NGUYỄN VĂN HẢI Tên đề tài: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ THAY THẾ THÍCH HỢP KHẨU PHẦN ĂN CHO VỊT SIÊU THỊT BẰNG GIUN QUẾ TẠI TRẠI GÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 1NGUYỄN VĂN HẢI
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ THAY THẾ THÍCH HỢP KHẨU PHẦN ĂN CHO VỊT SIÊU THỊT BẰNG GIUN QUẾ TẠI TRẠI GÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khoá : 2010 – 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2NGUYỄN VĂN HẢI
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TỶ LỆ THAY THẾ THÍCH HỢP KHẨU PHẦN ĂN CHO VỊT SIÊU THỊT BẰNG GIUN QUẾ TẠI TRẠI GÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khoá : 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn : TS Mai Anh Khoa
Thái Nguyên, 2014
Trang 3Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của
trung tâm thực hành thực nghiệm khoa Chăn nuôi Thú y Qua quá trình học tập ở nhà trường và sau 6 tháng thực tập tại cơ sở, tôi được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn, bạn bè Nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Thành công này không chỉ là nỗ lực của cá nhân tôi mà bao gồm cả công sức của rất nhiều người Tôi muốn dành một vài lời để bày tỏ tấm lòng của tôi với những sự giúp đỡ đó
Đầu tiên, tôi muốn cảm ơn thầy giáo TS Mai Anh Khoa, người đã tận
tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Thầy không những hướng dẫn tôi hoàn thành về nội dung và hình thức của khóa luận mà còn động viên tôi rất nhiều trong quá trình thực tập, phân tích số liệu và biên soạn khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người đã dìu dắt tôi từ những năm đầu đại học cho
đến lúc tôi có kiến thức đủ để hoàn thành khóa luận cũng như chuẩn bị cho
những năm công tác sau này
Tôi xin cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy cô phụ trách trung tâm thực hành thực nghiệm, nơi tôi đã học tập và nghiên cứu trong suốt quá trình tiến hành thực tập và thí nghiệm
Cuối cùng, tôi xin nói lời biết ơn tới bố, mẹ, anh chị em trong gia đình
và các bạn bè của tôi Thiếu họ, tôi không thể yên tâm học tập và hoàn thành khóa luận này
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Văn Hải
Trang 4Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lí thuyêt gắn liền với
thực tiễn” Trong chương trình đào tạo của Nhà trường, giai đoạn thực tập tốt
nghiệp luôn chiếm một vị trí quan trọng đối với sinh viên trước khi ra trường
đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố, hệ thống hóa toàn bộ kiến thức
đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất Từ đó
nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành các nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho mình có tác phong làm việc đúng đắn, sang tạo để khi ra trường trở thành người cán bộ khoa học kỹ thuật có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Mai Anh Khoa và sự tiếp nhận của cơ
sở, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu xác định tỷ lệ thay thế thích
hợp khẩu phần ăn cho vịt siêu thịt bằng giun quế tại trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Do thời gian và trình độ có hạn, bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót
Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Bảng 1.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 10
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn V01 27
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn V06 28
Bảng 2.3: Thành phần dinh dưỡng của giun quế 28
Bảng 2.4: Lịch phòng bệnh cho vịt thí nghiệm 29
Bảng 2.5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30
Bảng 2.6: Tỷ lệ nuôi sống của vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 34
Bảng 2.7: Sinh trưởng tích lũy của vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi (g) 35
Bảng 2.8: Sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm (g/con/ngày) 37
Bảng 2.9: Sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm (%) 39
Bảng 2.10: Lượng thức ăn thu nhận của vịt qua các tuần tuổi (g/con/ngày) 42
Bảng 2.11: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của vịt thí nghiệm (kg) 43
Bảng 2.12: Tiêu tốn ME/kg tăng khối lượng của vịt thí nghiệm (kcal) 44
Bảng 2.13: Tiêu tốn CP/kg tăng khối lượng của vịt thí nghiệm (g) 45
Bảng 2.14: Hiệu quả kinh tế 46
Trang 6Hình 2.1: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của vịt thí nghiệm 36 Hình 2.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm 38 Hình 2.3: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm 40
Trang 81.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Địa hình đất đai 1
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn 1
1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 2
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của trại 2
1.1.2.2 Tình hình phát triển sản xuất 3
1.1.3 Tình hình sản xuất của cơ sở 3
1.1.3.1 Ngành trồng trọt 3
1.1.3.2 Ngành lâm nghiệp 4
1.1.3.3 Ngành chăn nuôi 4
1.1.4 Đánh giá chung 6
1.1.4.1 Thuận lợi 7
1.1.4.2 Khó khăn 7
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 7
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 7
1.2.2 Phương pháp tiến hành 8
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 8
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi 8
1.2.3.2 Công tác thú y 9
1.3 Kết luận và đề nghị 10
1.3.1 Kết luận 10
1.3.2 Đề nghị 11
Phần 2 : CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 12
2.1 Đặt vấn đề 12
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài 12
2.1.2 Mục tiêu của đề tài 13
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn 13
Trang 92.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 14
2.2.1.1 Giá trị dinh dưỡng của giun quế 14
2.2.1.2 Tác dụng của việc sử dụng giun quế trong chăn nuôi 14
2.2.1.3 Giới thiệu về giống vịt CV – Super M2 15
2.2.1.4 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của gia cầm 16
2.2.1.5 Sinh trưởng và các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm 18
2.2.1.6 Vai trò của protein đối với gia cầm 21
2.2.1.7 Khả năng tiêu tốn thức ăn của gia cầm 23
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 25
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
2.3.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 30
2.3.5.1 Tỷ lệ sống và tình hình bệnh tật trên đàn vịt thí nghiệm 30
2.3.5.2 Khả năng sinh trưởng của vịt siêu thịt 31
2.3.5.3 Khả năng chuyển hóa thức ăn 31
2.3.5.4 Chi phí thức ăn/kg tăng trọng 32
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.4 Kết quả và phân tích kết quả 33
2.4.1 Tỷ lệ nuôi sống của vịt thí nghiệm 33
2.4.2 Khả năng sinh trưởng của vịt siêu thịt 34
2.4.2.1 Sinh trưởng tích lũy 34
2.4.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối 36
2.4.2.3 Sinh trưởng tương đối 39
2.4.3.1 Lượng thu nhận thức ăn của vịt qua các tuần tuổi 41
Trang 102.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 47
2.5.1 Kết luận 47
2.5.2 Tồn tại 48
2.5.3 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 11Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ranh giới của xã được xác định như sau:
- Phía nam giáp với xã Phúc Trìu
- Phía tây giáp với xã Phúc Xuân
- Phía bắc giáp với xã Phúc Hà
- Phía đông giáp với phường Thịnh Đán
1.1.1.2 Địa hình đất đai
Địa hình của trại thực tập tương đối phức tạp không bằng phẳng, chủ
yếu là đồi, đất đai nghèo dinh dưỡng
1.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Trung tâm thực hành thực nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong địa bàn của tỉnh Thái Nguyên, do đó mang khí hậu đặc trưng của tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc nước ta nên có khí hậu
đặc trưng cho vùng Đông Bắc đó là khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới với hai
mùa rõ rệt đó là: mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình dao động
từ 24-29 oC, ẩm độ trung bình từ 80-86 %, lượng mưa trung bình là 160
Trang 12mm/tháng tập trung chủ yếu vào tháng 5, 6, 7, 8 Với khí hậu trên, trong chăn nuôi cần chú ý công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi
Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong các tháng này khí hậu lạnh và khô, nhiệt độ dao động từ 12-26 oC, ẩm độ từ 76-83 % Về mùa đông còn có gió mùa đông bắc gây rét và có sương muối gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của trại
Trại thực tập thí nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được thành lập ngày 03/08/1974 với cơ cấu tổ chức như sau:
Ban lãnh đạo trại gồm: 1 trưởng trại và 2 phó trại
Bên cạnh ban lãnh đạo trại còn có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có nhiệm vụ tham mưu cho ban lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ của trại
Trại thực tập thí nghiệm có các đội ngũ cán bộ công nhân viên trong đó
có một chi bộ Đảng, một công đoàn cơ sở, một chi đoàn thanh niên luôn tích cực hoạt động
Với cơ cấu tổ chức như trên, nhiệm vụ của trại cần phải thực hiện tốt là:
- Xây dựng và tổ chức sản xuất theo kế hoạch nhằm phục vụ công tác
đài tạo và hướng dẫn sinh viên học tập và rèn nghề
- Tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên, sinh viên nghiên cứu khoa học
- Xây dựng mô hình thâm canh, chuyên canh cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao
- Sản xuất cây, con giống cung cấp cho trại và nhân dân trong và ngoài tỉnh
- Hợp tác giúp đỡ chuyển giao kỹ thuật nông- lâm- ngư nghiệp cho các
địa phương
Trang 13- Không ngừng mở rộng hợp tác với các trường, các tổ chức trong và ngoài nước nhằm mục đính giao lưu, học hỏi và hội tụ tri thức
Sau khi nền kinh tế tập thể chuyển sang cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, trại thực tập đổi tên thành Trung tâm thực hành thực nghiệm, vận hành theo cơ chế khoán sản phẩm đã tạo động lực cho cán bộ, công nhân trại hăng say lao động Trong những năm gần đây cơ chế quản lý của trại đã có nhiều thay đổi để phù hợp với thực tế nghiên cứu và học tập của thầy và trò, cụ thể là các khu sản xuất, thực hành thực nghiệm giao về cho các khoa chuyên môn quản lý
1.1.2.2 Tình hình phát triển sản xuất
Trung tâm thực hành thực nghiệm vừa có chức năng sản xuất vừa có chức năng phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của giáo viên và sinh viên của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Từ năm 2007, Nhà trường chuyển đổi hình thức từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, đòi hỏi phải có hệ thống giảng đường, phòng thí nghiệm
và trại thực hành đáp ứng yêu cầu của người học Trước tình hình đó, Nhà trường giao cho khoa Chăn nuôi Thú y quản lý trại chăn nuôi lợn, trại chăn nuôi gia cầm, khu chăn nuôi trâu bò, khu nuôi trồng thủy sản, khu đồng cỏ và cây thức ăn
1.1.3 Tình hình sản xuất của cơ sở
Trang 14giao khoán cho các hộ gia đình, cán bộ công nhân viên của trại Quy hoạch trồng lúa chủ yếu để sản xuất giống cung cấp cho nhân dân
- Cây chè: trại có 6 ha chè, với diện tích chè trên đảm bảo cho công tác học tập và nghiên cứu của giáo viên và sinh viên Đối với cây chè, trại giao khoán cho các hộ gia đình, cán bộ công nhân của trại chăm sóc và quản lý, khi thu hoạch trại thu mua sản phẩm
- Cây ăn quả: trại có vườn cây ăn quả tương đối phong phú: nhãn, vải, hồng, bưởi, xoài, táo… Đối với cây ăn quả chủ yếu phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu, đồng thời sản xuất cây giống cung cấp cho những người làm vườn Trại có vườn ươm giống tương đối lớn gồm nhiều loại cây giống
1.1.3.2 Ngành lâm nghiệp
Đối với ngành lâm nghiệp do thành lập sau nên ngành đã được đầu tư
tương đối đồng bộ, phát triển hơn các ngành khác Trại cũng có vườn ươm nhân cây giông, đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu Cung cấp cây giống lâm nghiệp đáng kể cho công tác trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi chọc… Trại không ngừng mở rộng diện tích sản xuất cây lâm nghiệp
1.1.3.3 Ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của trại gồm: chăn nuôi lợn, gia cầm, cá Quy mô chăn nuôi chưa lớn nhưng đã đáp ứng được nhu cầu học tập, rèn luyện tay nghề của sinh viên, thực hiện được các chuyên đề nghiên cứu khoa học của giáo viên và sinh viên đồng thời hàng năm còn cung cấp một lượng con giống tương đối lớn và sản phẩm chăn nuôi cho nhân dân quanh vùng…
Trang 15Bước vào năm 2011 trại lợn mới đã được khởi công xây dựng, nay đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng
Chăn nuôi lợn nái: Hiện nay trại có một đàn lợn nái Móng Cái, nái 3/4 máu ngoại và luôn có đàn nái hậu bị để thay thế những nái loại thải không đủ tiêu chuẩn Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đạt được như sau:
+ Số lứa/nái/năm: 2,2 lứa/nái/năm
+ Số con/lứa: 10,5 con/lứa
+ Khối lượng lúc xuất chuồng: 15,3 kg/con
+ Tiêu tốn thức ăn cho 1kg lợn giống: 4,5 kg
+ Tiêu tốn thức ăn cho 1kg lợn thịt là: 2,9 - 3,2 kg
Trại đã sử dụng lợn nái Móng Cái làm nền để lai với lợn ngoại tạo con lai F1 và dùng cái F1 làm nái lai với đực ngoại tạo con giống F2 3/4 máu ngoại Tiếp tục dùng cái F2 làm nái lai với đực ngoại tạo con giống F3 7/8 máu ngoại
- Chăn nuôi gia cầm:
Trại chăn nuôi gia cầm vừa là mô hình sản xuất vừa là nơi học tập, nghiên cứu khoa học Năm 2013, thầy cô khoa chăn nuôi thú y cùng với nhà trường đã bỏ vốn đầu tư mới hoàn toàn mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm chất lượng cao phục vụ nghiên cứu khoa học, tạo ra sản phẩm trứng mang thương hiệu khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Hiện nay trại có đàn gà đẻ Ai Cập, tỷ lệ đẻ đạt 83-85 % Với sự quyết tâm của thầy và trò khoa Chăn nuôi Thú y, Nhà trường đang đầu tư trang thiết bị để xây mới trại gia cầm với đầy đủ các hạng mục như: khu chăn nuôi gà đẻ, khu chăn nuôi gà thịt, khu nuôi giữ tập đoàn gia cầm giống gốc, khu chế biến thức ăn, khu sản xuất con giống đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một trại gà tiên tiến
Trang 16- Chăn nuôi cá:
Trại thực hành thực nghiệm có hệ thống ao hồ rộng với diện tích là 8,5
ha, hệ thống cấp tiêu nước được xây dựng hoàn chỉnh, hệ thống bể đẻ, bể
ương ấp trứng cá đã đáp ứng được yêu cầu học tập của sinh viên và phục vụ
sản xuất Trại có đội ngũ công nhân thủy sản lành nghề, có đủ trang thiết bị thủy sản như: máy bơm, lưới, bình oxy Hàng năm trại đã cung cấp gần 25 vạn cá giống và khoảng 3 tấn cá thịt ra thị trường Trại đã tiến hành nuôi thử nghiệm cá Rô Phi đơn tính, cá Trê lai, đặc biệt nuôi thử nghiệm cá Chim Trắng nước ngọt, bước đầu cho kết quả tốt Trại còn mở lớp đào tạo công nhân kỹ thuật nuôi trồng thủy sản
Phòng bệnh định kỳ: trước khi nuôi gia súc, gia cầm, đã được dọn vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, định kỳ tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm của trại Cụ thể, đối với gia súc tiêm phòng vaccine: tụ huyết trùng, dịch
tả, phó thương hàn, LMLM Đối với gia cầm chủng các loại vaccine: Newcastle, Gumboro, Đậu, Cúm, OVO4 Thường xuyên làm vệ sinh và định
kỳ tổng vệ sinh toàn bộ khu vực trại chăn nuôi Phát hiện và điều trị kịp thời những con ốm, xử lý những súc vật chết đúng quy định của thú y
1.1.4 Đánh giá chung
Qua kết quả tìm hiểu và điều tra thực tế tại trại gà của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi rút ra những nhận xét chung như sau:
Trang 171.1.4.1 Thuận lợi
Trại gà là mẫu trang trại chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao Với những
điều kiện thuật lợi về giao thông, nguồn nước, đầu tư trang thiết bị chăn nuôi,
công tác thú y và thị trường tiêu thụ đã giúp trang trại vững vàng phát triển và tồn tại trong giai đoạn kinh tế hiện nay đang còn nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của dịch bệnh, giá cả thị trường có nhiều biến động
Trại luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lạnh đạo khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giỏi, có nhiều kinh nghiệm và các cơ quan ban ngành liên quan
Các thầy, cô giáo trong Ban chủ nhiệm khoa, Ban giám hiệu thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất của trại
Các thầy, cô giáo trẻ phụ trách trại có trình độ, nhiệt tình, năng động sáng tạo, sẵn sàng tiếp nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đặc biệt luôn có sự đoàn kết thống nhất cao
1.1.4.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đang có, trại gà cũng gặp phải những khó khăn:
Do mới được thành lập và nâng cấp nên trại gà không tránh khỏi những khó khăn về vốn đầu tư ban đầu
Do đất đai bạc mầu, nghèo dinh dưỡng và khí hậu có một số tháng trong năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn
Do lưu lượng sinh viên thực tập, thực hành, khách thăm quan nhiều nên năng suất chăn nuôi không được kết quả như mong muốn
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Để hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập, tôi căn cứ vào kết
quả điều tra cơ bản, trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khắn của cở
sở, áp dụng kiến thức đã học ở nhà trường, sách báo vào thực tiễn sản xuất
Trang 18Kết hợp với học hỏi kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật và nhân công tại
Tìm tài liệu để nâng cao kiến thức
Tích cực học hỏi cán bộ kỹ thuật và nhân công của cơ sở
Thường xuyên báo cáo tình hình và xin ý kiến chỉ đạo của giảng viên hướng dẫn
Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy định của Trường, của Khoa và của cở sở
Xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của bản thân để phấn đấu hoàn thành những mục đích đặt ra
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong quá trình thực tập tại trại, được sự giúp đỡ tận tình của thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y cùng sự nỗ lực của bản thân, tôi đã đạt được kết quả như sau:
1.2.3.1 Công tác chăn nuôi
- Công tác chuẩn bị chuồng trại:
Trước khi nhận vịt vào nuôi, chuồng đã được rửa vệ sinh sạch bằng bơm cao áp toàn bộ trần, tường, nền và lối đi xung quanh Sau khi rửa sạch 24h tiến hành phun sát trùng bằng Benkocid, nồng độ 0,5% với liều lượng 1
Trang 19lít/4m2 Sau khi phun sát trùng 2 ngày, phun lại dung dịch formol 2% với liều
1 lít/4m2 Rồi để trống chuồng 15 ngày
Đệm lót được sử dụng là trấu khô, sạch và được phun sát trùng trước
khi đưa vịt vào 1 ngày, độ dày đệm lót tùy thuộc điều kiện thời tiết
Chuồng nuôi khi đưa vịt vào đảm bảo các thông số kỹ thuật: sạch sẽ, khô ráo, thông thoáng, có rèm che, đèn chiếu sáng
- Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng: Chế độ chăm sóc, quy trình phòng bệnh đồng đều như nhau Vịt được nuôi nhốt hoàn toàn Cho ăn 3 lần/ngày vào sáng – trưa – chiều Giai đoạn vịt từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi sử dụng thức ăn hỗn hợp V01, giai đoạn 22 ngày tuổi đến xuất bán sử dụng thức ăn hỗn hợp V06
1.2.3.2 Công tác thú y
- Công tác phòng bệnh cho đàn vịt:
Trong chăn nuôi, công tác phòng dịch, bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi Do vậy, trong quá trình chăn nuôi, tôi thường xuyên quét dọn vệ sinh chuồng, khơi thông cống rãnh Trước khi vào chuồng cho vịt ăn uống phải thay quần áo lao động đã được giặt sạch, đi
ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khỏe và phòng bệnh cho đàn vịt
Tiêm phòng vaccine cho đàn vịt để có miễn dịch chủ động đảm bảo an toàn trước dịch bệnh Dụng cụ chủng vaccine như cốc pha, lọ chủng, kim chủng được sát trùng bằng cách cho vào nồi hấp tiệt trùng rồi để nguội tự nhiên trước khi làm vaccine
- Công tác điều trị bệnh: Chẩn đoán và điều trị bệnh: trong quá trình thí
nghiệm, đàn vịt có mắc bệnh tiêu chảy do E.coli
+ Triệu chứng: trong đàn có vịt kém ăn, lông dựng, niêm mạc nhợt nhạt, phân loãng hoặc sệt
Trang 20+ Chẩn đoán: những triệu chứng trên giống với triệu chứng của bệnh
tiêu chảy do E.coli nên tôi chẩn đoán là vịt bị mắc bệnh tiêu chảy do E.coli
+ Điều trị: tiến hành điều trị cho cả đàn bằng thuốc ampi-coli, liều 1g/4l nước uống hoặc 1g/1,5kg thức ăn Điều trị liên tục trong 3 – 5 ngày thì vịt khỏi Sau đó nghỉ 3-4 ngày rồi tiếp đó dùng liều phòng bằng 1/2 liều điều trị Vịt khỏi hoàn toàn và không bị nhiễm lại
Bảng 1.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất Nội dung công việc ĐVT Số lượng Kết quả (an toàn, khỏi)
Số lượng Tỷ lệ (%)
Vịt CV – Super M2 Con 90 90 100
Viêm gan Con 90 90 100 Dịch tả Con 90 90 100
Tiêu chảy Con 8 8 100
Úm vịt con Con 90 90 100 Sát trùng chuồng trại m2 600 600 100
1.3 Kết luận và đề nghị
1.3.1 Kết luận
Qua thời gian thực tập tại trại gà của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự chỉ đạo, hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Mai Anh Khoa, tôi đã có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn sản xuất, nâng cao kiến thức hiểu biết thêm về nghề nghiệp của mình và bằng sự nỗ lực của bản thân tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra
Trang 21Điều quan trọng hơn là tôi rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích về
chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như:
Biết cách quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng giống vịt siêu thịt,
Biết cách dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị
Tay nghề thực tế được nâng cao rõ rệt
Có niềm tin ở chính mình, giúp tôi yêu nghề hơn, say mê với công việc, không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi ra thực tiễn sản xuất Tôi thấy rằng việc đi cơ sở thực tập là rất cần thiết đối với bản thân cũng như với mỗi sinh viên trước khi ra trường
1.3.2 Đề nghị
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền và đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất, tăng cường tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm ở quanh vùng vành
đai của trung tâm thực hành thực nghiệm Đồng thời vận động, giải thích cho
nhân dân hiểu biết và tự giác thực hiện
Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh, thì mô
hình trang trại cần đầy đủ thiết bị hiện đại và dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ thú
y Mở rộng quy mô trang trại để đạt mục đích vừa là nơi nghiên cứu khoa học vừa là nơi sản xuất kinh doanh cho hiệu quả kinh tế cao Tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa cho sinh viên vào thực tập tốt nghiệp cũng như tiến hành các đề tài nghiên cứu khoa học
Qua thời gian thực tập, tuy kết quả chưa được nhiều nhưng đó là nguồn
động viên rất lớn đối với tôi và tôi sẽ cố gắng, nỗ lực nhiều hơn để tích lũy
thêm nhiều kiến thức và có tay nghề vững vàng
Trang 22Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
“Nghiên cứu xác định tỷ lệ thay thế thích hợp khẩu phần ăn cho vịt siêu thịt bằng giun quế tại trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
2.1 Đặt vấn đề
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nước ta đã có từ lâu đời và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân Nó cung cấp sức kéo, thịt, trứng, sữa… phục vụ cho nhu cầu sống của con người Trong những năm qua, cùng với sự trở mình
đi lên của đất nước, ngành nông nghiệp đã và đang đóng một vai trò quan
trọng trong nền kinh tế nước ta Hiện nay, ngành chăn nuôi không chỉ dừng lại ở chăn nuôi hộ gia đình nhỏ lẻ mà ngày càng phát triển với quy mô lớn, nhiều chủng loại vật nuôi phong phú, đa dạng cả về số lượng và chất lượng
Tuy nhiên, đi theo đó là hai vấn đề lớn là: thiếu nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc, gia cầm và vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Trong chăn nuôi, thức ăn là vấn đề quan trọng, quyết định phần lớn đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi Chi phí cho thức ăn thường chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 70% tổng chi phí chăn nuôi, trong đó giá thành của nhóm thức ăn giàu protein thường cao hơn nhiều so với nhóm thức ăn giàu năng lượng Trong những năm gần đây, tình hình thị trường thức ăn chăn nuôi nước ta có nhiều biến
động, giá thức ăn công nghiệp tăng cao, một phần là do nước ta phải nhập
khẩu nhiều nguồn nguyên liệu thức ăn, đặc biệt là nhóm nguyên liệu thức ăn giàu protein (chiếm 60 – 70%) nên đã làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi Chính vì vậy, việc lựa chọn nguồn nguyên liệu thức ăn, đặc biệt là nguồn thức ăn giàu protein rẻ tiền, dễ tìm nhằm bổ sung, thay thế trong khẩu
Trang 23phần ăn của gia cầm là điều rất có ý nghĩa, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, hạ giá thành sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Giun quế là loài động vật được biết đến để sử dụng làm thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm, thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao với hàm lượng protein thô chiếm đến 70% trọng lượng khô Hơn nữa, giun quế có thể xử lý chất thải hữu cơ, phân gà, phân lợn, phân trâu bò và chuyển hóa chúng thành phân bón hữu cơ có chất lượng và bằng cách đó có thể cải thiện được môi trường sinh thái ở các vùng nông thôn Mặt khác, giun quế là nguồn thức ăn
bổ sung protein dưới dạng động vật, có dinh dưỡng cao, dễ sản xuất tại chỗ
Vì vậy, việc phát triển nghề nuôi giun quế sử dụng làm thức ăn cho gia cầm là hướng đi đúng để phát triển ngành chăn nuôi nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
Xuất phát từ những thực tiễn nói trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu xác định tỷ lệ thay thế thích hợp khẩu phần ăn cho vịt siêu thịt bằng giun quế tại trại gà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” 2.1.2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng giun quế tươi đến khả năng sinh trưởng của đàn vịt siêu thịt
Xác định được mức thay thế giun quế tươi thích hợp vào khẩu phần ăn của vịt siêu thịt
2.1.3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn
2.1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm nguồn tư liệu về tỷ lệ thay thế giun quế tươi vào thức ăn cho vật nuôi Ảnh hưởng của giun quế tươi đến khả năng sinh trưởng của vịt siêu thịt
Trang 242.1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Sử dụng giun quế thay thế vào khẩu phần ăn trong chăn nuôi vịt siêu thịt sẽ giảm được chi phí thức ăn trong chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Mặt khác, mở ra một hướng chăn nuôi mới góp phần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1 Giá trị dinh dưỡng của giun quế
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bảy (2001) [1], giá trị dinh dưỡng của giun quế phơi khô như sau: vật chất khô chiếm 93,62%, protein thô chiếm 59,9%, năng lượng thô chiếm 402,09 kcal/100g, lipit thô chiếm 7,43%, canxi chiếm 0,11%, phot pho chiếm 0,118%
Theo Trần Thị Dân và cs (2006) [4], giá trị dinh dưỡng của giun quế trước khi chế biến như sau: vật chất khô chiếm 19,24%, protein thô chiếm 13,41%, lipit chiếm 1,17%, khoáng tổng số chiếm 1,48% Sau khi phơi, vật chất khô của giun quế là 88,68%, protein là 57,14%, lipit là 4,89%, khoáng tổng số là 7,9% Sau khi rang, vật chất khô của giun quế là 91,69%, protein là 41,07%, lipit là 4,24%, khoáng tổng số chiếm 36,88%
Như vậy, giun quế rất giàu các chất dinh dưỡng, phù hợp để làm thức
ăn chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm
2.2.1.2 Tác dụng của việc sử dụng giun quế trong chăn nuôi
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: Hiếm có loài động vật nào có giá trị dinh dưỡng hấp dẫn như giun quế Giun được sử dụng trực tiếp hoặc phối trộn để làm thức ăn cao cấp nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản
Giun là loại thức ăn giàu đạm, chất lượng cao để nuôi gia súc, gia cầm
và thủy hải sản, đồng thời làm giảm chi phí thức ăn chăn nuôi: Với hàm lượng
Trang 25protein thô chiếm 70% trọng lượng khô, hàm lượng đạm của giun tương
đương với bột cá, thường được dùng trong thức ăn chăn nuôi Giun còn hội đủ
12 loại axit amin, nhiều loại vitamin, chất khoáng cần thiết cho gia súc, gia cầm và thủy sản Đặc biệt giun còn có các loại kích thích sinh trưởng tự nhiên
mà trong bột cá không có Thức ăn chăn nuôi có bột giun sẽ không có mùi tanh và khét của cá và dầu cá, hấp dẫn vật nuôi, lại bảo quản được lâu hơn thức ăn có dùng bột cá (Trại giun quế PHT, 2008) [26]
Hiệp hội nuôi gà của Mỹ cho rằng: giun là phương án hàng đầu cung cấp protein chất lượng cao, rẻ nhất, dễ nhất cho vật nuôi, đặc biệt là gà Thức
ăn trộn 2 – 3 % bột giun để nuôi lợn, tốc độ tăng trọng trên 74,2%; nếu nuôi
gà thì năng suất trứng tăng 17 – 25 %, tốc độ sinh trưởng tăng 56 – 100%
Đặc biệt, nếu nuôi gà bằng thức ăn có giun tươi thì hầu như gà không bị bệnh,
trong khi nếu nuôi bằng thức ăn không có giun, tỷ lệ mắc bệnh cúm gia cầm
16 – 40 % Giun quế còn chứa trên 8 % axit glutamic, nên khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi thì vật nuôi khỏe, chóng lớn, đẻ khỏe, ít bệnh tật và sẽ cho thịt thơm ngon hơn hẳn so với vật nuôi thông thường Vì vậy, ngày càng có nhiều hãng sản xuất thức ăn công nghiệp quan tâm, đưa bột giun trộn vào thức ăn chăn nuôi để tạo sự khác biệt so với thức ăn thông thường, nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm trên thị trường
2.2.1.3 Giới thiệu về giống vịt CV – Super M2
Vịt CV – Super M và CV – Super M2 là hai giống vịt chuyên thịt cao sản nổi tiếng thế giới, chúng được John Powell tạo ra từ năm 1976 từ công ty trách nhiệm hữu hạn Cherry – Valley (vương quốc Anh) Qua nhiều năm nghiên cứu, chọn lọc và cải tạo về tính năng sản xuất cũng như cơ sở di truyền của giống gốc CV – Super M, hãng đã tạo ra giống vịt CV – Super M2,
về năng suất đã vượt xa so với giống vịt CV – Super M và giống vịt CV – Super M1
Trang 26Vịt CV – Super M2 là tổ hợp dòng cline crossing có ưu thế lai cao về sức tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn, khối lượng sống và tỷ lệ thịt sẻ
Vịt CV – Super M2 dòng ông, bà được nhập vào Việt Nam từ tháng 4/1996 và nhập vào xí nghiệp giống gia cầm Cẩm Bình từ năm 1998, trong khuôn khổ phát triển dự án vịt – ngan Qua theo dõi, giống vịt CV – Super M2 rất thích nghi với điều kiện khí hậu cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng ở nước ta Đặc điểm nổi bật của giống CV – Super M2 là có khả năng thích nghi với mọi địa hình và phương thức chăn nuôi, cho hiệu quả kinh tế cao
Vịt CV – Super M2 lúc 1 ngày tuổi có lông màu vàng rơm, mỏ màu vàng cam, khi trưởng thành, nhìn chung cả con trống và con mái đều có lông màu trắng, mỏ và chân màu vàng cam (một số con mái mỏ có các chấm màu xanh rêu), thân dài, ngực nở, chân cao, đầu và cổ to dài, mỏ dài và rộng, dáng
đứng gần song song với mặt đất Đây là ngoại hình đặc trưng cho giống vịt
chuyên thịt cao sản (Lê Sĩ Cương, 2001) [3]
2.2.1.4 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của gia cầm
- Tiêu hóa ở miệng:
Tuyến nước bọt ở vịt kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt Trong nước bọt có chứa một ít men amylaza nên cũng có ít tác dụng đối với tiêu hóa Vịt
có thể tiết 7 - 12 ml nước bọt trong một ngày đêm (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [8]
- Tiêu hóa ở diều:
Độ pH trong diều gia cầm khoảng 4,5 - 5,8 Sau khi ăn 1 - 2 giờ diều co
bóp theo dạng dãy (khoảng 3 - 4 lần co bóp) với khoảng cách 15 - 20 phút, sau khi ăn 5 - 12 giờ là 10 - 30 phút, khi đói 8 - 16 lần/giờ
Trang 27Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi một phân đường chuyển hóa thành đường glucoza
- Tiêu hóa ở dạ dày:
Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ Khối lượng dạ dày tuyến là 3,5 - 6 g Vách dạ dày gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết Dạ dày tiết dịch có chứa axit clohidric, pepsin và musin Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường Thức ăn không được giữ lại lâu ở dạ dày tuyến mà chuyển xuồng dạ dày cơ Ở dạ dày tuyến protein được thủy phân như sau:
Protein + Nước + Pepsin và HCl Abulmoz + Pepton
Dạ dày cơ có cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh
Ở đây thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác
dụng của men dịch dạ dày tuyến, enzyme và vi khuẩn
Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào tá tràng, có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các enzyme phân giải protein và gluxit Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng khả năng nghiền của thành dạ dày
- Tiêu hóa ở ruột:
Dịch ruột lỏng, đục, kiềm tính, pH = 7,42 với độ đặc 1,0076 và chứa các men proteolyse, amonilitic, lypolitic và enterokinaza
Dịch tuyến tụy lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH = 6 - 7,5) Dịch này có chứa men tripsin, carboxy peptidaza, amylaza, mantaza, lipaza
Dịch mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, là dịch lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH = 7,3 - 8,5
Ở ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào hình cốc của màng nhầy tiết ra dịch nhầy Quá trình tiêu hóa ở ruột già phụ thuộc vào
Trang 28enzyme của ruột non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu của ruột già với tốc độ chậm hơn so với ruột non Trong ruột già có hệ vi sinh vật
cư trú, về số lượng và chủng loại giống như dạ cỏ của động vật nhai lại Các
vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở manh tràng, phân giải cellulose, bột
đường và protein Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các
axit béo bay hơi và các axit amin sẽ được hấp thu tại đây
Một số vi khuẩn lại sử dụng một số chất trong ruột già để tổng hợp nên vitamin K, vitamin B12 Trong ruột già còn có quá trình viên phân, tạo phân (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [19]
2.2.1.5 Sinh trưởng và các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm
- Khả năng sinh trưởng của gia cầm:
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là
sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ
cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất mà chủ yếu là protein
Chambers (1990) [29], đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không những khác nhau về tốc
độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Sự tăng trưởng thực
sự khi các tế bào mô cơ có sự tăng thêm về khối lượng, số lượng và kích thước các chiều đo
Trong thực tế nuôi gia súc gia cầm lấy thịt cho thấy, trong giai đoạn
đầu của sự sinh trưởng, thức ăn được dùng tối đa cho sự phát triển của xương,
mô cơ, một phần rất ít dùng lưu trữ trong cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng nguồn chất dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ chất dinh dưỡng để cấu tạo mỡ Đến giai đoạn cuối của
sự sinh trưởng nguồn chất dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ
Trang 29thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ chất dinh dưỡng để cấu tạo mỡ Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất: 42 - 45% khối lượng cơ thể Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm)
Sự sinh trưởng của sinh vật được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho
đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong
thai (giai đoạn trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (giai đoạn ngoài cơ thể mẹ) Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Theo Phùng Đức Tiến (1996) [22], trong quá trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống
Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục vì hai quá trình này diễn ra trên cùng một cơ thể vật nuôi: Phát dục là quá trình thay
đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các chất, chức năng của các bộ
phận của cơ thể, phát dục của cơ thể con vật bắt nguồn từ khi trứng thụ tinh
và trải qua nhiều giai đoạn phức tạp mới đến trưởng thành
Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là g/con hoặc kg/con Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của vịt nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, thức ăn và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm:
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vịt như giống, giới tính, tốc độ mọc lông, khối lượng bộ xương, dinh dưỡng, điều kiện chăn nuôi
Trang 30+ Ảnh hưởng của dòng giống:
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [12] cho biết: sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn
Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào loài, giống và bản thân cá thể Các giống chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống chuyên trứng và kiêm dụng Trong cùng một điều kiện chăn nuôi mỗi giống khác nhau
có khả năng sinh trưởng khác nhau Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [9] cho biết sự khác nhau giữa các dòng, giống gia cầm là rất lớn
Đặc tính di truyền của các dòng, các giống là nhân tố đặc biệt quan
trọng đối với quá trình sinh trưởng và cho thịt của gia cầm Từ các kết quả nghiên cứu giúp cho người chăn nuôi biết được giới hạn sinh trưởng của từng dòng, giống khác nhau để mà áp dụng vào thâm canh hợp lý có hiệu quả cao
+ Ảnh hưởng của tính biệt đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thế: Tính biệt có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Theo tài liệu của Chambers (1990) [29], có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gia cầm Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung,
có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ Một số tác giả khác cho rằng các tính trạng số lượng này được quy định bởi 15 cặp gen, trong đó có ít nhất 1 gen về sinh trưởng liên kết với giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X), vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, con trống nặng hơn con mái 24 – 32 %
Tốc độ sinh trưởng còn phụ thuộc vào tốc độ mọc lông Các kết quả nghiên cứu xác định, trong cùng một giống, cùng tính biệt thì gia cầm có tốc
độ mọc lông nhanh có tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn Thường gia
cầm lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gia cầm chậm lớn
Trang 31+ Ảnh hưởng của độ tuổi và chế độ dinh dưỡng tới khả năng sinh trưởng:
Bùi Đức Lũng và cs (2003) [15], cho biết để phát huy được sinh trưởng cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng hợp lý giữa protein và năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cho chúng còn
được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hoá sinh không mang theo ý nghĩa dinh
dưỡng nhưng có kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt
Như vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt
là phát huy được tiềm năng di truyền về sinh trưởng, thì những vấn đề căn bản
là lập ra được khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầm qua từng giai đoạn Mặt khác, khả năng sinh trưởng còn chịu ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi, thú y phòng bệnh
+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt:
Mật độ nuôi nhốt cũng là yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm Theo Van Horne (1991) [35]: Khi chăn nuôi gia ở mật độ cao thì hàm lượng NH3, CO2 và H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao Vì khi mật độ vịt đông thì lượng bài tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó vịt cần tăng cường trao đổi chất nên lượng nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng nuôi tăng, nên sẽ ảnh hưởng tới việc tăng khối lượng vịt và làm tăng tỷ lệ chết khi mật độ chuồng nuôi quá cao cùng nhiệt độ không khí cao
2.2.1.6 Vai trò của protein đối với gia cầm
Protein là chất dinh dưỡng không thể thay thế và đứng hàng đầu trong các chất dinh dưỡng cần thiết đối với gia cầm, nhờ protein sẵn có trong thức
ăn, gia cầm mới có thể tổng hợp được protein của cơ thể và các sản phẩm,
ngoài ra còn tổng hợp ra các chất có hoạt tính sinh học cao như enzyme và hormone, cùng các hợp chất khác đóng vai trò quan trọng trong các quá trình