Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình có tác phon
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
LÂM THỊ SÁNG
Tờn đề tài:
Tìm hiểu một số cây thuốc bản địa và đánh giá tác dụng trong phòng trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại xã Ph−ợng Tiến, huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên
KhóA LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Chăn nuụi Thỳ y
Khoa : Chăn nuụi Thỳ y Khoỏ học : 2010 - 2014
Giảng viờn hướng dẫn : TS Nguyễn Quang Tớnh
Thỏi Nguyờn, năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường, nghiên cứu khoa học
là khoảng thời gian rất cần thiết với mỗi sinh viên Đây là khoảng thời gian để cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Sau thời gian tiến hành nghiên cứu khoa học, để hoàn thành được bản báo cáo này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất
cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu
Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng tập thể các thầy cô giáo trong khoa, các hộ nông dân và ủy ban nhân dân xã Phượng Tiến, Trạm thú y Định Hóa
đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian tiến hành đề tài
Đặc biệt, em xin gửi lời chân thành cảm ơn tới thầy TS Nguyễn Quang Tính đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành đề tài Qua đây, em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới mọi người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ em cả về vật chất và tinh thần để
em yên tâm hoàn thành nhiệm vụ
Em cũng xin trân trọng gửi tới các Thầy, Cô giáo trong Hội đồng chấm báo cáo lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 04 tháng 06 năm 2014
Lâm Thị Sáng
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện phương trâm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn”, trong quá trình đào tạo của nhà trường, giai đoạn thực tập tốt nghiệp luôn chiếm một vị trí quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo, cô giáo hướng dẫn em đã tiến
hành thực tập Với đề tài: “Tìm hiểu một số cây thuốc bản địa và đánh giá tác dụng trong phòng trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên”
Sau thời gian thực tập với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc
em đã hoàn thành khóa luận Do trình độ, thời gian, kinh phí có hạn, bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu lên khóa luận của em không tránh khỏi những sai sót và hạn chế, em mong nhận được sự đóng góp của thầy cô, bạn bè để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả phục vụ sản xuất 15
Bảng 2.1 Sưu tầm một số cây thuốc sử dụng trong thú y trên tuyến điều tra 28
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đánh giá phòng hội chứng tiêu chảy 30
ở lợn con bằng sirô chế từ cây xoan hôi 30
Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu quả điều trị 30
hội chứng tiêu chảy ở lợn con bằng thuốc sirô chế từ cây xoan hôi 30
Bảng 2.4 Kết quả sưu tầm nhóm cây thuốc trị vi rút, vi khuẩn và ký sinh trùng 32
Bảng 2.5 Kết quả sưu tầm nhóm cây thuốc trị bệnh đường hô hấp và đường tiêu hóa 34
Bảng 2.6 Kết quả sưu tầm nhóm cây thuốc trị bệnh đường sinh dục, tiết niệu và ngoại khoa, giải độc, cảm mạo 36
Bảng 2.7 Kết quả sưu tầm nhóm cây thuốc bổ sung dinh dưỡng, lợi sữa 38
Bảng 2.8 Kết quả phân tích đặc tính hóa học của cây xoan hôi 39
Bảng 2.9 Kết quả theo dõi độ an toàn của thuốc trên chuột thí nghiệm 41
Bảng 2.10 Kết quả phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn con bằng thuốc dược liệu và thuốc TĐ-Amoxi.Vita-20 của Công ty TNHH dược thú y Thăng Long 42
Bảng 2.11 Kết quả điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con bằng thuốc sirô chế từ cây xoan hôi và thuốc TĐ-Amoxi.Vita-20 43
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Phượng Tiến 2
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Phượng Tiến 4
1.1.4 Đánh giá chung 8
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 9
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất……… 9
1.2.2 Phương pháp tiến hành 9
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 10
1.3 Kết luận và đề nghị 17
1.3.1 Kết luận 17
1.3.2 Đề nghị 18
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 19
2.1 Đặt vấn đề 19
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 20
2.1.2 Mục tiêu của đề tài 20
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 21
2.2 Tổng quan tài liệu 22
2.2.1 Cơ sở khoa học 22
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 23
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
2.3.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 31
2.4.1 Kết quả sưu tầm và phân nhóm một số cây thuốc sử dụng trong phòng và điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm 31
2.4.2 Phân tích đặc tính hóa học của cây xoan hôi dùng trong phòng và điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con 39
Trang 72.4.5 Đánh giá hiệu quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con bằng thuốc dược
liệu và thuốc TĐ-Amoxi.Vita-20 của dược thú y Thăng Long 42
2.5 Kết luận, tồn tại và kiến nghị 43
2.5.1 Kết luận 43
2.5.2 Tồn tại 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 8Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Phượng Tiến là một xã miền núi, cách Trung tâm huyện Định Hóa 3
km về phía Đông Nam
- Phía Bắc giáp với xã Bảo Cường và thị trấn Chợ Chu
- Phía Nam giáp với xã Yên Trạch của huyện Phú Lương
- Phía Tây giáp với xã Trung Hội
- Phía Đông giáp với xã Tân Dương
Xã Phượng Tiến bao gồm 15 thôn bản, đó là: Thôn Pải, Thôn Hợp Thành, Thôn Nạ Què, Thôn Nạ Liền, Thôn Pa Chò, Thôn Pa Goải, Thôn Đình, Thôn Phỉnh, Thôn Mấu, Thôn Tổ, Thôn Cấm, Thôn Nạ Á, Thôn Nà Lang, Thôn Nà Poọc, Thôn Héo
Nhìn chung, xã Phượng Tiến có địa hình khá phức tạp, chủ yếu là vùng đồi núi cao, đồi núi đan xen, chèn kẹp nhau Phần lớn diện tích là vùng núi cao, có độ dốc lớn, địa hình hiểm trở bị chia cắt mạnh Những vùng đất tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven suối thung lũng vùng núi đá vôi Đặc điểm như vậy có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và phát triển chăn nuôi của xã
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu thủy văn
Xã Phượng Tiến mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi phía Bắc Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trong năm dao động tương đối cao, thể hiện qua hai mùa rõ rệt đó là mùa nóng và mùa lạnh Nhiệt độ trung bình trong năm là 28 - 320C, lượng mưa trung bình là 1253
mm, phân bố không đều giữa các mùa trong năm Về mùa nóng vào tháng 5 -
10 khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa khá lớn nhưng không đều tập trung vào các tháng 7,8,9 chiếm 80 - 85 % lượng mưa cả năm Mùa lạnh thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa này do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên nhiều khi nhiệt độ xuống dưới 100C thời tiết khô
Trang 9hanh, mỗi đợt gió về thường kèm theo mưa nhỏ, hạn hán, rét đậm kéo dài Độ
ẩm tương đối cao (cao nhất vào tháng 4 và tháng 5) quỹ đất rộng nên xã có điều kiện phát triển trồng trọt đặc biệt là cây lúa và cây lâm nghiệp
Điều kiện khí hậu, đất đai của xã có thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với cây, con phong phú và đa dạng, tuy nhiên điều kiện đó cũng gây khó khăn cho chăn nuôi Về mùa đông khí hậu thường lạnh, thay đổi đột ngột, mùa hè nhiệt độ nhiều lúc lên cao, trời nắng nóng gây bất lợi tới sự sinh trưởng, cũng như làm giảm sức chống chịu bệnh của gia súc, gia cầm Ngoài
ra, việc chế biến, bảo quản nông sản, thức ăn chăn nuôi cũng gặp rất nhiều khó khăn
1.1.1.3 Điều kiện đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên là 2071,19 ha Trong đó, đất nông nghiệp là 1639,07 ha, đất trồng lúa là 226,35 ha, đất trồng cây ngắn ngày là 52,98 ha, đất trồng cây công nghiệp là 139,53 ha, đất lâm nghiệp là 1106,29 ha, đất chưa sử dụng là 258,01 ha
Diện tích đất của xã khá lớn, trong đó chủ yếu là đất Feralit và đất thung lũng, sản phẩm dốc tụ được bồi ở dọc các khe suối và các thung lũng đá vôi, địa hình tương đối bằng phẳng nên ngày mưa to, nước lớn thường xảy ra
lũ lụt cục bộ khu vực ven suối dẫn đến năng suất cây trồng còn thấp, việc canh tác còn gặp khó khăn
Cùng với sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng… nên diện tích đất nông nghiệp và đất hoang hoá có xu hướng ngày một giảm, gây khó khăn cho việc chăn nuôi Chính vì thế những năm tới cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ngành trồng trọt và chăn nuôi Việc nuôi con gì, trồng cây gì phải được cân nhắc tính toán kỹ
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Phượng Tiến
1.1.2.1 Tình hình xã hội
Tổng số dân là 3996 người với 1033 hộ, trong đó: có 85% hộ sản xuất nông nghiệp, 15% số hộ còn lại sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ…
Hiện nay, xã đang thực hiện đề án xây dựng nông thôn mới về cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch nhẹ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
Trang 10Tuy nhiên, cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao: 85% Lao động được phân theo kiến thức phổ thông: Tiểu học: 40%; Trung học cơ sở: 35%; Trung học phổ thông: 25% Tỷ lệ lao động sau khi đào tạo về chuyên môn có việc làm chiếm 85% Trong địa bàn xã có 3 doanh nghiệp sản xuất lâm sản, khai thác vật liệu xây dựng và một hợp tác xã dịch vụ điện… đã tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho nhiều người lao động
Xã có 3 cấp học đó là: Trung học cơ sở, Tiểu học và Mầm non với chính sách giáo dục hiện nay của nhà nước đã tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “hai không” và phân bố nội dung do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tổ chức thực hiện tốt phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và chất lượng học tập của học sinh Phấn đấu tỷ lệ trẻ từ 0 - 2 tuổi đến nhà trẻ đạt 25%, 3 - 5 tuổi đến trường đạt 98% Trong đó, 5 tuổi đi mẫu giáo đạt 100% trở lên Vận động con em trong độ tuổi 6 - 14 tuổi đến trường lớp đạt 99% trở lên trong đó: trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100% Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài Duy trì hoạt động trung tâm học tập công đồng Tu sửa cơ sở vật chất trường, lớp phục vụ tốt cho việc dạy và học Phối hợp với trung tâm dạy nghề tiếp tục mở các lớp dạy nghề giải quyết việc làm cho người lao động trong các thôn của xã
Nhìn chung mức sống và trình độ dân trí của người dân ngày càng cao, đường giao thông đang được bê tông hoá, trạm y tế của xã đạt tiêu chuẩn Quốc gia được xây dựng kiên cố và nâng cấp với nhiều thiết bị khám, chữa bệnh tốt thường xuyên chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt là sức khoẻ của người già, bà mẹ và trẻ em được quan tâm
Việc dân cư phân bố không đều gây không ít khó khăn cho sự phát triển kinh tế cũng như quản lý xã hội Chính vì vậy đòi hỏi hoạt động của các ban ngành phải thường xuyên liên tục, tích cực và đồng bộ thống nhất từ trên xuống đưa nếp sống văn hoá mới đi vào cuộc sống của người dân trong toàn
xã Thực hiện xây dựng nông thôn mới cuộc sống người dân được cải thiện và từng bước nâng cao tiến tới con người văn hoá, gia đình văn hoá, thôn văn
Trang 11hoá và xã văn hoá Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đồng thời đẩy mạnh lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho những lao động dư thừa, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội
1.1.2.2 Tình hình kinh tế
Phượng Tiến là một xã có cơ cấu kinh tế đa dạng, có nhiều thành phần kinh
tế cùng hoạt động: Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ tạo mỗi quan hệ hữu cơ
hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển Đặc biệt hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, đội ngũ cán bộ xã được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nhiều hộ nghèo được hỗ trợ vốn, con giống cây trồng, mua sắm máy móc, công cụ sản xuất, được chuyển giao khoa học kỹ thuật về sản xuất, chăn nuôi, chế biến và bảo quản sản phẩm
Về sản xuất nông nghiệp: xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (chiếm 85% số
hộ sản xuất nông nghiệp) nhưng có sự kết hợp hài hòa giữa vật nuôi và cây trồng
Về lâm nghiệp: Phát triển diện tích rừng, đẩy mạnh trồng những loại cây có giá trị kinh tế cao (có khả năng phát triển) Triển khai công tác trồng rừng năm 2013 đạt 54/30 ha, cây sinh trưởng và phát triển tốt, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường, chủ động các phương án chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra Việc kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản được thực hiện thường xuyên
Về dịch vụ: Là một ngành mới đang phát triển khá mạnh Trong những năm gần đây, mức sống của nhân dân trong xã được nâng lên rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đã có phương tiện nghe nhìn như radio, tivi, sách báo, mạng Internet… Hệ thống cơ sở hạ tầng đã và đang được đầu tư, phát triển, đặc biệt
là hệ thống giao thông, thủy lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển về mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của nhân dân
Tuy nhiên, tốc độ phát triển kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của xã, thể hiện qua mức thu nhập bình quân còn thấp (trung bình 10.000,000 đồng/ người/ năm)
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Phượng Tiến
Kinh tế của xã nhiều năm gần đây có sự phát triển mạnh mẽ, do đó mức sống của nhân dân từng bước được nâng lên Có được kết quả đó là nhờ chính
Trang 12sách phát triển hợp lý của xã Xã có chủ trương tăng thu nhập bình quân/ đầu người trong những năm tới từ 12.000,000 - 15.000,000 đồng/ người/ năm thông qua việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi Người lao động của xã chủ yếu
là sản xuất nông nghiệp, nên việc phát triển nông nghiệp vẫn là hướng chính
Xã thực hiện tốt công tác phục vụ sản xuất như cải tạo, tu bổ hệ thống thuỷ lợi, cho vay vốn phát triển sản xuất… Thay đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng hợp lý, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, phát huy hết nguồn lực để phát triển tổng hợp
1.1.3.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt
Diện tích trồng lúa và hoa màu lớn, là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với phương châm thâm canh tăng vụ, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mạnh dạn đưa giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất Bên cạnh đó còn trồng các cây lương thực khác như ngô, khoai… và cây chè (theo báo cáo tổng kết năm 2013 của Ủy Ban nhân dân xã Phượng Tiến) cụ thể như sau:
+ Cây lúa: Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 2.374,4/2.280,6 tấn đạt 104% kế hoạch Trong đó: Lúa đạt 376/373 ha = 100,8% kế hoạch, năng suất 54 tạ/ha, sản lượng 2.030 tấn đạt 104%
+ Rau các loại 15/10 ha đạt 150% kế hoạch, Khoai lang 10/10 ha đạt 100% kế hoạch, Khoai tây 5/4 ha đạt 125% kế hoạch Lạc 2 ha, đạt 100% kế hoạch Đậu đỗ các loại 3/3 ha, đạt 100% kế hoạch
+ Cây ngô: Ngô đạt 80/50 ha = 160%, năng suất 43 tạ/ha, sản lượng 344/326 tấn đạt 106 % kế hoạch
+ Cây chè: Năm 2013, xã Phượng Tiến trồng mới được 5,1/3 ha đạt 170% kế hoạch, diện tích chè kinh doanh hiện có 45,2/40 ha đang cho thu hoạch, tổng sản lượng chè búp tươi cả năm đạt 572 tấn
Diện tích trồng cây lúa và cây chè của xã khá lớn Tuy nhiên việc trồng còn thiếu tập trung, còn lẫn nhiều cây tạp, mới thực hiện thâm canh, tăng vụ nên năng suất thấp Sản xuất chủ yếu là mang tính tự cung tự cấp chưa mang tính sản xuất hàng hoá Vấn đề trước mắt, xã phải quy hoạch lại và có hướng phát triển hợp lý
Trang 13Với cây lâm nghiệp: Việc giao đất giao rừng tới tay các hộ gia đình đã thực sự khuyến khích họ nên diện tích đất trống đồi trọc đã được phủ xanh cơ
bản và diện tích rừng mới trồng này được chăm sóc, quản lý tốt
1.1.3.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi cung cấp thực phẩm cho xã cũng như các vùng lân cận,
là ngành sử dụng lực lượng lao động dư thừa, tăng thu nhập cho nhân dân, đồng thời sử dụng các sản phẩm, biến các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt không
có giá trị thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cho người lao động
* Chăn nuôi trâu, bò
Tổng đàn trâu, bò trong xã có trên 460 con, trong đó chủ yếu là trâu
450 con Tình hình chăm sóc khá tốt, tuy nhiên vào mùa Đông lượng thức
ăn ít, việc sản xuất và dự trữ thức ăn còn hạn chế, trâu bò thường bị đói và rét ảnh hưởng đến sinh trưởng Mùa Đông - Xuân đàn trâu bò hay mắc bệnh, chuồng trại và công tác vệ sinh chưa đảm bảo, công tác tiêm phòng chưa triệt để Do đó, đàn trâu, bò thường bị mắc bệnh ký sinh trùng và bệnh truyền nhiễm
Chăn nuôi trâu bò chủ yếu là để cung cấp phân bón và lấy sức cày kéo Nhưng số lượng đàn trâu, bò hiện nay có xu hướng giảm do nền kinh tế phát triển nhân dân đã chuyển sang sử dụng máy móc thay cho sức kéo và diện tích trồng cây thức ăn cung cấp cho trâu, bò bị thu hẹp… Việc phát triển đàn trâu, bò theo hướng công nghiệp chưa được người dân chú ý Công tác chọn giống, lai tạo các giống trâu, bò chưa được quan tâm, tầm vóc cũng như tính năng của đàn trâu, bò trong xã còn hạn chế
* Chăn nuôi lợn
Các hộ nông dân đều nuôi lợn chủ yếu theo phương thức chăn nuôi truyền thống Tuy nhiên, đã có những gia đình đầu tư chăn nuôi với quy mô lớn với số đầu lợn, từ vài chục tới vài trăm con và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, nhờ vậy đã đem lại thu nhập khá cao cho người chăn nuôi Công tác giống lợn đã được quan tâm, chất lượng con giống tốt Nhiều hộ gia đình nuôi lợn giống Móng Cái, Yorkshire, Landrace nhằm chủ động con giống và cung cấp lợn giống cho nhân dân xung quanh
Trang 14Công tác vệ sinh thú y cho đàn lợn chưa tốt, hàng năm việc tiêm phòng chưa triệt để nên dịch bệnh vẫn hay xảy ra với quy mô nhỏ và vừa, gây thiệt hại cho người chăn nuôi Đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định, sản phẩm thường rẻ do yếu tố cung và cầu, lợn của người dân chưa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Trong những năm tới, mục tiêu là phải đưa được sản phẩm, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn xuất khẩu cũng như đẩy mạnh hơn nữa, chăn nuôi lợn theo phương thức công nghiệp
* Chăn nuôi gia cầm
Chăn nuôi gia cầm của xã có một vị trí quan trọng với chủng loại phong phú, trong đó gà và vịt là đối tượng chính Đa số các hộ gia đình chăn nuôi theo phương thức quảng canh, vì vậy mà năng suất thấp, đồng thời gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, phòng trừ dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt lớn nên hiệu quả chưa cao Bên cạnh đó đã có một số gia đình mạnh dạn đầu tư vốn xây dựng trang trại quy mô, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, áp dụng chặt chẽ quy trình phòng dịch đã đưa năng suất lên cao Ngoài
ra, còn cung cấp con giống, trứng các loại cho nhân dân trong vùng
Đa số các hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của việc tiêm phòng và chữa bệnh Đã chủ động sử dụng các loại vắc xin tiêm chủng, phòng dịch cho gà như vắc xin Cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro, Đậu… Bên cạnh đó vẫn còn những hộ gia đình áp dụng phương thức chăn thả tự do, chưa có ý thức phòng bệnh nên khi có dịch bệnh xảy ra, đã bị thiệt hại kinh tế
và đây cũng chính là nơi phát tán mầm bệnh rất nguy hiểm
Ngoài ra, nhiều hộ gia đình còn đào ao thả cá, gắn việc trồng rừng với nuôi ong lấy mật… để tăng thu nhập
* Công tác thú y
Công tác thú y là khâu then chốt trong chăn nuôi, quyết định sự thành bại của người chăn nuôi Ngoài ra, công tác thú y còn ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ cộng đồng Nhận thức được điều đó nên trong những năm gần đây công tác thú y được lãnh đạo xã rất quan tâm Đặc biệt là thực hiện xây dựng nông thôn mới đã khoanh vùng định hướng sản xuất, chăn nuôi nên việc kiểm soát công tác thú y thuận lợi hơn Hàng năm, xã tổ chức tiêm phòng cho đàn gia
Trang 15súc và tiêm phòng dại cho chó, 100% chó nuôi trong xã được tiêm phòng Tuy nhiên, cần làm tốt hơn nữa công tác kiểm dịch, nâng cao nhiệm vụ, trách nhiệm của thú y viên, đầu tư đầy đủ các trang thiết bị chuyên dụng giúp công tác chẩn đoán, trị bệnh nhanh hơn, chính xác hơn Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lợi ích của việc vệ sinh thú y giúp người dân hiểu và chấp hành tốt pháp lệnh thú y
đó xã sẽ có những chuyển biến rõ rệt, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao Hơn nữa, hầu hết các nguồn lợi đều ở dạng tiềm năng chưa được khai thác hoặc được khai thác nhưng rất ít
Xã có đội ngũ cán bộ trẻ giỏi chuyên môn, nhiệt tình năng động, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất tự do nâng cao năng suất vật nuôi, cây trồng, đưa kinh tế xã đi lên, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện
Trang 16Sự bất lợi của thời tiết gây khó khăn cho cả chăn nuôi và trồng trọt, khí hậu khắc nghiệt hay thay đổi ở một số tháng gây nhiều bệnh tật, khả năng sinh trưởng phát triển của vật nuôi, cây trồng bị hạn chế
Việc dân cư phân bố không đều, trình độ dân trí có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực, gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất cũng như việc quản lý xã hội Thói quen bảo thủ, lạc hậu trong nếp sống sinh hoạt của một
số bộ phận dân cư đã ảnh hưởng lớn tới sản xuất
Người dân quen sản xuất với quy mô nhỏ Đầu ra cho sản phẩm gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế xã hội
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Để hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập, chúng tôi căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, trên cơ sở phân tích khó khăn thuận lợi của xã Phượng Tiến, áp dụng kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tiễn sản xuất Kết hợp với học hỏi kinh nghiệm của cán bộ thú y xã, chủ gia trại, chúng tôi xác định một số nội dung trong thời gian thực tập như sau:
- Nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gia súc, gia cầm
- Tiêm vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm theo định kỳ, theo quy định chăn nuôi
- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh xảy ra tại xã
- Sát trùng chuồng trại theo định kỳ
- Tham gia công tác khác
- Tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học
- Thu thập, tìm, sưu tầm nguồn tài liệu để nâng cao kiến thức
Trang 17- Tích cực học hỏi cán bộ, chủ gia trại ở cơ sở
- Thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn
- Chấp hành nội quy, quy chế của Trường, của Khoa và cơ sở thực tập tại địa phương đề ra
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
Trong chăn nuôi “giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở, chăm sóc và nuôi dưỡng là quyết định” thì công tác vệ sinh thú y là không thể thiếu được Với điều kiện hiện có, cùng với mật độ chăn nuôi của nhân dân trong xã, công tác
vệ sinh thú y gặp rất nhiều khó khăn Trước thực trạng đó tôi đã cùng với cán
bộ thú y xã về cơ sở để tuyên truyền cho nhân dân thực hiện tốt quy trình vệ sinh trong chăn nuôi Vệ sinh phòng bệnh bao gồm các yếu tố tổng hợp sau: Xây dựng chuồng trại hợp lý, vệ sinh dụng cụ, chuồng trại chăn nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, ủ phân theo phương pháp sinh học… từ đó đã góp phần làm giảm đáng kể sự xâm nhập của mầm bệnh vào cơ thể vật nuôi Làm tốt công tác vệ sinh thú y là nhân tố đảm bảo nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi cho bà con nông dân
1.2.3.2 Công tác thú y
Phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh cho thấy việc tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm là biện pháp tích cực và bắt buộc Tiêm phòng vắc xin giúp cho cơ thể tăng khả năng miễn dịch chủ động chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, virus Vì vậy, việc tiêm phòng vắc xin cần được thực hiện nghiêm túc theo đúng lịch quy định, nhằm giảm đáng kể thiệt hại về kinh tế khi dịch bệnh xảy ra Hàng năm, xã tổ chức tiêm phòng hai đợt Đợt 1 vào tháng 3
và tháng 4, đợt 2 vào tháng 9 và tháng 10
Đàn lợn và đàn trâu, bò của xã được tiêm phòng các loại vắc xin chủ yếu như: Dịch tả lợn, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, … các loại vắc xin này được tiêm cho tất cả các đàn lợn và đàn trâu, bò khoẻ mạnh Tiêm đảm
Trang 18bảo đúng kỹ thuật, nhờ đó mà trong thời gian thực tập những bệnh trong danh mục tiêm phòng giảm đi rõ rệt
Khi gia súc mắc bệnh thường có những biểu hiện chung như: Sốt, ủ rũ,
bỏ ăn hoặc kém ăn, do đó để chẩn đoán chính xác bệnh thì ngoài các triệu chứng lâm sàng quan sát bằng mắt được, ta cần phải dựa vào kinh nghiệm lâu năm của cán bộ thú y Khi có gia súc mắc bệnh chết chúng tôi còn mổ khám
để có những kết luận chính xác hơn về bệnh xảy ra
- Triệu chứng:
Lợn ỉa chảy liên tục, phân lỏng, mùi thối khắm Lợn con ủ rũ, kém ăn, bụng chướng to, gầy còm, da khô, nhợt nhạt, mông nhọn
- Điều trị: Dùng thuốc
+ Doxyvet - L.A: Tiêm bắp 1 ml/ 10 kg TT, 1 lần/ ngày
+ Bocinvet - L.A: Tiêm bắp 1 ml/ 10 kg TT, 1 lần/ ngày
+ Penicillin G: (1 lọ pha với 10 ml nước cất) Tiêm bắp hoặc tiêm dưới
Trang 19Liệu trình điều trị 3 - 5 ngày
Hộ lý:
+ Trước hết loại trừ theo quy định nguyên nhân gây bệnh
+ Nuôi giãn mật độ, vệ sinh chuồng sạch, hàng ngày sát trùng tiêu độc
- Triệu chứng:
Con vật mệt lả, ít hoặc không nhai lại, bứt rứt, sốt cao 40 - 42 0C Các niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám Nước mũi chảy liên tục Các hạch lâm
ba đều sưng, đặc biệt là hạch lâm ba dưới hầu sưng rất to, làm con vật lè lưỡi
ra hay được gọi là trâu, bò 2 lưỡi, khó thở, đi lại khó khăn…
- Điều trị:
+ Doxyvet - L.A: Tiêm bắp 1 ml/ 10 kg TT, 1 lần/ ngày
+ Penicillin G: (1 lọ pha với 10 ml nước cất) Tiêm bắp hoặc tiêm dưới
da 10 ml/ 50 - 70 kg TT/ lần, 2 lần/ ngày
+ Streptomycin: (1 lọ pha với 10 ml nước cất) Tiêm bắp 10 ml/ 50 - 70
kg TT/ lần, 2 lần/ ngày
+ Anagin C: Tiêm bắp 1 ml/ 5 - 10 kg TT, 1 lần/ ngày
Kết hợp với các thuốc điều trị triệu chứng như: thuốc trợ tim cafein, vitamin B…
Hộ lý:
+ Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, giữ gìn vệ sinh chuông nuôi sạch
sẽ, ấm áp
Trang 20+ Sát trùng chuồng nuôi, hạn chế các nhân tố gây bệnh tiếp xúc với vật nuôi + Có chế độ đinh dưỡng đầy đủ, chăn thả hợp lý
* Bệnh nội, ngoại ký sinh trùng
- Nguyên nhân:
Do chăn nuôi theo phương thức truyền thống, chăn thả rông, chuồng nuôi ẩm ướt, bẩn, vật nuôi ăn thức ăn sống, uống nước bẩn Các loài ký sinh trùng nhiễm vào thức ăn, nước uống hoặc bám và lông da vật nuôi ký sinh gây bệnh cho vật nuôi
- Triệu chứng:
Thông thường thì ghẻ bắt đầu ở tai, đầu, mắt, sau lan xuống hai bên sườn, đùi, háng Lông dựng đứng, trên lông có ve, rận hay trứng Trên da bị viêm xuất hiện những mụn ghẻ màu đỏ sau đó tróc ra thành các vảy màu nâu hay xám, lợn kém ăn, gầy còm, chỗ ghẻ da sần sùi, rụng lông, lở loét, bệnh nặng có thể dẫn đến chết
- Điều trị:
Tiêm Hanmectin – 25 dưới da
+ Trâu, bò: 4 ml/ 50 kg TT
+ Lợn: 1,2 ml/ 16 kg TT
Sau 1 tuần tiêm nhắc lại
Hộ lý: Tắm, cọ cho vật nuôi, vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ, phun sát
- Triệu chứng:
Con vật mệt mỏi, gầy yếu dần, niêm mạc lúc đầu xung huyết sau nhợt nhạt, sốt cao 40 - 410C, sốt liên tục nhiều ngày, máu loãng các vết chầy xước
Trang 21máu chảy ra không đông được, chảy nước mắt, mắt có nhiều dử đặc như keo,
da khô mốc, sức khỏe yếu dần, giảm nhai lại, vật đái ra huyết sắc tố
- Điều trị:
+ Azidin: (Pha 1 lọ 2,36 g với 14 ml nước) Tiêm sâu trong bắp thịt hoặc tiêm chậm và tĩnh mạch 4 ml/ 80 - 100 kg TT, 2 lần/ ngày
+ Anagin C: Tiêm bắp 5 ml/ 50 - 60 kg TT, 1 lần/ ngày
Kết hợp sử dụng các thuốc hỗ trợ: trợ tim, nhuận tràng, giảm sốt, thuốc giải độc, vitamin C, B1, B12…
Hộ lý: Cho vật ốm ở chỗ yên tĩnh, thoáng khí ấm áp, khô sạch, tránh
ruồi muỗi Không đuổi đi chăn nhiều, cho con vật ăn cỏ tươi, cháo cám, ngô, thức ăn có nhiều đạm Nếu bò không chịu ăn phải nhẫn nại và chịu khó đổ
cho ăn Cho uống đủ nước sạch có pha thêm ít muối
* Bệnh phát cước trâu bò:
- Nguyên nhân:
Do thời tiết lạnh, chuồng nuôi không được che chắn, ẩm ướt, lầy thụt mất
vệ sinh Làm chân trâu bò tê cóng, hệ thống mao mạch ở chân bị co lại, gây trở ngại việc lưu thông máu Kéo dài dẫn đến hiện tượng phù nề xung quanh móng chân, cổ chân, bàn chân Làm cho chân trâu bò đau đớn không đi lại được
- Triệu chứng:
Vật nuôi chân sưng, biểu hiện đi lại khó khăn, khập khiễng không vững, có thể 1 chân hoặc cả 4 chân Quan sát thấy chân trâu bò bị sưng to nếu không chữa trị kịp thời bị nặng hơn trâu bò có thể bị què
- Điều trị: Lấy 1 củ riềng giã nhỏ, 1 bát măng chua, mấy quả ớt đun nóng sau đó lấy nước đó xoa bóp vùng bị sưng, ngày 2 lần
Hộ lý: Cho con vật ăn đủ dinh dưỡng, giữ gìn vệ sinh chuồng nuôi sạch
sẽ, khô ráo, nên sử dụng chất độn chuồng, tránh để chuồng ẩm ướt, che chắn
ám áp vào những ngày thời tiết lạnh
Trang 22Bảng 1.1 Kết quả phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc
Số lượng (con)
Kết quả (an toàn, khỏi)
Số lượng (con) Tỷ lệ(%)
1.2.3.6 Một số bài thuốc người dân sử dụng
Bài 1: Bài thuốc chữa tiêu chảy, mất nước - Do ông Trần Hữu Ngật, xóm
Nạ Poọc cho biết
Nguyên liệu:
+ Là ổi non, búp ổi: 20 - 25 g + Lá chè: 20 - 25 g
+ Gừng tươi: 5 g + Nước: 1200 ml Cách pha chế: Rửa sạch, đun sôi, cô đặc còn 600 ml cho gia súc uống trong ngày
Trang 23Bài 2: Bài thuốc chữa ngộ độc thuốc trừ sâu
Theo kinh nghiệm, ông Nguyễn Văn Nước xóm Đình: Lá dướng: 1 - 2
kg giã nát, đổ 1000 ml nước vào ngâm 5 phút, vắt lấy nước cho gia súc uống trong ngày, bã cho gia súc ăn tự do
Theo kinh nghiệm, bà Lý Thị Đông xóm Đình: Lá đậu ván 1 - 2 kg giã nát vắt lấy nước cho uống, còn bã cho gia súc ăn tự do trong ngày
Bài 3: Chữa Hội chứng thấp khớp - Do ông Bùi Văn Xuân, xóm Pải
Nguyên liệu:
+ Cây vòi voi: 30 g + Măng chua: 10 g + Ớt: 2 quả
+ Giềng: 10 g Cách pha chế: Giềng giã nát cho vào nồi nước măng ớt đun sôi 15 phút, sau đó lấy bã đắp và lấy nước bóp vùng khớp chỗ sưng đau của gia súc
(Lê Thị Tài và cs, 2006)[9]
Bài 4: Bài thuốc chữa cảm lạnh - Do ông Bùi Văn Quý, xóm Đình
Nguyên liệu:
+ Bồ công anh + Gừng
+ Quế chi + Đại bi Cách pha chế: Các loại cây trên rửa sạch, sắc với nước lượng nước vừa,
cô đặc, bỏ bã, chắt lấy dung dịch Cho lợn uống: 1ml/ kg TT, ngày uống 2 lần
Bài 5: Bài thuốc chữa ho - Do bà Nguyễn Minh Xoan, Xóm Đình
Nguyên liệu:
+ Cây mã đề: 10 g + Cam thảo: 2 g + Bách bộ: 2 g + Sắn dây: 2 g + Nước: 200 ml
Trang 24Cách pha chế: Tất cả các cây dược liệu trên rửa sạch, đun sôi và giữ sôi
30 phút Cho gia súc uống trong ngày (Nguyễn Quang Tính, 2014)[11]
Bài 6: Bài thuốc chữa rối loạn tiêu hóa ở lợn - Do bà Nguyễn Thị Thắm xóm Tổ cho biết
Nguyên liệu:
+ Riềng khô: 50 g + Quế chi: 20 g Cách pha chế: Tán thành bột mịn, bảo quản nơi khô ráo Bột hòa nước cho uống với liều:
Lợn choai: 10 g/ lần/ con, 2 lần/ ngày
Lợn con: 2,5 g/ lần/ con, 2 lần/ ngày
1.3 Kết luận và đề nghị
1.3.1 Kết luận
Qua thời gian thực tập được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo xã, cán bộ thú y xã và thầy giáo hướng dẫn tôi đã có điều kiện tiếp xúc với thực tế sản xuất, củng cố và nâng cao kiến thức đã học ở trường, hiểu biết thêm về nghề nghiệp của mình, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, rèn luyện cho mình tác phong làm việc Qua đợt thực tập này, thấy mình trưởng thành hơn về nhiều mặt, rút được bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn thực tế sản xuất như: Biết thêm một số cây thuốc, bài
Trang 25thuốc dân gian được sử dụng điều trị bệnh cho vật nuôi và cách bào chế cây thuốc Thử nghiệm sử dụng thuốc dược liệu trong việc phòng, trị hội chứng tiêu chảy cho lợn con Biết cách chẩn đoán một số bệnh thông thường xảy
ra trên đàn lợn, trâu bò
Qua thực tế làm việc đã giúp tôi mạnh dạn, bình tĩnh, tự tin vào khả năng của mình để hoàn thành trong công việc được giao, củng cố thêm lòng yêu ngành, yêu nghề Cũng qua quá trình thực tập, thấy mình cần phải cố gắng, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đi trước, kinh nghiệm từ thực tế và kết hợp với lý thuyết đã học ở trường, đồng thời phải thường xuyên nghiên cứu, tham khảo những tài liệu mới để hiểu biết thêm về những tiến bộ khoa học kỹ thuật Việc đi thực tập tại cơ sở sản xuất
là rất cần thiết đối với bản thân cũng như tất cả sinh viên trước khi tốt nghiệp
ra trường
1.3.2 Đề nghị
Xã đang thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới nên không tránh khỏi những tồn tại cần phải khắc phục để công tác chăn nuôi của xã đạt kết quả tốt hơn nữa Vì vậy tôi xin có một số đề nghị với xã như sau:
- Cần đẩy mạnh hơn nữa việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất tại hộ chăn nuôi
- Cần thực hiện tốt, triệt để và nghiêm ngặt hơn nữa công tác tiêm phòng
và vệ sinh phòng bệnh Tăng cường công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm xung quanh xã để tạo vành đai an toàn dịch
- Khắc phục ô nhiễm môi trường bằng cách: Xây dựng một quy trình xử lý nước thải tránh thải trực tiếp xuống ao, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường
- Cần có nhà mổ, hố chôn xác theo đúng yêu cầu kỹ thuật
- Cán bộ công nhân viên phụ trách vệ sinh chăn nuôi cần thực hiện đúng quy trình vệ sinh thú y hơn
Trang 26Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Tìm hiểu một số cây thuốc bản địa và đánh giá tác dụng trong phòng trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên”
2.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nhiệt đới nằm ở vùng Đông Nam Á với điều kiện nắng, nóng, mưa nhiều, độ ẩm cao, thời tiết lại thay đổi thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh dịch phát triển, đặc biệt khi chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng tập trung
Việc chữa trị thường nhất thiết phải dùng kháng sinh và các thuốc hoá học trị liệu khác Ngoài ra, còn sử dụng kháng sinh cho việc phòng bệnh, nên không thể tránh khỏi sự tồn dư kháng sinh, hoá chất trong sản phẩm nhất là các loại kháng sinh có thời gian bán thải kéo dài Điều đặc biệt nghiêm trọng
là các loại hoá dược này tồn lưu trong sản phẩm ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường sinh thái Đây thực sự là vấn đề nóng bỏng đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học chuyên môn trong nước và trên thế giới Do dịch bệnh còn xảy ra nên việc dùng thuốc thú y để phòng và điều trị cho đàn gia súc, gia cầm là không tránh khỏi Trị bệnh là quan trọng và cần thiết cho việc duy trì, phát triển nhằm giảm thiệt hại về kinh tế Sau khi khỏi bệnh thì sản phẩm phải không tồn dư hoá chất, kháng sinh để nâng cao chất lượng thịt, trứng, sữa cũng như đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng
Việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược để khắc phục sự tồn dư hóa dược trong các sản phẩm động vật đã và đang tập trung sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nhất là các nước Châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ… Ở Việt Nam nhiều năm nay, ngành thú y kết hợp với ngành chăn nuôi thú y đã có nhiều cố gắng trong cải tiến các phương pháp phòng và điều trị bệnh cho gia súc gia cầm thu được nhiều kết quả đáng kích lệ Ngoài việc sử dụng thuốc men và phương pháp chữa bệnh theo y học hiện đại, chúng ta
Trang 27đã ứng dụng nhiều bài thuốc, cây thuốc của y học cổ truyền trong việc phòng và trị bệnh cho vật nuôi có hiệu quả và không để lại chất tồn trong sản phẩm
Trong những năm gần đây khi dược lý phân tử phát triển, khoa học lại chứng minh được một hợp chất thiên nhiên đã tồn tại nhiều năm trong tế bào sống (động vật hoặc thực vật), khi được phân lập và sử dụng để điều trị bệnh nghĩa là lại chuyển nó vào tế bào sống, nó có khả năng dung nạp tốt và ít có tác dụng phụ hơn các chất tổng hợp hoá học có bản chất tương tự Từ xa xưa nhân dân ta đã áp dụng các bài thuốc thảo mộc để chữa trị bệnh cho vật nuôi
Và có thể nói, lịch sử của quá trình sử dụng thuốc thảo mộc trong thú y trước đây là lịch sử kinh nghiệm mang tính truyền miệng (Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, 1995) [6]
Thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc thường dễ kiếm, quy trình bào chế đơn giản, giá thành rẻ, dễ sử dụng, ít độc hại, có hiệu quả cao Ưu điểm nổi bật của thuốc Đông dược là không để lại chất tồn dư có hại trong các sản phẩm của vật nuôi Trong đó, có nhiều loại dược liệu có thể dùng để phòng bệnh và điều trị hội chứng tiêu chảy cho gia súc, gia cầm Trên cơ sở đó,
chúng tôi thực hiện đề tài này để sưu tầm, nghiên cứu và ứng dụng các bài
thuốc nam theo kinh nghiệm của đồng bào dân tộc thiểu số nơi bản địa Từ đó, đánh giá và chọn lọc những cây thuốc, bài thuốc có nhiều tác dụng trong phòng trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con
2.1.1 Mục đích nghiên cứu
- Qua kết quả tìm hiểu, đánh giá, thu thập, phỏng vấn người dân, khóa luận có thể xác định được những cây dùng làm thuốc, tìm hiểu những bài thuốc, những kinh nghiệm trong việc khai thác, bào chế thành các dạng thuốc dùng trong thú y
- Sử dụng một số cây dược liệu để phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại địa phương nghiên cứu
2.1.2 Mục tiêu của đề tài
- Phát hiện được từ người dân các cây thuốc, bài thuốc dùng để phòng
và điều trị một số bệnh cho vật nuôi
- Xác định thành phần hóa học của một trong các cây dược liệu đã tìm hiểu
Trang 28- Sưu tầm, xác định chọn lọc, có thí nghiệm một số cây thuốc từ đó đánh giá tác dụng phòng, trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài góp phần giải thích được cơ sở khoa học của những bài thuốc cổ truyền về công dụng của các loại cây thuốc nam trong dân gian
để điều trị tiêu chảy
Trên cơ sở đó định hướng sử dụng các loại cây dược liệu để điều trị Hội chứng tiêu chảy cho gia súc, gia cầm
2.1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Từ yêu cầu vừa điều trị tốt tiêu chảy gia súc, gia cầm vừa còn góp phần tạo
ra các sản phẩm sạch, an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong xã hội ngày càng phát triển cao Sản xuất ra các sản phẩm thịt không tồn dư kháng sinh
Vì vậy, việc sử dụng các cây dược liệu trong phòng và trị bệnh tiêu chảy cho gia súc, gia cầm sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng
Trang 292.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học
Thiên nhiên đã ban tặng cho con người nguồn thảo dược vô cùng quý giá để làm thuốc Cùng với bề dày lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc, các bài thuốc sử dụng thảo dược trong điều trị bệnh ngày càng nhiều, đa dạng và phong phú Các bài thuốc dân tộc được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, hình thành nên bề dày của nền y học cổ truyền Dựa vào những kinh nghiệm cổ truyền đã có, nhiều tác giả với những công trình nghiên cứu khác nhau về Đông dược nhằm tìm hiểu cơ sở khoa học của các bài thuốc rồi áp dụng vào việc phòng trị bệnh cho vật nuôi có hiệu quả
Tài nguyên dược liệu nước ta rất phong phú Theo Nguyễn Thượng Dong
và cs (2006) [3] Việt Nam có 3.830 loài thực vật có khả năng sử dụng làm thuốc trong tổng số 10.368 loài Trong đó, có khoảng 300 loài đang được khai thác, trồng và kinh doanh với số lượng lớn Bên nhân y, công nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu hay hoạt chất từ dược liệu đang được Đảng, Nhà nước quan tâm và phát triển
Đối với ngành thú y, có thể nói lịch sử của quá trình sử dụng thuốc thảo mộc trước đây là do kinh nghiệm, mang tính truyền miệng, hoặc áp dụng tương tự như trên người Trên cơ sở kinh nghiệm cổ truyền, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Đông dược nhằm tìm hiểu cơ sở khoa học của các bài thuốc để áp dụng vào việc phòng, trị bệnh cho vật nuôi một cách có hiệu quả
Việc dùng các loại thuốc hóa dược để phòng và trị bệnh cho vật nuôi (bệnh truyền nhiễm, bệnh nội, ngoại khoa, bệnh ký sinh trùng) tuy mang lại hiệu quả cao nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ như đột biến gen, tăng nguy cơ ung thư, gây ô nhiễm môi trường, tồn dư trong sản phẩm động vật, ảnh hưởng đến sức khỏe con người… Trong khi đó, nguồn thuốc thảo dược rất phong phú, dễ kiếm, dễ sử dụng; ít hoặc không độc, giá thành rẻ; không để lại tồn dư trong sản phẩm động vật, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ít gây ảnh hưởng hoặc không gây ảnh hưởng đến môi trường
Hiện nay, có khá nhiều các bài thuốc dân gian dùng trong phòng, trị bệnh cho vật nuôi đạt kết quả tốt mặc dù không qua bào chế hoặc bào chế còn
Trang 30thô sơ Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác dụng phòng trị bệnh của thảo dược mới chỉ dựa trên kinh nghiệm của ông cha, vì vật tìm hiểu cơ sở khoa học hiện đại trong việc sử dụng thuốc thảo dược để phòng trị bệnh là cần thiết Song song với những việc trên cần phải kết hợp với việc tìm ra dạng bào chế
và liều lượng thích hợp cho từng đối tượng vật nuôi, để ứng dụng vào thực tiễn Việc nghiên cứu tác dụng dược lý của các vị thuốc còn gặp nhiều khó khăn Khó khăn này không chỉ đối với nước ta mà còn là tình hình chung đối với nhiều nước có nền khoa học tiên tiến vì đối tượng nghiên cứu là cây, động vật làm thuốc lại là những sinh vật còn chứa đựng nhiều bí ẩn chưa được khám phá ra (Đỗ Tất Lợi, 2004) [7] Do đó, việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, khai thác, sử dụng thế mạnh của thảo dược là hướng đi hết sức đúng đắn, cần thiết hiện nay và trong tương lai
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Thuốc điều trị bệnh cho người và vật nuôi hầu hết được bào chế từ 2 nguồn: dược liệu và hóa chất Theo thống kê của tổ chức của Y tế thế giới (WHO), đánh giá cho tới nay đã có 80% dân số thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó chủ yếu
là thuốc từ cây cỏ Sự quan tâm về các hệ thống y học cổ truyền và đặc biệt là các loại thuốc thảo dược, thực tế là đã ngày càng gia tăng tại các nước phát triển và đang phát triển trong hai thập kỷ qua Các thị trường thảo dược quốc gia và toàn cầu đã và đang tăng trưởng nhanh chóng và hiện đang mang lại rất nhiều lợi nhuận kinh tế Theo Ban thư ký công ước về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm thảo dược ước tính tổng cộng 80 tỷ USD vào năm 2000 và chủ yếu ở thị trường châu Mỹ, châu Âu và châu Á
Vì vậy quốc gia nào cũng có chương trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dược liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nước mình Đối với những nước vốn có nền y học cổ truyền như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước khu vực Đông Nam Á vẫn thường xuyên có những kế hoạch điều tra và tái điều tra với các quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau Thường tập trung ở các đơn vị tỉnh hoặc cho một hướng tác dụng