Đây là thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Khoa : Chăn nuôi thú y
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y Khoa : Chăn nuôi thú y
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường đại học nói chung và Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành phương pháp nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi
ra trường trở thành một cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy giáo hướng dẫn và được sự tiếp nhận của cơ sở, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ tinh thô trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng của nghé giai đoạn 7 - 10 tháng tuổi nuôi tại tỉnh Thái Nguyên”
Nhờ sự nỗ lực của bản thân, sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo
và nhân dân địa phương, sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, đến nay tôi
đã hoàn thành nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp và bản khóa luận tốt nghiệp
Do bước đầu làm quen với thực tiễn sản xuất nên khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vậy tôi kính mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô, các bạn, các đồng nghiệp để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Ngọc Anh
Trang 4Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Chăn nuôi - Thú y và các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dạy dỗ dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên của Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi, giúp tôi hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập tại cơ sở
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Văn Thăng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp và hoàn thiện bản khóa luận này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Ngọc Anh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Chỉ tiêu nghiên cứu sản xuất của trung tâm từ năm 2003- 2006 8
Bảng 1.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 19
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 36
Bảng 2.2: Sinh trưởng tích luỹ của nghé nuôi thí nghiệm (kg) 39
Bảng 2.3: Sinh trưởng tuyệt đối của nghé nuôi thí nghiệm (g/con/ngày) 40
Bảng 2.4: Sinh trưởng tương đối của nghé nuôi thí nghiệm (%) 42
Bảng 2.5: Kích thước một số chiều đo của nghé qua các giai đoạn tuổi
ở lô đối chứng 44
Bảng 2.6: Kích thước một số chiều đo của nghé qua các giai đoạn tuổi ở lô thí nghiệm 1 45
Bảng 2.7: Kích thước một số chiều đo của nghé qua các giai đoạn tuổi ở lô thí nghiệm 2 45
Bảng 2.8: Kích thước một số chiều đo của nghé qua các giai đoạn tuổi
ở lô thí nghiệm 3 46
Bảng 2.9: Một số chỉ số cấu tạo thể hình của nghé qua các giai đoạn tuổi
ở lô đối chứng 47
Bảng 2.10: Một số chỉ số cấu tạo thể hình của nghé qua các giai đoạn tuổi ở lô thí nghiệm 1 47
Bảng 2.11: Một số chỉ số cấu tạo thể hình của nghé qua các giai đoạn tuổi ở lô thí nghiệm 2 48
Bảng 2.12: Một số chỉ số cấu tạo thể hình của nghé qua các giai đoạn tuổi ở lô thí nghiệm 3 49
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 2.1: Biểu đồ sinh trưởng tích luỹ của nghé nuôi thí nghiệm 40 Hình 2.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của nghé nuôi thí nghiệm 42 Hình 2.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của nghé nuôi thí nghiệm 43
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn 1
1.1.1.3 Điều kiện địa hình, đất đai, giao thông, thuỷ lợi 2
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Trung tâm 2
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Trung tâm 3
1.1.3.1 Tình hình sản xuất của ngành trồng trọt 3
1.1.3.2 Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi 4
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Trung tâm NC&PTCNMN 5
1.1.4.1 Quá trình thành lập 5
1.1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 7
1.1.4.3 Tình hình sản xuất của Trung tâm NC&PTCNMN 8
1.1.5 Đánh giá chung 9
1.1.5.1 Thuận lợi 9
1.1.5.2 Khó khăn 10
1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ
SẢN XUẤT 11
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 11
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi 11
1.2.1.2 Công tác thú y 11
1.2.1.3 Công tác khác 11
1.2.2 Phương pháp tiến hành 11
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 12
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 12
1.3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 18
1.3.1 Kết luận 18
1.3.2 Đề nghị 19
Trang 8Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 20
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 20
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 20
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 21
2.1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 21
2.1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 21
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 21
2.2.1 Cơ sở di truyền của các tính trạng 21
2.2.1.1 Tính trạng số lượng 21
2.2.1.2 Sự di truyền các tính trạng số lượng 21
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
của trâu 22
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng của trâu 22
2.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của trâu 27
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 32
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 32
2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33
2.3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
2.3.1.1 Địa điểm nghiên cứu 35
2.3.1.2 Thời gian nghiên cứu 35
2.3.2 Vật liệu nghiên cứu 35
2.3.2.1 Gia súc thí nghiệm 35
2.3.2.2 Thức ăn thí nghiệm 36
2.3.3 Nội dung nghiên cứu 36
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.4.1 Bố trí thí nghiệm 36
2.3.4.2 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 37
2.3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
2.4.1 Sinh trưởng của nghé giai đoạn 7-10 tháng tuổi 38
2.4.1.1 Sinh trưởng tích luỹ của nghé nuôi thí nghiệm 38
Trang 92.4.1.2 Sinh trưởng tuyệt đối của nghé nuôi thí nghiệm 40
2.4.1.3 Sinh trưởng tương đối của nghé nuôi thí nghiệm 42
2.4.2 Kích thước một số chiều đo và chỉ số cấu tạo thể hình của nghé giai đoạn 7-10 tháng tuổi 43
2.4.2.1 Kích thước một số chiều đo của nghé nuôi thí nghiệm 44
2.4.2.2 Một số chỉ số cấu tạo thể hình của nghé qua các giai đoạn tuổi 46
2.5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 49
2.5.1 Kết luận 49
2.5.2 Tồn tại 50
2.5.3 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
1.Tài liệu tiếng Việt 51
2 Tài liệu tiếng Anh 53
Trang 10Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi (TTNC
&PTCNMN) thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trung tâm có trụ sở đóng tại xã Bình Sơn, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, với tổng diện tích đất tự nhiên là: 69,9 ha Về địa giới hành chính của Trung tâm như sau:
- Phía bắc giáp với xã Thịnh Đức
- Phía đông giáp với xã Bá Xuyên
- Phía tây và nam giáp với xã Bình Sơn
- Phía tây nam cách 10 km là dãy núi Tam Đảo, phía Đông Bắc cách 5
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7, 8, có gió mùa Đông Nam, các tháng còn lại lượng mưa ít hơn Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.875 mm, cao nhất là 2.390
mm thấp nhất là 1.420 mm Nhiệt độ trung bình từ 23oC - 28oC, độ ẩm tương đối là 80 - 85%
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Trong mùa này lượng mưa ít, có gió mùa Đông Bắc nên khí hậu khô hanh và lạnh Nhiệt độ trung bình từ 15oC - 19oC, độ ẩm tương đối từ 70 -75%
Trang 11* Thuỷ văn
Trung tâm được bao bọc bởi dòng sông Công, chảy dài từ Bắc xuống Nam, đây là con sông thường xuyên cung cấp nước cho phát triển sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi Nhìn chung khí hậu thuỷ văn khá thuận lợi cho nghiên cứu và phát triển sản xuất của Trung tâm, song do sự chênh lệch về nhiệt độ và độ ẩm giữa hai mùa lớn nên cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới
sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi
1.1.1.3 Điều kiện địa hình, đất đai, giao thông, thuỷ lợi
* Điều kiện địa hình, đất đai
Trung tâm có địa hình tương đối bằng phẳng, đồng thời lại nằm ở ven sông Công, nên đất có độ phù xa tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây thức ăn phục vụ cho ngành chăn nuôi Đặc biệt từ khi được nhà nước quan tâm đầu tư, Trung tâm đã có hệ thống nước tưới tiêu đảm bảo đủ điều kiện cho việc trồng, chăm sóc cây thức ăn cho đàn vật nuôi Nhờ chủ động được tưới tiêu nên đã rút ngắn thời gian quay vòng cây thức ăn xanh trong mùa khô, không còn tình trạng thiếu thức ăn trong vụ đông
Tổng diện tích đất của trung tâm là 69,9 ha trong đó:
- Diện tích canh tác là: 20 ha
- Diện tích xây dựng cơ bản là: 12 ha
- Diện tích ao hồ là: 2,9 ha
- Diện tích đồng cỏ chăn thả là: 35 ha Với 55 ha là diện tích canh tác và đồng cỏ chăn thả đảm bảo tốt cho việc chăm sóc nuôi dưỡng 100 ngựa các loại giống gốc và 30 ngựa bạch giống gốc
*Giao thông
Từ khi được đầu tư, Trung tâm đã bê tông hoá hầu hết đường đi trong Trung tâm Ngoài ra Trung tâm còn dải được 3 km đường nhựa đi ra thành phố Thái Nguyên, tạo điều kiện đi lại được dễ dàng
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Trung tâm
TT NC&PTCNMN tiền thân là Trại thí nghiệm ngựa Bá Vân được thành lập năm 1960, sau đó đổi tên thành Trại nghiên cứu ngựa và trâu Bá
Trang 12Vân năm 1994 Đến ngày10/1/1998, Trại được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đổi tên thành TT NC&PTCNMN Trong những năm đầu thực hiện chuyển đổi từ cơ chế hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường, Trung tâm còn gặp nhiều khó khăn như: Cơ sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn, hệ thống chuồng trại cũ, đời sống của cán bộ công nhân viên eo hẹp Song với lòng yêu nghề, nhạy bén với cơ chế thị trường, Ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên một lòng dốc sức đưa Trung tâm từng bước đi lên, con ngựa bắt đầu được chú ý và có tiếng nói trên thị trường trong và ngoài nước Xác định được tầm quan trọng của chăn nuôi đại gia súc đối với miền núi Nhà nước đã chú ý đầu tư về khoa học kỹ thuật đến trang thiết bị và cơ sở hạ tầng Cho đến nay cơ sở vật chất và kỹ thuật đã đầy đủ và khang trang, đảm bảo tốt cho hoạt động của Trung tâm ngày càng vững mạnh và phát triển, thể hiện ở một số công trình đã đầu tư thực hiện như:
- Đầu năm 1994, đường điện trên địa bàn đã được xây dựng và đưa vào
sử dụng
- Năm 1995 xây dựng khu nhà nghiên cứu thí nghiệm và toàn bộ hệ thống chuồng trại, đường giao thông nội bộ, hiện đại một số trang thiết bị nghiên cứu Hệ thống nước sạch, điện thoại, các phòng thí nghiệm nghiên cứu phục vụ công tác nghiên cứu và công tác phục vụ sản xuất cũng dần dần được hoàn thiện
- Năm 1998, Trung tâm được Nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống giao thông với tổng chiều dài trên 3 km và một ngầm qua sông
Tuy còn gặp nhiều khó khăn trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sự nghiệp nghiên cứu khoa học, song toàn thể CBCNV của Trung tâm đã có sự
ổn định về nơi ăn, chỗ ở, điều đó đã tạo cho người lao động yên tâm với công tác nghiên cứu và sản xuất, là điều kiện để Trung tâm phát triển vững chắc, hoà nhịp kịp thời với nền kinh tế thị trường
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Trung tâm
1.1.3.1 Tình hình sản xuất của ngành trồng trọt
Với phương châm tăng năng suất và chất lượng, Trung tâm đã chủ trương đưa vào một số giống cây thức ăn chăn nuôi có năng suất cao, có giá trị dinh dưỡng, có khả năng sống tốt trong điều kiện khắc nhiệt của thời tiết,
Trang 13từ đó phát triển trồng trên diện rộng, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho đàn gia súc cả về mùa mưa lẫn mùa khô Một số giống cỏ mới được đưa vào sản xuất là: Brachiariada, decumben, Setaria, TD58, Cỏ voi
Hiện nay giống cỏ TD58 đang được trồng trên diện rộng ở Trung tâm Trung tâm đã chuyển giao hàng trăm tấn cỏ giống cho các hộ nông dân trên địa bàn và các tỉnh lân cận
Trong 17 năm, từ năm 1997 trở lại đây, cây thức ăn xanh của Trung tâm
đã đáp ứng được nhu cầu cho đàn gia súc, đảm bảo cả số lượng và chất lượng Đặc biệt là cây thức ăn xanh đã đáp ứng nhu cầu cho đàn gia súc cả về mùa khô, hạn chế đến mức tối thiểu vấn đề sử dụng thức ăn khô trong mùa khô hanh
1.1.3.2 Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi
* Chăn nuôi ngựa
Trung tâm NC&PTCNMN được giao nhiệm vụ nghiên cứu nhập ngoại nuôi thích nghi ngựa Cabacdin, nghiên cứu chọn lọc ngựa Việt Nam
và đàn ngựa lai (Cabacdin x ngựa địa phương) để tạo con lai có tầm vóc cao
to hơn, sức thồ kéo tốt hơn, phục vụ cho miền núi trung du Trung tâm đã chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật về chăn nuôi ngựa cho 21 tỉnh thành trong cả nước, phục vụ cho nhu cầu cải tạo giống ngựa Việt Nam Nhiệm vụ chăn nuôi ngựa là nhiệm vụ chính trong các nhiệm vụ phát triển chăn nuôi hiện nay của Trung tâm, hàng năm nhiệm vụ này thực hiện tạo giống ngựa lai phục vụ cho thồ, kéo và cưỡi, phục vụ sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ cho nông nghiệp, y học và quốc phòng Tỷ lệ sinh sản của đàn ngựa hàng năm đạt 50% Khối lượng sơ sinh của ngựa lai chứa 25% máu Cabacdin đạt từ 23-25 kg, ngựa Cabacdin đạt 32-35 kg và ngựa nội đạt 19-21 kg Ngựa đực lai F1 hàng năm được chuyển đến các địa phương làm giống cho lai với ngựa địa phương tạo ngựa 25% máu Cabacdin Trong năm
2003 Trung tâm đã chuyển giao được 12 ngựa giống, năm 2004 là 12 con, năm 2005 là 23 con và năm 2006 kế hoạch chuyển giao 20 con cho các tỉnh
để cải tạo đàn ngựa địa phương
* Chăn nuôi trâu
Trâu là con vật nuôi truyền thống từ lâu đời, người nông dân luôn coi con trâu là đầu cơ nghiệp Hiện nay ngành chăn nuôi trâu đang ngày càng
Trang 14phát triển cả về số lượng và chất lượng, nó cung cấp sức kéo, phân bón cho ngành trồng trọt, cung cấp thực phẩm cho con người, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến Đàn trâu Việt Nam còn nhỏ, sức kéo thấp, cho thực phẩm không cao Với nhiệm vụ nghiên cứu và chọn lọc, nhân thuần, lai tạo trâu địa phương với trâu Murrahi tạo ra trâu lai F1 có tầm vóc cao to hơn, sức cày kéo lớn hơn Hiện tại Trung tâm đã lai tạo được 20 con trâu F1
để nhân rộng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh lân cận
Hiện nay Trung tâm đang nuôi giữ 60 con trâu, trong đó trâu Murrahi có
30 con, trâu nội có 15 con, trâu lai F1 có 15 con Khối lượng sơ sinh trâu ngoại trung bình 30 kg; Khối lượng sơ sinh trâu nội trung bình 22 kg
* Chăn nuôi gia cầm
Bên cạnh chăn nuôi đại gia súc (ngựa, trâu) thì chăn nuôi gia cầm cũng là đối tượng không thể thiếu được đối với Trung tâm NC&PTCNMN Tại đây Trung tâm đã chuyển giao hàng nghìn gia cầm, thuỷ cầm cho các hộ nông dân Cụ thể năm 2004 Trung tâm đã chuyển giao được 5.100 con gà, 2.650 con ngan, 1.600 con vịt cho hộ nông dân Năm 2005 Trung tâm chuyển giao được 5.900 con gà, 3.640 con ngan, 2.314 con vịt cho hộ nông dân
Hiện nay đàn gia cầm, thuỷ cầm của Trung tâm là :
Gà Lương Phượng giống gốc: 550 con
Gà Sasso giống gốc: 600 con
Ngan pháp: 200 con
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của Trung tâm NC&PTCNMN
1.1.4.1 Quá trình thành lập
*Cơ sở vật chất của Trung tâm
Nhà nghiên cứu thí nghiệm gồm:
- Phòng nghiên cứu thí nghiệm và sản xuất chế phẩm sinh học, phòng đọc, phòng máy, hội trường hội thảo khoa học, phòng thụ tinh nhân tạo, phòng máy ấp trứng với công suất 10.000 quả
Hệ thống chuồng trại gồm có:
- Trại nghiên cứu chăn nuôi ngựa:
+ Chuồng ngựa đực giống: 2 dãy
+ Chuồng nuôi ngựa cái sinh sản: 3 dãy
Trang 15+ Chuồng ngựa sinh trưởng: 1 dãy
+ Chuồng ngựa cai sữa: 1 dãy
- Trại nghiên cứu chăn nuôi trâu
+ Chuồng trâu cái sinh sản: 2 dãy
+ Chuồng trâu sinh trưởng: 2 dãy
+ Chuồng nuôi trâu đực giống và nơi khai thác tinh: 1 dãy
- Trại chăn nuôi gia cầm: Có 2 khu chuồng nuôi là chăn nuôi gà và chăn nuôi ngan
- Trạm giao dịch và giới thiệu sản phẩm: Đặt tại trung tâm xã Bình Sơn
- Toàn bộ hệ thống chuồng trại được cải tạo và nâng cấp, có đầy đủ hệ thống nước uống hợp vệ sinh, hệ thống biogas xử lý phân Các chuồng đều có sân chơi cho gia súc vận động, thuận lợi cho công tác quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng
- Trung tâm có tổng diện tích là 69,9 ha Tổng sản phẩm thức ăn thô xanh năm 2005 là 900 tấn cỏ
Với lượng thức ăn sản xuất ra, được chế biến tại chỗ như lên men ủ chua cỏ, hay nghiền ép thành viên nên Trung tâm đã giải quyết đủ thức ăn cho đàn gia súc Ngoài ra, Trung tâm còn cung cấp các giống cây thức ăn cho các tỉnh trung du và miền núi
Hệ thống chuồng trại với mô hình đằng trước là sân chơi, chuồng, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tạo điều kiện tốt cho tiểu khí hậu chuồng nuôi được trong lành
* Cơ cấu tổ chức của trung tâm
Trung tâm hiện có 46 CBCNV, trong đó có:
Cán bộ trên đại học và đại học : 16 người Cán bộ trung cấp : 2 người Công nhân kỹ thuật : 27 người
Bộ máy tổ chức của Trung tâm tương đối gọn nhẹ, thực hiện phương châm lãnh đạo là rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ hiệu quả kinh tế và 3 được trong phong trào thi đua: được tổ chức mạnh, được con người tiên tiến, được hiệu quả kinh tế cao Ban lãnh đạo Trung tâm luôn quan tâm tới việc không
Trang 16ngừng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ đoàn thể tổ chức đúng hướng, hoà nhập với cơ chế thị trường hiện nay
Sơ đồ mối quan hệ trong bộ máy tổ chức ở Trung tâm
1.1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Với chức năng là một đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học chuyên ngành chăn nuôi thú y phục vụ cho miền núi và trung du, Trung tâm được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, chọn lọc, nhân thuần, lai tạo, giữ giống gốc các giống vật nuôi (gia súc, gia cầm), và động vật rừng, phù hợp với vùng sinh thái từng khu vực Xây dựng mô hình chăn nuôi bền vững ở các tỉnh miền núi và trung du
- Nghiên cứu chế biến thức ăn chăn nuôi, thử nghiệm, gây trồng, bảo quản và sử dụng các loại thức ăn cho gia súc như: các phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp để dùng cho chăn nuôi
Đảng ủy
Ban giám đốc Hội đồng khoa học
và sản xuất Đoàn thể
Trạm chăn nuôi gia cầm
Trạm N.C thực nghiệm
Trạm giao dịch giới thiệu SP
Mạng lưới chuyển giao tiến bộ KHKT
Trạm chăn
nuôi ngựa
Trang 17- Nghiên cứu sản xuất các chế phẩm sinh học từ máu ngựa phục vụ cho nông nghiệp, y học, quốc phòng Nghiên cứu các quy trình thú y, bảo vệ vật nuôi và phòng tránh ô nhiễm môi trường
- Tham gia công tác đào tạo, chuyển giao khoa học kỹ thuật chuyên ngành chăn nuôi thú y, tiếp nhận và triển khai các dự án đầu tư trong nước và quốc tế về lĩnh vực chuyển giao công nghệ phát triển chăn nuôi
1.1.4.3 Tình hình sản xuất của Trung tâm NC&PTCNMN
Bảng 1.1: Chỉ tiêu nghiên cứu sản xuất của trung tâm từ năm 2011- 2014
STT Chỉ tiêu nghiên cứu
2014 (Kế hoạch)
Trang 18Đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ được đặt ra, hàng năm Trung tâm đã
tổ chức triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên ngành về lĩnh vực chăn nuôi thú y, cụ thể là:
- Nghiên cứu phát triển đàn ngựa lai phục vụ cho miền núi và trung du (Cabacdin x ngựa địa phương)
- Chọn lọc lai tạo ngựa theo hướng thể thao và du lịch
- Nghiên cứu sản xuất tinh đông viên trâu Murrahi và tinh đông viên ngựa
- Nghiên cứu chọn lọc, lai tạo đàn trâu địa phương x Murrahi để tạo trâu lai F1 có tầm vóc to cao hơn, có sức khoẻ tốt hơn đảm bảo được sức cày kéo và cung cấp thực phẩm
- Giữ gìn nguồn gen quý ngựa bạch
- Nghiên cứu nuôi ngựa 3 giai đoạn: 7 - 12 tháng, 13 - 24 tháng,
25 - 36 tháng
- So sánh năng suất chất lượng một số giống sắn mới tại Trung tâm
- Xây dựng mô hình xen canh cây thức ăn và cây ăn quả
- Chuyển giao mô hình cây thức ăn gia súc, gia cầm cho hộ nông dân miền núi
- Nghiên cứu mô hình chăn nuôi gà thả vườn
- Xây dựng vườn quỹ gen đồng cỏ
- Hợp tác nghiên cứu chế phẩm sinh học từ máu ngựa chửa
1.1.5 Đánh giá chung
Qua điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Trung tâm nghiên cứu & phát triển chăn nuôi miền núi, chúng tôi rút ra những thuận lợi và khó khăn sau:
1.1.5.1 Thuận lợi
Trung tâm nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Bộ NN&PTNT, Ban lãnh đạo và các phòng nghiệp vụ chức năng của Viện chăn nuôi, sự quan tâm tạo điều kiện và chia sẻ của các cấp lãnh đạo và nhân dân các địa phương trong các hoạt động của Trung tâm, đặc biệt là thị
xã Sông Công và tỉnh Thái Nguyên
Trang 19Trung tâm có đội ngũ cán bộ có trình độ dày dạn kinh nghiệm trong hoạt động nghiên cứu khoa học, say sưa với công việc chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Có đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề, nhiệt tình, trách nhiệm trong công việc, có
sự đoàn kết thống nhất cao trong tập thể lãnh đạo và CBCNV
Cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm ngày càng được nâng cao và hiện đại hoá từ chuồng trại, điện, nước đến nhà nghiên cứu thí nghiệm, đường giao thông được nhà nước đầu tư xây dựng tốt hơn
Nhiệm vụ chính của Trung tâm là nghiên cứu và sản xuất Trải qua 45 năm xây dựng và trưởng thành Trung tâm đã đúc rút ra nhiều kinh nhiệm quý trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật, từng bước tổ chức sản xuất và xây dựng đời sống mới
Cũng từ năm 1960 trở lại đây, một chặng đường 45 năm đầy những khó khăn và thách thức, Trung tâm đã có những bước tiến vượt bậc Bên cạnh từng bước đổi mới về khoa học kỹ thuật, Trung tâm luôn luôn trân trọng những kết quả nghiên cứu sản xuất của những thế hệ đi trước và luôn tự khẳng định mình, quyết tâm đổi mới, đổi mới toàn diện để vững bước trong nền kinh tế thị trường Với sự phấn đấu không mệt mỏi Trung tâm đã được Đảng và Nhà Nước ghi nhận Tháng 9/2000 đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba
1.1.5.2 Khó khăn
Hiện tại và trước mắt, Trung tâm còn gặp một số khó khăn sau:
- Với số CBCNV là 46 người phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn, phạm vi hoạt động rộng và chủ yếu ở vùng sâu vùng xa nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật của Trung tâm
- Là một đơn vị nghiên cứu có số CBCNV là 46 người, nhưng tiền lương do nhà nước cấp chỉ có 28 người, số CBCNV còn lại là do đơn vị tự lo liệu trang trải nên còn gặp nhiều khó khăn
- Đàn gia súc với số lượng khá lớn gần 400 đầu gia súc cộng thêm đàn gia cầm với số lượng lớn dẫn tới chi phí phát sinh lớn ngoài kinh phí nhà nước cấp hằng năm
Trang 20- Khí hậu, thời tiết có sự chuyển biến theo mùa, mùa đông thì lạnh giá (còn 8oC) kết hợp với khô lạnh nên ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng, phát triển cây thức ăn và đàn gia súc gia cầm
1.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Thời gian thực tập là thời gian cuối cùng kết thúc quá trình học đại học,
đó là thời kỳ mỗi sinh viên phải tự cố gắng và hoàn thiện mình hơn trong học tập và các hoạt động xã hội khác Được nhà trường và khoa giao cho nhiệm
vụ thực tập tốt nghiệp tại Trung tâm NC&PTCNMN, tôi đã đề ra nội dung cụ thể như sau:
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi
- Tìm hiểu kỹ tình hình chăn nuôi thú y ở Trung tâm và tập quán chăn nuôi ở khu vực vành đai xung quanh
- Tham gia chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển chăn nuôi tới từng hộ nông dân
- Áp dụng khoa học kỹ thuật đã học ở trường vào thực tiễn sản xuất
1.2.1.2 Công tác thú y
- Tổ chức triển khai tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm theo lịch tiêm phòng định kỳ hàng năm của Trung tâm
- Chẩn đoán và điều trị bệnh khi gia súc bị ốm
- Tham gia hoạt động dịch vụ thú y phát triển mạng lưới thú y cơ sở
1.2.1.3 Công tác khác
- Tích cực tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn thông qua các lớp tập huấn của trung tâm, các hoạt động văn hoá văn nghệ, lao động thanh niên, tặng quà cho các em học sinh nghèo vượt khó
- Không ngừng học hỏi kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật, tham khảo thêm sách báo, tài liệu, tạp chí khoa học, tạp chí chăn nuôi
1.2.2 Phương pháp tiến hành
- Xây dựng kế hoạch công tác hợp lý theo sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn và điều kiện ở cơ sở
Trang 21- Trực tiếp điều tra, tìm hiểu tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc gia cầm ở Trung tâm và khu vực vành đai để từ đó có biện pháp phòng và điều trị kịp thời có hiệu quả
- Mạnh dạn vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, khiêm tốn, thật thà học hỏi những kiến thức chuyên môn thực tế của cán bộ thú y cơ sở, sống hoà mình với mọi người, năng nổ nhiệt tình trong công việc
- Tích cực tìm đọc thêm tài liệu liên quan đến chuyên môn và chuyên ngành mình học
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
Nhờ sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa CNTY và sự giúp đỡ của cán bộ thú y Trung tâm, cộng với sự nỗ lực của bản thân, trong thời gian thực tập tôi đã đạt được một số kết quả nhất
* Đối với đàn ngựa của Trung tâm
Với sự nghiệp cải tạo giống ngựa nội (có tầm vóc nhỏ bé, sức kéo thồ yếu) bằng cách cho ngựa đực giống Cabacdin lai với ngựa cái nội tạo ra con lai F1 có tầm vóc cao to hơn, sức kéo tốt hơn ngựa địa phương, rồi từ đó dùng những con F1 có phẩm giống tốt cho lai với những ngựa quanh vùng cải tạo giống ngựa nội
Trong thời gian thực tập tôi đã trực tiếp tham gia vào công tác phối giống cho ngựa Tôi đã nắm bắt được quy trình kỹ thuật phối giống cho ngựa Quy trình gồm các khâu sau:
- Kiểm tra sự động hớn của ngựa cái
Chúng tôi kiểm tra sự động hớn của ngựa cái bằng ngựa đực thí tình vào mỗi buổi sáng Dùng ngựa đực dắt đi dọc chuồng ngựa cái sinh sản cách một ngày dắt một lần Biểu hiện của ngựa cái động dục: ngựa cái thích gần gũi vai ngựa đực, quay mông ra phía ngựa đực, mép âm môn có sự co bóp
Trang 22liên tục thấy ngựa có sự đái dắt Nếu thấy có hiện tượng trên chúng tôi đưa ngựa cái đi kiểm tra sự động dục của buồng trứng
- Kiểm tra buồng trứng qua trực tràng
Đây là phương pháp tiên tiến nhất, chính xác và hiệu quả nhất hiện nay Chuẩn bị: Tiến hành cố định ngựa cái vào giá, sau đó vệ sinh phần hậu môn
và phần bên ngoài mép âm môn
Cắt móng tay vệ sinh tay bằng xà phòng, đi găng tay giấy bóng hoặc không
Kiểm tra buồng trứng: Kiểm tra buồng trứng bên phải thì dùng tay trái
và ngược lại Chụm 5 đầu ngón tay lại cho gọn sau đó đưa tay moi hết phân ở trong trực tràng
Đưa tay vào trong xoang trực tràng sau đó đưa tay đến phần tiếp giáp giữa phần đầu của trực tràng và phần cuối của tiểu kết tràng, rút tay lại khoảng 15cm sau đó hướng lòng bàn tay lên phía bên phải hoặc bên trái của phía xương sống (đốt sống 3 - 4)
Chú ý: Trong trường hợp khám thấy ngựa có có biểu hiện rặn cong đuôi, gù lưng có cảm giác trực tràng bóp căng chặt tay thì phải tạm dừng không được cố khám tiếp
Các giai đoạn phát dục của buồng trứng và trạng thái buồng trứng:
Sự phát dục của buồng trứng chia làm 5 thời kỳ:
Thời kỳ 1: Thấy buồng trứng phát triển to lên nhưng sờ buồng trứng vẫn thấy cứng và thô Nếu ở thời kỳ này sau 3 ngày tiến hành kiểm tra tiếp
Thời kỳ 2: Khi sờ vào buồng trứng thấy nang trứng đã bắt đầu có dịch thể, sờ thấy hơi mềm Thời kỳ này sau 2 - 3 ngày kiểm tra tiếp tuỳ thuộc vào trạng thái của buồng trứng
Thời kỳ 3: Dịch thể đã rắn, khi nắm nhẹ thấy có hiện tượng có sự đàn hồi như dạng quả thị chín, nang trứng chưa tròn Khi thấy trứng ở giai đoạn này thì tiến hành phối kích thích cho ngựa hoặc không tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng con và điều kiện thời tiết Kiểm tra trứng liên tục một ngày một lần
Trang 23Thời kỳ 4: Sờ buồng trứng có dạng căng mọng, dịch thể nhiều, mặt của buồng trứng thấy nhẵn bóng, trứng căng tròn, mềm Nếu thấy trứng ở giai đoạn này, tiến hành phối giống cho ngựa Giai đoạn này tiến hành kiểm tra ngày 2 lần
Thời kỳ 5: Trứng xả và xẹp, sờ thấy hốc Fuliculin, tiến hành phối giống cho ngựa
Kiểm tra buồng trứng thấy mới xả có hiện tượng vẫn còn thấy dịch thể
và sờ thấy có dạng bèo nhèo như da ếch Nếu xả lâu rồi thì thấy buồng trứng
* Phương pháp kiểm tra sự thụ thai ngựa
- Chẩn đoán sự thụ thai bằng ngựa đực thí tình
Khi phối giống được 21 - 23 ngày, tiến hành đưa ngựa đực đến kiểm tra, nếu thấy ngựa cái không có biểu hiện động dục thì có thể coi là ngựa cái
đã thụ thai Và tiến hành kiểm tra qua trực tràng
Trang 24- Chẩn đoán sự thụ thai qua trực tràng
Dùng tay moi hết phân ở trực tràng Đưa tay vào trực tràng đến điểm tiếp giáp giữa phấn đầu của trực tràng và phần cuối của tiểu kết tràng, rút tay lại 10 -
20 cm Úp tay xuống phần bụng để 1 lát không thấy sự co bóp của trực tràng, sờ
tử cung thấy có biểu hiện: Sừng tử cung có dạng tròn to dần sờ thấy hơi cứng, tử cung bình thường có dạng mềm dẹt Sờ kỹ bên sừng tử cung có chứa thai thấy co ngắn lại (ngắn hơn bên kia) Sờ kỹ về phía gốc sừng tử cung mang thai thấy có điểm hơi phồng lên, sừng bên kia không có Góc giữa 2 sừng tử cung hẹp lại
Trong thời gian khám thai tôi thấy trường hợp bất thường sau
Sừng tử cung bị viêm: Sừng tử cung cũng cứng và tròn nhưng sờ kỹ không thấy điểm thai làm tổ Góc giữa 2 sưng tử cung vẫn bình thường, sờ sừng tử cung bị viêm thấy biến dạng
Trong thời gian thực tập chúng tôi đã khám phối giống cho 12 con Kết quả có 9 con có chửa, đạt tỷ lệ 75%
Tiến hành khám thai qua trực tràng và chẩn đoán có thai 20 con, độ chính xác đạt 80%
* Đối với đàn trâu của Trung tâm
Đàn trâu chủ yếu là trâu ngoại Murrahi (ấn Độ) có tầm vóc cao to, có đủ phẩm chất làm giống để cải tạo đàn trâu nội Đặc biệt đối với trâu ở Trung tâm, cho đến nay đã khai thác được tinh đông viên phục vụ cho khu vực và các tỉnh lân cận
- Khác với ở Trung tâm, các khu vực quanh Trung tâm chỉ nuôi trâu nội
có tầm vóc nhỏ bé, sức cày kéo thấp, phương thức giao phối trực tiếp là chủ yếu nên cho hiệu quả kinh tế chưa cao Tôi đã vận động một số hộ nông dân nên nuôi trâu lai F1 (đực Murrahi x cái nội) có tầm vóc cao to, sức cày kéo tốt hơn và giải thích để nông dân hiểu rằng phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo sẽ tốt hơn vì tránh được một số bệnh truyền nhiễm qua con đường sinh dục Qua thực tế tôi thấy trâu lai ở Trung tâm có tầm vóc cao to, sức cày kéo tốt, kế thừa được tính phàm ăn của trâu nội, chịu đựng được điều kiện của Việt Nam
Trang 25* Đối với đàn gia cầm thuỷ cầm
- Đàn gà giống gốc của Trung tâm chủ yếu là gà Lương Phượng và gà Sasso, có sức sinh trưởng và sinh sản cao Trung tâm nuôi để đẻ trứng và ấp
nở thành gà con cung cấp cho các hộ nông dân quanh vùng Trong thời gian thực tập, tôi đã tham gia phối hợp xây dựng khẩu phần ăn cho đàn gia cầm
- Về đàn ngan chủ yếu là giống ngan Pháp, Trung tâm nuôi nhằm mục đích cung cấp thịt cho thị trường Qua quá trình thực tập, tôi đã phát hiện ngan nuôi tại Trung tâm bị thiếu Vitamin A, từ đó có kế hoạch thay đổi khẩu
phần ăn cho ngan Cụ thể bổ sung lá cây keo dậu vào cám cho ngan ăn Hiện
nay, đàn ngan của trung tâm đang sinh trưởng phát triển tốt
b Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Trong chăn nuôi, giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở Tuy nhiên, để đạt năng suất cao thì chăm sóc nuôi dưỡng là khâu quan trọng không thể thiếu được Nó có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng, phát triển của đàn gia súc, gia cầm Qua tìm hiểu thực tế về công tác chăm sóc nuôi dưỡng gia súc ở Trung tâm, tôi thấy đảm bảo quy trình cả về khẩu phần ăn và lịch trình cho ăn Tôi đã cùng cán bộ, kỹ thuật viên vệ sinh chuồng trại, tắm trải cho gia súc, đồng thời tẩy uế khu vực quanh chuồng trại, cho gia súc gia cầm ăn, uống giúp nâng cao sức khoẻ cho đàn gia súc, gia cầm
c Công tác thú y
Công tác thú y có mối liên hệ khăng khít với công tác giống và chăm sóc nuôi dưỡng, vì vậy thú y có vai trò đặc biệt quan trọng trong ngành chăn nuôi Đó là một khâu tạo nên sự thành công trong chăn nuôi Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, tôi cùng cán bộ thú y Trung tâm đã tiến hành công tác tiêm phòng hàng năm cho đàn gia súc, gia cầm
* Công tác tiêm phòng
Tiêm phòng dịch hàng năm cho gia súc là một việc làm rất cần thiết đối với một cơ sở chăn nuôi lớn Vì vậy, tôi đã cùng cán bộ thú y tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm một số loại bệnh như:
+ Tụ huyết trùng trâu :
Trang 26Thuốc dùng là vắc xin tụ huyết trùng trâu bò với liều 2ml/con, tiêm cho
60 trâu
+ Phòng ký sinh trùng đường máu cho đàn ngựa với 125 con bằng thuốc Azidin (1lọ 1,18g pha 7 ml nước cất tiêm cho 300 kg TT)
+ Chủng đậu cho 300 gà lúc 7 ngày tuổi (chủng màng cánh)
+ Phòng bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá cho trâu : 60 con
+ Phòng bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá cho ngựa: 125 con
Dùng thuốc Hanmectin -25, tiêm dưới da với liều 0,8 - 1,2 ml/10kgTT
* Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc
Bên cạnh công tác tiêm phòng thì công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
là rất quan trọng, đảm bảo sức khoẻ cho đàn gia súc, giảm được thiệt hại cho ngành chăn nuôi
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tôi đã cùng cán bộ thú y cơ sở chẩn
đoán và điều trị cho một số gia súc gia cầm ở Trung tâm đạt kết quả như:
- Bệnh đau bụng ngựa
Qua thời gian thực tập chúng tôi đã gặp 10 trường hợp ngựa đau bụng
có triệu chứng như: ngựa đứng không yên, chân trước cào đất liên tục chân sau đá vào bụng, ngựa kêu khác thường Lúc đau dữ dội, ngựa nằm lăn lộn dưới nền chuồng, chân duỗi thẳng, có lúc ngồi thở như chó ngồi, ngựa đau kéo dài, có lúc ngừng đau 2 chân trước cào đất liên tục, bụng căng, niêm mạc mắt hơi đỏ Căn cứ triệu chứng và biểu hiện bên ngoài, chúng tôi chẩn đoán nguyên nhân ngựa đau bụng là do rối loạn tiêu hoá nên chúng tôi đã điều trị như sau:
- Dùng dầu salicxilat xoa vào vùng bụng, dùng cỏ khô xát vào vùng bụng
- Moi phân ở trực tràng ra, thụt rửa trực tràng bằng nước xà phòng ấm
- Tiêm pilocacpin liều 30 - 300 mg/con
Kết quả điều trị khỏi bệnh 5/5 con, đạt tỷ lệ 100%
- Bệnh tiêu chảy ở nghé và ngựa con
Triệu chứng ngựa con và nghé sốt cao, phân lỏng, ỉa nhiều lần trong ngày, thở nhanh, gấp, bụng chướng to Khi chẩn đoán là bệnh tiêu chảy chúng
Trang 27tôi đã dùng thuốc Norfacoli điều trị, tiêm với liều 1ml/8kgTT, tiêm 1 - 2 lần/ngày, kết hợp tiêm B complex Kết quả sau 3 - 4 ngày điều trị, 7 ngựa và
5 nghé con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ 100%
- Bệnh sát nhau ngựa
Vào đầu mùa Xuân ngựa của Trung tâm bắt đầu đẻ, trong thời gian này chúng tôi đã gặp 2 trường hợp ngựa bị sát nhau với các triệu chứng như : Sau khi ngựa đẻ 12 giờ không thấy ra nhau Chúng tôi cùng cán bộ thú y chẩn đoán là ngựa bị sát nhau và tiến hành điều trị bằng phương pháp bảo tồn Cách tiến hành như sau: Đặt 20 viên nén Tetracylin 0,25g vào tử cung Hôm sau thụt rửa bằng KMnO4 1%, tiêm Streptomycin 2g và Penicinin 2 triệu UI + thuốc trợ sức trợ lực Điều trị với liệu trình như trên khi nào ngựa ra hết nhau thì khỏi bệnh Kết quả điều trị 2 con khỏi bệnh 2 con, đạt tỷ lệ 100 %
d Công tác khác
Ngoài những công tác trên, tôi còn tiến hành đỡ đẻ cho ngựa, cắt bờm
và đuôi ngựa, thiến lợn cho dân quanh vùng Tham gia cùng cán bộ kỹ thuật lây tinh trâu và ngựa
Kết quả công tác phục vụ sản xuất trong thời gian thực tập tốt nghiệp thể hiện ở bảng 1.2
vụ sản xuất và có một số kết quả sau:
Tham gia tiêm phòng Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng cho đàn trâu của trung tâm vào tháng 3 năm 2014, cùng anh Huân cán bộ kỹ thuật trạm
Tham gia tẩy sán lá gan cho đàn trâu của Trung tâm vào tháng 4 năm 2014
Tham gia xây dựng bãi chăn thả cho đàn trâu của Trung tâm
Trang 281.3.2 Đề nghị
Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi (TTNC
&PTCNMN) và nhà trường tiếp tục hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn, tạo điều kiện rèn nghề, tiếp xúc với thực tế cho các sinh viên khóa sau của trường
Bảng 1.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
(con)
Kết quả (an toàn/ khỏi)
Số lượng (con)
Tỷ lệ (%)
Trang 29Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ tinh thô trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng của nghé giai đoạn 7 - 10 tháng tuổi nuôi tại tỉnh Thái Nguyên”
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Con trâu có tầm quan trọng đặc biệt trong nền sản xuất nông nghiệp, là nguồn cung cấp sức kéo chính (cày bừa và vận chuyển ở nông thôn), cung cấp lượng lớn phân hữu cơ cho trồng trọt và đóng góp một phần không nhỏ thịt cho nhu cầu của con người Ngoài ra sản phẩm phụ như da, sừng, lông trâu còn được sử dụng để chế biến một số đồ dùng gia dụng và hàng mỹ nghệ Thịt trâu ngày càng được đánh giá cao trên thị trường và được nhiều người ưa chuộng, kể cả ở một số nước châu Âu và châu Mỹ vì thịt trâu nhiều nạc, ít mỡ, ít cholesterol Do vậy, phát triển chăn nuôi trâu ở nước ta trong những năm tới là rất cần thiết
Phương thức chăn nuôi trâu của dân ta là quảng canh, thức ăn cho trâu chủ yếu là cỏ tự nhiên và các phụ phẩm nông nghiệp, các loại thức ăn trên có hàm lượng xơ cao Trâu được nuôi dưỡng chủ yếu là chăn thả tự do, thức ăn
bổ sung ít được chú ý đến, đặc biệt đối với nghé ở giai đoạn sau cai sữa (7 đến 12 tháng tuổi) nguồn dinh dưỡng từ sữa mẹ đã bị cắt giảm nghé phải tự kiếm ăn, do vậy thường không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng, dẫn đến nghé còi cọc, chậm lớn, khả năng sản xuất thấp Ở giai đoạn này bộ máy tiêu hóa của nghé chưa phát triển đầy đủ, đặc biệt dạ cỏ còn bé, bổ sung thêm thức ăn tinh cho nghé là một vấn đề cần thiết để cân đối tỷ lệ protein/năng lượng, tạo điều kiện cho hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ, giúp cho quá trình lên men và phân giải các chất trong dạ cỏ được tốt hơn
Trang 30Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ tinh thô trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng của nghé giai đoạn 7 - 10 tháng tuổi nuôi tại tỉnh Thái Nguyên”
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định được ảnh hưởng của tỷ lệ tinh thô trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng của nghé giai đoạn 7 - 10 tháng tuổi
2.1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã góp phần tư liệu hoá các chỉ tiêu về sinh trưởng phát dục của nghé giai đoạn 7 đến 10 tháng tuổi
Đưa ra được tỷ lệ thức ăn tinh thô thích hợp trong khẩu phần nuôi nghé giai đoạn từ 7-10 tháng tuổi
2.1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị như tài liệu khoa học để tham khảo cho giảng viên và sinh viên thuộc các ngành học liên quan và cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi trâu áp dụng khẩu phần ăn có tỷ lệ tinh thô thích hợp trong chăn nuôi nghé sau cai sữa nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng của nghé giai đoạn 7-10 tháng tuổi
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1 Cơ sở di truyền của các tính trạng
2.2.1.1 Tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự khác nhau giữa những cá
thể là sự khác nhau về mức độ hơn là sự khác nhau về chủng loại Tính trạng
số lượng còn gọi là tính trạng đo lường vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào
sự đo lường Hầu hết các tính trạng có giá trị của gia súc đều là những tính trạng số lượng
2.2.1.2 Sự di truyền các tính trạng số lượng
Để giải thích sự di truyền của các tính trạng số lượng, Nilson và Ehle
(1908) (trích dẫn từ Trần Đình Miên, 1977) [11] đã đưa ra giả thiết như sau: Tính trạng số lượng chịu sự tác động của nhiều cặp gen, phương thức di
Trang 31truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của di truyền như phân ly, tổ hợp, liên kết… Mỗi gen thường có tác động cộng gộp lớn hơn Tác dụng của nhiều gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là cộng gộp cũng có thể là không, ngoài ra còn có các kiểu tác động ức chế nhau giữa các gen nằm ở những locus khác nhau
Có hai hiện tượng di truyền cơ bản có liên quan đến tính trạng số lượng
và mỗi hiện tượng di truyền này có một cơ sở lý luận cho việc cải tiến di truyền cho giống vật nuôi (Nguyễn Văn Thiện, 1995 ) [21] Trước hết đó là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc và quan hệ thân thuộc càng gần con vật càng giống nhau Đó là cơ sở di truyền cho sự chọn lọc và sau đó là sự suy hóa cận thân Thứ hai là hiện tượng ngược lại về sức sống của con lai (heteosis), đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân thuần và tạp giao
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của trâu
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng của trâu
* Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay của toàn cơ thể con vật (Đặng Vũ Bình, 2007) [4] Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước (Nguyễn Đức Hưng và cs., 2009) [9]
Quá trình sinh trưởng gắn liền với quá trình phát triển của cơ thể đó là
sự hình thành các tổ chức, bộ phận mới và sự hoàn thiện tính chất và chức năng của các bộ phận trong cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở tính di truyền
* Các quy luật của quá trình sinh trưởng
Nghiên cứu quy luật sinh trưởng của gia súc các tác giả Mendendoocphơ (1867), Kislopski (1930), Hammond (1937), Pơsennitxơmơi (1964) đều cho rằng sự phát triển của cơ thể động vật qua các giai đoạn và các thời kì và tuân
Trang 32theo các quy luật (trích dẫn theo Trần Đình Miên và cs,1992) [12] đó là: Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng không đồng đều và quy luật sinh trưởng theo chu kì
- Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn
Sinh trưởng theo giai đoạn là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình sinh trưởng của gia súc Tính chất giai đoạn của sinh trưởng
đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý Điều đó đây là một hiện tượng được xác định rõ ràng (Trần Đình Miên và cs., 1975) [10]
Sinh trưởng của gia súc chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong bào thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài bào thai (ngoài cơ thể mẹ) Giai đoạn ngoài bào thai có thể chia làm hai thời kỳ: thời kỳ bú sữa và thời
kỳ cai sữa Theo Trần Đình Miên và cs (1992) [12] sự tăng trưởng ở giai đoạn bào thai chịu ảnh hương nhiều của cơ thể mẹ, còn giai đoạn ngoài bào thai thì chịu ảnh hưởng của tính di truyền đời trước nhiều hơn Nguyễn Ân
và cs (1983) [3] đã nhấn mạnh rằng: Thời gian của từng giai đoạn này dài hay ngắn, số lượng giai đoạn, sự đột biến trong sinh trưởng của giai đoạn, từng cá thể đều khác nhau trong phạm vi giống đó
+ Giai đoạn trong bào thai: Giai đoạn này được xác định từ lúc trứng được thụ tinh (tạo thành hợp tử) cho đến khi con vật được sinh ra Trong giai đoạn này cả 2 quá trình sinh trưởng và phát dục đều rất mạnh mẽ Bào thai ở giai đoạn này được nuôi bằng dinh dưỡng chất của mẹ thông qua hệ thống mạch máu nhau thai Do vậy, trong giai đoạn này, việc chăm sóc, nuôi dưỡng gia súc mẹ cần được quan tâm đặc biệt Từ đó tránh cho gia súc bị sẩy thai, đẻ non, hoặc con đẻ ra có dị tật, còi cọc, chậm lớn
- Giai đoạn ngoài bào thai: Giai đoạn này được tính bắt đầu từ khi gia súc sinh ra đến khi già cỗi Trong giai đoạn này, cơ thể vẫn tiếp tục quá trình sinh trưởng, phát dục của nó Thời gian dài ngắn của mỗi giai đoạn khác nhau tùy thuộc loài, giống gia súc Tốc độ và cách sinh tổng hợp protein chính là phương thức hoạt động của gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Williamson và cs., 1978 [41]; Wood và cs., 1987 [42]) Ta có thể chia giai đoạn này thành các thời kỳ: thời kỳ bú sữa; thời kỳ thành thục; thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi, hoặc có thể chia làm 2 thơi kỳ: thời kỳ bú
Trang 33mẹ và thời kỳ sau cai sữa
+ Thời kỳ bú mẹ: Sự tăng trưởng của cơ thể gia súc non rất mãnh liệt, nhiều cơ quan bộ phận trong cơ thể chưa phát triển hoàn thiện (cơ quan điều hòa than nhiệt, cơ quan tiêu hóa…), nguồn cung cấp dinh dưỡng cho gia súc non hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng cho sữa của mẹ Thời kỳ này gia súc
có tốc độ tăng khối lượng cao nhất, nếu nuôi dưỡng tốt chúng có thể đạt 1.000 g/ngày
Hệ số di truyền về sinh trưởng của gia súc trong giai đoạn này thường thấp (ở bò sữa h2 =0,12) Hệ số di truyền thay đổi theo từng giống (Nguyễn Ân,1972) [2] Tuổi đẻ lần đầu, khối lượng sơ sinh, khả năng cho sữa và nuôi con của con mẹ, sự đồng huyết, giới tính có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự tăng trưởng của vật non (Trần Đình Miên và cs., 1994) [13]
+ Thời kỳ sau cai sữa: Sự tăng trưởng của con vật biểu hiện rõ nét qua kiểu hình, hệ số di truyền tính trạng sinh trưởng và khả năng cho thịt khá cao
Tính giai đoạn trong sự phát triển không chỉ biểu hiện ở những đặc tính chung như tăng sinh, tăng khối ở những đặc điểm riêng của từng thời kỳ
mà còn biểu hiện tăng tiến hoàn chỉnh dần, thời kỳ này nhất thiết nối tiếp thời kỳ kia, không đi ngược lại
- Quy luật sinh trưởng không đồng đều
Quy luật này thể hiện cường độ sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng của con vật thay đổi theo độ tuổi Khi cơ thể còn non, tốc độ sinh trưởng rất nhanh và chậm dần ở các tháng tuổi tiếp theo Đồng thời, các cơ quan bộ phận trong cơ thể cũng phát triển với tốc độ khác nhau ở các thời kỳ khác nhau Với gia súc non, nó thể hiện cụ thể ở cơ quan tiêu hóa Trước sơ sinh,
sư sinh trưởng, dạ dày trước sinh trưởng chậm, dạ múi khế sinh trưởng nhanh; sau thời kỳ sơ sinh, sự sinh trưởng ngược lại, dạ dày trước tăng khoảng 100-120 lần, trong khi đó dạ múi khế chỉ tăng từ 4-8 lần
Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều còn thể hiên ở sự trao đổi chất
và quá trình tích lũy vật chất cũng không giống nhau Trước khi sinh, mô xương có cường độ phát triển mạnh nhất, xương ngoại vi phát triển mạnh hơn xương trục Sau khi sinh, sự phát triển của mô xương giảm xuống