn của huyện là 40.397 con trong năm
2013 đạt 100,54% so với năm 2012 (40.179 con) Hầu hết các hộ chăn nuôi theo phương thức cổ truyền là tận dụng thức ăn thừa và các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt Qua điều tra cho thấy trung bình mỗi hộ nuôi được 3,32 con lợn, đây là nguồn thu nhập chính của người dân
+) Chăn nuôi gia cầm: Huyện Trùng Khánh chăn nuôi gia cầm chủ yếu
là các giống địa phương như gà ri, vịt, ngan nội Tổng số đàn của huyện là 141.056 con, các giống gà công nghiệp chưa được chăn nuôi phổ biến Vì vậy hiệu quả chăn nuôi gia cầm không cao, sản phẩm chủ yếu là cung cấp thịt cho thị trường của huyện
* Công tác thú y
Công tác thú y của huyện cũng được chú trọng và được coi là then chốt của ngành chăn nuôi, nó quyết định sự thành bại trong chăn nuôi Huyện có đội ngũ cán bộ thú y khá đông đảo gồm có 1 trưởng ban thú y huyện, 20 trưởng
Trang 16ban thú y xã và thú y viên của các thôn do vậy mà tình hình dịch bệnh trong huyện luôn luôn được cập nhập nhanh chóng để từ đó có các biện pháp khắc phục nhằm đẩy lùi dịch bệnh Hàng năm huyện đã tiến hành tiêm phòng định
kỳ cho đàn gia súc, gia cầm 2 lần trong năm như sau:
+ Bộ máy chính quyền vững mạnh với đội ngũ cán bộ đông đảo, có
chuyên môn làm việc tận tụy và có tinh thần trách nhiệm cao
+ Lực lượng cán bộ chưa qua đào tạo chuyên sâu, còn nhiều hạn chế
đặc biệt là các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao
1.3 Nội dung, phương pháp thực hiện tốt nghiệp
1.3.1 Nội dung thực tập tốt nghiệp
Nắm vững tình hình sản xuất của cơ sở, từ đó áp dụng biện pháp đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất nhằm nâng cao nghiệp vụ
Trang 17chuyên môn trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Công việc cụ thể là:
Tìm hiểu tình hình sản xuất chăn nuôi của cơ sở
Tham gia vệ sinh phòng chống dịch bệnh
Chẩn đoán và điều trị bệnh
Tham gia các đợt tiêm phòng của cơ sở
Tham gia công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân
Thường xuyên liên lạc và xin ý kiến hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Trực tiếp tham gia điều trị bệnh tại địa phương
Lấy mẫu phân thí nghiệm, xét nghiệm mẫu để xác định noãn nang cầu trùng
1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong suốt quá trình thực tập tại Huyện Trùng Khánh, được sự giúp đỡ của thầy giáo, cô giáo, của trạm thú y huyện Trùng Khánh cùng sự nỗ lực của bản thân tôi đã đạt được kết quả cụ thể như sau:
1.4.1 Công tác tuyên truyền
Hướng dẫn bà con nông dân thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y, tiêm phòng đầy đủ để ngăn chặn dịch bệnh và hạn chế lây lan
Tham gia chuyển giao công nghệ đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
1.4.2 Công tác thú y
1.4.2.1 Công tác phòng bệnh
Trong chăn nuôi công tác phòng bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi
Trang 18* Công tác vệ sinh
Chúng tôi thường xuyên giúp đỡ bà con nông dân hàng ngày vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống, rãnh nước quanh chuồng, phát quang bụi rậm quanh khu vực chăn nuôi, thường xuyên thay đổi chất độn chuồng, làm giảm mầm bệnh Nhằm đảm bảo nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
1 Marek’s Disease vaccine Tiêm 0,1ml/gà, tiêm dưới da cổ
7 Lasota ND + IB lần 1 Nhỏ một giọt/gà vào mắt, mũi
10 Gumboro lần 1 và chủng đậu Nhỏ 1 giọt/gà vào miệng (gumboro),
chủng màng cánh (đậu)
21 Lasota ND + IB lần 2 Nhỏ 1 giọt/gà vào mắt, mũi
25 Gumboro lần 2 Nhỏ 1 giọt/gà vào miệng (gumboro)
45 Newcastle hệ I Tiêm dưới da
Ngoài ra, ở địa phương tôi còn tham gia tiêm phòng cho trâu, bò để phòng các bệnh sau:
Trâu, bò : Tiêm phòng bệnh Tụ huyết trùng, bệnh Lở mồm long móng
1.4.2.2 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Trong quá trình thực tập, chúng tôi luôn bám sát cơ sở theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm của địa phương để chẩn đoán và có những hướng điều trị kịp thời Trong thời gian thực tập tại cơ sở, chúng tôi thường gặp một số bệnh sau:
* Bệnh ở gia cầm
Bệnh cầu trùng ở gà
Thấy trong đàn gà có một số con có biểu hiện kém ăn, lông xù, mào và
Trang 19niêm mạc nhợt nhạt, phân loãng hoặc sệt, phân có màu sôcôla, có trường hợp phân gà có lẫn máu
Sau một vài ngày gà gầy dần rồi chết, mổ khám quan sát thấy có nhiều điểm trắng trên niêm mạc ruột, niêm mạc ruột dày lên, manh tràng bị sưng to Những biểu hiện trên rất giống với triệu trứng và bệnh tích của bệnh cầu trùng nên tôi chẩn đoán đàn gà bị mắc bệnh cầu trùng và tiến hành điều trị cho cả đàn
Liệu trình điều trị cụ thể như sau:
Rigecoccin - WS : Liều 1g/4 lít nước uống
Anticoccid : liều 1g/ 1 lít nước uống
HanEba 30% : liều 1g/ 1 lít nước uống
Cho gà uống liên tục trong 5 - 7 ngày thì gà khỏi bệnh và trở lại dùng liều phòng, sử dụng thuốc theo liệu trình 2 ngày dùng thuốc 3 ngày nghỉ
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD - hen gà)
Trong quá trình theo dõi gà con, gà thịt và gà đẻ nuôi tại các nông hộ, tôi đã gặp phải trường hợp gà có các biểu hiện: thở khò khè, tiếng ran sâu, há mồm ra để thở, gà hay cạo mỏ xuống đất, đứng ủ rũ, có con chảy nước mắt, nước mũi Mổ khám gà chết thấy khí quản đầy dịch keo nhầy, màng túi khí đục Với những biểu hiện trên tôi chẩn đoán là gà bị mắc bệnh CRD
Khi gặp những trường hợp như vậy tôi đã tiến hành điều trị bằng một trong những phác đồ như sau:
Anti - CRD 2 g/1 lít nước uống, B.complex 1gam/3 lít nước uống Tylosin 98 % 2 g/1 lít nước uống, B.complex 1gam/3 lít nước uống WA.Doxytylan 1 g/5kgTT/ngày
Sử dụng trong 3 - 5 ngày liên tục thì gà khỏi bệnh Trong các phác đồ
đã sử dụng tôi nhận thấy phác đồ Tylosin 98 % 2 g/1lít nước uống, B.complex
1 g/3 l nước uống có hiệu quả cao hơn cả, gà khỏi bệnh nhanh với tỷ lệ khỏi bệnh cao tới 99,0%
Trang 20Giai đoạn bệnh: Phân lợn từ táo chuyển sang dạng vàng sệt, sau đó chuyển thành dạng lỏng trắng, trắng hơi vàng, mùi tanh khó ngửi Lợn con bú ít dần, lúc mới mắc bệnh bụng chướng hơi, bệnh kéo dài thì bụng tóp lại, lông xù,
ủ rũ, ở đuôi và hậu môn dính đầy phân, lợn mắc bệnh 2 - 3 ngày phân có mùi tanh khắm Trong phân có những hạt sữa chưa tiêu hóa Lợn con mất nước nếu
ỉa chảy kéo dài, da nhăn nheo, đi đứng siêu vẹo, 4 chân lạnh, người rúm ró
Điều trị: dùng một trong những phác đồ như sau:
Coli - 200, cho uống với liều 10g/30kg TT
Coli - Flox, cho uống với liều 0,5ml/kg TT/ngày, dùng trong 3 - 4 ngày
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái:
Triệu chứng: Âm hộ sưng đỏ, thân nhiệt tăng, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, đi tiểu khó có khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục chảy ra chất dịch màu trắng đục, mùi hôi tanh, xung quanh hốc đuôi luôn
ẩm và có chất dịch dính xung quanh
Điều trị: Thụt rửa bằng dung dịch thuốc tím 1 %0, mỗi ngày một lần, mỗi lần 1 - 2 lít Tiêm kháng sinh chống nhiễm trùng kế phát và thuốc bổ:
Tiêm kháng sinh Hanoxylin LA: 1ml/10kg TT
Tiêm Oxytoxin: 2 ml/con/ngày
Tiêm thuốc bổ Multivit - forte: 1ml/10kg TT/lần/ngày
1.4.3 Tham gia các công việc khác
Trong quá trình thực tập tại cơ sở, chúng tôi còn tham gia một số công việc khác như:
Chăm sóc nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho đàn gà đẻ
Thiến lợn đực
Mổ hecni cho lợn
Thụ tinh cho lợn
Đỡ đẻ cho lợn
Phun thuốc sát trùng vệ sinh chuông trại chăn nuôi
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được trình bày tại bảng 1.3
Trang 21Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Đơn vị Số
lượng
Kết quả (An toàn, khỏi)
Số lượng Tỷ lệ (%)
Phun thuốc sát trùng chuồng trại 150m2
1.5 Kết luận về công tác phục vụ sản xuất
1.5.1 Bài học kinh nghiệm
Qua 6 tháng thực tập tại huyện được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của chính quyền địa phương và của các chủ hộ chăn nuôi, đặc biệt là sự chỉ bảo và
hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Nguyễn văn Sửu, tôi đã bước đầu tiếp
cận thực tiễn sản xuất, vận dụng những kiến thức đã được học ở nhà trường vào thực tế sản xuất Từ đó, tôi đã củng cố, nâng cao kiến thức chuyên môn
và kinh nghiệm thực tế đó là tôi rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích về
Trang 22chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như: Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị, có niềm tin ở chính mình, giúp tôi yêu nghề hơn, say mê với công việc, không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi ra thực tiễn sản xuất Tôi thấy rằng việc đi thực tập tại cơ sở là rất cần thiết đối với bản thân tôi cũng như mỗi sinh viên trước khi tốt nghiệp ra trường
Địa phương cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tiêm phòng định kỳ hàng năm cho đàn gia súc, gia cầm
Tăng cường công tác kiểm dịch, vệ sinh thú y, xây dựng vùng an toàn dịch bệnh
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào phục vụ sản xuất
Tiếp tục tạo điều kiện cho sinh viên thực tập, có thời gian củng cố kiến thức học hỏi kinh nghiệm thực tế sản xuất và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
Trang 23Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Nghiên cứu bệnh cầu trùng ở gà và biện pháp phòng trị tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”
2.1 Đặt vấn đề
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta nói chung và của huyện Trùng Khánh nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Các sản phẩm của nó không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác Điều này đòi hỏi sự nâng cao không ngừng về số lượng và chất lượng của gia cầm, đem lại nguồn thực phẩm
có giá trị dinh dưỡng cao và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Để thực hiện được điều đó, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã sớm áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc chăm sóc và phòng bệnh cho gia cầm có ý nghĩa quan trọng và quyết định đến thành quả của người chăn nuôi
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của đàn gà thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến ngày càng phức tạp, nhất là đối với hình thức chăn nuôi theo quy mô
hộ gia đình không áp dụng được triệt để các biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp Trong đó có bệnh cầu trùng gà là một bệnh thường xuyên xảy ra Đây là một bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hóa gây nên, làm cho gà mắc bệnh trở nên còi cọc, chậm lớn,… ảnh hưởng đến sinh trưởng, sức sản xuất, đặc biệt là gây
tỷ lệ chết cao ở gà con nếu không được diều trị kịp thời
Vì vậy, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh cầu trùng gây ra trên đàn
gia cầm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bệnh cầu trùng
ở gà và biện pháp phòng trị tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng”
2.1.2 Mục tiêu của đề tài
Xác định tỷ lệ và cường độ gà nhiễm cầu trùng tại huyện Trùng Khánh Xác định ảnh hưởng của mùa vụ tới tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà Xác định ảnh hưởng của lứa tuổi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà Xác định ảnh hưởng của giống gà tới tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà Xác định hiệu quả của việc dùng thuốc trong phòng và trị bệnh cầu trùng
Trang 242.1.3 Mục đích nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu lấy đó làm cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng cho gà, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân
Bản thân tập làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa và trao đổi chất ở gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ chim hoang dại Gia cầm có bộ xương xốp nhẹ và thân phủ lông vũ, chi trước biến thành cánh để bay, con cái đẻ trứng sau khi ấp nở thì thành gia cầm con
Gia cầm khác với động vật khác ở chỗ cường độ của các quá trình trao đổi chất lớn, thân nhiệt cao từ 40 - 420
C, gia cầm sinh trưởng nhanh, khối lượng gà hướng thịt Broiler lúc 50 ngày tuổi gấp 40 đến 50 lần trọng lượng khi mới nở (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [3]
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận như: hệ tiêu hóa, hô hấp, bài tiết, tuần hoàn, sinh dục Nhưng cấu tạo giải phẫu sinh lý gia cầm lại
có nhiều điểm khác với gia súc Đặc biệt là hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ sinh dục… trong đó:
Hệ hô hấp của gia cầm gồm: xoang mũi, khí quản, phế quản phổi và 9 túi khí chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch hoàn của gia cầm nằm trong mà quá trình sinh sản vẫn diễn ra bình thường
Hệ tiêu hóa: cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo chức năng, nó bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng, lỗ huyệt, tuyến tụy và gan
Cấu tạo chức năng của bộ máy tiêu hóa cũng có những đặc điểm riêng biệt Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, khoang miệng không có răng và môi Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản, thức ăn không được nghiền nhỏ mà chỉ được nước bọt thấm trơn để dễ nuốt Thức ăn từ miệng vào thực quản, thực quản phình to tạo thành diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men và vi khuẩn trong thức ăn, nhờ men amilaza tinh bột được phân giải thành gluco Ở gà không có phản xạ nôn, thức ăn ở diều không trở lại miệng được
Trang 25Sau một thời gian lưu ở diều, thức ăn được làm mềm, xuống dạ dày tuyến và không giữ lâu ở dạ dày tuyến Khi được dạ dày tuyến làm ướt, thức
ăn chuyển xuống dạ dày cơ Ở dạ dày cơ diễn ra đồng thời hai quá trình tiêu hóa là tiêu hóa men và tiêu hóa cơ học Các men tiêu hóa được tiết ra từ dạ dày tuyến thấm vào thức ăn xuống dạ dày cơ Tại đây sự phân hủy protein diễn ra như sau:
Protein + H2O + HCl → Albumoz + Pepton
Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa, nhờ có cơ khỏe và màng sừng phát triển mà thức ăn được nghiền nhỏ và trộn lẫn với dịch vị của dạ dày tuyến Axit clohydric tác động làm cho các protein trở nên căng phồng và nhờ có men pepsin, chúng được phân giải thành pepton và một phần thành axit amin
Từ dạ dày cơ thức ăn đi vào ruột, thức ăn ở ruột non được trộn đều với dịch ruột, trong dịch ruột có các men amilaza, lipaza, tripsin do tuyến tụy tiết
ra có tác dụng phân giải các chất dinh dưỡng cơ bản của thức ăn như gluxit, protit và lipit (nguồn men tiêu hóa do tuyến tụy cung cấp)
Ở manh tràng quá trình phân giải gluxit, protit và lipit còn tiếp tục nhờ men đường ruột tồn tại, men do vi sinh vật tiết ra rất ít Đây là nơi duy nhất phân giải một lượng nhỏ chất xơ (10 - 30%) bằng các men do vi khuẩn tiết ra
Gà tiêu hóa chất xơ kém nên trong khẩu phần thức ăn không nên có quá 4 - 6% chất xơ, nhưng trong khẩu phần không có chất xơ dễ bị rối loạn tiêu hóa
Ở gà con thức ăn đi qua đường tiêu hóa 2- 4 giờ, ở gà trưởng thành mất
4 - 5 giờ Vì vậy khi gà nuốt phải noãn nang cầu trùng thì noãn nang sẽ cùng thức ăn xuống ruột non, ruột già và manh tràng Do đó quá trình xâm nhập của cầu trùng vào biểu bì ruột sẽ rất nhanh (trong vài giờ)
Trong bộ máy tiêu hóa của gà, hợp chất hữu cơ phức tạp sẽ được phân giải thành các chất đơn giản như: Protit thành axit amin, gluxit thành đường đơn, lipit thành glyxerin và axit béo Những chất này sau khi hấp thu vào máu được đưa tới các cơ quan, bộ phận trên cơ thể gà, chúng được dùng để tạo tế bào mới, khôi phục tế bào già, tạo thành dịch tiêu hóa và cơ thể luôn xảy ra quá trình phân giải, oxy hóa hợp chất hữu cơ phức tạp, để giải phóng năng lượng duy trì thân nhiệt và hoạt động Cường độ trao đổi chất phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và trạng thái cơ thể gà
Trang 262.2.1.2 Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5] cho biết: Bệnh cầu trùng là bệnh
do đơn bào gây ra,mầm bệnh ký sinh ở đường tiêu hóa của gia súc, gia cầm, thú rừng, bò sát, cá Một số súc vật như: trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, thỏ,
gà, vịt, ngan, ngỗng… đều bị cầu trùng tác động gây bệnh
Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, nhất là súc vật non Bệnh gây tổn hại rất lớn đối với thỏ và gà (tỷ lệ chết cao nhất ở thỏ con và gà lên đến 80 - 100%)
Bệnh phổ biến khắp thế giới, bệnh cầu trùng gà được coi là bệnh thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên Đặc điểm quan trọng của cầu trùng là vòng đời ngắn (5 -7 ngày) và không cần ký chủ trung gian Tỷ lệ chết từ 50 - 70% số gà mắc bệnh
Bệnh cầu trùng gây tổn thất lớn đối với gia cầm 1 - 3 tháng tuổi Gà con sau khi bị bệnh thì rất còi cọc chậm lớn, trọng lượng giảm 12 - 30% rất khó phục hồi lại bình thường
Cùng là gia cầm nhưng mỗi loài lại có một số loài cầu trùng ký sinh riêng Cầu trùng gà không ký sinh ở ngan, ngỗng Trên cùng cơ thể nhưng mỗi loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng ký sinh ở manh tràng, không ký sinh ở ruột non và ngược lại ở gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau Gà con bị nhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà lớn, gà trưởng thành phần lớn là vật mang trùng làm ảnh hưởng lớn đến sản lượng thịt và trứng
Đặc tính chung của cầu trùng:
Cầu trùng thuộc bộ Coccidia, họ Eimeridiae
Bệnh cầu trùng do động vật nguyên sinh đường ruột gia súc thuộc các
loài Eimeria và Isospora Cầu trùng có tính chuyên biệt về vật chủ nên không
lây chuyền giữa các loài gia súc khác nhau
Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài được gọi là một kén hay một noãn nang (Oocyt) là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu, có 3 lớp vỏ, lớp ngoài cùng rất mỏng, bên trong có nguyên sinh chất lổn nhổn thành hạt, ở giữa đám nguyên sinh chất có một nhân tương đối to, có một số cầu trùng
ở đầu có chỗ lõm vào gọi là lỗ noãn nang, có một số loài cầu trùng không có lỗ noãn nang hoặc không rõ Khi ở ngoại cảnh gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ
ẩm, ánh sáng… thích hợp) thì nhân và nguyên sinh chất bắt đầu phân chia
Trang 27Nếu là cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ
hình thành 4 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 2 bào tử con Bào tử con
có hình quả lê, chính bào tử con sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan
và gây những tổn thương bệnh lý
Nếu cầu trùng thuộc giống Isospara thì nhân và nguyên sinh chất sẽ
phân chia thành 2 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 4 bào tử con, cuối
cùng hình thành 8 bào tử con giống Eimeria và cũng xâm nhập vào niêm mạc ruột Giống Isospara ít gặp hơn và thường thấy ở chó, mèo
Có những loại cầu trùng chỉ gây hại cho gà ở lứa tuổi nhất định như:
Eimeria tenella chủ yếu gây bệnh cho gà dưới 45 tuổi, Eimeria brunette gây
bệnh cho gà lớn
Gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng nhưng tác hại ở mỗi lứa tuổi là khác nhau Gà con bị bệnh nặng và chết nhiều hơn gà lớn Gà lớn chủ yếu là vật mang trùng
Trong chăn nuôi gia cầm, hiện tượng cầu trùng rất đa dạng nó luôn gắn liền với vệ sinh thú y kém Gà nuôi nhốt tập trung mật độ cao, khi nuôi dưỡng kém thì bệnh phát triển mạnh và trầm trọng
2.2.1.3 Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà
Nguyễn Thị Kim Lan (1999) và cs [5] cho biết: Cho tới nay người ta đã phát hiện được 9 loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây bệnh cho gà và gây
thiệt hại lớn là:
Eimeria tenella Eimeria preacox
Eimeria acervulina Eimeria hagani
Eimeria maxima Eimeria brunetti
Eimeria mitis Eimeria mivati
Eimeria necastrix
Theo tác giả Phan Lục, Bạch Mã Điền (1999) [10] cho biết ở Việt Nam
có nhiễm 6 loại cầu trùng:
Eimeria tenella Eimeria maxima
Eimeria necastrix Eimeria brunetti
Eimeria mitis Eimeria acervulina
Đặc điểm 9 loại cầu trùng gây bệnh cho gà:
Trang 28Eimeria tenella
Được Raullet Lucet phát hiện và mô tả lần đầu tiên năm 1891 Đây là loài
phổ biến rộng rãi nhất, noãn nang hình trứng bao bọc bởi hai lớp vỏ màu xanh nhạt, ở một đầu noãn nang có hạt cực Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,16 Thời gian hình thành bào tử con từ 18-48 giờ Khi nhiệt độ thấp thời gian hình thành bào tử kéo dài hơn còn khi nhiệt độ tăng trên 300C thì sự hình thành bào tử dừng lại, các nang trứng chết Qua sinh sản bào tử, các nang trứng phát triển thành 4 bào tử kích thước 4 x 8 µm, mỗi bào tử có 2 thể bào tử
Cầu trùng Eimeria tenella phát triển trong manh tràng nhưng cũng có
thể ở các phần ruột khác, thời kỳ cầu trùng phát triển trong cơ thể gà là 10 ngày tuổi, cầu trùng thải nang trứng vào ngày thứ 6 đến ngày thứ 7 sau khi nhiễm vào cơ thể Số lượng nang trứng thải ra tối đa trong 3 - 4 ngày đầu, những ngày tiếp theo cường độ nang trứng thải ra giảm dần, tới ngày thứ 10 thì hoàn toàn không thấy nang trứng nữa
Ở môi trường bên ngoài, nang trứng Eimeria tenella khá bền vững Cầu
trùng này giữ được khả năng gây bệnh sau khi nằm trong đất suốt năm Nơi
cư trú là manh tràng nên chúng gây tổn thương rất nặng ở đây Các giai đoạn phát triển nội sinh, nhất là cơ thể phân lập đời 2, khi phát triển thành số lượng lớn trong thành ruột sẽ phá hủy niêm mạc ruột gây chảy máu, xoang chứa đầy các biểu bì bị phá hoại, những thành phần hữu hình của máu và những dạng cầu trùng ở các giai đoạn khác nhau
Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rối loạn, màng niêm mạc bị tổn thương là cửa để các vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân hủy các chất trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể
Eimeria acervulina
Đây là loại cầu trùng mới tìm thấy ở nước ta, chúng có độc lực không mạnh Noãn nang hình trứng, không màu, có khối nguyên sinh chất chưa hình thành, bào tử có dạng hạt, ở đầu hẹp có một hay nhiều hạt cực, đầu to có nhân phân cực, vỏ bọc nhẵn Giai đoạn nội sinh, loại cầu trùng này ký sinh ở tá tràng, gây ra quá trình viêm ở thể cấp tính Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,25
Eimeria maxima
Là loại cầu trùng có độc lực cao nhưng khả năng gây bệnh thấp hơn
Trang 29Eimeria tenella, noãn nang có màu nâu vàng, hình trứng vỏ hơi sần sùi, hạt cực
ở đầu hẹp Trong noãn nang và trong bào tử đều không có thể cặn Quá trình nội sinh diễn ra dọc chiều dài ruột non nhưng nhiều hơn cả là phần trước và phần giữa Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,47 Khối nguyên sinh chất trong những cầu trùng chưa hình thành bào tử thì có dạng hình tròn (hình hạt tròn)
Quá trình sinh bào tử kéo dài từ 21-24 giờ Thường ký sinh ở giữa ruột non
Eimeria mitis
Là loài cầu trùng có độc lực yếu Noãn nang hình cầu, không màu Khối nguyên sinh chất đều đặn, nang trứng có hạt cực Cầu trùng ký sinh ở tuyến đầu ruột non Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ trong các tế bào biểu bì nhung mao thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6 - 12 thể phân đoạn, các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5 Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,09
Thời gian sinh sản bào tử là 48 giờ Thời gian xâm nhập trong cơ thể gà là
138 - 140h Gà con từ 2-5 tuần tuổi cảm nhiễm mạnh với cầu trùng này Thường ký sinh ở ruột non và cả manh tràng Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,19
Trang 30
Eimeria brunetti
Loài cầu trùng này có độc lực tương đối cao nhưng không bằng
Eimeria tenella và Eimeria necastrix, các nang trứng có hình trứng, không
màu Trong noãn nang có một hoặc một số hạt cực Giai đoạn nội sinh diễn ra ở ruột già và phần cuối của ruột non Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,31
Eimeria mivatti
Sức gây bệnh không mạnh Noãn nang hình cầu, không màu, có hạt
cực Giai đoạn nội sinh diễn ra ở ruột non gây tổn thương tế bào nội mô nhung mao tạo ra những khe, những hốc trên suốt phần ruột non
Bảng 2.1 Hình thái và đặc tính sinh học của 9 loại cầu trùng
Sức gây bệnh
µm Hình thái Màu
E.acervulia 19,5x14,3 Hình trứng Không màu 21 Không
mạnh E.brunetti 24,6x18,8 Hình trứng Không màu - Không
mạnh E.maxima 29,3x22,6 Bầu dục Vàng nhạt 48 mạnh E.mitis 16,2x15,5 Hình cầu Không màu 48 Yếu E.mivati 15,6x13,4 Hình cầu Không màu - Không
mạnh E.necatrix 16,7x14,2 Bầu dục Không màu 48 Mạnh
Không E.praecox 21,2x17,0 Hình cầu Không màu 24 - 48 Yếu E.tenella 22,6x19,0 Bầu dục
tròn
Xanh nhạt 24 - 48 Rất mạnh
E.hagani 19,1x17,6 Hơi tròn Không màu 24 - 48 Không
mạnh
(Giáo trình ký sinh trùng thú y Nguyễn Thị Kim Lan (1999) và cs [5])
2.2.1.4 Vòng đời của cầu trùng gà
Tất cả các loài cầu trùng đều có vòng đời khá phức tạp và chúng đều phát triển theo một vòng đời chung Việc hiểu biết về vòng đời của chúng rất quan trọng trong việc chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh và có những kế hoạch điều chỉnh loại ký sinh trùng này
Trang 31Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) và cs [5]: Chu trình phát triển cầu trùng gà gồm 2 giai đoạn phát triển: Giai đoạn ở ngoài tự nhiên và giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ
Giai đoạn 1: Phân gà thải ra có noãn nang (Oocyst) Gặp điều kiện thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào tử (cầu trùng Eimeria phát triển thành 4 bào tử) Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm (Oocyst gây nhiễm)
Giai đoạn 2: Giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ: Gà nuốt noãn nang gây nhiễm, vào tới ruột, noãn nang vỡ ra giải phóng 4 bào tử gọi là Trophotozoit bám vào tế bào biểu mô ruột, tiếp tục phát triển thành Schizontes Schizontes tiếp tục phát triển và phân chia tạo thành Schizogonie và vỡ ra thành nhiều Schizogoit Schizogoit tiếp tục phát triển thành Merozoit rồi thành tế bào đực (tiểu phố tử) và tế bào cái (đại phối tử) Tế bào đực và cái kết hợp với nhau tạo thành hợp tử rồi thành noãn nang (Oocyst) Thời gian hoàn thành vòng đời: 5 - 7 ngày
* Sơ đồ chu kỳ sinh học phát triển của cầu trùng
Noãn nang Noãn nang gây nhiễm Bào tử Schironotes (Oocyst) (Oocyst gây nhiễm) (Trophotozoit)
Tế bào cái Schizogonie (Đại phối tử)