ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HÀ ĐỨC TRỌNG Tên đề tài: “SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI LAI F2 3/4 MÁU LỢN RỪNG KHI PHỐI GIỐNG BẰNG LỢN RỪNG VIỆT NAM NUÔI TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN C
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ ĐỨC TRỌNG
Tên đề tài:
“SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI LAI F2 (3/4 MÁU LỢN RỪNG) KHI PHỐI GIỐNG BẰNG LỢN RỪNG VIỆT NAM NUÔI TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ ĐỨC TRỌNG
Tên đề tài:
“SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI LAI F2 (3/4 MÁU LỢN RỪNG) KHI PHỐI GIỐNG BẰNG LỢN RỪNG VIỆT NAM NUÔI TẠI CHI NHÁNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Phùng
Giảng viên Khoa Chăn nuôi thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi - thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất trí của ban lãnh đạo Chi nhánh Nghiên cứu & phát triển động thực vật bản địa - Công ty CP Khai khoáng miền núi tại
xã Tức Tranh huyện Phú Lương, em đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Sức sản xuất của lợn nái lai F 2 (3/4 máu lợn rừng) khi phối giống bằng lợn rừng Việt Nam nuôi tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa”
Trong quá trình thực tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài em đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo Chi nhánh, thầy giáo hướng dẫn cùng các bạn đồng nghiệp
Nhân dịp này em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa chăn nuôi - thú y trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban lãnh đạo Chi nhánh công ty đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Văn Phùng và cán bộ, công nhân tại trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành công việc và công tác thực tập
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi - thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa ngày càng phát triển, góp phần vào công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Hà Đức Trọng
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình học trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn với thực tiễn sản xuất” Giai
đoạn thực tập chuyên đề rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra
trường Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ
những kiến thức đã học, củng cố tay nghề Đồng thời, tạo cho mình sự tự lập,
lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, năng lực làm việc đáp ứng
nhu cầu của thực tiễn sản xuất Nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành
nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất,
sáng tạo khi ra trường trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn,
đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển
đất nước
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự đồng ý của Ban chủ
nhiệm khoa chăn nuôi thú y trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, của thầy
giáo hướng dẫn cũng như được sự tiếp nhận của cơ sở, em tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Sức sản xuất của lợn nái lai F 2 (3/4 máu lợn rừng) khi phối
giống bằng lợn rừng Việt Nam nuôi tại Chi nhánh NC&PT động thực vật
bản địa”
Trong thời gian thực tập tại cơ sở, được sự giúp đỡ tận tình của anh, chị
công nhân trong trại, cùng các bạn thực tập, sự hướng dẫn tận tình của thầy,
cô giáo cùng sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm còn thiếu
trong thực tiễn sản xuất, kiến thức còn hạn hẹp nên khóa luận của em không
tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến
quý báu của thầy cô giáo và đồng nghiệp để khóa luận của em được hoàn
thiện hơn
Trân trọng cám ơn!
Sinh viên
Hà Đức Trọng
Trang 5MỤC LỤC
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập tốt nghiệp 1
1.1.3 Tình hình sản xuất của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã 5
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 8
2.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam trong những năm qua 18 2.2.2 Cơ sở khoa học của việc lai tạo giữa lợn đực rừng Việt Nam và
lợn nái nhà
20 2.2.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 22 2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn nái 26 2.2.5 Đặc điểm sinh trưởng của lợn con theo mẹ 30
Trang 62.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 36
2.4.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái lai 40 2.4.2 Khả năng sinh sản của lợn nái lai F2 khi phối giống bằng lợn đực
rừng Việt Nam
42
2.4.3 Kết quả theo dõi về sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm 43 2.4.4 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 45 2.4.5 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm 46 2.4.6 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con giống (Lúc 56 ngày tuổi) 47
2.4.8 Tình hình mắc bệnh của lợn con thí nghiệm 49
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Diện tích đất đai của xã Tức Tranh 2
Bảng 2.2 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn
nái F2 phối giống bằng lợn rừng Việt Nam
Bảng 2.8 Chi phí thức ăn/ kg lợn con lúc 56 ngày tuổi 48
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 44 Hình 2.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con 46 Hình 2.3 Đồ thị biểu diễn sinh trưởng tương đối của lợn con 47
Trang 101
Phần I C¤NG T¸C PHôC Vô S¶N XUÊT 1.1 §iÒu tra c¬ b¶n
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập tốt nghiệp
Trại chăn nuôi động vật hoang dã của Chi nhánh nghiên cứu & Phát triển động thực vật bản địa được xây dựng trên địa bàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Đây là xã thuộc phía nam của huyện Phú Lương có các điều kiện tự nhiên như sau:
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Tức Tranh thuộc huyện Phú Lương là một xã trung du miền núi của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía Nam của huyện cách trung tâm thành phố 30km, với tổng diện tích là 2559,35 ha Vị trí địa lí của xã như sau:
− Phía Bắc giáp xã Phú Đô và xã Yên Lạc
− Phía Đông giáp xã Minh Lập và Phú Đô
− Phía Tây giáp xã Yên Lạc và xã Phấn Mễ
− Phía Nam giáp xã Vô Tranh
Xã Tức Tranh bao gồm 24 xóm và chia thành 4 vùng
− Vùng phía Tây bao gồm 5 xóm: Tân Thái, Bãi Bằng, Khe Cốc, Minh Hợp, Đập Tràn
− Vùng phía đông bao gồm 7 xóm: Gốc Lim, Đan Khê, Thác Dài, Gốc Gạo, Ngoài Tranh, Đồng Lòng
− Vùng tâm bao gồm 7 xóm: Cây Thị, Khe Xiêm, Sông Găng, Đồng Danh, Đồng Hút, Quyết Thắng, Quyết Tiến
− Vùng phía bắc gồm 5 xóm: Gốc Cọ, Gốc Mít, Đồng Lường, Đồng Tâm, Đồng Tiến
1.1.1.2 Địa hình đất đai
Xã Tức Tranh có tổng diện tích là 2559,35 ha, trong đó diện tích đất sử dụng là 2254,35 ha, chiếm 99,8% đất chưa sử dụng là 5 ha chiếm 0,2% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, diện tích đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ rất nhỏ,
đó là những vùng đất ven đường, ven sông
Trang 11Bảng 1.1 Diện tích đất đai của xã Tức Tranh
(Nguồn số liệu: UBND xã Tức Tranh)
Diện tích đất mặt nước của xã tương đối ít chủ yếu là sông, suối, ao, đầm Diện tích đất mặt nước là 43,52 ha vừa có tác dụng nuôi trồng thuỷ sản vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt xã có khoảng 3km dòng sông Cầu chảy qua với 3 đập ngăn nước phục vụ cho việc tưới tiêu
Đất đai của xã chủ yếu là đất đồi, diện tích đất ruộng ít, thuộc loại đất cát pha thịt, đất sỏi cơm, diện tích đất sỏi cơm chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các loại đất khác nhìn chung đất có độ màu mỡ cao thích hợp cho nhiều loại cây trồng lâu năm đặc biệt là cây chè Toàn xã trồng được 1011,3 ha chè, bình quân đạt 0,111 ha chè/ người
Địa hình của xã tương đối phức tạp, nhiều đồi núi hẹp và những cánh đồng xen kẽ, địa hình còn bị chia cắt bởi các dòng suối nhỏ, đất đai thường xuyên bị rửa trôi
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu thủy văn
Xã Tức Tranh nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, dao động
về nhiệt độ trong năm tương đối cao, thể hiện rõ ở bốn mùa Mùa hè kéo dài
từ tháng 4 đến tháng 8, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 25oC buổi trưa nhiệt độ có khi lên tới 37 – 38oC Độ ẩm từ 75 – 82 %, trời nắng gắt, thường xuyên có mưa giông và gió lốc Mùa Đông kéo dài từ cuối tháng
10 đến tháng 2 năm sau, với những đợt gió mùa đông bắc, nhiệt độ thấp, độ
ẩm không khí thấp, lượng mưa không đáng kể, hay xuất hiện sương muối, rét
Trang 12đậm rét hại gây nhiều khó khăn cho ngành trồng trọt, chăn nuôi của xã và sinh hoạt của người dân Mùa xuân trời thường ấm, mưa phùn kéo dài, độ ẩm không khí cao tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây bệnh dịch cho cây trồng
và vật nuôi Khí hậu mùa thu ôn hòa, mát mẻ thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của người dân
Điều kiện khí hậu của xã rất đa dạng là điều kiện thuận lợi để phát triển cây trồng vật nuôi, tuy nhiên cũng gây những khó khăn không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân
* Về nguồn nước
Xã Tức Tranh có sông Cầu chảy qua, có độ dài khoảng 3km, chỉ chảy qua vành đai của xã Xã có nhiều suối nhỏ nhưng phân bố không đều, làm cho công tác thủy lợi không thuận tiện gặp nhiều khó khăn Phần lớn lượng nước tưới của xã phụ thuộc vào lượng nước mưa dẫn đến sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn
Để phục vụ cho nhu cầu sản xuất nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp của người dân, xã đã xây dựng một trạm bơm nước cung cấp nước cho mùa khô, nâng cao năng xuất cây trồng, cải thiện đời sống nhân dân
* Về giao thông
Huyện Phú Lương có quốc lộ 3 chạy qua nối liền thành phố Thái Nguyên – Phú Lương – Bắc Kạn Xã Tức Tranh có mạng lưới giao thông đang được phát triển mở rộng, có đường huyện lộ rải nhựa dài 3,6km chạy qua trung tâm xã, 100% các xã có đường ô tô đến trung tâm, ngoài ra còn có 5
km đường bê tông, 5 km đường cấp phối, còn lại là đường đất
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 13Về lâm nghiệp: Do là một xã vùng núi có nhiều đồi nên việc trồng cây lâm nghiệp cũng được chính quyền và nhân dân trong xã quan tâm thực hiện
Về dịch vụ: Với đặc tính dân cư thưa, đời sống thấp nên dịch vụ mới đây mới được phát triển, chủ yếu là các hàng tạp hóa phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên hiện nay dịch vụ đang có sự phát triển đáng kể góp phần đem lại bộ mặt mới cho xã
Nhìn chung nền kinh tế của xã còn kém phát triển, vẫn mang tính tự phát quy mô nhỏ, sản xuất chưa được cơ giới hóa cao nên hiệu quả còn thấp, đời sống nhân dân còn chưa cao
− Tình hình văn hóa xã hội
Xã Tức Tranh có 2.050 hộ gia đình và 8.905 nhân khẩu trong đó có hơn 80% số hộ gia đình sản xuất nông nghiệp còn lại là sản xuất công nghiệp và dịch vụ
Trình độ dân trí của người dân trong xã ngày càng nâng cao Tất cả các trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường Năm học 2011 – 2012 tổng
số học sinh trong trường mầm non là 503 em, tổng số học sinh tiểu học là 780
em, tổng số học sinh trung học cơ sở 656 em Kết quả học sinh đã tốt nghiệp lớp 9 là 160/165 em đạt 96.7%
Việc chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng được quan tâm Năm
2012 xã đã đưa vào hoạt động trạm y tế mới, góp phần phục vụ tốt hơn cho người dân
- Về trồng trọt
Ngành trồng trọt đã có chuyển hướng mạnh theo hướng thâm canh tăng
vụ, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gieo trồng những cây mới có năng suất cao, tăng hiệu quả kinh tế
Diện tích trồng lúa là 161,42 ha, rau màu là 39,58 ha, đất trồng cây hàng năm là 200 ha Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2010 tình hình sản xuất trồng trọt như sau:
- Cây lương thực và cây hoa màu
Tổng diện tích gieo trồng của vụ chiêm xuân là 197 ha đạt 101,02% kế hoạch trong đó: Diện tích lúa cao sản là 143 ha đạt 102,14%; Năng suất lúa xuân đạt 53,87 tạ/ha x 161,3 ha = 868,92 tạ đạt 99,12%; Ngô đạt 35,5 tạ/ha,
Trang 14với diện tích 4,6 ha tương đương 16,33 tấn đạt 83,72%; Các loại cây hoa màu khác như đỗ, lạc, mía phát triển tốt và đạt chỉ tiêu đề ra
- Cây chè: Đây là loại cây trồng chủ yếu của xã, đem lại thu nhập chính cho người dân Tổng diện tích trồng chè là 101,3 ha Trong đó 6 tháng đầu năm do cây chè vừa trải qua thời kì lạnh kéo dài nên khả năng sinh trưởng còn thấp, năng suất chưa cao Giá chè cao hơn năm trước nhưng giá phân bón vẫn cao nên lợi nhuận mà người dân thu được còn ít
- Cây lâm nghiệp: Công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc được quan tâm thực hiện thường xuyên Đặc biệt năm 2008 dự án 661 đã được nghiệm thu, góp phần cung cấp cây giống cho địa phương
- Về chăn nuôi
Trong mấy năm gần đây đã đạt được đạt được sự ổn định về cả số lượng và chất lượng Một số giống vật nuôi được đưa vào nuôi thử nghiệm và cho khả năng thích nghi tốt, cho hiệu quả kinh tế cao so với các giống hiện có Theo số liệu điều tra tổng đàn gia súc, gia cầm 6 tháng cuối năm 2012 như sau:
Tổng đàn trâu bò có 338 con, nhìn chung đàn trâu bò được chăm sóc khá tốt Tuy nhiên do thời tiết lạnh kéo dài trong vụ đông cùng với sự thiếu hụt thức ăn nên sau vụ đông đàn trâu bò gầy hơn trước đó
Tổng đàn lợn là 1.970 con, phần lớn được nuôi theo phương thức tận dụng, chỉ có một số hộ gia đình có đầu tư vốn, kỹ thuật nuôi theo phương thức bán công nghiệp nên hiệu quả cao hơn Ngoài các giống lợn địa phương thì các giống lợn lai, lợn ngoại cũng được nuôi tại đây
Tổng đàn gia cầm nuôi là 13.220 con, chủ yếu là các giống gia cầm địa phương, gà là đối tượng được nuôi chủ yếu ở đây, ngan và vịt được nuôi ít hơn
1.1.3 Tình hình sản xuất của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã thuộc Chi nhánh công ty nghiên cứu & phát triển động thực vật bản địa(NC&PT động thực vật bản địa)
1.1.3.1.Tổ chức quản lí cơ sở của Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã
Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã nằm trên địa bàn xã Tức Tranh, thuộc sự quan lí của Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa - công ty Cổ phần khai khoáng miền núi Trại được xây dựng từ năm 2006 trên diện tích 6
ha trong đó bao gồm:
Trang 15- Diện tích dành cho xây dựng nhà ở và nhà kho: 0,05 ha
- Diện tích dành cho chăn nuôi lợn: 0,35 ha
- Diện tích dành cho chăn nuôi hươu nai: 0,1 ha
- Diện tích dành cho chăn nuôi ngựa: 1,0 ha
Các ngành sản xuất chính của trại bao gồm:
- Cung cấp sản phẩm của trại cho thị trường
1.1.3.3 Đối với ngành chăn nuôi
Chăn nuôi một số động vật như: Hươu Sao, lợn rừng, ngựa Bạch
- Chăn nuôi hươu: Đây là hai đối tượng được nuôi sớm ở trại, hiện trại
có 10 con hươu Đàn hươu được nuôi nhốt trong chuồng có sân vận động, mục đích sản xuất con giống và lấy nhung
- Hiện trại có 182 con lợn, có 3 đực giống, 25 lợn nái sinh sản, 8 lợn nái hậu bị, còn lại là lợn con theo mẹ, lợn con cai sữa và lợn choai Mục đích nuôi đàn lợn chủ yếu là nghiên cứu, sản xuất con giống và bán lợn thịt ra thị trường
- Chăn nuôi ngựa Bạch: Hiện tại trại đang nuôi 30 con ngựa Bạch với mục đích sinh sản, tạo sản phẩm ngựa bạch giống và cao Ngựa Bạch cung cấp cho thị trường
1.1.3.4 Công tác thú y của trại
Trại chú ý công tác phòng bệnh bao gồm các nội dung:
− Hạn chế không cho người ngoài vào trong khu vực chăn nuôi, công nhân được trang bị quần áo bảo hộ lao động
− Chuồng trại được quét dọn sạch sẽ: dọn phân ngày 1 lần, máng ăn được rửa sau khi cho ăn, cống rãnh được khơi thông
− Thường xuyên phun thuốc sát trùng Haniodine 10% với tần suất 1lần/tuần Khi xung quanh có dịch bệnh xảy ra thì phun thuốc sát
Trang 16trùng Haniodine 10%, Navet-iodine hoặc Benkocid với tần suất 2 ngày/lần
− Trại chăn nuôi đã thực hiện nghiêm ngặt lịch tiêm phòng cho toàn
bộ đàn lợn trong trại Đàn lợn con được tiêm phòng định kỳ theo quy định, đàn lợn nái sinh sản được tiêm vaccine vào vụ đông xuân
1.1.4 Đánh giá chung
1.1.4.1 Thuận lợi
− Địa bàn thực tập tốt nghiệp là một xã thuần nông với diện tích rộng, đất đai phong phú, khí hậu thuận lợi cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi đặc biệt là phát triển trồng trọt trong đó có cây chè là chủ yếu
− Cơ sở vật chất của trại chăn nuôi khá đầy đủ, đội ngũ cán bộ kỹ thuật nhiệt tình, có kinh nghiệm trong điều hành sản xuất và hướng dẫn khoa học kỹ thuật
− Chính sách phát triển của nhà nước đã tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, nhiều chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, đầu tư cho nông nghiệp đã đem lại lợi ích thiết thực cho người dân
1.1.4.2 Khó khăn
− Tức Tranh là một xã trung du miền núi có địa hình phức tạp, dân cư thưa, phân bố không đều gây khó khăn cho công tác quản lí và sản xuất, cùng với đó quá trình bê tông hóa đường giao thông còn chậm ảnh hưởng một phần không nhỏ tới hoạt động sản xuất và đi lại của người dân
− Phong tục tập quán sản xuất của người dân còn lạc hậu, bảo thủ, trình
độ dân trí còn thấp nên việc đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn Là một xã nghèo, cơ sở hạ tầng còn khó khăn, đời sống nhân dân còn khó khăn chưa có vốn để đầu tư kinh doanh sản xuất trên quy mô lớn
Trang 17− Công tác tiêm phòng trên đàn vật nuôi trong nông hộ chưa được triệt
để, vệ sinh phòng dịch chưa tốt, công tác tuyên truyền cho người dân còn hạn chế
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi đàn lợn nái sinh sản
Tham gia chăm sóc đàn lợn nái nái chửa, đẻ và nuôi con và lợn con theo mẹ của cơ sở sản xuất Bao gồm các công đoạn như vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng, đỡ đẻ cho lợn nái, hộ lý cho lợn con sơ sinh, tập ăn sớm cho lợn con…
1.2.1.2 Công tác thú y
- Công tác tiêm phòng:
Tham gia công tác tiêm phòng định kỳ cho đàn lợn (Lợn nái, lợn đực, lợn con và lợn nuôi thịt) cùng các cán bộ, nhân viên và các bạn sinh viên của đợt thực tập tại trại
- Công tác điều trị bệnh:
Tham gia cùng công nhân điều trị bệnh cho đàn lợn trong cơ sở chă nuôi Trong quá trình điều trị, thực hiện phương châm quan sát thường xuyên, phát hiện sớm và điều trị đúng quy trình quy định cho từng loại bệnh
+ Tham khảo một số tài liệu thống kê vật nuôi tại các cơ sở
+ Tích cực tham gia học hỏi kiến thức kinh nghiệm của cán bộ chuyên ngành chăn nuôi thú y cơ sở và ở những người chăn nuôi
+ Vận dụng những kiến thức lý thuyết mà bản thân tôi đã được học ở trường để đưa vào thực tế sản xuất
Trang 18+ Thực hiện đúng kỹ thuật, bám sát địa bàn, đi sâu kiểm tra tìm hiểu nguyện vọng của quần chúng nhân dân về lĩnh vực chăn nuôi thú y
+ Phỏng vấn, điều tra, theo dõi các chỉ tiêu nằm trong phạm vi chuyên môn mà mình quan tâm
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, em được phân công tham gia chăn nuôi đàn lợn nái sinh sản, bao gồm lợn nái chửa (Kỳ I và kỳ II); lợn nái đẻ, lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ Kết quả công tác chăn nuôi lợn như sau:
a Chăn nuôi lợn nái chửa
Khi có chửa lợn nái có nhiều đặc điểm thay đổi, hợp tử bám và làm tổ ở
tử cung và bắt đầu phát triển bình thường, các cơ quan bộ phận liên quan (nhau thai, bọc ối, niệu, tử cung và bầu vú) đều được phát triển trong thời gian này Do vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng chúng phải phù hợp và đảm bảo để có
số con sơ sinh cao; khối lượng trung bình của lợn con cai sữa cao; lợn con sinh ra khỏe mạnh và có sức đề kháng tốt Lợn mẹ phát triển bình thường, dự trữ đủ chất dinh dưỡng để tiết sữa nuôi con sau này, không bị hao mòn lớn
Lợn nái sau khi phối giống đã chắc chắn có chửa được nhốt vào chuồng
đẻ, hạn chế thả ra sân để dễ chăm sóc và quản lý
Chế độ ăn cho lợn như sau: Trong giai đoạn chửa kỳ I bào thai chưa phát triển mạnh vì vậy khẩu phần ăn là 0,8 kg tinh/con, 0,08 kg đậm đặc/con, 1- 2,0 kg thức ăn thô xanh/con Giai đoạn chửa kỳ II tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh vì vậy cần cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra đạt được khối lượng sơ sinh cao Giai đoạn này cho ăn tăng 20% khẩu phần so với lợn nái chửa kỳ I như vậy giai đoạn này khẩu phần ăn là 1,0 kg thức ăn tinh/con, 0,10 kg đậm đặc/con và 1-1,5 kg thức ăn thô xanh
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa trong một ngày chúng
ta cần chú ý đến yếu tố khối lượng của cơ thể, thể trạng của lợn nái, tình trạng sức khỏe, nhiệt độ môi trường Lợn gầy cho ăn thêm 20% thức ăn tinh so với lợn bình thường, mùa đông khi nhiệt độ dưới 150C cho ăn thêm 20% thức ăn tinh
Trang 19Lợn nái sau khi tách con 2 ngày đầu cho ăn 0,2 kg thức ăn tinh từ ngày thứ 3 trở đi cho ăn 1,0kg thức ăn tinh + 0,10 kg đậm đặc/con/ngày đến khi động dục thì chuyển sang chế độ ăn của nái chửa kì I, tùy thuộc vào thể trạng của lợn nái, lợn gầy cho ăn nhiều hơn 20% thức ăn tinh Thức ăn được nấu chín, trộn cùng thân cây chuối hoặc cây ngô non băm nhỏ
Đảm bảo chuồng trại luôn khô ráo sạch sẽ và thoáng mát về mùa hè,
ấm áp về mùa đông Lợn được nhốt vào chuồng có nền bằng phẳng, dễ quan sát chăm sóc
Mỗi ô chuồng có phiếu ghi rõ ngày phối giống, dự kiến ngày đẻ để dễ dàng cho công tác quản lý và chăm sóc nhất là công tác đỡ đẻ khi lợn đẻ
b Nuôi dưỡng lợn nái đẻ:
Mục đích nuôi dưỡng lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt đủ khả năng tiết sữa nuôi con sau này Những nội dung chính của công tác này gồm:
+ Trực và đỡ đẻ cho lợn: Trực đẻ rất cần thiết để có thể hỗ trợ cho lợn nái trong những trường hợp bất thường Quan sát được những biểu hiện của lợn nái khi có hiện tượng sắp đẻ, để có kế hoạch trực và đỡ đẻ cho lợn nái Do lợn nái rừng thường dữ khi đẻ, không phải con nái nào cũng vào được chuồng
để làm công tác đỡ đẻ được do vậy cần lưu ý khi đỡ đẻ cho lợn nái
Một tuần trước khi lợn nái đẻ có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn tùy thuộc vào thể trạng lợn nái, lợn nái khỏe một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2 -3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Lợn nái yếu thì không giảm mà cho ăn thức ăn dễ tiêu hóa
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ dừng cho ăn, cho uống nước tự do Ngày lợn nái
đẻ cho ăn cháo loãng, số lượng bằng 1/4 ngày thường, tăng dần sau 3 ngày cho ăn theo chế độ lợn nái nuôi con, vào ngày nái đẻ cần chuẩn bị một số dụng cụ và thiết bị cần thiết như: hộp xốp, kìm bấm nanh, kìm bám tai, thuốc sát trùng, oxytoxin
c Nuôi dưỡng chăm sóc quản lý lợn nái nuôi con:
Chăn nuôi lợn nái nuôi con có một ý nghĩa hết sức quan trọng, đó là khâu cuối cùng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản Giai đoạn này quyết định chất lượng lợn con giống và hiệu quả kinh tế trong nghề chăn nuôi lợn nái Vì vậy trong chăn nuôi lợn nái nuôi con cần đạt được các yêu cầu: Lợn nái nuôi
Trang 20con tiết nhiều sữa với chất lượng tốt; Cả lợn mẹ và con khỏe, lợn con sinh trưởng nhanh, có số con và trọng lượng cai sữa cao; Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con cao; Lợn mẹ ít bị hao mòn trong giai đoạn nuôi con và sớm động dục lại sau cai sữa
Thức ăn cho lợn nái nuôi con không được thối mốc, biến chất hư hỏng, thức ăn được nấu chín sau đó trộn cùng cây chuối, rau xanh đã phay nhỏ cho
ăn Khối lượng thức ăn được tính tùy theo khối lượng lợn mẹ và số lượng con sinh ra Lợn nái đẻ từ 4 – 5 con, khối lượng lợn từ 40 kg – 50 kg cho ăn 0,6
kg chất tinh + 0,06 kg đậm đặc + 1,5 - 2,0 kg thô xanh Khối lượng lợn mẹ 51 -70 kg cho ăn 0,8 kg chất tinh + 0,08 đậm đặc + 2 - 2,5 kg thô xanh
Lợn nái khối lượng 40 -50 kg, đẻ 6 – 8 con cho ăn 0,8 kg thức ăn tinh, 0,08 kg đậm đặc, 2-2,5 kg thô xanh Lợn nái khối lượng 51 – 70kg cho ăn kg 1,0kg chất tinh, 0,1kg đậm đặc, 2 – 3 kg thô xanh
Đối với những lợn nái tiết sữa kém thì cho ăn thêm đu đủ nấu chín trong khoảng 3-5 ngày để kích thích tiết sữa
Trong thời gian thực tập em đã tham gia chăn nuôi 26 con lợn nái chửa,
đẻ và nuôi con Đàn lợn nái có sức khỏe tốt, phôi thai phát triển bình thường Qua việc chăn nuôi đàn lợn nái sinh sản em đã nắm chắc kỹ thuật chăn nuôi lợn nái từng giai đoạn, vận dụng các kiến thức đã học và kinh nghiệm của cán
bộ kỹ thuật truyền cho vào thực tiễn sản xuất Qua đó trình độ và tay nghề của
em đã được nâng cao
d Chăn nuôi lợn con theo mẹ
Đối với lợn con theo mẹ (Lợn con bú sữa), tiến hành các kỹ thuật như sau:
− Tiêm bổ sung sắt: Mỗi con 1 ml Prolongal (300 mg sắt/ml) Tiêm lúc 3 ngày tuổi Tiêm bắp sau tai lợn
− Tẩy cầu trùng: Cùng lúc với tiêm sắt Cho uống Novacoc (1ml/con)
− Phải giữ chuồng trại luôn luôn sạch sẽ, khô ráo
− Hàng ngày theo dõi chặt chẽ tình hình tiêu chảy để xử lý kịp thời:
Cho lợn con uống thuốc hoặc tiêm (Theo quy trình điều trị bệnh tiêu chảy lợn con)
Tích cực phòng chống lạnh và ẩm: Bằng cách thay đệm lót, lau chuồng khô bằng vải mềm, rơm rạ, che chắn chuồng trại không để gió lùa trực tiếp vào chỗ lợn con nằm…
Trang 21Kiểm tra và điều tiết thức ăn lợn mẹ cho phù hợp, nếu quá nhiều lợn con bị tiêu chảy, giảm lượng thức ăn
− Tập cho lợn con ăn sớm: Khi lợn con được 20-21 ngày tuổi, hàng ngày cho lợn tập ăn Sử dụng thức ăn viên dùng để tập ăn, mỗi ngày cho lợn con ăn
2 lần (sáng/chiều), mỗi lần khoảng 8-10 gam thức ăn Nếu lợn con ăn không hết, cần loại bỏ thức ăn thừa trước khi cho lượng thức ăn mới vào
Khi lợn con biết ăn, tăng dần lượng thức ăn lên, mỗi lần tăng khoảng 25%
e Chăn nuôi lợn con sau cai sữa:
Lợn con khi đạt độ tuổi từ 35 - 42 ngày, ăn thạo thức ăn tập ăn có thể tiến hành cai sữa Cụ thể như sau:
+ Thời gian cai sữa: 28-35 ngày tuổi
+ Trước khi cai sữa giảm thức ăn của lợn mẹ
+ Kỹ thuật cai sữa: Đuổi lợn mẹ sang chuồng chờ phối Để lợn con ở lại chuồng cũ
Nếu ghép các đàn lại với nhau, cần sử dụng dầu gió để làm lẫn mùi lợn con, tránh lợn đánh nhau
Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc lợn con sau khi tách mẹ như sau:
− Ngày cai sữa: Giảm thức ăn của lợn con (Chỉ cho ăn khoảng 50% lượng thức ăn chúng có thể ăn ngày trước đó)
− Sau đó tăng dần lượng thức ăn, tùy theo tình hình tiêu chảy của đàn để quyết định (g/con/ngày): 5,0 - 7,5 - 10 - 12,5 - 15,0 - 17,5 - 20,0 - 22,5…
− Hàng ngày cho lợn con ăn thêm các loại lá non như lá chuối, lá sung… với lượng vừa phải, không để thừa lại trong chuồng
− Bổ sung các loại kháng sinh vào thức ăn:
Colistin: 1 g/con/ngày (Trong 5 ngày đầu liên tục)
HanFor: 1 g/con/ngày (Trong 5 ngày tiếp theo)
Bcomplex: 0,5 g/con/ngày (Liên tục 10 ngày)
Trang 22Trong thời gian thực tập, em đã cùng với các cán bộ, công nhân của trại tiến hành cai sữa và chăn nuôi cho 26 đàn lợn con với số lượng là 194 con
1.2.3.2 Công tác thú y
Đối với một cơ sở chăn nuôi lợn, công tác thú y có vai trò rất quan trọng, luôn phải đi trước một bước Trong đó, ngoài việc chấp hành tốt vệ sinh thú y, định kỳ tiêu độc chuồng trại, ngăn ngừa các loại ký chủ trung gian truyền bệnh như chuột, thú hoang… thì công tác tiêm phòng và điều trị kịp thời các bệnh xảy ra là rất quan trọng Kết quả công tác công tác thú y như sau:
Đối với lợn nái:
− Vaccine dịch tả: Ngày chửa thứ 70
− Vaccine FMD: Ngày chửa thứ 84
− Vaccine PRRS: Tiêm toàn đàn một năm 2 lần (Tháng 4 và tháng 10) Đối tượng: Lợn nái chửa tuần 1 - 11; Lợn nái đẻ, cai sữa Lợn nái chửa tuần 12-16 không tiêm mà sẽ tiêm khi đẻ 1 tuần trở ra
− Vaccine Farrowsure: Nếu chưa tiêm trước khi cai sữa 7 ngày, thì tiêm lúc chửa 90 ngày
− Phòng nội ngoại ký sinh trùng: Tiêm hanmectin vào ngày chửa thứ 100
- 105
Đối với lợn con:
− Tiêm vaccine dịch tả mũi 1: 21 ngày tuổi
− Tiêm vaccine PRRS: 35 ngày tuổi
− Vaccin lepto: 49 ngày (Mũi 1);
56 ngày (mũi 2)
− Vaccine dịch tả mũi 2: 62 ngày tuổi
− Tẩy giun sán: 65 ngày tuổi (Trộn thức ăn)
− Vaccine FMD: 70 ngày tuổi (mũi 2)
Trang 23Trong quá trình thực tập, em đã tiến hành tiêm vaccine cho đàn lợn nái
số lượng 24 con, 3 lợn đực giống và 170 lợn con và lợn thịt Tổng hợp kết quả công tác tiêm phòng cho đàn lợn trong cơ sở chăn nuôi được trình bày tại bảng 1.2
Bảng 1.2 Kết quả công tác tiêm phòng
STT Loại vaccine Số con tiêm được Lợn đực Lợn nái Lợn con
Điều trị: Sử dụng một trong hai phác đồ điều trị như sau:
Phác đồ 1: Chlorocid-100: Pha vào nước uống hoặc trộn với thức ăn, dùng liên tục 4-5 ngày, liều 400-500mg/kg thể trọng
Phác đồ 2: Biotycoson 1ml/10kg TT, 1lần/ngày, điều trị từ 3-5 ngày Điều trị cho 49 con, tỷ lệ khỏi lần 1 đạt 93,87%
+ Bệnh tiêu chảy:
Nguyên nhân: Do thay đổi thức ăn, vệ sinh chuồng trại kém, do thời tiết, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng…
Trang 24Triệu chứng: Trong đàn có con ỉa phân nhão sau chuyển thành lỏng, một
số còn ỉa vọt cần câu Nếu để lâu lợn gầy, khát nước, kém ăn, chướng hơi
Điều trị: Sử dụng 2 phác đồ điều trị như sau:
Phác đồ 1: Dùng Norfacoli tiêm 1ml cho 10 – 15 kg thể trọng, dùng liên tục 2 – 3 ngày
Phác đồ 2: Dùng Berberin hydrochloride hòa với nước sôi để nguội cho uống, liệu trình 3 -5 ngày Kết hợp tiêm Norfacoli
Hộ lý: Dọn chuồng sạch sẽ, giảm ăn, cho uống nước điện giải, bổ sung men tiêu hóa sau khi lợn khỏi
Điều trị cho 56 con; số con khỏi là 33 con đạt 58,92% Nguyên nhân do lợn chăn thả tự do, khó kiểm soát từ đầu, nhiều con bị tái nhiễm nặng điều trị không khỏi
+ Hội chứng đường hô hấp
Nguyên nhân: Do thay đổi thời tiết từ nóng sang lạnh, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại ảnh hưởng lớn tới sự phát sinh lây lan bệnh
Triệu chứng: Ban đầu lợn rời đàn, đứng hoặc nằm ở góc chuồng, lợn ăn uống giảm dần, sốt cao Tần số hô hấp tăng, lợn thở khó, thở dốc, ngồi như chó thở Về sau thường ho vào chiều tối và sáng sớm, ho từng tiếng hoặc từng hồi, ho từng tuần sau giảm đi hoặc ho liên miên
Điều trị: Sử dụng 2 phác đồ điều trị như sau:
Phác đồ 1: Dùng Pneumotic và kanatialin tiêm bắp thịt 2ml/10kg thể trọng/lần Dùng 3-5 ngày kết hợp tiêm vitamin B1
Phác đồ 2: Dùng Hanflo LA, trong thành phần chủ yếu là kháng sinh Flophenicon Tiêm bắp thịt 1ml/10kg TT/lần, 2 ngày tiêm một lần Dùng 3-5 ngày kết hợp tiêm vitamin B1
Hộ lý: Vệ sinh chuồng trại, che chắn chuồng kín gió, trải rơm cho lợn nằm, cho ăn tăng thức ăn tinh, mỗi lần cho ăn vừa phải không được cho ăn quá no vì cho ăn quá no sẽ dẫn đến trèn ép phổi ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con vật
Điều trị cho 4 con khỏi Tỷ lệ khỏi 100 %
Tổng hợp về kết quả công tác điều trị bệnh được trình bày qua bảng 1.3
Trang 25Bảng 1.3 Kết quả công tác điều trị bệnh
Kết quả đạt được
Số con điều trị Số con khỏi Tỷ lệ %
1.2.3.3 Công tác khác
Trong quá trình thực tập, ngoài những công việc trên, em còn tham gia các hoạt động sản xuất khác của cơ sở như trồng cây thức ăn xanh (Chuối, cỏ voi VA06; ngô dày); việc vệ sinh tẩy uế chuồng trại và khu vực chăn nuôi… Qua những công việc trên, em đã nắm bắt thêm được các quy trình công nghệ
về sản xuất thức ăn xanh, quy trình tẩy uế chuồng trại…, rèn rũa kỹ năng công tác, đồng thời đóng góp sức mình vào xây dựng cơ sở sản xuất
1.3 Kết luận
Được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn trong quá trình thực tập đề tài với sự cố gắng học hỏi, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất đã giúp em nắm rõ hơn những kiến thức đã học trên giảng đường, trong sách vở Học hỏi thêm nhiều kiến thức ngoài thực tiễn, nắm tốt kỹ thuật chăn nuôi lợn đặc biệt là chăn nuôi lợn rừng lai Biết và thực hành thành thạo các quy trình chế biến thức ăn cho lợn, quy trình tiêm phòng vaccine cho đàn lợn, cách phòng và chẩn đoán một số bệnh trên đàn vật nuôi Đồng thời cũng nắm rõ hơn cách xây dựng, tổ chức và quản lý trang trại Hoàn thành tốt quá trình thực tập đề tài
Trang 26Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, cùng với xu thế phát triển mạnh của nền kinh tế người dân đang mong muốn tìm lại những giống vật nuôi địa phương, những giống vật nuôi hoang dã để tạo ra các sản phẩm thịt chất lượng cao Trong đó, các giống lợn địa phương, lợn rừng cũng được quan tâm nhiều do phương thức chăn thả
tự do, nhiều nạc, ngon thịt, phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam, đang rất được ưa chuộng và trở thành “đặc sản” có giá trị trên thị trường Ngoài ra, đây
là những giống lợn chịu đựng kham khổ và thích ứng rất tốt với tập quán chăn nuôi khu vực miền núi Đồng thời cũng đem lại hiệu quả kinh tế cho những người chăn nuôi có điều kiện về đất đai và khả năng sản xuất thức ăn xanh Mặc dù vậy, những giống lợn địa này có nhược điểm sinh trưởng chậm, một
số có ngoại hình xấu, hơi nhiều mỡ vì vậy việc nghiên cứu và cho lai với lợn rừng để tạo ra con lai có năng suất và chất lượng thịt cao hơn đảm bảo đáp ứng nhu cầu của xã hội
Trong nhiều năm vừa qua, ở Việt Nam đã nhập lợn rừng Thái Lan về nuôi Giống lợn này đã được thuần hóa và lai tạo, có ưu điểm là lớn nhanh, nhiều nạc (Đỗ Kim Tuyên, 2007) [16] Tuy nhiên, thịt không thơm ngon bằng lợn rừng của Việt Nam Việc nghiên cứu tạo con lai giữa lợn địa phương miền núi và lợn rừng Việt Nam sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng thơm ngon, an toàn và phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng núi phía Bắc đang là nhu cầu của thực tiễn sản xuất (Trần Văn Phùng và cs , 2008) [14]
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, em tiến thực hiện chuyên
Trang 27đề: “Sức sản xuất của lợn nái lai F 2 (3/4 máu lợn rừng) khi phối giống bằng lợn
rừng Việt Nam nuôi tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa”
Mục đích: Đánh giá được sức sản xuất của lợn nái F2 (3/4 máu lợn rừng) khi
phối giống bằng lợn rừng Việt Nam làm cơ sở cho việc lai tạo giống lợn chất
lượng cao phục vụ nhu cầu của xã hội
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam trong những năm qua
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời Theo một số tài liệu của khảo
cổ học, nghề chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá mới, cách đây khoảng
1 vạn năm Từ khi, con người biết sử dụng công cụ lao động là đồ đá, họ đa săn bắn, hái lượm và bắt được nhiều thú rừng, trong đó có nhiều lợn rừng Khi đó, họ bắt đầu có ý thức trong việc tích trữ thực phẩm và lương thực cho những ngày không săn bắn và hái lượm được và họ đã giữ lại những con vật săn bắt được và thuần dưỡng chúng Cũng từ đó, nghề chăn nuôi lợn được hình thành Có nhiều tài liệu cho rằng nghề nuôi lợn và nghề trồng lúa nước gắn liền với nhau, phát triển theo văn hóa Việt Theo các tài liệu của khảo cổ học và văn hóa cho rằng nghề nuôi lợn và trồng lúa nước phát triển vào những giai đoạn văn hóa Gò Mun và Đông Sơn, đặc biệt vào thời kỳ các vua Hùng Trải qua thời kỳ Bắc thuộc và dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đời sống của nhân dân ta rất khổ sở, ngành nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng không phát triển được
Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, khi có trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, chăn nuôi lợn được phát triển Dân cư phía Bắc đa nhập các giống lợn lang Trung Quốc vào nuôi tại các tỉnh miền Đông Bắc bộ Tuy nhiên, trong thời kỳ này trình độ chăn nuôi lợn vẫn còn rất thấp Trong thời
kỳ Pháp thuộc, khoảng năm 1925, Pháp bắt đầu cho nhập các giống lợn châu
Âu vào nước ta như giống lợn Yorkshire, Berkshire và cho lai tạo với các giống lợn nội nước ta như lợn Móng Cái, lợn Ỉ, lợn Bồ Xụ
Cùng với việc tăng nhanh về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng không ngừng được cải thiện Các phương pháp nhân giống thuần chủng và các phép lai được thực hiện Trong thời gian từ 1960, chúng ta đa nhập nhiều giống lợn
Trang 28cao sản thông qua sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em Có thể nói, chăn nuôi lợn được phát triển qua các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn từ 1960 - 1969: Giai đoạn khởi xướng các qui trình chăn nuôi lợn theo hướng chăn nuôi công nghiệp
- Giai đoạn từ 1970 - 1980: Giai đoạn hình thành các nông trường lợn giống quốc doanh với các mô hình chăn nuôi lợn công nghiệp, có đầu tư và
hỗ trợ của các nước trong khối xã hội chủ nghĩa như Liên Xô cũ, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc và Cu Ba Hệ thống nông trường quốc doanh được hình thành và Công ty giống lợn công nghiệp Trung ương cũng phát triển tốt và đảm đương việc cung cấp các giống lợn theo hệ thống công tác giống 3 cấp từ Trung ương đến địa phương Tuy nhiên, trong những năm chuyển đổi kinh tế sự hỗ trợ của nước ngoài giảm, cộng thêm đó là tình hình dịch bệnh đã làm cho hệ thống các nông trường giống lợn dần dần tan rã hay chuyển đổi từ sở hữu nhà nước sang cổ phần hóa hay tư nhân
- Giai đoạn từ 1986 đến nay: Đây là giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái và nông nghiệp sản xuất hàng hóa đã tham gia thị trường khu vực (AFTA) và tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Từ đó, các mô hình chăn nuôi lợn được hình thành và phát triển ở các tỉnh miền Nam và các tỉnh phía Bắc, hình thức chăn nuôi lợn theo trang trại và doanh nghiệp tư nhân hình thành và phát triển mạnh Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp và công ty chăn nuôi lợn có vốn đầu tư 100% của nước ngoài Với hình thức chăn nuôi công nghiệp tập trung này, trong những năm tới chăn nuôi lợn nước ta sẽ phát triển nhanh chóng, tuy nhiên hình thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn, 96,4% ở các khu vực nông thôn (VCN, 2002)
Cho đến nay, có thể nói nhiều doanh nghiệp, công ty hay các Trung tâm giống lợn đã có khả năng sản xuất các giống lợn tốt đáp ứng nhu cầu nuôi lợn
có tỷ lệ nạc cao và phát triển chăn nuôi lợn ở các hình thức khác nhau trong
cả nước Điển hình là các cơ sở của thành phố Hồ Chí Minh, các cơ sở của Viện Chăn nuôi, Viện Khoa học Nông Nghiệp Miền Nam và các Công ty sản xuất thức ăn có vốn đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, việc quản lý con giống cũng là vấn đề nan giải và nhiều thách thức, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cũng đã ban hành nhiều
Trang 29văn bản về công tác quản lý giống lợn trong cả nước Hiện tượng các giống lợn kém chất lượng bán trên các thị trường nông thôn vẫn khá phổ biến, do vậy người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn trong việc gây dựng đàn lợn ban đầu Vấn đề đặt ra là các địa phương cần xây dựng các cơ sở giống lợn của địa phương mình để cung cấp giống lợn tốt cho nông dân Công tác này, trong những năm qua theo chương trình khuyến nông, nhiều cơ sở sản xuất con giống bước đầu đa đáp ứng phần nào yêu cầu nông dân
Chăn nuôi lợn trong cả nước đó có nhiều thành công đáng kể như đàn lợn đã tăng tỷ lệ nạc từ 33,6% ở lợn nội, lên 40,6% ở lợn lai (miền Bắc) và 34,5% lợn nội lên 42% tỷ lệ nạc ở lợn lai (miền Nam) Đối với lợn lai 3 máu ngoại (Landrace x Yorkshire x Duroc) tỷ lệ nạc trong nghiên cứu đạt 58-61%, trong đại trà sản xuất đạt 52 - 56% (Lê Đình Phùng và cs 2009) [8] Năm
2001 cả nước có 21.741 ngàn con lợn, sản xuất 1513 ngàn tấn thịt lợn hơi, xuất khẩu 27,3 tấn thịt xẻ, chiếm 2,6% số thịt lợn sản xuất ra (Phạm Sỹ Tiệp, 2006) [10]
Từ khi có những chính sách kinh tế mới nói chung và những chính sách trong nông nghiệp nói riêng của thời kỳ đổi mới, nền nông nghiệp của ta, trong đó có ngành chăn nuôi đã có những thay đổi rất lớn trong tất cả các khâu từ nghiên cứu lai tạo giống, quy trình chăn nuôi đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm Hình thức chăn nuôi tuyền thống của bà con ta vẫn còn nhưng cũng xuất hiện không ít các mô hình chăn nuôi hiện đại từ quy mô hộ gia đình đến các trung tâm, công ty v.v Trước sự cạnh tranh về chất lượng và giá sản phẩm ở cả thị trường trong và ngoài nước, chăn nuôi lợn của ta đang tiếp tục đứng trước các vấn đề cần giải quyết như nâng cao chất lượng giống, nhập và lai tạo giống bên cạnh bảo tồn và phát huy ưu điểm của các giống bản địa, hiện đại hóa quy trình chăn nuôi, quy trình chế biến, đảm bảo tiêu chuẩn trong
nước và quốc tế về vệ sinh thực phẩm
2.2.2 Cơ sở khoa học của việc lai tạo giữa lợn đực rừng Việt Nam và lợn nái nhà
Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho con đực giống và cái giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau Hai quần thể này
có thể là hai dòng, hai giống hoặc hai loài khác nhau, do vậy đời con không còn là dòng, giống thuần mà là con lai giữa hai dòng, giống khởi đầu là bố mẹ
Trang 30của chúng Ví dụ: Cho lợn đực Landrace phối với lợn nái Móng Cái, đời con
là Yorkshire x Móng Cái (Đặng Vũ Bình, 2000) [1]
Lai giống có hai tác dụng chủ yếu Một là tạo được ưu thế lai ở đời con
về một số tính trạng nhất định, các tác động cộng gộp là nguyên nhân của hiện tượng sinh học này Hai là làm phong phú thêm bản chất di truyền ở thế
hệ lai bởi vì con lai có được những đặc điểm di truyền của giống khởi đầu, người ta gọi đó là tác dụng phối hợp Điều này có nghĩa là lai giống sử dụng được tác động cộng gộp các nguồn gen ở thế hệ bố mẹ
+ Ưu thế lai: Khái niệm ưu thế lai được đề xuất bởi Shull (1914): Ưu
thế lai là hiện tượng con lai có sức sống, sức chống đỡ bệnh tật và năng suất cao hơn mức trung bình của thế hệ bố mẹ
Cần phân biệt 3 kiểu ưu thế lai sau:
Ưu thế lai cá thể: Là ưu thế lai do kiểu gen của chính con vật gây nên
Ưu thế lai của mẹ: Là ưu thế lai do kiểu gen mà mẹ con vật gây ra thông qua điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó Chẳng hạn, nếu bản thân mẹ
là con lai, thông qua sản lượng sữa, khả năng nuôi con khéo mà con lai có được ưu thế này
Ưu thế lai của bố: Có rất ít tính trạng có được ưu thế lai của bố, song cũng có thể thấy rằng, khả năng thụ thai, tình trạng sức khỏe của con đực lai tạo nên ưu thế lai cho đời con của nó
Nếu như giao phối cận huyết làm tăng mức độ đồng hợp, giảm mức độ
dị hợp của các gen thì ngược lại, lai giống làm tăng mức độ dị hợp, giảm mức
độ đồng hợp của các kiểu gen
Các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản
có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vỡ vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là giải pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn
Hai quần thể vật nuôi càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu Ưu thế lai cao nhất ở F1, ưu thế lai ở thế hệ F2 (Tự giao phối giữa F1 x F1, hoặc F1 với dòng
bố, mẹ khởi đầu chỉ bằng 1/2 ưu thế lai của F1).Trong nhiều trường hợp ưu thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình của 2 giống gốc Để tạo ưu thế lai, người ta phải cho con vật nuôi giao phối không cận huyết, nhằm tăng cường
Trang 31mức độ dị hợp bằng cách lai giữa các dòng, giữa các giống, lai xa Tuy nhiên, mức độ biểu hiện ưu thế lai còn phụ thuộc vào nguồn gốc di truyền của bố
mẹ, tính trạng cần xem xét công thức lai và điều kiện nuôi dưỡng
2.2.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung(cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài
- Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4 - 7g ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10 - 25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8 - 12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 - 10mm (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [4] Buồng trứng thực hiện hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormone sinh dục cái)
- Ống dẫn trứng: Được chia thành 4 đoạn: Tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi
- Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn loại và có độ dài đến hơn 1m
Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng tử cung dài 40 - 45cm, thân tử cung 5cm, cổ tử cung dài 10cm
và có đường kính ngoài 2 - 3cm Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng sau: Vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [7]
- Âm đạo: Có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10 - 12cm Đây
là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ