Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xác định tích luỹ các bon trong các trang thái rừng trồng Keo t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-oOo -
LÀNH VĂN QUÂN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TÍCH LUỸ CÁC BON TRONG
CÁC TRẠNG THÁI RỪNG KEO TRỒNG TẠI XÃ TÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : QLTNR Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2010-2014
Thái nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-oOo -
LÀNH VĂN QUÂN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TÍCH LUỸ CÁC BON TRONG
CÁC TRẠNG THÁI RỪNG KEO TRỒNG TẠI XÃ TÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2010-2014 Giảng viên hướng dẫn : TS Đỗ Hoàng Chung
Thái nguyên, năm 2014
Trang 3Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên
hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xác định tích luỹ
các bon trong các trang thái rừng trồng Keo tại xã Tân Thái, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên”
Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và được phía nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, tôi đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiêm túc
để hoàn thành đề tài Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân tôi
mà còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn
Bán giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Thầy giáo TS Đỗ Hoàng Chung đã hướng dẫn, hỗ trợ tôi hoàn thành tốt đề tài về phương pháp, lý luận và nội dung trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Các cán bộ, nhân viên của xã Tân Thái đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập
Gia đình đã tạo điều kiện học tập tốt nhất
Các bạn đã giúp đỡ, trao đổi thông tin về đề tài trong thời gian thực tập Trong quá trình thực hiện và trình bày khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét phê bình của quý thầy cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực tập Lành Văn Quân
Trang 4D 1.3 : Đường kính ngang ngực bình quân
H vn : Chiều cao vút ngọn bình quân
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng 4
2.1.1 Trên thế giới 4
2.1.2 Ở Việt Nam 5
2.2 Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của rừng 7
2.2.1 Trên thế giới 7
2.2.2 Ở Việt Nam 10
2.3 Phương pháp xác định sinh khối và xác định CO2 trong sinh khối 14
2.3.1 Phương pháp xác định sinh khối 14
2.3.2 Phương pháp xác định các bon trong sinh khối 15
2.4 Khái quát vấn đề nghiên cứu 16
2.5 Kết luận chung 16
2.6 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 17
2.6.1 Điều kiện tự nhiên 17
2.6.1.1 Vị trí địa lý 17
2.6.1.2 Khí hậu thuỷ văn 18
2.6.2 Điều kiện kinh tế xã hội 18
2.6.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế 18
2.6.2.2 Tình hình văn hóa xã hội 19
Trang 62.6.2.3 Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp 20
2.6.2.4 Tình hình phát triển chăn nuôi 21
2.7 Nhận xét chung về khó khăn và thuận lợi 22
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp kế thừa 25
3.4.2 Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn 25
3.4.2.1 Số lượng và vị trí các ô mẫu 25
3.4.2.2 Hình dạng và kích thước ô mẫu 25
3.4.2.3 Các bể chứa các bon phần trên mặt đất cần đo đếm 26
3.4.2.4 Đo đếm tại các ô tiêu chuẩn 27
3.4.2.5 Phương pháp nội nghiệp 29
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Một số đặc điểm rừng trông Keo tại xã Tân Thái huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên 31
4.1.1 Thực trạng và nguồn gốc rừng trồng Keo ở địa bàn nghiên cứu 31
4.1.2 Đặc điểm chung của lâm phần rừng trồng Keo ở trên địa bàn nghiên cứu 32
4.2 Xác định sinh khối tươi của rừng trồng Keo 33
4.2.1 Đặc điểm sinh khối tầng cây gỗ của rừng trồng Keo 33
4.2.2 Đặc điểm sinh khối tươi của cây bụi thảm tươi và thảm mục 34
4.2.2.1 Đặc điểm sinh khối tươi của cây bụi, thảm tươi 34
4.2.2.2 Đặc điểm sinh khối tươi của thảm mục 35
Trang 74.2.3 Đặc điểm sinh khối khô của rừng trồng Keo qua các độ tuổi tại xã Tân Thái
36
4.2.3.1 Sinh khối khô của rừng Keo 2-3 tuổi 36
4.2.3.2 Sinh khối khô của rừng Keo 4-5 tuổi 37
4.2.3.3 Sinh khối khô của rừng Keo 6-7 tuổi 38
4.3 Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng Keo xã Tân Thái 39
4.3.1 Khả năng tích luỹ các bon của các thành phần trên mặt đất ở các trạng thái rừng trồng Keo ở xã Tân Thái 39
4.3.1.1 Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng độ tuổi 2-3 39
4.3.1.2 Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng độ tuổi 4-5 40
4.3.1.3 Lượng các bon tích lũy trong rừng trồng độ tuổi 6-7 41
4.4 Đề xuất một số giải pháp 43
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
I Tiếng Việt 46
II Tiếng Anh 48
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Các thông tin cơ bản của OTC 33
Bảng 4.2 Sinh khối tươi tầng cây gỗ rừng Keo 34
Bảng 4.3 Đ ặc điểm sinh khối tươi của cây bụi, thảm tươi lâm phần rừng trồng Keo 35
Bảng 4.4 Đặc điểm sinh khối tươi của phần thảm mục 36
Bảng 4.5: Sinh khối khô của rừng Keo 2-3 tuổi 37
Bảng 4.6: Sinh khối khô của rừng Keo 4-5 tuổi 37
Bảng 4.7: Sinh khối khô của rừng Keo 6-7 tuổi 38
Bảng 4.8: Tổng tích luỹ carbon trong rừng trồng độ tuổi 2-3 39
Bảng 4.9: Tổng tích luỹ carbon trong rừng trồng độ tuổi 4-5 40
Bảng 4.10: Tổng tích luỹ carbon trong rừng trồng độ tuổi 6-7 41
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.8 Tỷ lệ tích luỹ các bon theo các thành phần rừng keo trồng 2-3 tuổi 40 Hình 4.9 Tỷ lệ tích luỹ các bon theo các thành phần rừng keo trồng 4-5 tuổi 41 Hình 4.10 Tỷ lệ tích luỹ các bon theo các thành phần rừng keo trồng 6-7 tuổi 42
Trang 10Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD) ở các nước đang phát triển là sang kiến toàn cầu đã được hội nghị các nước thành viên thứ 13 (COP13) của công ước khung liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và nghị định như Kyoto thông qua tại Ba-li (Indonesia) năm 2007 Hàng năm lượng khí thải từ phá rừng và suy thoái rừng
ở các nước đang phát triển chiếm 20% so với tổng sản lượng phát thải hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu, vì thế sang kiến REDD đã dược hình thành từ ý tưởng giản đơn ban đầu là trả tiền cho các nước đang phát triển để làm giảm phát khí thải CO2 từ nghành lâm nghiệp Một số vấn đề đặt ra là cần phải lượng hoá cacbon cơ sở, hiện đang được lưu trữ ở các cánh rừng Các bể chứa cacbon chính trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới là các sinh khối sống của cây cối và thực vật dưới tán và khối lượng vật liệu chết rơi rụng, mảnh vụn gỗ và các chất hữu cơ trong đất Các bon được lưu trữ trong sinh khối sống trên mặt đất của cây thường là các bể chứa lớn nhất và ảnh hưởng trực tiếp lớn nhất từ nạn phá rừng và suy thoái Như vậy, ước tính các bon trong sinh khối trên mặt đất của rừng là là bước quan trọng nhất trong việc xác định số lượng, dòng
Trang 112
các bon từ rừng nhiệt đới phương thức đo lường đối với các bể chứa đã được
mô tả ở các tài liệu của Post và cộng sự (1999), Brown Masera (2003), Pearson và cộng sự (2005), IPCC (2006)
Sinh trưởng nhanh và năng suất cao đó là những loại cây trồng rừng tại khu vực nhiệt đới Ở khu vực này việc sản xuất gỗ có ý nghĩa và tầm quan trọng hang Diện tích rừng trồng trên thế giới khoảng 130 triệu ha (Allan and Landy 1991) và che phủ toàn bộ khu vực nhiệt đới (FAO, 1995) Tổng số lượng các bon tích luỹ tại các khu rừng trồng toàn cầu ước tính khoảng 11,8 PgC (Winjum and Schroeder 1997), trong đó lượng cacbon trên mặt đất chủ yếu từ các khu công nghiệp Những hoạt động của Nghành lâm nghiệp đang
có những đóng góp cho việc tích luỹ cacbon ở các khu vực nhiệt đới,cũng như kết quả về sự thay đổikhí hậu và nhịp độ sinh trưởng của thực vật (Schroeder and ladd 1991) Kết quả trồng rừng ở các khu vực trên thế giới đã tích luỹ một lượng cacbon trong khí quyển và từ mặt đất (Schroeder, 1992) Tất cả ước lượng cho việc tích luỹ cacbon ở các kiểu rừng (Brow, 1993; Lugo and Brow, 1992; Vogt, 1991) và những thong tin mới nhất về khả năng tích luỹ cacbon của những loài cây đã được công bố Tầm quan trọng những đặc điểm riêng của loài cây có ý nghĩa trong việc tích luỹ cacbon toàn cầu và chu kỳ của nó
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi với nhiều nhà máy, khu công nghiệp lớn, đang gây sức ép nặng nề với môi trường về lượng khí thải Điều quan trọng, trong những năm gần đây được Đảng và Nhà nước quan tâm tới công tác phát triển rừng, diện tích rừng trên toàn tỉnh Thái Nguyên đã lên tăng đáng
kể Đặc biệt diện tích rừng trồng keo ở Đại Từ đang tăng lên về cả diện tích
và chất lượng Để đánh giá được giá trị thực của rừng trồng keo tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng, qua đó có thể thương mại hoá chứng chỉ giảm phát thải, chủ yếu là lượng CO2, thì cần thiết phải xác định được trữ lượng các bon có trong tích lũy Các bon của các loại rừng Những
Trang 123
nghiên cứu dựa trên các phương pháp được thừa nhận và có độ tin cậy cao đã được áp dụng Xuất phát từ lý do đó, được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xác định tích luỹ Các bon trong các trạng
thái rừng trồng keo tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được tổng trữ lượng các bon tích lũy của các trạng thái rừng keo trồng tại xã Tân Thái huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được hiện trạng các loại rừng Keo trồng, khả năng sinh trưởng độ che phủ của rừng keo theo từng độ tuổi tại xã tân thái, đại từ, thái nguyên
- Xác định được lượng các bon tích lũy trên mặt đất trong rừng Keo trồng qua từng độ tuổi khác nhau
- Tính toán được tổng lượng các bon tích lũy trong các loại rừng Keo trồng tại xã tân thái, đại từ, thái nguyên
1.4 Ý nghĩa đề tài
1.4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu
- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý để đạt hiệu quả cao trong quá trình làm việc, đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
- Thúc đẩy việc trồng rừng của người dân, giúp người dân hiểu rõ được chu kỳ của rừng trồng để thu được lợi ích trong việc trồng và phát triển rừng sản xuất
Trang 134
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
2.1.1 Trên thế giới
Sinh khối và năng suất rừng là những vấn đề đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Từ những năm 1840 trở về trước, đã có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực sinh lý thực vật, đặc biệt là vai trò hoạt động của diệp lục trong quá trình quang hợp để tạo nên các sản phẩm hữu cơ dưới tác động của các nhân tố tự nhiên như: Đất, nước, không khí, và năng lượng ánh sáng mặt trời sang thế kỷ 19 nhờ áp dụng các thành tựu khoa học như hóa phân tích, hóa thực vật và đặc biệt là vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, các nhà khoa học đã thu được những thành tựu đáng kể Tiêu biểu cho lĩnh vực này có thể kể tới một số tác giả sau:
Liebig (1862) lần đầu tiên đã định lượng về sự tác động của thực vật tới không khí và phát triển thành định luật tối thiểu, sau đó Mitscherlich (1954) đã
phát triển luật tối thiểu của Liebig thành luật "năng suất" [32]
Lieth (1964) đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất [31], đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP” (1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh
Duyiho cho biết hệ sinh thái rừng nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10-50 tấn/ha/năm, trung bình là 20 tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60-800 tấn/ha/năm, trung bình là 450 tấn/ha/năm (theo Lê Hồng Phúc, 1996) [10]
Dajoz (1971) đưa ra năng suất của một số hệ sinh thái rừng như sau:
+ Rừng nhiệt đới thứ sinh ở Yangambi: 20 tấn/ha/năm
Trang 14Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “Sinh khối và năng suất sơ cấp của rừng thế giới", cho đến nay nó vẫn là tác phẩm quy mô nhất Tác phẩm đã tổng hợp 600 công trình nghiên cứu được tóm tắt xuất bản về sinh khối khô, thân, cành, lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới [30]
2.1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về sinh khối rừng ở nước ta tiến hành muộn nhưng cũng đã
có một số công trình nghiên cứu sau:
Nguyễn Hoàng Trí (1986) thực hiện nghiên cứu “Sinh khối và năng suất rừng đước” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng Đước đôi rừng ngập mặn ven biển Minh Hải [19]
Hà Văn Tuế (1994) cũng dùng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh khối một số rừng trồng nguyên liệu giấy tại Vĩnh Phúc [21]
Lê Hồng Phúc (1996) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối hoàn chỉnh, đây được xem là tác phẩm mang tính chất đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu sinh khối ở nước ta Với đối tượng nghiên cứu là Thông ba lá tại Đà Lạt Sau khi nghiên cứu, tác giả đã lập được một số phương trình tương quan giữa sinh khối của các bộ phận của cây rừng với đường kính D1.3 [10]
Vũ Văn Thông (1997) với luận văn Thạc sỹ của mình đã xác lập được mối quan hệ giữa sinh khối của các bộ phận với đường kính D1.3 cho loài Keo
lá tràm [17]
Trang 156
Đặng Trung Tấn (2001) cũng đã nghiên cứu về “Sinh khối rừng Đước”
và đã nhận định tổng sinh khối khô rừng Đước ở Cà Mau là 327m3/ha và tăng trưởng sinh khối bình quân hàng năm là 9.500kg/ha [15]
Nguyễn Ngọc Lung (2004) đã có công trình nghiên cứu về sinh khối rừng Thông ba lá để tính toán thử khả năng cố định CO2 mà cây rừng hấp thụ
Từ việc nghiên cứu này tác giả đã xác định được một số hàm tương quan mang tích chất định lượng sinh khối [8]
Nguyễn Văn Dũng (2005) đã đưa ra nhận định rừng trồng Thông mã vĩ thuần loài 20 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và vật rơi rụng) là 321,7 - 495,4 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô là 173,4-266,2 tấn Rừng keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và vật rơi rụng) là 251,1-433,7 tấn/ha, tương đương lượng sinh khối khô là 132 -223 tấn/ha [2]
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu về cây bụi, thảm tươi tại Hoà Bình và Thanh Hoá, kết quả cho thấy sinh khối của lau lách khoảng 104 tấn/ha, trảng cây bụi cao 2-3m khoảng 61 tấn/ha, cỏ lá tre, cỏ tranh, cỏ chỉ có sinh khối từ 22-31 tấn/ha Về sinh khối khô: Lau lách là 40 tấn/ha, cây bụi cao 2-3m là 27 tấn/ha, cây bụi cao dưới 2m và tế guột là 20 tấn/ha, cỏ lá tre 13 tấn/ha, cỏ tranh 10 tấn/ha [12]
Nguyễn Văn Tấn (2006) nghiên cứu về sinh khối rừng Bạch đàn Urophylla
ở Yên Bái cho kết quả cho thấy với sinh khối tươi ở tuổi 4 bằng 183,54 tấn/ha,
ở tuổi 5 là 219,77 tấn/ha và ở tuổi 5 là 239,19 tấn/ha Trong đó sinh khối trên mặt đất chiếm từ 77,78% - 89,12% Tương ứng sinh khối khô ở tuổi 4 là 66,87 tấn/ha, tuổi 5 là 73,53 tấn/ha, tuổi 6 là 96,02 tấn/ha Trong đó sinh khối khô trên mặt đất chiếm từ 64,27% - 85,92% [16]
Lý Thu Quỳnh (2007) nghiên cứu về cây Mỡ tại tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang kết quả cho thấy tổng sinh khối tươi của 1ha rừng trồng Mỡ dao
Trang 16Nguyễn Thanh Tiến (2012) nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của trạng thái rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt tại tỉnh Thái Nguyên
đã cho thấy sinh khối khô rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên trạng thái IIb tại Thái Nguyên là 76,46 tấn/ha Trong đó: Sinh khối khô tầng cây gỗ trung bình 63,38 tấn/ha; Sinh khối tầng cây dưới tán (cây bụi thảm tươi, cây tái sinh) trung bình 4,86 tấn/ha; Sinh khối khô vật rơi rụng trung bình 8,22 tấn/ha [25]
2.2 Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO 2 của rừng
Năm 1980, Brawn và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng carbon trung bình trong rừng nhiệt đới châu Á là 144 tấn/ha trong phần sinh khối và 148 tấn /ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1m, tương đương 42-43 tỷ tấn carbon trong toàn châu lục Tuy nhiên, lượng carbon có biến động rất lớn
Trang 178
giữa các vùng và các kiểu thảm thực bì khác nhau Thông thường lượng carbon trong sinh khối biến động từ dưới 50 tấn/ha đến 360 tấn/ha, phần lớn ở các kiểu rừng là 100-200 tấn/ha (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4]
Một số nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon của các dạng rừng:
• Margaret Kraenzel và cộng sự (2001), đã kết luận cây gỗ Tếch tại các đồn điền Panama được nghiên cứu có lượng carbon tích lũy rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với lượng tích lũy của thảm rơi lá rụng ở đồng cỏ Trồng rừng sẽ là biện pháp tốt nhất để tăng hàm lượng tích lũy carbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hằng năm sẽ tích lũy được khoảng 120 tấn C/ha Ngoài
ra lượng vật rơi rụng sẽ tích lũy được khoảng 6 tấn C/ha/năm Tổng tiềm năng tích lũy carbon ở rừng trồng gỗ Tếch là tương đối lớn và lâu dài [37]
• Houghton (1991) đã nhận định lượng carbon rừng nhiệt đới Châu Á
là 40-250 tấn/ha, trong đó 50-120 tấn/ha ở phần thực vật và đất
Brawn (1991) Rừng nhiệt đới Đông nam á có lượng sinh khối trên mặt đất từ 50-430 tấn/ha (tương đương 25-215 tấn C/ha) và trước khi có tác động của con người thì các trị số tương ứng là 350-400 tấn/ha (tương đương 175-
200 tấn C/ha) (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4]
• Theo Mckenzie và cộng sự (2001) Carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở 4 bộ phận chính: Thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng Việc xác định lượng carbon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác định sinh khối rừng [34]
Kết quả nghiên cứu về sự biến động carbon sau khai thác rừng:
- Brown, S (1997) đã nhận định rằng: Một khu rừng nguyên sinh có thể hấp thụ được 280 tấn carbon và sẽ giải phóng 200 tấn carbon nếu chuyển thành du canh du cư và sẽ giải phóng nhiều hơn một chút nếu được chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115
Trang 18- Theo Putz và Pinard (1993) ở Malaisia nếu khai thác chọn lấy đi 8-15 cây/ha (tương đương 80m3/ha hay 22 tấn carbon/ha) sẽ làm tổn thương 50%
số cây được giữ lại Ở Sabah sau khai thác 1 năm lượng sinh khối đã đạt 67% so với trước khai thác (nếu khai thác theo phương thức "Khai thác giảm thiểu tác động" (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [4]
44 Xét trên phạm vi toàn cầu, số liệu thống kê năm 2003 cho thấy lượng carbon lưu trữ trong rừng khoảng 800-1.000 tỷ tấn Trong 1 năm rừng hấp thụ khoảng 100 tỷ tấn khí carbonic và thải ra khoảng 80 tỷ tấn oxy [4]
- Tổng lượng hấp thu dự trữ carbon của rừng trên thế giới khoảng 830 PgC, trong đó carbon trong đất lớn hơn 1,5 lần carbon dự trữ trong thảm thực vật (Brown, 1997) 26 Đối với rừng nhiệt đới, có tới 50% lượng carbon dự trữ trong thảm thực vật và 50% dự trữ trong đất (IPCC,2000) [27]
- Brown và cộng sự (1996) đã ước lượng tổng lượng carbon mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thể hấp thu tối đa trong vòng 5 năm (1995 - 2000) là khoảng 60 - 87 Gt C, với 70% ở rừng nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới
Trang 1910
- Brown và Pearce (1997) đưa ra các số liệu đánh giá lượng carbon và
tỷ lệ thất thoát đối với rừng nhiệt đới Theo đó một khu rừng nguyên sinh có thể hấp thu được 280 tấn carbon/ha và sẽ giải phóng 200 tấn carbon/ha nếu bị chuyển thành du canh du cư và sẽ giải phóng carbon nhiều hơn một chút nếu được chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115 tấn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng chuyển đối sang canh tác nông nghiệp [26]
- Tại Philippines, năm 1999 Lasco cho biết ở rừng tự nhiên thứ sinh có
86 - 201 tấn C/ha (tương đương 370 - 52 tấn sinh khối khô/ha, lượng carbon ước chiếm 50% sinh khối) [37]
- Tại Thái Lan, Noonpragop đã xác định lượng carbon trong sinh khối trên mặt đất là 72 - 182 tấn/ha [31]
- Ở Malayxia, lượng carbon trong rừng biến động từ 100 - 160 tấn/ha
và tính cả trong sinh khố và đất là 90 - 780 tấn/ha [32]
- Năm 2000 tại Indonesia, Noordwijk đã nghiên cứu khả năng tích luỹ carbon của các rừng thứ sinh, các hệ thống nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm Kết quả cho thấy lượng carbon hấp thụ trung bình là 2,5 tấn/ha/năm [32]
Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về lượng carbon tích luỹ của rừng được thực hiện bởi Ilic (2000) và Mc Kenzie (2001) Theo Mc Kenzie, carbon trong hệ sinh thái rừng thương tập trung ở bốn bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng Việc xác định lượng carbon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác định sinh khối rừng [34]
2.2.2 Ở Việt Nam
Nguyễn Ngọc Lung (2004), công bố nghiên cứu sinh khối rừng Thông ba
lá để tính toán khả năng cố định CO2 mà cây rừng hấp thụ Đây là công trình
Trang 2011
nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu khả năng hấp thụ
CO2 của rừng, tạo tiền đề cho việc xây dựng dự án trồng rừng CDM sau này [8]
Nguyễn Văn Dũng (2005) nghiên cứu về rừng Thông Mã vỹ tại Núi Luốt - Đại học lâm nghiệp cho thấy rừng Thông mã vỹ thuần loài 20 tuổi lượng carbon tích luỹ là 80,7-122 tấn/ha, giá trị carbon tích luỹ ước tính đạt 25,8-39 triệu VNĐ/ha Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng lượng carbon tích luỹ là 62,5-103,1 tấn/ha, giá trị tích luỹ carbon ước tính đạt 20-33 triệu VNĐ [2]
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng thái rừng cho biết: Rừng giàu có tổng trữ lượng CO2 là 694,9 - 733,9 tấn
CO2/ha; rừng trung bình là 539,6-577,8 tấn CO2/ha; rừng nghèo 387,0-478,9 tấn
CO2/ha; rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO2/ha; rừng tre nứa là 116,5 - 277,1 tấn
CO2/ha [11]
Nguyễn Văn Tấn (2006) Nghiên cứu rừng Bạch đàn Urophylla tuổi 4,
5, 6 tại Yên Bái cho thấy:
+ Ở tuổi 4: Tổng trữ lượng carbon là 32,81 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 25,51 tấn C/ha chiếm 77,77%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 5,48 tấn C/ha chiếm 16,69% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,82 tấn C/ha chiếm 5,54% tổng trữ lượng carbon
+ Ở tuổi 5: Tổng trữ lượng carbon là 36,38 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 25,32 tấn C/ha chiếm 69,60%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 9,32 tấn C/ha chiếm 25,36% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,83 tấn C/ha chiếm 5,04% tổng trữ lượng carbon
+ Ở tuổi 6: Tổng trữ lượng carbon là 47,37 tấn C/ha, trong đó phần trên mặt đất là 37,17 tấn C/ha chiếm 78,47%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là 8,40 tấn C/ha chiếm 17,74% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,79 tấn C/ha chiếm 3,79% tổng trữ lượng carbon [16]
Trang 2112
Lý Thu Huỳnh (2007) nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon của rừng
Mỡ, kết quả thu được tổng lượng carbon tích luỹ dao động từ 40.933 - 145.041 kg/ha; trong đó chủ yếu tập trung vào carbon trong đất trung bình là 59%, tầng cây gỗ 30%, vật rơi rụng 4% và cây bụi thảm tươi là 2% [6]
Phạm Tuấn Anh (2007) Nghiên cứu về năng lực hấp thụ CO2 của rừng
tự nhiên lá rộng thường xanh ở Đăk Nông cho kết quả: Lượng tích luỹ CO2
hàng năm từ 1,73 đến 5,18 tấn/ha/năm tuỳ theo trạng thái rừng [1]
Ngô Đình Quế (2005) 12 khi nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam đã tiến hành đánh giá khả năng hấp thụ CO2 thực tế của một số loại rừng trồng ở Việt Nam gồm: Thông nhựa, keo lai, Mỡ, keo lá tràm và bạch đàn Uro ở các tuổi khác nhau Kết quả tính toán cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của các lâm phần khác nhau tuỳ thuộc vào năng suất lâm phần đó ở các tuổi nhất định Để tích luỹ khoảng 100 tấn CO2/ha Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ và Thông ba lá ở tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng 5 - 6 tuổi, Bạch đàn Uro 4 - 5 tuổi Kết quả này là rất quan trọng nhằm làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch (CDM) Tác giả đã lập phương trình tương quan hồi quy - tuyến tính giữa các yếu tố lượng CO2hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ và năng suất sinh học Từ đó tính ra được khả năng hấp thụ CO2 thực tế ở nước ta đối với 5 loài cây trên
Ngô Đình Quế (2006) cho biết, với tổng diện tích là 123,95 ha sau khi trồng Keo lai 3 tuổi, Quế 17 tuổi, Thông ba lá 17 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thì sau khi trừ đi tổng lượng carbon của đường làm cơ sở, lượng carbon thực tế thu được qua việc trồng rừng theo dự án CDM là 7.553,6 tấn carbon hoặc 27.721,9 tấn CO2 [14]
Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân (2004) đã sử dụng công thức tổng quát của quá trình quang hợp để tính ra hệ số chuyển đổi từ sinh
Trang 2213
khối khô sang CO2 đã hấp thụ là 1,630/1 Căn cứ vào biểu quá trình sinh trưởng và biểu Biomass các tác giả tính được 1 ha rừng Thông 60 tuổi ở cấp đất III chứa đựng 707,75 tấn CO2 [8]
Các tác giả thiết lập mối quan hệ giữa lượng carbon tích luỹ của rừng với các nhân tố điều tra cơ bản như đường kính (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), mật độ (N), như Nguyễn Văn Dũng (2005) 2 đã xây dựng quan hệ cho 2 loài Thông mã vĩ và Keo lá tràm; Ngô Đình Quế (2005) 13 đã xây dựng mối quan hệ cho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Uro; Vũ Tấn Phương (2006) xây dựng các phương trình quan hệ Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla và Quế 12 Đây là những cơ sở quan trọng cho việc xác định nhanh lượng carbon tích luỹ của rừng trồng nước ta thông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản
Khả năng hấp thụ của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiên cứu
Vũ Tấn Phương (2006) đã nghiên cứu trữ lượng carbon theo các trạng thái rừng, kết quả cho thấy rừng giàu có tổng trữ lượng carbon là 694,9 - 733,9 tấn
CO2/ha, rừng trung bình 539,6 - 577,8 tấn CO2/ha, rừng nghèo 387,0 - 478,9 tấn CO2/ha, rừng phục hồi 164,9 - 330,5 tấn CO2/ha và rừng tre nứa là 116,5 - 277,1 tấn CO2/ha [12]
Theo Hoàng Xuân Tý (2004), nếu tăng trưởng rừng đạt 15m3/ha/năm, tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm tương đương với 15 tấn CO2/ha/năm, với giá thương mại CO2 tháng 4/2004 biến động từ 3 - 5 USD/tấn CO2, thì một ha rừng như vậy có thể đem 45 - 75 USD (tương đương 675.000 - 1.120.000 VNĐ/ năm) [22]
Nguyễn Thanh Tiến (2012) nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của trạng thái rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt tại tỉnh Thái Nguyên đã xác định được tổng lượng CO2 hấp thụ của rừng IIb tại Thái Nguyên dao động
từ 383,68 - 505,87 tấn CO2/ha, trung bình 460,69 tấn CO2/ha (trong đó lượng
Trang 2314
CO2 hấp thụ tập trung chủ yếu ở tầng đất dưới tán rừng là 322,83 tấn/ha, tầng cây cao 106,91 tấn/ha, tầng cây dưới tán 15,6 tấn/ha và vật rơi rụng là 15,34 tấn/ha) [25]
2.3 Phương pháp xác định sinh khối và xác định CO 2 trong sinh khối
2.3.1 Phương pháp xác định sinh khối
Phương pháp xác định có ý nghĩa rất quan trọng khi nghiên cứu về sinh khối, vì nó liên quan đến độ chính xác của công trình nghiên cứu Tùy từng tác giả với những điều kiện khác nhau mà sử dụng các phương pháp xác định sinh khối khác nhau, trong đó có thể kể đến một số tác giả chính như sau:
• Một số tác giả như Transnean (1926), Huber (Đức, 1952), Monteith (Anh, 1960 - 1962), Lemon (Mỹ, 1960 - 1987), Innone (Nhật, 1965 - 1968), … đã dùng phương pháp dioxit carbon để xác định sinh khối Theo đó sinh khối được đánh giá bằng cách xác định tốc độ đồng hóa CO2
• Aruga và Maidi (1963) đưa ra phương pháp “Chlorophyll” để xác định sinh khối thông qua hàm lượng Chlorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất Đây là chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức
xạ hoạt động quang tổng hợp
• Edmonton (1968) đề xướng phương pháp Oxygen nhằm định lượng oxygen tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh Từ đó tính ra được năng suất và sinh khối rừng
• Schumarcher, Spurr, Prodan, Alder, Abadie: đã sử dụng mô hình toán học để mô phỏng sinh khối, năng suất rừng thông qua một số nhân tố điều tra như: đường kính, chiều cao, cấp tuổi, mật độ…
• Whitaker (1961, 1966), Mark (1971) cho rằng “số đo năng suất chính là số đo tăng trưởng, tích lũy sinh khối ở cơ thể thực vật trong quần xã”
• Newbuold (1967) đề nghị phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu sinh khối và năng suất của quần xã từ các ô tiêu chuẩn
Trang 2415
• Whittaker (1966), Tritton và Hornbeck (1982) cho rằng sinh khối rừng có thể xác định nhanh chóng dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối với kích thước của cây hoặc từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học nào đó Phương pháp này đã được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu
• Bộ phận cây bụi là những cây tầng dưới của tán rừng đóng góp một phần quan trọng trong tổng sinh khối rừng Có nhiều phương pháp để ước tính sinh khối cho bộ phận này, các phương pháp bao gồm: (1) lấy mẫu toàn bộ cây, (2) phương pháp kẻ theo đường, (3) phương pháp mục trắc, (4) phương pháp lấy mẫu kép sử dụng tương quan (Catchpole và Wheeler, 1992)
- Burton và Barner (1998) đã đưa ra phương pháp xác định sinh khối dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối với kích thước của cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học (thường áp dụng cho việc xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất)
- Catchpole và Wecler (1992) đã đưa ra một số phương pháp ước tính sinh khối cho cây bụi và cây tầng dưới như lấy mẫu toàn bộ cây, phương pháp
kẻ theo đường, phương pháp mục trắc và phương pháp lấy mẫu kép sử dụng tương quan
- Mekenzie (2001) đã đưa ra phương pháp lấy mẫu rễ để xác định sinh khối [32]
2.3.2 Phương pháp xác định các bon trong sinh khối
Carbon được xác định thông qua việc tính toán sự thu nhận và điều hòa
CO2 và O2 trong khí quyển của thực vật bằng cách phân tích hàm lượng hóa học của carbon, hydro, oxy, nitơ và tro trong 1 tấn chất khô
Để tạo được 510,4 kg carbon, cây rừng cần phải hấp thụ 1 lượng CO2được xác định theo phương trình hóa học sau:
CO2 = C + O2 = 510,4 + (510,4 * 2,67) = 1873,17kg
Trang 2516
Tương tự, trong quá trình hình thành nên 61,9 kg Hydro, cây rừng sản xuất 1 lượng ôxy là:
H2O - H2 + 1/2 O2 = 61,9 + (61,9*8) = 557,10 kg Như vậy để tạo thành 1 tấn sinh khối khô tuyệt đối, cây rừng đã sử dụng khoảng 1873,17kg CO2 và thải vào khí quyển 1.449,97kg O2 Vậy, dựa vào đường carbon trong sinh khối thực vật, chúng ta xác định được lượng
CO2 mà cây hấp thụ được trong không khí
Xác định trữ lượng carbon bằng cách sử dụng hệ số mặc định về trữ lượng cacbon trong sinh khối khô là 0,5 (IPCC, 2005) và lượng carbon tương đương theo hệ số quy đổi 1C = 3,67 CO2
2.4 Khái quát vấn đề nghiên cứu
Xác định được tổng trữ lượng các bon tích lũy của các trạng thái rừng Keo trồng tại xã Tân Thái huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
Khả năng tích lũy carbon của rừng được đánh giá qua sinh khối mà rừng đạt được Sinh khối rừng được định nghĩa là tổng khối lượng khô kiệt của rừng trên một đơn vị diện tích (thường tính bằng tấn/ha) Sinh khối của rừng thường bao gồm các bộ phận: sinh khối trên mặt đất (gồm sinh khối cây sống, sinh khối thảm mục, sinh khối cây chết) và sinh khối dưới mặt đất (là sinh khối rễ) (Vũ Tấn Phương, 2009)[12]
2.5 Kết luận chung
Trên đây là một vài nét cơ bản về các công trình nghiên cứu về tích lũy carbon trong và ngoài nước Thông qua các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ta có thể nhận thấy lĩnh vực nghiên cứu trữ lượng carbon, động thái hấp thụ carbon của rừng còn rất mới và rất cần sự quan tâm của các nhà khoa học
Việc định lượng carbon mà rừng hấp thụ là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề nội tại của thực vật, vì vậy phần lớn các nghiên cứu mới chỉ tập trung và xác định lượng các bon tích lũy tại thời điểm nghiên cứu
Trang 2617
Thị trường về mua bán carbon đã bắt đầu sôi động, bao gồm cả vấn đề
cơ chế giảm phát thải và khả năng hấp thụ CO2 của rừng
Việc nghiên cứu trữ lượng các bon hấp thụ của rừng là bước ngoặt quan trọng trong việc xác định cơ sở để thực hiện Nghị định thư Kyoto, đồng thời còn góp phần vào bảo vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, giảm thiểu phát thải khí nhà kính thông qua hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng Đây cũng là một cơ hội để khẳng định chức năng môi trường của rừng cũng như giá trị đích thực của rừng, cơ hội thương mại carbon, một tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực kinh doanh lâm nghiệp mà trước đây hầu như chưa hề đề cập đến
2.6 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.6.1 Điều kiện tự nhiên
2.6.1.1 Vị trí địa lý
Tân Thái là một xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Đây là một
xã có nhiều hộ dân sống trên sườn núi và ven bờ hồ Núi Cốc, có địa hình mấp
mô theo đường tỉnh lộ 260, chiều dài xã là 8km, chiều rộng 4km Xã Tân Thái nằm ở phía Đông Nam của huyện Đại Từ
Phía Đông giáp xã Hà Thượng và xã Cù Vân
Phía Tây giáp Hồ Núi Cốc
Phía Nam giáp xã Phúc Xuân thuộc thành phố Thái Nguyên
Phía Bắc giáp xã Hùng Sơn
Xã Tân Thái có đường liên tỉnh 260 chạy qua đang được nâng cấp và
mở rộng, là tuyến đường liên tỉnh kết hợp liên huyện nên đã tạo cho xã nhiều điều kiện giao lưu văn hóa thương mại với nhiều vùng kinh tế khác, kinh tế xã hội ở đây đang phát triển từng ngày
Trang 2718
2.6.1.2 Khí hậu thuỷ văn
Theo sự phân vùng của nha khí tượng Thái Nguyên, khí hậu của xã Tân Thái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều Hàng năm khí hậu biến đổi rõ rệt, mỗi mùa có đặc thù riêng
Mùa đông từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình 15,50C, thấp nhất từ 9 - 100C, cao nhất 20 - 210C Thường xuyên có các đợt gió mùa đông bắc và sương muối kèm theo khí hậu khô hanh
Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến thang 10 Nhiệt độ trung bình là 280C, thấp nhất là 260C, cao nhất là 300C; đột xuất có ngày lên tới 380C, nóng nhất
là tháng 6 và tháng 7, nhiều khi có đợt mưa lớn và tập trung
Lượng mưa trong năm phân bố không đều, mưa lớn vào khoảng tháng 6
và tháng 7, chiếm 60 - 70% lượng mưa cả năm Lượng mưa trung bình năm là 1869mm, cao nhất là 2380mm, thấp nhất là 1385mm
Độ ẩm không khí trung bình năm là 81.6%
2.6.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.6.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế
Xã Tân Thái có 758 hộ và 3.320 nhân khẩu (theo số liệu thống kê tháng
3 năm 2010) Trên địa bàn xã có 10 xóm, trong đó có 8/10 xóm bị ảnh hưởng của nước hồ Núi Cốc, nhiều hộ gia đình bị nước ngập vào đất thổ cư nên không có nhà ở và đất canh tác dẫn tới đời sống khó khăn và bấp bênh Đời sống nhân dân trong xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, buôn bán nhỏ nên mức thu nhập của người dân còn thấp và chưa
ổn định, dẫn tới đời sống sinh hoạt của người dân còn chưa cao
Diện tích đất canh tác ít do nằm vào vùng bán ngập lòng hồ Núi Cốc, nước hồ lại thường xuyên dâng cao nên ảnh hưởng rất lớn tới diện tích đất canh tác Theo con số thống kê của xã năm 2010 thì:
- Số hộ có đất canh tác là: 235 hộ
Trang 28xã quản lý nhưng đã góp phần tạo điều kiện giải quyết việc làm cho nhiều lao động trong xã
2.6.2.2 Tình hình văn hóa xã hội
* Về văn hóa: Trong những năm gần đây, công tác văn hóa thông tin
tuyên truyền của xã Tân Tháí được quan tâm rõ rệt Xã đã tổ chức tốt các hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực và tinh thần cho nhân dân Tổ chức các buổi giao lưu văn nghệ, mời các đoàn nghệ thuật về phục vụ để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân An ninh quốc phòng được giữ vững và ổn định Tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi Về công tác xã hội xã tập trung chỉ đạo thực hiện công tác thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, trợ cấp cho các hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn
* Về Giáo dục: Sự nghiệp giáo dục phổ thông có nhiều chuyển biến tích
cực, xã có một trường trung học cơ sở, một trường tiểu học, và một trường mầm non Cơ sở vật chất trường lớp được củng cố, số giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi ngày càng tăng Năm 2010, trường THCS có 238 học sinh và 27 giáo viên, tỷ lệ lên lớp đạt 100%, tỷ lệ tốt nghiệp là 100%; Trường tiểu học có
249 học sinh và 20 giáo viên, tỷ lệ lên lớp đạt 100%; Trường mầm non có 169 học sinh và 13 giáo viên, tỷ lệ bé chăm ngoan đạt 98% Nhờ vậy trường đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở theo quy định
Trang 2920
Hiện nay, trường tiếp tục chỉ đạo xây dựng trường xanh, sạch, đẹp, chất lượng giáo dục trung học từng bước được tăng lên
* Về y tế: Xã Tân Thái có một trạm y tế có 7 giường, duy trì tốt hoạt
động khám, chữa bệnh Các chương trình y tế được triển khai đúng kế hoạch, thực hiện chương trình phòng chống bênh mùa hè, bệnh suy dinh dưỡng trẻ
em, tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, tổ chức khám chữa bệnh định kỳ cho người nghèo và làm tốt công tác y tế học đường Trong 6 tháng đầu năm 2010 xã đã tổ chức
11 buổi truyền thông; có 1153 lượt khám chữa bệnh, trong đó có 1002 lượt khám miễn phí
Tình hình sản xuất
Dựa trên bản báo cáo sơ kết của xã Tân Thái năm 2010 chúng tôi đã thu được những kết quả sau:
2.6.2.3 Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp
* Về cây lúa: Tổng diện tích gieo cấy cả năm: 121 ha (trong đó: diện
tích tranh thủ cấy lúa lấn hồ được 25,4 ha), năng suất đạt 53.95 tạ/ha, đạt 133,8% so với kế hoạch giao sản lượng đạt 598.4 tấn, , sản lương đạt 131% so với Nghị quyết HĐND xã đề ra, so với cùng kỳ đạt 134,1%
* Về các loại rau màu:
- Cây ngô cuối vụ đông trồng 18,4 ha năng xuất 40 tạ/ha, sản lượng 73,6 tấn đạt 100% so với kế hoạch đề ra Tổng sản lượng cây có hạt là đạt 672 tấn, đạt 107,7 % so với kế hoạch, so với cùng kỳ đạt 96,3%
- Rau mầu các loại 28,6 ha Trong đó:
+ Rau 9,1 ha (trong đó rau muống 2,1 ha; bầu, bí, mướp: 1,5ha)
+ Khoai Lang: 14ha
+ Đậu tương 3ha
+ Khoai tây: 1 ha