1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.

64 229 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 7,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự giúp nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn

Trang 1

Đại học thái nguyên trường đại học nông lâm

HOÀNG CAO CƯỜNG

Tờn đề tài:

“NGHIấN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIấN CỦA LOÀI THIẾT

SAM GIẢ LÁ NGẮN (PSEUDOTSUGA BREVIFOLIA W.C CHENG &

L.K.FU, 1975) TẠI KHU BẢO TỒN THIấN NHIấN BÁT ĐẠI SƠN,

Thỏi Nguyờn, 2014

Trang 2

CAM ĐOAN

Đây là công trình do tôi nghiên cứu, tôi xin cam đoan số liệu thu thập nghiêm túc, kết quả trong đề tài là trung thực và chưa từng có ai công bố

Hoàng Cao Cường

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường học đi đôi với hành, mỗi sinh viên khi ra trường cần chuẩn bị cho mình lượng kiến thức chuyên môn vững vàng cùng với những kỹ năng chuyên môn cần thiết Và thời gian thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian cần thiết để mỗi người vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, xây dựng phong cách làm việc khoa học của một

kỹ sư Nông lâm nghiệp Được sự giúp nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm

Nghiệp và giáo viên hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên

cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại

Sơn, tỉnh Hà Giang”

Sau thời gian thực tập được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa lâm nghiệp và các cán bộ ở khu bảo tồn cùng với sự cố gắng của bản thân khóa luận tốt nghiệp đã được hoàn thành Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Lê Văn Phúc đã hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận Tôi chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa lâm nghiệp và khu bảo tồn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp Do trình độ còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vậy tôi kinh mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong khoa cùng toàn thể các bạn sinh viên

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Hoàng Cao Cường

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trên thế giới 4

2.2 Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở Việt Nam 5

2.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 10

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 10

2.3.1.1 Vị trí địa lý 10

2.3.1.2 Địa hình 10

2.3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 11

2.3.1.4 Khí hậu thuỷ văn 11

2.3.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 12

2.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng 14

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 16

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

3.2 Địa điểm và thời gan nghiên cứu 16

3.3 Nội dung nghiên cứu 16

3.3.1 Một số đặc điểm hình thái, vật hậu và giá trị sử dụng loài Thiết sam giả lá ngắn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang 16

3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 16

3.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của rừng và của loài Thiết sam giả lá ngắn 17 3.3.4 Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên 17

3.3.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thiết sam giả lá ngắn 17

Trang 5

3.4 Phương pháp nghiên cứu 17

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung 17

3.4.2 Phương pháp điều tra cụ thể 17

3.4.2.1 Điều tra sơ thám 17

3.4.2.2 Điều tra chi tiết 18

3.4.3 Phương pháp nội nghiệp 22

3.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng 22

3.4.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh loài 24

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây tầng cao 26

4.1.1 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả lá ngắn phân bố 26

4.1.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi có cây Thiết sam giả lá ngắn phân bố tại vị trí đỉnh 27

4.2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 29

4.2.1 Tổ thành tầng cây tái sinh 29

4.2.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 31

4.3 Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên 33

4.3.1 Ảnh hưởng của yếu tố địa hình đến tái sinh rừng 33

4.3.2 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh 34

4.3.3 Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh 34

4.3.4 Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng 35

4.3.5 Tác động của con người đến loài Thiết sam giả lá ngắn 35

4.4 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thiết sam giả lá ngắn 36

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37

5.1 Kết luận 37

5.2 Kiến nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

I Tiếng việt 39

II Tiếng Nước ngoài 40

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu 01: Điều tra tuyến về phân bố của Thiết sam giả lá ngăn 41

Biểu 02: Biểu điều tra tầng cây cao 42

Biểu 03: Biểu điều tra cây tái sinh 43

Biểu 04: Biểu điều tra cây bụi 44

Biểu 05: Biểu điều tra thảm tươi 45

Biểu 06: Biểu điều tra thực vật ngoại tầng 46

Biểu 07: Điều tra Thiết sam giả lá ngắn trưởng thành 47

Biểu 08: Điều tra vật hậu loài Thiết sam giả lá ngắn 48

Biểu 09: Điều tra Thiết sam giả lá ngắn tái sinh 49

Biểu 10 Biểu điều tra đặc điểm hình thái Thiết sam giả lá ngắn 50

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả lá

ngắn phân bố ở Sườn núi 26

Bảng 4.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả lá ngắn phân bố ở đỉnh núi 27

Bảng 4.3 Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh ở vị trí đỉnh và sườn 29

Bảng 4.4: Phân tích nguồn gốc và chất lượng cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh theo vị trí 30

Bảng 4.5: Phân bố cây cây tái sinh theo cấp chiều cao 31

Bảng 4.6 Cây tái sinh triển vọng 32

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của địa hình đến tái sinh tự nhiên ở các vị trí 33

địa hình núi đá vôi 33

Bảng 4.8 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên ở các vị trí địa hình núi đá vôi 34

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh tự nhiên 34

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng 35

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Rừng là một phần rất quan trọng đối với bầu khí quyển, rừng là một kho vật chất cũng như tài nguyên quý báu của con người Rừng là lá phổi xanh khổng lồ điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, bão lũ Rừng là nơi cư trú của rất nhiều loài động vật, là nơi cung cấp thức ăn cho động vật nói chung Đặc biệt là thảm thực vật rừng còn có vai trò rất quan trọng để cung cấp nguồn nguyên liệu cho các hoạt động của con người như gỗ, củi, công nghiệp giấy, xây dựng, tinh dầu, làm thuốc, thẩm mỹ, làm cảnh và nhiều giá trị sử dụng khác.v.v

Theo số liệu của các tổ chức IUCN, UNDP và WWF trung bình mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng, trong đó rừng bị mất do đốt phá làm nương rẫy chiếm 50%, cháy rừng 23% do khai thác từ 5-7% còn lại

là do các nguyên nhân khác.Ở Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ đó, với tập quán du canh, du cư, người dân tùy ý đốt nương, làm rẫy Sau một thời gian canh tác, làm cho đất rừng bị thoái hóa, mất rừng dẫn đến hạn hán, lũ lụt, hậu quả của nó là nghèo đói và bệnh tật Trước tình trạng đó Đảng và Nhà nước ta

đã và đang thực hiện nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm bảo vệ

và phát triển rừng như: Dự án trồng và khoanh nuôi 5 triệu ha rừng và một số các dự án liên quan khác đến phát triển rừng Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trọng nhất hiện nay đối với ngành Lâm nghiệp Việt Nam cũng như của các nước nhiệt đới khác khi mà độ che phủ của rừng đã bị suy giảm xuống một cách đáng báo động, Song công tác trồng rừng của chúng ta mới chỉ chú ý đến số lượng mà chưa chú ý đến chất lượng, các loài cây được lựa chọn thường là các loài sinh trưởng nhanh như: Keo, Bạch đàn v.v Còn các loài cây bản địa lại rất ít hoặc nếu có thì vấn chỉ dừng ở vấn đề nghiên cứu Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Tuy nhiên, rừng nhiệt đới là một đối tượng hết sức đa dạng và phức tạp, trong khi các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung tại một điểm, một vùng hay một khu vực nhất định nào đó

Trang 9

Loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng &

L.K.Fu, 1975) là một trong số 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân

bố tự nhiên hiện còn sót lại ở vùng núi đá vôi của các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lặng Sơn (Bắc Sơn) Đây là loại thường mọc trên các đỉnh núi đá vôi có độ cao từ 500 - 1500m so với mặt nước biển Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số

cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém

Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển nhân rộng loài cây

gỗ quý hiếm ở vùng núi đá vôi

Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn loài quý hiếm này tôi thực hiện đề tài tốt

nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá

ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn

thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp bảo tồn và xúc tiến quá trình phục hồi nhằm nâng cao chất lượng rừng tự nhiên trên núi đá vôi

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được những đặc điểm cơ bản về hình thái và vật hậu của loài Thiết sam giả lá ngắn

- Xác định được một số đặc điểm sinh thái và phân bố, đặc điểm tái

sinh của loài Thiết sam giả lá ngắn tại khu vực nghiên cứu

- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở

khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang

Trang 10

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

- Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có hiệu quả Sinh viên có khả năng lập kế hoạch nghiên cứu hợp lý phân tích và đánh giá

kết quả

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng trên núi đá làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình tái sinh và phát triển rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang, giúp khu bảo tồn biết được thực trạng tái sinh của loài để có giải pháp bảo tồn thích hợp

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trên thế giới

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm; Baur G.N, 1964 [15], Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định Các nhà lâm học như: Grxenhin (1972, 1976), Boolop (1982) đã xây dựng nhiều phương thức tái sinh và phục hồi rừng nghèo kiệt

Ghen, A.W(1969) nhận xét: Thảm mục, chế đô thủy nhiệt, tầng đất mặt

có quan hệ với tái sinh rừng cũng cần được làm rõ

Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy từ

1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ số

đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì

có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài

(dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)

Odum (1971) [17] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái(ecosystem) của tansley A.P năm 1935 Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học

Baur G (1976) [18] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung, về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong

đó đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lam sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên

Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần

Trang 12

thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tùy thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều

kiện sinh thái của quần thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [91] 2.2 Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở Việt Nam

Quá trình tái sinh của rừng tự nhiên là vấn đề hết sức quan trọng trong nghiên cứu sinh thái rừng nhiệt đới Tái sinh tự nhiên là quá trình chủ yếu để phục hồi rừng qua các pha diễn thế Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh

bị tác động của con người nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều Đã

có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành qui luật tái sinh cho từng loại rừng thì còn rất ít Đặc biệt vấn đề tái sinh của những loài trên sống trên núi đá vôi, một hệ sinh thái đặc thù ở Việt Nam Có thể kể đến một số nghiên cứu sau đây:

Tuy nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Hà Giang Tác giả

đã kết luận mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi, tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và ba cấp độ dốc là khác nhau, sự khác nhau chính là tổ thành các loài trong tổ hợp đó

Theo Thái Văn Trừng (2000) [12], khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng

Việt Nam đã kết luận ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như: Đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm, dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường

Theo Nguyễn Văn Trương (1983) [5], đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tàn rừng Theo Phùng Ngọc Lan (1984)[9], khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm

Trang 13

Theo Lâm Phúc Cố (1994, 1996) [3],[4], Nhiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở Phú Luông, Mù Cang Chải, Yên Bái đã chia thành năm giai đoạn và kết luận diễn thế thứ sinh sau nương rẫy theo hướng đi lên tiến tới cao đỉnh Tổ thành loài tăng dần theo thời gian

Phạm Đình Tam (1987) [8], đã làm sáng tỏ hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó tác giả đề xuất phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này

Trần Ngũ Phương (2000) [10], khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng

tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng

tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế, trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”

Theo Phạm Ngọc Thường (2001, 2003)[12],[13], nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên phục hồi sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn

đã cho thấy khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng có số lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm cây gỗ là khá cao

Theo Trần Xuân Hiệp (1995)[11], nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trong rừng chặt chọn ở Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh đã định lượng các cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái rừng khác nhau Theo Trần Xuân Hiệp, rừng thứ sinh có số lượng cây tái sinh lớn hơn rừng nguyên sinh Tác giả còn thống kê các cây tái sinh theo 6 cấp chiều cao, cây tái sinh triển vọng có chiều cao h > 1,5 m

Về phương pháp điều tra tái sinh có nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009)[5], kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái sinh khác nhau sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh Căn cứ vào

Trang 14

sai số giữa các chỉ tiêu biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với phương pháp điều tra toàn diện trên 6 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000m2, bài báo đã lựa chọn được hai phương pháp phù hợp là phương pháp điều tra 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 25m2 (5x5m) và phương pháp điều tra theo dải để điều tra tái sinh rừng tự nhiên

Theo TS Vũ Tiến Hinh (1991)[3], khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy

Theo Thái Văn Trừng [16] thì trong tất cả các nhóm nhân tố sinh thái phát sinh thảm thực vật, nhóm nhân tố khí hậu thủy văn là nhóm nhân tố chủ đạo quyết định hình dạng và cấu trúc của các kiểu thảm thực vật Theo Đỗ Hữu Thư đối với thảm thực vật trên núi đá vôi thì nhóm nhân tố đá mẹ, thổ nhưỡng cùng với nhóm nhân tố khí hậu thủy văn là những nhóm nhân tố quyết định tạo nên diện mạo của thảm thực vật trên núi đá vôi Bên cạnh đó, khi nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên và diễn thế thứ sinh nhân tác thảm thực vật rừng thì nhóm nhân tố sinh vật con người là tác nhân đóng vai trò quyết định tới hoạt động và chiều hướng phát triển của các quy luật phát sinh tự nhiên

* Sự đa dạng của cây lá kim

Cây lá kim bao gồm những cây già nhất, cao nhất và lớn nhất trên thế

giới Cây Thông Pinus aristata được biết đã sống khoảng tới 6.000 năm, cây Tùng đỏ Duyên Hải Sequoia sempervirens đạt tới chiều cao trên 100 m và có những cây Củ tùng khổng lồ Sequoiadendron giganteum có đường kính ngang ngực tới 12 m Những loài cây lá kim này được tìm thấy ở phía tây Bắc Mỹ Cây lá kim được xếp thành 8 họ, 70-75 chi và khoảng 635 loài Hai chi lớn nhất là Thông (Pinus) và Thông tre (Podocarpus), mỗi chi có trên 100 loài Trong các chi còn lại 75% là chi đơn loài (chỉ gồm một loài) hoặc là chi có ít hơn 5 loài

* Phân bố cây lá kim

Phần lớn các cây lá kim gặp ở các vùng núi cao thuộc các vĩ độ vùng

ôn đới và cận nhiệt đới, thường là những nơi có lượng mưa lớn Tuy nhiên,

Trang 15

một số loài còn thấy gặp ở cả những nơi không khí khô hoặc ở các vùng rất lạnh gần Bắc Cực Trên bắc bán cầu, các diện tích lớn của Châu âu, Châu á và Bắc Mỹ được chiếm ưu thế chỉ bởi một số loài nhỏ các loài, ví dụ như loài Thông Pinus sylvestris gặp từ vùng ven biển phía tây Scotland gần như cho tới phần phía đông của Trung Quốc và Liên Xô cũ Những vùng mà không có cây lá kim thì hoặc là những sa mạc (nóng như Xa-ha-ra hoặc lạnh như Tây Tạng) hoặc là những rừng nhiệt đới vùng thấp Tính đa dạng của loài cây lá kim (được thể hiện ở số lượng các loài) lớn hơn ở Bắc bán cầu tại các vùng như Mê-hi-cô, Tây Nam Hoa Kỳ và Trung Quốc, Đông Dương (gồm cả Việt Nam) Phần lớn các loài này thuộc các họ Thông (Pinaceae) và Hoàng đàn (Cupressaceae) Nam bán cầu có số loài ít hơn Có một loạt các điểm nóng đối với sự đa dạng của cây lá kim ở Nam bán cầu như ở New Caledonia, một quần đảo nhỏ phía tây Thái Bình Dương có tới 43 loài, tất cả các loài này đều

là đặc hữu Những họ cây lá kim chính ở Nam bán cầu là họ Bách tán và Kim giao Sự khác biệt này thể hiện lịch sử kiến tạo trái đất trước đây và hiện tượng các lục địa trôi, đặc biệt là trong thời gian 65 triệu năm gần đây

Trong khi nghiên cứu về Du sam đá vôi (Nguyễn Tiến Hiệp et al,

1998) Đã tình cờ thu được rất nhiều mẫu vật kèm theo nón cái già còn đính trên cành, luôn luôn ở tư thế mọc trúc xuống cho nên đã kết luận loài này không thuộc về chi Keteleeria Carrière- Du sam Hơn thế nữa do các vẩy cái

có lá vẩy (trước đây thường dùng từ lá bắc, một thuật ngữ phiên âm chệch từ tiếng nước ngoài, tiếng latinh là bractea, tiếng Anh là bract hay tiếng pháp là bractée) quặt ngược ra ngoài và trông thấy rõ trong nón cái cho nên chúng thuộc về một chi mới đối với hệ thực vật Việt Nam

- Thiết sam giả

Chi này gồm 4-5 loài, 1-2 loài phân bố ở vùng ôn đới tây Bắc Mỹ và Mêhicô, 3 loài còn lại ở ôn đới và cận nhiệt đới Đông Á: Nhật Bản, Đài Loan

và ở đất liền Trung Quốc (chủ yếu về nam sông Dương Tử, tây và nam Trung Quốc) Tất cả những mẫu vật thu được đều được định loại là Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L K Fu - Thiết sam giả lá ngắn Nó rất gần Pseudotsuga sinensis Đoe - Thiết sam giả tầu, và thậm chí có tác giả ( ví dụ

Trang 16

Farjon và Silba cho chỉ là một thứ của loài này) nhưng khác chủ yếu là ở chỗ có

lá ngắn hơn, rất ít khi dài đến 2 cm, trong khi ở loài kia thường dài 2 - 3 cm Loài này thuộc yếu tố Đông Á, trước đây chỉ gặp ở Tứ Xuyên, Quý Châu, Triết Giang, Vân Nam và Quảng Tây (điểm thu mẫu gần Việt Nam nhất đồng thời cũng ở cực nam là Long Châu, ở độ cao 1250 m) Cây mọc ở chính đường đỉnh thường không cao quá 10 - 12 m và thân có ít nhiều vặn vẹo, còn khi mọc ở phần sườn gần đỉnh thì có thân thẳng và cao hơn, đến 18-

22 m, cành nằm ngang làm cho tán cây có hình ô, rộng đến 10 - 15 m Những cây có nón cái trưởng thành hình trứng hơi dài gặp rất phổ biến trong những cây có nón cái hình trụ ngắn ít hơn nhiều Quần xã thuần loài hay ưu thế Pseudotsuga brevifolia - Thiết sam giả lá ngắn mọc xen rải rác với hai loài cây cùng họ là Pinus kwangtugensis var chinensis - Thiết sam đông bắc và một loài cây lá rộng là Quercus cf Q rupestris Hickel & A Camus - Sồi cau

đá trước khi bị con người chặt phá và nạn lửa rừng chắc chắn đã bao phủ toàn

bộ các đỉnh và đường đỉnh đá vôi của tỉnh Cao Bằng cũng như các tỉnh lân cận như: Lạng Sơn, Bắc Cạn, Hà Giang, ở độ cao từ khoảng 500 m đến các ngọn cao nhất như Nam Linh 1587 m Gỗ có cấu tạo mịn, màu trắng ngà, hơi thơm, không bị mối mọt, dễ gia công chế biến, nên rất được ưa chuộng để đóng đồ dùng gia đình

Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng ở trên đã làm sáng

tỏ phần nào những đặc điểm về tái sinh, các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh và những nguyên lý chung để xây dựng phương thức xúc tiến tái sinh rừng

Tóm lại, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm sáng tỏ việc nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng Đó là những cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu tái sinh rừng trong đề tài này Việc nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên là hết sức quan trọng nên với từng đối tượng cụ thể cần có những phương pháp nghiên cứu phù hợp

Trang 17

2.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía tây bắc là đường biên giới với nước cộng hòa nhân dân Trung Quốc

- Phía đông bắc là phần còn lại của xã Bắc Đại Sơn và phía đông lấy dòng sông Miện làm ranh giới

- Phía nam và phía tây giáp xã Tùng Vài và đường ô tô đi biên giới -Tổng diện tích khu bảo tồn là 10.648 ha nằm trên địa phận 4 xã:

- Kiểu địa hình trung bình:

Đây là kiểu địa hình phổ biến nhất chiếm hầu hết diện tích khu bảo tồn do địa hình bị chia cắt tạo ra những đỉnh núi cao, sườn dốc đứng, các khe suối đều sâu, dốc lòng hẹp, ở đây rừng còn phong phú đặc trưng cho hệ sinh thái rừng núi đá vôi việt Nam

- Kiểu địa hình núi đá cao nằm ở phía đông bắc xã Bát Đại Sơn:

Ở đây chủ yếu là đồi núi đất, có các đỉnh cao dưới 400m Địa hình chia cắt mạnh tạo nên nhiều dòng suối,độ dốc bình quân từ 25 - 0

35 , kiểu địa hình này tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, quá trình phát nương làm rẫy lặp lại nhiều lần nên thực bì chủ yếu là cây bụi, trạng cỏ và một số ít diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy

- Kiểu địa hình thung lũng:

Trang 18

* Thổ nhưỡng

Theo kết quả điều tra có 5 loại đất chính đó là:

+ Đất Feralit nâu vàng phát triển đá sa thạch với tầng đất dày kết cấu rời rạc chiếm 56 ha

+ Đất Feralit màu nâu xám phát triển trên đá sét, tầng đất trung bình, kết cấu hạt mịn, phân bố phía bắc xã Bát Đại Sơn với diện tích 803 ha

+ Đất Feralit mùn trên núi trung bình thường phân bố ở độ cao(700m thuộc phía bắc xã Bát Đại Sơn, loại này còn chất mùn kết cấu hạt mịn và giữ ẩm, phát triển trên núi đá vôi với diện tích 319 ha và phát triển trên núi sét 610 ha

+ Đất Feralit màu nâu vàng trên sơn nguyên, phát triển trên đá sét: 1.759 ha phân bố tập trung ở xã Thanh Vân tàng đất trung bình, thường ở các thung lũng rất tiện lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp và cây công nghiệp

+ Nhóm đất thung lũng là sản phẩm chủ yếu của núi đá vôi phân bố dọc hai bên bờ sông miện thuộc xã Cán Tỷ với diện tích 3.059 ha Độ dày tầng đất trung bình đều sâu, diện tích này chủ yếu để sản xuất nông nghiệp

2.3.1.4 Khí hậu thuỷ văn

* Khí hậu

Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu vùng núi cao phía bắc Việt Nam

- Mùa Hè có gió Đông Nam, Tây Nam kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9

- Mùa Đông có gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Chế độ nhiệt:

- Lượng mưa trung bình: 2.000 mm

- Nhiệt độ trung bình: 150C (10C - 350C)

Trang 19

+ Công tác quản lý bảo vệ rừng:

Từ năm 2000 Ban quản lý dự án được thành lập và thực hiện chương trình phát triển 5 triệu ha rừng bằng nguồn vốn 661 hỗ trợ, công tác bảo vệ rừng đã được quan tâm Ban quản lý khu bảo tồn kết hợp với Hạt Kiểm Lâm huyện với chính quyền địa phương các xã, các thôn bản thực hiện khoán bảo vệ rừng nên đã hạn chế được việc phát nương làm rẫy và khai thác rừng trái phép

+ Công tác trồng rừng

Trong những năm qua công tác trồng rừng đã được chú trọng ở các xã Nghĩa Thuận, Thanh Vân, Bát Đại Sơn, Cán Tỷ, diện tích trồng rừng mới thực hiện được 405 ha, kết quả thành rừng đạt hiệu quả cao

- Tài nguyên rừng

- Tài nguyên rừng Bát Đại Sơn có diện tích 6.611 ha rừng tự nhiên tương đương 62% Diện tích khu vực (Chi cục Kiểm lâm Hà Giang 2003) Rừng tự nhiên tại Bát Đại Sơn mang đặc trưng của rừng trên núi đá vôi phân

bố tại độ cao trung bình Trước đây, các rẫy núi cao phía Đông Bắc của khu bảo tồn là sinh cảnh rừng thường xanh núi thấp, hiện nay phần lớn khu vực đã

Trang 20

biến thành sinh cảnh trảng cỏ thứ sinh và cây bụi do các tác động của con người Phía dưới các thung lũng chủ yếu là các loại đất canh tác và chăn thả gia súc

- Tài nguyên động vật

Qua kết quả của các đợt khảo sát của chúng tôi và tổng hợp các tài liệu đã nghiên cứu trước đây đã thống kê được trong khu vực nghiên cứu có 49 loài thú thuộc 23 họ, 8 bộ (chiếm 16,7% (49/294) tổng số loài thú của Việt Nam)

Trong đợt khảo sát này chúng tôi đã ghi nhận được sự hiện diện của 37 loài thú tại Khu BTTN Bát Đại Sơn Phân tích thành phần loài khu hệ thú Khu BTTN Bát Đại Sơn cho thấy các loài thú nhỏ chiếm ưu thế (bộ Gặm nhấm - 18 loài) Trong số 3 bộ thú lớn thì bộ ăn thịt chiếm ưu thế với 12 loài

và bộ Linh trưởng có 6 loài, bộ Móng guốc chẵn chỉ có 4 loài

Trong số 49 loài thú đã ghi nhận trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi

đã xác định 15 loài thú quý hiếm (chiếm 29,2% tổng số loài thú của khu vực nghiên cứu) Trong số này có 12 loài thú ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2007); 14 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); 12 loài ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP (2006) của Chính Phủ và 11 loài ghi trong danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã bị

đe doạ)

Tổng số 87 loài chim đã được ghi nhận trong suốt quá trình điều tra, trong số này đã ghi nhận có 1 loài đang bị đe doạ trên toàn cầu là Trèo cây

làng đen Sitta formose, kết hợp với tham khảo các tài liệu đã công bố trước

đây năm 2000 của Vogel et al In prep.), đưa tổng số loài chim đã được ghi nhận tại đây là 116 loài

Khu hệ chim tại Bát Đại Sơn mang nhiều nét đặc trưng cho các sinh cảnh rừng thường xanh trên núi đá ở miền bắc Việt Nam, tuy nhiên hầu hết các loài chim được ghi nhận lần này nằm trong sinh cảnh rừng thường xanh trên núi thấp với sự hiện diện thường xuyên của các loài Cu rốc đầu vàng

Megalaima franklinii, Nuốc bụng đỏ Harpactes erythrocephalus, Đớp ruồi

đầu xám Culicicapa ceylonensis, Cành cạch núi Hypsipetes mcclellandii, Khướu lùn cánh xanh Minla cyanouroptera, Lách tách má xám Alcippe

Trang 21

morrisonia, Mi đuôi dài, Khướu mào cổ hung Yuhina flavicollis và Hút mật

ngực đỏ Aethopyga saturata

Khu hệ chim tại các sinh cảnh đã bị tác động quanh khu dân chủ yếu

tập trung các loài phổ biến và phân bố rộng như Chìa vôi trắng Motacilla

alba, Nhạn bụng trắng Hirundo rustica, Nhạn bụng xám Hirundo daurica,

Chích bông đuôi dài Orthotomus sutorius, Bách thanh đuôi dài Lanius

schach, Chích choè Copsychus

- Tài nguyên thực vật

Qua đợt điều tra sơ bộ khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, chúng tôi

đã xác định được 133 họ, 422 chi, 679 loài thực vật Nhìn chung thành phần thực vật ở đây khá phong phú Trong số 133 họ có tới 9 họ có số lượng loài tương đối lớn Thành phần loài trong họ Cúc (Asteraceae) là lớn nhất có 50 loài phần lớn là cây thảo, leo phát triển mạnh mẽ khi thảm rừng tự nhiên bị xâm hại nặng nề do phá rừng, khai thác cây gỗ lớn Các họ có số lượng loài tương đối lớn từ 20 loài trở lên thuộc các họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 33 loài, họ Long não (Lauraceae) 21 loài và họ Dẻ (Fagaceae) 21 loài

Có 11 loài quý hiếm trong tổng số 679 loài thực vật; trong đó 9 loài ghi trong danh lục đỏ của IUCN (2007) bao gồm 5 loài trong nhóm VU (sẽ nguy cấp), 2 loài trong nhóm EN (nguy cấp), 2 loài trong nhóm CR (rất nguy cấp); 9 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) gồm 5 loài trong nhóm VU (sẽ nguy cấp), 3 loài trong nhóm EN (nguy cấp), 1 loài trong nhóm CR (rất nguy cấp), 9 loài trong Nghị định 32 của Chính phủ (2006) có 2 loài trong nhóm IA (nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại), 7 loài trong nhóm IIA (hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Trong Quyết Định số 74 (20/6/2008) -

CITES Bộ NN&PTNT, thì có 2 loài nằm trong nhóm phụ lục III

2.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng

- Giao thông

Hệ thống đường giao thông được quan tâm và đầu tư và nâng cấp thong suốt tới các xã tuy nhiên hệ thống giao thông đi vào các làng bản do địa hình phức tạp nên gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khe suối, khí hậu núi cao ẩm ướt

- Y tế

Công tác y tế cũng có những chuyển biến tích cực, các trạm ý tế của xã cũng được đầu tư các trang thiết bị, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến xã, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thực hiện tốt các chương

Trang 22

- Thương mại, dịch vụ

Kinh doanh hàng tạp hóa, thức ăn gia súc và các loại mặt hàng khác với quy mô nhỏ lẻ không tập chung, tuy nhiên cũng góp phần vào việc thúc đẩy nền kinh tế địa phương tăng thu nhập cho người dân

- Thành phần dân tộc

Khu Bảo tồn Bát Đại Sơn có 6 dân tộc:

+ Dân tộc H’Mông có 7.193 người chiếm 81,5% tổng dân số

+ Dân tộc Dao có 926 người chiếm 10,5 % tổng dân số

+Dân tộc Tày, Nùng co 619 người chiếm 7,0% tổng dân số

+ Dân tộc khác có 84 người chiếm 1% tổng dân số

- Dân số

Tổng dân số ( theo kết quả điều tra năm 201 ) khu bảo tồn là 8.822 người với 1.784 hộ thuộc địa phận hành chính 4 xã với 18 thôn bản được thể hiện như sau:

Tên xã Số hộ Số người Tỷ lệ gia tăng dân số

(Nguồn: Số liệu điều tra)

- Thực trạng phát triển các khu dân cư

Mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa thị trấn với các xã trong vùng

Do địa hình phức tạp nên các điểm dân cư phân bố rải rác với quy mô nhỏ, tạo thành các quần cư làng bản

Trang 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của

loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,

1975) tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang

- Phạm vi nghiên cứu: : Đề tài tập trung nghiên cứu về đặc điểm tái

sinh tự nhiên của cả rừng và đặc điểm tái sinh của riêng loài Thiết sam giả lá ngắn (đặc điểm tổ thành, mật độ, chất lượng và nguồn gốc tái sinh) Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến tái sinh tự nhiên: độ tàn che của tầng cây cao, độ che phủ của cây bụi thảm tươi, đất, địa hình, độ dốc, hướng phơi và tác động của con người

3.2 Địa điểm và thời gan nghiên cứu

-Địa điểm nghiên cứu: Đề tài tập trung triển khai tại huyện huyện

Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

-Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ 20/02/2014 đến ngày

05/05/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Một số đặc điểm hình thái, vật hậu và giá trị sử dụng loài Thiết sam giả lá ngắn ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang

3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố

- Phân bố theo đai cao, phân bố theo trạng thái rừng

- Đặc điểm cấu trúc nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố

+ Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cao

+ Mức độ thường gặp của loài Thiết sam giả lá ngắn

+ Mức độ than thuộc các loài cây với Thiết sam giả lá ngắn

- Một số đặc điểm về hoàn cảnh rừng (khí hậu, đất đai) nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố

Trang 24

3.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của rừng và của loài Thiết sam giả lá ngắn

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành mật độ và tỉ lệ cây tái sinh triển vọng

- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh

- Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao

- Nghiên cứu cây tái sinh triển vọng

- Mạng hình phân bố cây tái sinh và tần suất xuất hiện tái sinh loài Thiết sam giả lá ngắn

- Nghiên cứu quy luật phân bố cây theo chiều cao (N/H) của cây tái sinh

3.3.4 Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên

- Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng

- Ảnh hưởng của yếu tố địa hình đến tái sinh rừng

- Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh

- Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh

- Ảnh hưởng của yếu tố con người đến tái sinh rừng

3.3.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thiết sam giả lá ngắn 3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung

- Sử dụng phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có

về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, về lược sử một số các nghiên cứu tương tự về đặc điểm sinh học và sinh thái học loài

- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa: Khảo sát theo các tuyến điều tra, lập các OTC điển hình tạm thời, thu thập các số liệu/tài liệu liên quan đến các nội dung của luận văn

- Ứng dụng các phần mềm xử lý thống kê chuyên dụng EXCEL, SPSS, để tổng hợp và đánh giá kết quả điều tra

3.4.2 Phương pháp điều tra cụ thể

3.4.2.1 Điều tra sơ thám

Tiến hành xác định trên bản đồ khu vực cần điều tra, điều tra sơ thám nhằm:

Trang 25

- Xác định được khu vực nghiên cứu nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn

phân bố

- Xác định sơ bộ và mở rộng tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các

loại rừng đại diện, nơi có loài cây nghiên cứu phân bố

- Tiến hành điều tra 30 OTC về tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả

lá ngắn tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

3.4.2.2 Điều tra chi tiết

a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái:

Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Đây là phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007) Cụ thể như sau:

+ Quan sát, mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa, quả, hạt và rễ của cây Thiết sam giả lá ngắn (cây được quan sát phải đạt độ trưởng thành nhất định, hiện đang tồn tại trong rừng tự nhiên) Kết quả ghi vào mẫu biểu 01 tương ứng

+ Lấy mẫu tiêu bản, so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc những loài cây có hình thái tương tự nhằm xác định tính chính xác của loài (Thìn

1997, 2007)

+ Dụng cụ và thiết bị hỗ trợ: máy ảnh, thước dây, thước kẹp (palme), GPS, kẹp tiêu bản,…

Do thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên quan điểm kế thừa các nghiên cứu

đã có và chỉ tiến hành điều tra bổ sung các thông tin còn thiếu được quán

triệt sử dụng Tiếp cận đa chiều theo nhiều hướng khác nhau để thu được kết quả là tốt nhất và có độ tin cậy cao

b) Điều tra vật hậu

- Phương pháp quan sát, mô tả, theo dõi trực tiếp tại hiện trường: Bằng mắt thường quan sát trực tiếp vật hậu trong quá trình điều tra thực địa Chú ý

sự biến đổi các bộ phận (cành, chồi, hoa, quả) của loài Phương pháp nghiên cứu vật hậu học được thực hiện theo giáo trình “Cây rừng Việt Nam” của Trường Đại học Lâm nghiệp (1966) và của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) (mẫu biểu 02)

Trang 26

- Phương pháp kế thừa: Do thời gian tiến hành làm đề tài giới hạn nên không thể theo dõi hết được chu kỳ sinh sản của các loài, vì vậy cần phải kế thừa các kết quả nghiên cứu về vật hậu trước đó cùng với kết quả quan sát ngoài thực tế để kết quả điều tra vật hậu được chính xác nhất

c Điều tra theo tuyến

Tại mỗi khu vực, nắm bắt thông tin chung thông qua tài liệu của Khu bảo tồn và thông qua phỏng vấn cán bộ và người dân địa phương Kế thừa tài liệu đã có kết hợp với điều tra bổ sung theo tuyến ngoài thực địa nhằm xác định vùng phân bố của loài Thiết sam giả lá ngắn Tại khu vực nghiên cứu lập

ít nhất 03 tuyến điều tra đi qua khu vực có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố

và đi qua những độ cao, loại rừng khác nhau Trên các tuyến điều tra, tiến hành điều tra phát hiện loài bằng cách quan sát, nhận dạng qua đặc điểm hình thái Kết quả điều tra được trên tuyến ghi vào mẫu bảng 01 sau:

Mẫu bảng 01: Điều tra phân bố của loài theo tuyến

Ngày điều tra……… Nơi điều tra……… Người điều tra ……… Loài cây: Thiết sam giả lá ngắn

Chiều cao cây (m)

D 1.3 Ghi

chú

HVN HDC

d Điều tra trên các OTC điển hình tạm thời

Do địa hình khu vực nghiên cứu là núi đá nên tại mỗi vị trí độ cao khác nhau (100m) lập ít nhất 1 OTC điển hình tạm thời có diện tích 1000m (40x25m) Điều tra các thông tin trong OTC theo phương pháp điều tra lâm học (Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 2005) Số liệu thu thập được ở các OTC trên tuyến điều tra, trên các vị trí khác nhau được ghi chép theo các biểu lập sẵn Trên các tuyến điều tra, lập các ô tiêu chuẩn có diện tích 500 m2 Các chỉ tiêu cần xác định là: Tàn số bắt gặp, đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng hoặc lâm phần nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố, Loài cây đi kèm, loài cây chiếm ưu thế tầng cây cao, tầng cây bụi và tình hình tái sinh của loài

Trang 27

- Đường kính thân cây (D1,3 cm) được đo bằng thước kẹp kính hai chiều, hoặc dùng thước dây đo chu vi

- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m) được

đo bằng thước đo cao với độ chính xác đến dm HVN của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, HDC được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng

- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước dây, đo hình chiếu tán

lá trên mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân

Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao (mẫu bảng 02)

Mẫu bảng 02: Điều tra tầng cây cao

Số OTC: Hướng dốc: Người điều tra:

Độ cao: Độ dốc : Ngày điều tra: Tọa độ: Độ tàn che: Trạng thái rừng:

Ghi chú

d) Phương pháp điều tra cây tái sinh:

Trong mỗi OTC lập mỗi ODB có diện tích 25 m2 phân bố trên OTC theo sơ

đồ sau:

10m

5m 50m

5

Trang 28

- Thống kê tất cả cây tái sinh vào phiếu điều tra (mẫu bảng 03) theo các chỉ tiêu

- Tên loài cây tái sinh

- Chiều cao cây tái sinh theo các cấp khác nhau

- Xác định chất lượng cây tái sinh (cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh, cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình)

- Xác định nguồn gốc cây tái sinh

Khi điều tra tái sinh trên các ODB, chúng tôi đồng thời xác định các chỉ tiêu: độ tàn che, độ che phủ bình quân và độ dốc mặt đất tại vị trí ODB

Mẫu bảng 03: Điều tra cây tái sinh dưới tán rừng

Số OTC: Hướng dốc: Người điều tra:

Độ cao: Độ dốc : Ngày điều tra: Tọa độ: Độ tàn che: Trạng thái rừng:

TT

OTDB TT cây

Tên cây

lượng

Nguồn ngốc

<50 cm 50-100 cm >200cm

e) Phương pháp điều tra tầng cây bụi, thảm tươi

Lập 5 trong các ODB có diện tích 25m2 (5m x 5m): 4 ô ở 4 góc và 1 ô

ở giữa OTC

+ Điều tra cây bụi theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, số lượng khóm (bụi), chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của từng loài trên ODB, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi (mẫu bảng 05)

Trang 29

+ Điều tra thảm tươi theo các chỉ tiêu: loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ bình quân của loài và tình hình sinh trưởng của thảm tươi trên ODB, kết quả ghi vào phiếu điều tra thảm tươi (mẫu bảng 04)

Mẫu bảng 04: Điều tra cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng

Số OTC: Hướng dốc: Người điều tra:

Độ cao: Độ dốc : Ngày điều tra: Tọa độ: Độ tàn che: Trạng thái rừng:

Độ che phủ (%)

Dạng sống

Bộ phận

sử dụng

Tình hình sinh trưởng

1

2

3.4.3 Phương pháp nội nghiệp

3.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng

a Tổ thành tầng cây gỗ

Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm loài tham gia tạo thành rừng, tuỳ thuộc vào số lượng loài có mặt trong lâm phần mà phân chia lâm phần thành rừng thuần hoài hay hỗn loài, các lâm phần rừng có tổ thành loài khác nhau thì chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa dạng sinh học cũng khác nhau

Để đánh giá đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái của quần hợp cây gỗ, chúng tôi sử dụng chỉ số mức độ quan trọng (Importance Value Index = IVI), tính theo công thức:

IVi% = (3.1)

3

RFi Gi

Trang 30

2 2

•IVIi là chỉ số mức độ quan trọng (tỷ lệ tổ thành) của loài thứ i

Ni là độ phong phú tương đối của loài thứ

Trong đó: Ni là số cá thể của loài thứ i; s là số loài trong quần hợp

•Di là độ ưu thế tương đối của loài thứ i:

Với: Di là đường kính 1.3 m (D1.3) của cây thứ i; s là số loài trong quần hợp

•RFi là tần xuất xuất hiện tương đối của loài thứ i:

Trong đó: Fi là tần xuất xuất hiện của loài thứ i; s là số loài trong quần hợp

100

i

Tæng sè « mÉu nghiª n cøu

(3.6)

Theo đó, những loài cây có chỉ số IVI ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978) trong một lâm

Ni(%)

Trang 31

Công thức xác định mật độ như sau:

(3-7)

Trong đó:

n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong OTC

Sô: Diện tích OTC (m2)

3.4.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh loài

a Tổ thành cây tái sinh

Đề tài xác định tổ thành sinh rừng theo số cây, hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức:

Tx<0,7 phân bố không đều

Trong đó: Tx: Tần suất xuất hiện của loài Thiết sam giả lá ngắn

Ti: Số ODB có loài Thiết sam giả lá ngắn xuất hiện

T: Tổng số ODB đo đếm

- N: tổng số cây tái sinh

b Mật độ cây tái sinh

Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:

N(cây/ha) = (37) (3.7)

000 10

Trang 32

Với Sdi là tổng diện tích các ODB điều tra tái sinh (m2) và n là số lượng cây tái sinh điều tra được

c Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao

Thống kê số lượng cây tái sinh theo 3 cấp chiều cao: < 0,5m; 0,5-1m;

• Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh Thiết sam giả lá ngắn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu cây bụi, thảm tươi, đề tài tổng hợp một số chỉ tiêu nghiên cứu tái sinh như mật độ, tỷ lệ cây triển vọng và chất lượng cây tái sinh của loài cây theo các cấp độ sinh trưởng khác nhau của lớp cây bụi, thảm tươi ở khu vực nghiên cứu

Từ tất cả các dữ liệu thu được về loài, sẽ đề xuất các giải pháp bảo tồn

và phát triển loài cây này ở Bát Đại Sơn và Hà Giang nói chung

e Phân bố số loài, số cây tái sinh theo cấp chiều cao

Thống kê số loài, số cây tái sinh theo 3 cấp chiều cao: < 0,5m; 0,5-1m; và

>1m Vẽ biểu đồ biểu diễn số cây tái sinh theo cấp chiều cao

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.1. Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả (Trang 33)
Bảng 4.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.2 Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây gỗ nơi cây Thiết sam giả (Trang 34)
Bảng 4.3 Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh ở vị trí đỉnh và sườn - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.3 Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh ở vị trí đỉnh và sườn (Trang 36)
Bảng 4.5:  Phân bố cây cây tái sinh theo cấp chiều cao - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.5 Phân bố cây cây tái sinh theo cấp chiều cao (Trang 38)
Hình 4.1 Biểu đồ mật độ tái sinh theo cấp chiều cao của rừng nơi loài - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.1 Biểu đồ mật độ tái sinh theo cấp chiều cao của rừng nơi loài (Trang 39)
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của địa hình đến tái sinh tự nhiên ở các vị trí - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của địa hình đến tái sinh tự nhiên ở các vị trí (Trang 40)
Hình núi đá vôi - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình n úi đá vôi (Trang 41)
Bảng 4.8  Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên ở các vị trí địa - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên ở các vị trí địa (Trang 41)
Bảng 4.10  Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng (Trang 42)
Hình 4.1 Cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh - Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.1 Cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w