1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.

80 454 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NƠNG LÂM HỒNG VĂN TÙNG Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN PSEUDOTSUGA BREIFOLIA W.C CHENG & LK.FU, 1975 TẠI KHU

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN TÙNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN

(PSEUDOTSUGA BREIFOLIA W.C CHENG & LK.FU, 1975) TẠI KHU

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÁT ĐẠI SƠN, TỈNH HÀ GIANG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khóa học : 2010-2014

Thái Nguyên – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN TÙNG

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ LOÀI THIẾT SAM GIẢ LÁ NGẮN

(PSEUDOTSUGA BREIFOLIA W.C CHENG & LK.FU, 1975) TẠI KHU

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BÁT ĐẠI SƠN, TỈNH HÀ GIANG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khóa học : 2010-2014 Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Văn Phúc Khoa L©m nghiÖp - Tr−êng §¹i häc N«ng L©m Th¸i Nguyªn

Thái Nguyên – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Ngày nay việc ứng dung khoa học kỹ thuật vào thực tế ngày càng mở rộng, người cán bộ được đào tạo từ các trường đại học không chỉ giỏi về lý thuyết mà còn phải giỏi về thực hành

Để đáp ứng yêu cầu đào tạo, thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu đối với sinh viên các trường đại học Thực tập tốt nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với sinh viên trước khi ra trường, vừa giúp sinh viên củng

cố lại kiến thức lý thuyết vận dụng nó vào thực tiễn sản xuất – kinh doanh Vừa tham gia công tác nghiên cứu khoa học và tích lũy kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công việc công tác sau này Được sự đồng ý của khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”

Để hoàn thành đề tài này tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy

cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp và các bạn, đặc biệt là thấy giáo hướng dẫn ThS Lê Văn Phúc, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 5 năm 2014

Hoàng Văn Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2.Mục đích 2

1.3.Mục tiêu 2

1.4.Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 9

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 18

2.3.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên rừng 18

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 27

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu là: 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.3.1 Đặc điểm sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 27

3.3.2 Đặc điểm về thảm thực vật nơi có loài Thiết sam giả phân bố 27

3.3.3 Đặc điểm cấu trúc độ tàn che 28

3.3.4 Đặc điểm phân bố theo cấu trúc 28

Trang 5

3.3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thiết sam giả lá

ngắn 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp luận 28

3.4.2 Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn ở địa phương 28

3.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp 28

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Đặc điểm sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố 36

4.1.1 Đặc điểm địa hình 36

4.1.2 Đặc điểm đất đai 39

4.1.3 Đặc điểm về khí hậu 40

4.2 Đặc điểm thảm thực vật nơi Thiết sam giả lá ngắn phân bố 42

4.2.1 Đặc điểm cấu trúc về tổ thành tầng cây cao 42

4.2.2 Đặc điểm lớp cây tái sinh 47

4.3 Đặc điểm cấu trúc độ tàn che và che phủ 52

4.3.1 Cấu trúc độ tàn che tầng cây cao 52

Bảng 4.8: Độ tàn che tầng cây cao 53

4.3.2 Cấu trúc độ che phủ của cây bụi thảm tươi 53

4.3.3 Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi 55

4.4 Đặc điểm phân bố theo cấu trúc 55

4.4.1 Phân bố số cây theo cấp kính của loài Thiết sam giả lá ngắn 56

4.4.2 Phân bố số cây theo cấp chiều cao 58

4.5 Đề xuất một số giải pháp phát triển và bảo tồn loài thiết sam giả lá ngắn 60

4.5.1 Quy hoạch đất đai hợp lý 60

4.5.2 Bảo vệ và khai thác hợp lý 61

4.5.3 Tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức người dân 61

4.5.4 Giải pháp nâng cao chất lượng cây tái sinh 62

Trang 6

4.5.5 Hợp tác trong bảo tồn 62

4.5.6 Chính sách của nhà nước 63

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

5.1 Kết luận 64

5.2 Kiến nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp 21

Bảng 2.2 Trữ lượng các loại rừng 22

Bảng 2.3: Dân số trong Khu bảo tồn 24

Bảng 4.1: Số lượng cây Thiết sam giả lá ngắn xuất hiện theo độ cao và độ dốc 38

Bảng 4.2: Đặc điểm đất nơi loài Thiết sam gải lá ngắn phân bố 40

Bảng 4.3: Mật độ, tổ thành loài cây đi kèm với Thiết sam giả lá ngắn tại vị trí đỉnh núi 43

Bảng 4.4: Mật độ, tổ thành loài cây đi kèm với Thiết sam giả lá ngắn tại vị trí sườn 45

Bảng 4.5: Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí đỉnh núi 48

Bảng 4.6: Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí sườn 49

Bảng 4.7: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 51

Bảng 4.8: Độ tàn che tầng cây cao 53

Bảng 4.9: Độ che phủ cây bụi, thảm tươi 54

Bảng 4.10: Phân bố số cây theo cấp kính của thiết sam giả lá ngắn 56

Bảng 4.11: Phân bố số cây theo chiều cao của Thiết sam giả lá ngắn 58

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Thân cây Thiết sam giả lá ngắn 15

Hình 2.2 Cành Thiết sam giả lá ngắn 16

Hình 2.3: Mặt trên lá Thiết sam giả lá ngắn 17

Hình 2.4: Mặt dưới lá Thiết sam giả lá ngắn 17

Hình 3.1: Xử lý các cây trên đường ranh giới ô đo đếm 30

Hình 4.1: Địa hình Thiết sam giả lá ngắn phân bố 36

Hình 4.2: Cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh 52

Hình 4.3: Đồ thị phân bố số cây theo cấp kính 57

Hình 4.4: Đồ thị phân bố số cây chiều cao 59

Trang 9

UBND : Ủy ban nhân dân

IUCN : Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài

nguyên thiên nhiên

ÔTC : Ô tiêu chuẩn

Trang 10

to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng

ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng

Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giời có 11 triệu

ha rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8 triệu ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng Năm 1943, độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26% Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy [7]

Từ khi Chính phủ có chỉ thị 286/TTg (02/05/1997) về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cấm khai thác rừng tự nhiên, tốc độ phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn Năm 2003 tổng diện tích rừng nước đã là 12 triệu ha, tương đương với độ che phủ là 36,1%, trong đó rừng

tự nhiên có 10 triệu ha và rừng trồng có 2 triệu ha Để đạt được kết quả như trên, Chính phủ đã giao quyền sử dụng đất rừng cho các tổ chức, các cá nhân

và hộ gia đình trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ Những chính sách này đã góp phần tích cực trong việc làm tăng diện tích rừng, giảm diện tích đất trống đồi trọc và rừng đã dần phục hồi trở lại Có được kết quả đó là do những cơ chế chính sách trên của Chính phủ đã bước đầu tạo được sự chuyển biến theo

Trang 11

hướng xã hội hoá nghề rừng, làm cho rừng có chủ và người dân đã chủ động tham gia quản lý bảo vệ phát triển rừng

Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo Quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn là nơi lưu giữ những nguồn gen động thực vật có giá trị, trong đó có loài Thiết sam giả lá ngắn

Loài Thiết sam giả lá ngắn được đề nghị loài bổ sung vào danh lục các loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006 nghiêm cấm khai thác và sử dụng với mục đích thương mại Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN[2]

Để tìm hiểu về hiện trạng phân bố và một số đặc điểm lâm học của loài

này tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang”

Nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần thiết thực vào việc cung cấp những thông tin cơ bản về đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, của loài,

từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn và phát triển loài không những ở khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang mà còn áp dụng cho

những nơi có điều kiện tự nhiên tương tự

1.2 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn từ đó

đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ loài Thiết sam giả lá ngắn và bảo vệ nguồn gen các loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong Khu bảo tồn

1.3 Mục tiêu

Xác định hiện trạng phân bố tự nhiên của loài Thiết sam giả lá ngắn ở

Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang

Xác định một số đặc điểm về sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn

phân bố

Trang 12

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Quá trình thực hiện đề tài giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức và có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế Sinh viên được làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài

cụ thể Sinh viên có điều kiện học hỏi những kiến thức thực tiễn từ cán bộ quản lý và chuyên môn tại địa phương nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho mình để thực hiện tốt công việc sau này

Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên tiếp tục nghiên cứu khoa học chuyên sâu về loài Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm phân bố của loài là cơ sở giúp các nhà quản lý Khu bảo tồn và các nhà khoa học xây dựng kế hoạch bảo tồn loài cây này trên địa bàn có hiệu quả và hợp lý

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Việt Nam có 3/4 diện tích là đồi núi và đa phần dân số sống ở nông thôn, canh tác nông nghiệp, như vậy cũng có thể nói đa phần sống trong và gần rừng Điều kiện kinh tế Việt Nam còn khó khăn cho nên đời sống của nhân dân phụ thuộc nhiều vào rừng, họ khai thác các sản phẩm từ rừng phục

vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của họ Trong một thời gian dài họ tác động mạnh vào rừng khiến cho diện tích rừng Việt Nam suy giảm rất nhiều, các loài động thực vật có giá trị ngày càng trở nên quý hiếm, và có nguy cơ tuyệt chủng Nhất với những loài có giới hạn phân bố hẹp, một trong nhưng

loài như thế có loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng

& L.K.Fu, 1975), hiện số lượng của loài này còn ít mà giới hạn phân bố của chúng lại rất hẹp chính vì thế cần phải có ngay những biện pháp để bảo tồn để bảo vệ loài khỏi nguy cơ tuyệt chủng

Dựa theo tiêu chuẩn đánh giá các loài vật của International Union for Conservation of Nature, chính phủ Việt Nam đã công bố các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài trong sách đỏ Việt Nam Các loài được xếp vào 9 bậc

theo tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), khích thước quần thể (population zize), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation)

+ Tuyệt chủng (EX): Một loài hoặc dưới loài được coi là tuyệt chủng

khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết

+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW): Một loài hoặc dưới loài được

coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh

Trang 14

đã biết và sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa, năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử đều không ghi nhận được cá thể nào

+ Cực kỳ nguy cấp (CR): Một loài hoặc nòi được coi là cực kì nguy

cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong tương lai rất gần

+ Nguy cấp (EN): Một loài bị coi là nguy cấp khi nó phải đối mặt với

nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng thấp hơn mức cực kỳ nguy cấp

+ Sắp nguy cấp (VU): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài

hoặc nòi bị đánh giá là sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc cực kì nguy cấp (CR) và nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong tương lai không xa

+ Sắp bị đe dọa (NT): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật Một loài

hoặc nòi bị đánh giá sắp bị đe dọa khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa

+ Ít quan tâm (LC): Least Concern

+ Thiếu dữ liệu (DD): Data Deficient

+ Chưa được đánh giá (NE): Not Evaluated

Năm 2000, Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được thành lập theo quyết định số 2601/QĐ-UB ngày 06/10/2000 của UBND tỉnh Hà Giang, tạo

cơ sở cho việc bảo tồn các loài vật quý hiếm trong đó có loài Thiết sam giả lá

ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu,1975)

2.2 Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Đặc điểm cấu trúc phân bố rừngtự nhiên đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới tiến hành nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở khoa học và lí luận

phục vụ cho công tác kinh doanh rừng

Trang 15

2.2.1.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện các mối quan hệ đấu tranh sinh tồn và thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái với nhau và với môi trường Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi

Cơ sở sinh thái về cấu rừng

Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3 dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc thời gian Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được P W Richards (1952), G N Baur (1964), E P Odum (1971)… tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô

tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng Công trình nghiên

cứu của R Catinot (1965) [3], J Plaudy (1987) [13] đã biểu diễn cấu trúc

hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến

Mô tả về hình thái cấu trúc rừng

Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều thẳng đứng Phương pháp

Trang 16

vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do P.W Richards (1952) [25] đề xướng và

sử dụng lần đầu tiên ở Guam đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để

nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược

điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài cây gỗ trong diện tích có hạn Cusen (1953) đã khắc phục bằng cách vẽ một

số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều P W Richards (1959, 1968, 1970) [26] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn hợp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản Cũng theo tác giả thì rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ

ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng suất thảm thực vật Ngay từ đầu thế kỷ

19, Humboldt và Grinsebach đã sử dụng dạng sinh trưởng của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật Phương pháp của Humboldt và Grinsebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1094; Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển Raunkiaer (1934) đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong quần xã có các dạng sống khác nhau) Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của Humboldt và Grinsebach Trong các loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa

Trang 17

phản ánh được sự phân tầng của rừng tự nhiên nhiệt đới Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong bảo vệ rừng

2.2.1.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng

Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930 ; Richards, 1952 ; Baur G.N, 1964 ; Rollet, 1969) Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít được quan tâm nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng ít nhiều đã bị biến đổi J.Van Steenis (1956) [27] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa các cách xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Nội

Trang 18

dung hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được G N Baur (1976) [1] tổng kết trong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng

Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng

Đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc điểm cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên, rừng trồng nhằm phục vụ cho việc kinh doanh rừng lâu dài và ổn định, nhiều tác giả đã đi sâu vào mô phỏng các cấu trúc rừng từ đơn giản đến phức tạp bằng các mô hình Trần Ngũ Phương (1970) [10] đã đề cập tới một hệ thống phân loại, trong đó rất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế rừng Thái Văn Trừng (1978) [18] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết Vũ Đình Phương (1987) [13] đã đưa ra phương pháp phân chia rừng phục vụ cho công tác điều chế với phân chia theo lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong qúa trình phân chia Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000) [20] dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên

Trang 19

yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt Nam thành

5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần hệ) Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973) Khi nghiên cứu cấu trúc, việc mô hình hoá quy luật phân bố số cây theo đường kính và theo chiều cao được chú ý nhiều hơn Đây là quy luật cơ bản nhất trong các quy luật kết cấu lâm phần Biết được quy luật phân bố, có thể xác định được số cây tương ứng từng cỡ kính hay từng cỡ chiều cao, làm cơ sở xác định trữ lượng lâm phần Nguyễn Văn Trương (1983) [21] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987) [13] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng có sự phân tầng rõ rệt có nghĩa là khi rừng đã phát triển ổn định mới sử dụng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng cây Các tác giả Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (2001) [14] thử nghiệm phương pháp nghiên cứu một số quy luật cấu trúc, sinh trưởng phục

vụ điều chế rừng lá rộng, hỗn loại thường xanh ở Kon Hà Nừng - Gia Lai cho rằng đa số loài cây có cấu trúc đường kính và chiều cao giống với cấu trúc tương ứng của lâm phần, đồng thời cấu trúc của loài cũng có những biến động Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng thì việc mô hình hoá cấu trúc đường kính (D1.3) được nhiều người quan tâm nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của các tác giả như Đồng Sĩ Hiền (1974) [4] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam Đặng Kim

Trang 20

Vui (2002) [24], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy

để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1 -2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp nhất 75 - 80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài đều cho rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên cứu cũng như trong sản xuất Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm

2.2.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng

Vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy hoạch rừng tiến hành nghiên cứu từ những năm 60 (thế kỷ XX) tại địa bàn một số tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình các kết quả nghiên cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [18] tổng kết và kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều,

số cây mạ có h < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thước khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ

Trang 21

cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên

Trần Ngũ Phương (1970) [11] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”

Nguyễn Văn Trương (1983) [21] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng Phùng Ngọc Lan (1984) [8] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm

Phạm Đình Tam (2001) [16] đã làm sáng tỏ hiện tượng tái sinh lỗ trống

ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó tác giả đề xuất phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn)

Vũ Tiến Hinh (1991) [5] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ

số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan

Trang 22

chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số

tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy

Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn tại Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh, Trần Cẩm Tú (1998) [18] cho rằng áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu sử dụng tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật tác động phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng nghĩa với tái sinh rừng và phải chú trọng điều tiết tầng tán của rừng; đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên toàn

bộ diện tích rừng; trước khi khai thác, cần thực hiện các biện pháp mở tán rừng, chặt gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khai thác phải tiến hành dọn vệ sinh rừng

Thái Văn Trừng (2000) [20], khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, đã kết luận: Ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như: Đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì

tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường

Trần Ngũ Phương (2000) [12], khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và

sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này

Trang 23

sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”

2.2.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc và phân bố cây là kim quý hiếm

Nghiên cứu về phân bố cây là kim

Gần đây, loài Pơ Mu cũng được nghiên cứu tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, được Bùi Thị Huyền (2010) [7] khẳng định: Cây Pơ Mu phân bố rải rác ở độ cao trên 800 m so mực nước biển và thường mọc cùng với các loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Vù hương (Cinnamomum balansae),

Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia), Chẹo tía (Engelhardtia chrysolepis), Phân mã (Archidendron balasae) và Sơn ta (Toxicodendron succedanea) Loài Pơ Mu tái sinh kém ngoài tự nhiên, mật độ tái sinh rất thấp, chỉ với 178 cây/ ha Tại Khu bao tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Phạm Tùng Lâm (2012) [10] khẳng định Thông bắc đỏ phân bố tự nhiên từ độ cao 1000 – 1500m Chúng thường phân bố trong các kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm

á nhiệt đới và kiểu rừng ín thường xanh trên núi đá vôi Loài Bách vàng phân

bố trong rừng nhiệt đới gió mùa vùng núi đá vôi Gặp chủ yếu ở trạng thái rừng IIIA1 Thường mọc trên các đỉnh núi có độ cao khoảng 1200 – 1400m

so với mực nước biển, độ cao phân bố nhiều nhất ở độ cao ở khoảng 1310 – 1350m Loài Thông bắc đỏ phân bố trong rừng nhiệt đới gió mùa vùng núi đá vôi Gặp chủ yếu ở trạng thái rừng IIIA1 Thường mọc trên các đỉnh núi có độ cao khoảng 1200 – 1330m Hà Thanh Tiến (2012) [22]

Tô Văn Thảo (2003) [23] khi nghiên cứu loài Bách vàng ở Khu bao tồn Bát Đại Sơn, đã kết luận Bách vàng phân bố rải rác, tự nhiên trên một số đỉnh hoặc gần đỉnh núi thuộc Khu bảo tồn Bát Đại sơn ở độ cao 1050m đến 1330m

so với mặt nước biển Tổng số cá thể Bách vàng phát hiện là 347 cá thể, trong

đó có 41 cá thể tái sinh, có một đỉnh phân bố khá tập trung với 75 cá thể trưởng thành, đó là đỉnh Háng Tống Chống (H’mông) thuộc xã Cán Tỷ độ cao

Trang 24

1160 m so với mực nước biển, tọa độ địa lý (230 05’ 805 độ vĩ bắc, 105001’054 độ kinh đông)

Nghiên cứu về loài Thiết sam giả lá ngắn

Đặc điểm hình thái cây Thiết sam giả lá ngắn Đặc điểm rễ, thân, cành, lá

Đặc điểm về rễ: Cây Thiết sam giả lá ngắn phân bố trên núi đá vôi, về

cơ bản không mọc trên đất mà mọc trên tầng thảm mục Do đó rễ cây Thiết sam giả lá ngắn thuộc hệ rễ cọc gồm một rễ lớn ăn sâu vào các kẽ đá, sau đó phân nhánh thành nhiều rễ nhỏ hơn Do sống trên núi đá vôi nên các rễ phải len lỏi vào các kẽ đá vì thế rễ cọc chưa chắc phải là rễ có đường kính lớn nhất

- Đặc điểm thân cây: Đường kính thân của cây Thiết sam giả lá ngắn có thể lên đến khoảng 40 – 50 cm, do đặc điểm sống trên núi cao nên chiều cao thân cây hạn chế chỉ khoảng 20 m trở xuống Thân tròn, thẳng không có bạnh

vè, vỏ màu nâu xám, nứt dọc, gỗ lõi màu nâu đỏ, gỗ giác màu nâu nhạt, thẳng thớ, có mùi thơm

Hình 2.1 Thân cây Thiết sam giả lá ngắn

Trang 25

Đặc điểm cành: Cành mọc nghiêng xung quanh thân, trên cành chính

mọc ra các cành phụ so le nhau, cành phụ ban đầu chứa lá non, sau khi già phát triển thành cành, mới nhìn thì tưởng đấy là cuống lá nhưng thực sự đó là cành phụ cấp hai

Hình 2.2 Cành Thiết sam giả lá ngắn

Đặc điểm về lá:Lá trưởng thành xếp hình xoắn ốc, thành 2 hàng, dạng dải với đầu tù, gân giữa lõm vào ở mặt trên, 2 dải lỗ khí phân biệt ở mặt dưới, xoắn ở gốc Cây non lá có thể dài tới 5,5cm, rộng 5mm, dạng dải hoặc hơi cong lưỡi liềm với đầu nhọn, hai dải lỗ khí phân biệt

Trang 26

Hình 2.3: Mặt trên lá Thiết sam

giả lá ngắn

Hình 2.4: Mặt dưới lá Thiết sam

giả lá ngắn

Đặc điểm hình thái hoa và quả

Nón cái mọc đơn độc trên các chồi bên ngắn, rủ xuống, hình trứng, dài tới 6 cm và đường kính 5 cm; vảy hoá gỗ, rộng, tròn; vảy kèm thò ra dưới vảy nón, phản quang khi chín, chia thành 3 thuỳ, các thuỳ bên ngắn hơn thuỳ giữa; nón cái chín trong 1 năm, tách và giải phóng hạt khi còn trên cây, không rụng Hạt hình trứng ba cạnh, cánh màu nâu đỏ Nón cái già còn đính trên cành luôn ở tư thế mọc chúc xuống

Trang 27

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên rừng

2.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý

Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn nằm ở trong vùng biên giới phía bắc tỉnh Hà Giang với 04 xã Trong đó có 02 là xã biên giới và 02 xã là xã nội địa Trung tâm trụ sở ban quản lý dự án nằm ở trung tâm xã Bát Đại Sơn huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang

+ Phía bắc là đường biên giới với nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa + Phía đông bắc là phần còn lại của xã Bát Đại Sơn và phía đông lấy dòng sông Miện làm ranh giới

+ Phía nam giáp với xã Đông Hà và thị trấn Tam Sơn huyện Quản Bạ + Phía tây là đường ô tô đi qua trung tâm xã Thanh Vân

Địa hình – địa chất – thổ nhưỡng

Địa hình thuộc vùng núi đá vôi, phần lớn là núi cao trên 1000m và thấp dần theo hướng tây bắc đông nam

+ Địa hình hiểm trở với nhiều dãy núi đá vôi hình răng cưa chia cắt bởi dông khe phức tạp

+ Đỉnh cao nhất cao 1500m so với mực nước biển

Địa chất: Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn có lịch sử kiến tạo vào

kỷ đệ tam nên vật chất chính là đá vôi, các loại đá mẹ khác như: đá sét, đá sa thạch phân bố rải rác trong khu vực với diện tích nhỏ Theo kết quả nghiên cứu có 5 loại đất chính đó là:

+ Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá sa thạch với tầng đất dày kết cấu rời rạc chiếm 56 ha

+ Đất feralit màu xám phát triển trên đá sét tầng đất trung bình, kết cấu hạt mịn phân bố ở phía bắc xã Bát Đại Sơn với diện tích 803 ha

Trang 28

+ Đất feralit mùn trên núi trung bình, thường phân bố ở độ cao 700m (thuộc phía bắc xã Bát Đại Sơn ) loại này còn chất mùn, kết cấu mịn, và giữ

ẩm, phát triển trên núi đá vôi với diện tích 319 ha và phát triển trên đá sét với diện tích 610 ha

+ Đất feralit màu nâu vàng trên sơn nguyên, phát triển trên đá sét với diện tích 1.759 ha phân bố ở trung tâm xã Thanh Vân tầng đất trung bình, thường ở các thung lũng rất tiện lợi cho các loại cây trồng nông nhiệp và cây công nghiệp

+ Nhóm đất thung lũng là sản phẩm chủ yếu của đá vôi phân bố dọc theo bờ sông Miện thuộc xã Cán Tỷ với diện tích 3.095 ha Độ dày tầng đất trung bình đến sâu, diện tích chủ yếu dùng cho sản xuất nông nghiệp

Khí hậu – thủy văn

* Khí hậu

Theo kế hoạch quản lý điều hành giai đoạn 2010 – 2014 của Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa thuộc khí hậu cao bắc Việt Nam, hàng năm

có 2 mùa rõ rệt mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Khí hậu khu vực có những đặc điểm sau:

Chế độ ẩm: lượng mưa trung bình năm từ 2000 đến 2400 mm tập trung vào tháng 4 đến tháng 10 chiếm 80 – 90 % tổng lượng mưa cả năm Độ ẩm trung bình là 82% cao nhất là 89% thấp nhất là 68%

Chế độ nhiệt: + Nhiệt độ trung bình năm là 150c

+ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 10c

+ Nhiệt độ tối cao là 350c

Chế độ gió: khu vực chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính là:

Trang 29

+ Gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô hanh, có kèm theo sương muối

+ Gió mùa đông nam từ tháng 4 đến tháng 9, thời tiết nóng ẩm khô kéo dài

2.3.1.2 Hiện trạng tài nguyên rừng

Về diện tích các loại đất đai

Theo kết quả điều tra hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2007 của Khu bảo tồn có tổng diện tích đất rừng tự nhiên là 5.534,8 ha Trong đó, diện tích đất có rừng là 4.239,4 ha chiếm 93,6% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp Cụ thể được thể hiện trong bảng sau đây:

Trang 30

Bảng 2.1: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp

Hạng mục

Diện tích

(ha)

Tỷ lệ (%) so với tổng diện tích đất lâm nghiệp

(Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tháng 2/2014)

Nhận xét về diện tích các loại đất đai:

+ Rừng Khu bảo tồn có độ che phủ khá cao 93,6 % Trong đó rừng tự nhiên chiếm 93,6% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp Diện tích đất chưa

có rừng chiếm tỷ lệ không đáng kể

+ Đất chưa có rừng chiếm 6,4% trong đó có có đất trống cỏ Ia, đất cây bụi Ib và đất trống cây rải rác Ic

Về trữ lượng các loại rừng

Trang 31

+ Rừng trên núi đá vôi còn khá tốt, giàu trữ lượng

+ Rừng phục hồi tự nhiên trữ lượng bình quân/ha còn tương đối cao

Về đa dạng sinh học:

* Đặc điểm khu hệ thực vật rừng:

Hệ thực vật rừng Bát Đại Sơn là nơi giao thoa giữa các luồng thực vật khác nhau và có các kiểu sinh thái thảm thực vật rừng

+ Kiểu 1: Thảm thực vật trên núi đá vôi:

Đây là kiểu rừng trên núi đá vôi, kiểu rừng này được chia làm 2 kiểu phụ:

Kiểu rừng trên núi đá vôi có cấu trúc nguyên sinh cả 5 tầng rừng trong

đó có 3 tầng cây gỗ (tầng vượt trội, tầng ưu thế sinh thái và tầng cây nhỏ), dưới tán rừng có nhiều cây bụi và tầng cỏ quyết, kiểu rừng này có mật độ từ

200 - 300 cây/ ha Đường kính bình quân từ 20 - 40 cm, ở tầng vượt trội có cây cao 20 - 30 m gồm những cây như: Trai, nghiến, trám, kháo Loại rừng này nếu được bảo vệ tốt sẽ giữ được nguyên sinh của kiểu rừng núi đá vôi và được lớp thảm thực vật còn lại

+ Kiểu 2: Thảm thực vật trên núi đất:

Trang 32

Kiểu rừng này thuộc rừng cây lá rộng cây thường xanh và một số loài cây lá kim, kiểu rừng này do bị tác động nhiều dẫn đến mật độ và trữ lượng bị giảm trở thành rừng gỗ rải rác và nay đang được phục hồi

* Thành phần thực vật:

Theo kết quả điều tra ban đầu và các đoàn chuyên gia thám hiểm Khu bảo tồn Bát Đại Sơn cho thấy thành phần thực vật trong khu vực khá phong phú, có tới 361 loài thuộc 103 họ và 249 chi, ngoài ra Khu bảo tồn còn một số cây có giá trị dược liệu như: Kim ngân, Cốt toái bổ, Thảo quả, Đỗ trọng, Quế Và những loài cây cảnh như phong lan tím Đặc biệt Khu bảo tồn Bát Đại Sơn bước đầu thống kê được 19 loài quý hiếm cần được bảo vệ Năm

2002, Nguyễn Tiến Hiệp và Phan Kế Lộc: Viện sinh thái tài nguyên sinh vật

Hà Nội còn phát hiện Khu bảo tồn còn một số loài cây quý hiếm chỉ có ở Khu

bảo tồn Bát Đại Sơn, đó là cây Bách Vàng (Xamthocyparir VietNamenis Fason & Hiep) và Bách xanh (Calocedrus macrolepis) hai loài cây này đang

nguy cơ tuyệt chủng, đây là một loài cây quý hiếm cần được bảo vệ

vệ, phát triển nghiên cứu khoa học, trong tương lai nhất định số cá thể sẽ tăng dần lên và còn phát hiện các loài quý hiếm khác

Trang 33

2.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

2.3.2.1 Dân số và lao động

Dân số:

Tổng dân số (Theo kết quả điều tra năm 2010) Khu bảo tồn là 8.822 người với 1.784 hộ thuộc địa phận hành chính 4 xã với 18 thôn bản được thể hiện như sau:

Bảng 2.3: Dân số trong Khu bảo tồn

(Khu bảo tồn Bát Đại Sơn , 2014)

+ Do tỷ lệ tăng số cao dẫn đến trình độ dân trí thấp, đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng gặp khó khăn

Lao động

Tổng số lao động trong độ tuổi là: 3.605 người chiếm 46% tổng dân số khu vực

Thành phần dân tộc: Khu bảo tồn Bát Đại Sơn có 6 dân tộc:

+ Dân tộc H’mông có 7.193 người chiếm 81.5% tổng dân số

+ Dân tộc Dao có 926 người chiếm 10,5% tổng dân số

+ Dân tày Tày và Nùng có 619 người chiếm 7,0% tổng dân số

+ Dân tộc khác có 84 người chiếm 1% tổng dân số

Nhìn chung các dân tộc trên sống phân bố rải rác trong vùng thành các thôn, xóm bên cạnh trục đường giao thông, các thung lũng bằng phẳng, tập

Trang 34

quán canh tác chủ yếu là sản xuất canh tác nương rẫy và chăn nuôi gia súc, gia cầm

2.3.2.2 Tình hình sản xuất

Đánh giá chung :

Về trồng trọt: Canh tác nông nghiệp là ngành sản xuất chính của người dân trong Khu bảo tồn Trong đó trồng là chủ yếu, do địa hình dốc và thiếu nước nên ruộng nương chỉ sản xuất một vụ Trình độ thâm canh trong sản xuất nông nghiệp còn thấp chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên Vì nhưng lý do trên nên đời sống của nhân dân trong Khu bảo tồn vẫn còn gặp nhiều khó khăn

Về chăn nuôi: Trong nhưng năm gần đây phân lớn thảm cỏ bị thu hẹp Tuy nhiên người dân đã biết trồng cỏ để phát triển chăn nuôi gia súc, nên đàn gia súc vấn phát triển ổn định và có chiều hướng tăng lên về số lượng Các loại gia cầm cung có chiều hướng tăng nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công tác thú y được coi trọng Do vậy thu nhập trong chăn nuôi của nhân dân trong Khu bảo tồn tương đối ổn định

2.3.2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội

Về giao thông: Trên địa bàn của Khu bảo tồn đều có đường nhựa dẫn đến trung tâm xã, trong 18 thôn đều có đường giao thông liên thôn nhưng là đường đất nên mùa mưa đi lại rất khó khăn Đặc biệt các tuyến đường từ thôn đến các chân lô trồng rừng mùa mưa không đi lại được

Về điện lưới: Hầu hết các xã trong Khu bảo tồn đều đã được sử dụng điện lưới quốc gia

Về y tế: Trong những năm qua nhờ sự quan tâm đầu tư của nhà nước trong các dự án, và sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước mạng lưới y tế đã phủ khắp thôn, xóm sức khỏe của người dân ngày càng được chăm sóc chu đáo Trong vùng có 04 trạm cơ xở y tế xã

Trang 35

Về giáo dục: Các trường lớp, phòng học đã được xây dựng kiên cố Các

xã đã có trường mầm non, trường cấp 1, trường cấp 2, các xã còn có các trường bán trú cho các em học sinh ở xa trường đến ở

2.3.2.4 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội

Nhìn chung tình hình sản xuất của nhân dân trong khu vục Khu bảo tồn

là thuần nông, thu nhập từ nông nghiệp chiếm trên 85% số hộ thu nhập từ các ngành nghề tiểu thủ, công nghiệp và dịch vụ là rất thấp

Bên cạnh những thuận lợi về đất đai, khí hậu, đồng thời được sự quan tâm của các cấp chính quyền, thông qua chương trình 135, trương trình 661, nhưng năm gần đây đời sống của người dân từng bước được cải thiện Tuy nhiên bên cạnh đấy vẫn còn rất nhiều khó khăn như: địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn, quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp còn quá ít Mặt khác nhiều hộ gia đình thiếu vốn sản xuất, khả năng đầu tư thấp, tiếp thu khoa học kỹ thuật chậm, Chính vì vậy để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân, một trong những nhiệm vụ quan trọng là tích cực hỗ trợ

kỹ thuật, vốn cho người dân có điều kiện thâm canh, hướng cho người dân biết kết hợp sản xuất nông lâm nghiệp để vừa nâng cao thu nhập, vừa đảm bảo được tính ổn định sinh thái môi trường khu vực, tiến tới phát triển bền vững

Trang 36

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu là:

Nghiên cứu đặc điểm phân bố của cây Thiết sam giả lá ngắn

(Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975)

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu là Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà

Giang (tập trung vào các xã có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố): Gồm 2 xã

là xã Cán tỷ nằm trong địa phận Khu bảo tồn, và xã Lùng Tám vùng đệm Khu bao tồn

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 đến ngày 18 tháng 5 năm 2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đặc điểm sinh thái nơi có loài Thiết sam giả lá ngắn phân bố

3.3.2.Đặc điểm về thảm thực vật nơi có loài Thiết sam giả phân bố

+ Đặc điểm cấu trúc về tổ thành, mật độ cây gỗ

Trang 37

+ Đặc điểm cấu trúc và tổ thành cây tái sinh

+ Đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi

3.3.3.Đặc điểm cấu trúc độ tàn che

+ Cấu trúc độ tàn che tầng cây cao

+ Cấu trúc độ che phủ cây bụi, thảm tươi

3.3.4 Đặc điểm phân bố theo cấu trúc

+ Phân bố số cây theo đường kính

+Phân bố số cây theo chiều cao

3.3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thiết sam giả lá ngắn

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Công tác chuẩn bị

Giấy, bút bảng hỏi, địa bàn GPS, phấn, dây nilon….và liên hệ với chính

quyền ở địa điểm thực tập

3.4.1 Phương pháp luận

khóa luận đã sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn đại diện ở khu vực nghiên cứu, số liệu đảm bảo tính đại diện, khách quan và chính xác khóa luận sử dụng các phương pháp phân tích số liệu truyền thống, phương

pháp kế thừa các tư liệu, số liệu có liên quan

3.4.2 Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn ở địa phương

Thu thập các số liệu có sẵn: Bản đồ, các tài liệu nghiên cứu về thực vật,

hệ sinh thái rừng… tại Khu bảo tồn và các nghiên cứu có liên quan từ trước tới nay

3.4.3 Phương pháp ngoại nghiệp

3.4.3.2 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn

Đề tài tiến tiến hành lập 30 ô tiêu chuẩn OTC và sử dụng phương pháp điều tra OTC ngẫu nhiên

Trang 38

+ Trong OTC, lập 5 ô dạng bản 25m2 (5 m x 5m) theo đường chéo của OTC

b Điều tra các chỉ tiêu trong ô tiêu chuẩn

- Đo tất cả các cây gỗ có D1,3 ≥ 6cm, các chỉ tiêu gồm:

(1) Đo đường kính:

•Đo đường kính các cây gỗ tại vị trí chiều cao ngang ngực (1,3 m)

•Trường hợp cây hai thân: Nếu chia thân từ vị trí 1,3m trở xuống thì coi như hai cây, còn nếu chia thân trên 1,3m thì coi như một cây

•Khi đo đường kính thân cây bằng thước kẹp kính cần đo theo 2 chiều vuông góc (theo hướng Đông Tây và Bắc Nam) rồi lấy trị số bình quân Có thể đo chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m cho những cây gỗ sau đó dùng chương trình Excel và công thức chuyển đổi để tính đường kính theo công thức:

(3.1)

Trong đó: D là đường kính thân (cm); C là chu vi thân (cm); π = 3,14

•Đánh dấu tại vị trí đo đường kính bằng 2 vạch sơn đỏ song song với mặt đất về 2 phía của thân cây (mỗi phía 1 vạch sơn)

D

Trang 39

(Ghi chú: ÔĐĐ là ô đo đếm)

(2) Xác định tên cây (tên phổ thông/tên địa phương) cho từng cây gỗ đã

đo đường kính Những cây không biết tên phải lấy mẫu để giám định nhằm đảm bảo ≥ 90% số cây đo đếm phải được xác định tên cây

(3) Xác định phẩm chất cây gỗ cho từng cây gỗ đã đo đường kính:

•Xác định phẩm chất cây gỗ cho từng cây gỗ đã đo đường kính phân theo 3 mức phẩm chất A (Tốt), B (Trung bình), C (Xấu) Chỉ xác định phẩm chất cho những cây còn sống:

+ Cây phẩm chất A: Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, đều, tán cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột

+ Cây phẩm chất B: Cây có một số đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch, có thể có u bướu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành,

có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ

+ Cây phẩm chất C: Cây phẩm chất C là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn ) hầu như không

25 m

Hình 3.1: Xử lý các cây trên đường ranh giới ô đo đếGm

Không tính vào ÔĐĐ

Đo tính và ghi vào ÔĐĐ

Trang 40

có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành nhưng có nhiều khiếm khuyết (cây cong queo, sâu bệnh, rỗng ruột, cụt ngọn hoặc sinh trưởng không bình thường), khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành

(4) Đo chiều cao

•Đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành tất cả các cây đã đo đường kính

Đơn vị đo đếm là mét, đo chính xác đến 0,2m

Tất cả các số liệu được ghi vào biểu mẫu 02 (Phụ lục 01)

(5) Xác định độ tàn che bằng phương pháp 100 điểm

Trong OTC xác định các tuyến điều tra, trên các tuyến xác định 100 điểm phân bố đều trên các tuyến điều tra Tại mỗi điểm dùng ống nhòm nhìn lên bầu trời, nếu nhìn thấy trời thì có độ tàn che = 0, nhìn thấy 1 nửa trời thì

độ tàn tre = 0,5, không nhìn thấy trời thì độ tàn che = 1 Độ tàn che của OTC

là độ tàn che trung bình của 100 điểm

c Điều tra nhóm cây bụi, thảm tươi và thảm mục

Trên ô dạng bản 25m 2 tiến hành thu thập số liệu

Đếm số cây bụi: Xác định tên loài chủ yếu, chiều cao của mỗi loài, số

lượng bụi/khóm

Tất cả các số liệu được ghi vào biểu mẫu 04 (Phụ lục 01)

Xác định thảm tươi: Xác định tên cây, chiều cao và độ nhiều của các loài

thảm tươi, độ nhiều được phân ra theo tiêu chuẩn Drude (đã được gộp cấp):

Soc: Độ che phủ 100% mặt đất Cop1: Độ che phủ < 30% mặt đất Cop2: Độ che phủ < 30 ÷ 60% mặt đất Cop3: Độ che phủ <61 ÷ 90% mặt đất Tất cả các số liệu được ghi vào biểu mẫu 05 (Phụ lục 01)

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Thân cây Thiết sam giả lá ngắn - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 2.1. Thân cây Thiết sam giả lá ngắn (Trang 24)
Hình 2.2. Cành Thiết sam giả lá ngắn - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 2.2. Cành Thiết sam giả lá ngắn (Trang 25)
Hình 2.3: Mặt trên lá Thiết sam - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 2.3 Mặt trên lá Thiết sam (Trang 26)
Bảng 2.1: Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 2.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp (Trang 30)
Hình 3.1:  Xử lý các cây trên đường ranh giới ô đo đếGm - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 3.1 Xử lý các cây trên đường ranh giới ô đo đếGm (Trang 39)
Hình 4.1: Địa hình Thiết sam giả lá ngắn phân bố - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.1 Địa hình Thiết sam giả lá ngắn phân bố (Trang 45)
Bảng 4.4: Mật độ, tổ thành loài cây đi kèm với Thiết sam giả lá ngắn tại - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.4 Mật độ, tổ thành loài cây đi kèm với Thiết sam giả lá ngắn tại (Trang 54)
Bảng 4.5: Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí đỉnh núi - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.5 Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí đỉnh núi (Trang 57)
Bảng 4.6: Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí sườn - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.6 Tổng hợp tổ thành loài cây tái sinh ở vị trí sườn (Trang 58)
Bảng 4.7: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.7 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh (Trang 60)
Hình 4.2: Cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.2 Cây Thiết sam giả lá ngắn tái sinh (Trang 61)
Bảng 4.8: Độ tàn che tầng cây cao  Khu vực  Mật độ (cây/ha)  Độ tàn che - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.8 Độ tàn che tầng cây cao Khu vực Mật độ (cây/ha) Độ tàn che (Trang 62)
Bảng 4.9: Độ che phủ cây bụi, thảm tươi - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Bảng 4.9 Độ che phủ cây bụi, thảm tươi (Trang 63)
Hình 4.3: Đồ thị phân bố số cây theo cấp kính - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.3 Đồ thị phân bố số cây theo cấp kính (Trang 66)
Hình 4.4: Đồ thị phân bố số cây theo chiều cao - Nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.C Cheng & L.K.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang.
Hình 4.4 Đồ thị phân bố số cây theo chiều cao (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w