1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân

60 570 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THẾ DƯƠNG Tên đề tài : “NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI CÂY MÃ ĐẬU LINH QUẢNG TÂY Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THẾ DƯƠNG

Tên đề tài :

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI CÂY MÃ ĐẬU

LINH QUẢNG TÂY (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang)

LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LOÀI TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC

TỈNH BẮC KẠN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm Nghiệp

Khóa học : 2010 -2014

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THẾ DƯƠNG

Tên đề tài :

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI CÂY MÃ ĐẬU

LINH QUẢNG TÂY (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang)

LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LOÀI TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC

TỈNH BẮC KẠN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm Nghiệp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã trang bị cho mình kiến thức cơ bản về chuyên môn dưới sự giảng dạy và chỉ bảo tận tình của toàn thể thầy cô giáo Để củng cố lại những khiến thức

đã học cũng như làm quen với công việc ngoài thực tế thì việc thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn rất quan trọng, tạo điều kiện cho sinh viên cọ sát với thực tế nhằm củng cố lại kiến thức đã tích lũy được trong nhà trường đồng thời nâng cao tư duy

hệ thống lý luận để nghiên cứu ứng dụng một cách có hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Th.S La

Quang Độ và Th.S Nguyễn Thị Tuyên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia

kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Tỉnh Bắc Kạn ”

Trong thời gian nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của cô giáo Th.S Nguyễn Thị Tuyên và các thầy cô giáo trong khoa cùng với sự phối hợp giúp đỡ của các ban ngành lãnh đạo khu bảo tồn Nam Xuân Lạc và người dân hai xã: Bản Thi và Xuân Lạc tôi đã hoàn thành khóa luận đúng thời hạn Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là thầy giáo Th.S La Quang Độ người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Bên cạnh đó tôi xin cảm ơn đến các ban ngành lãnh đạo, các cán bộ kiểm lâm viên khu bảo tồn Nam Xuân Lạc và bà con trong khu bảo tồn đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa luận

Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

NGUYỄN THẾ DƯƠNG

Trang 5

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 3

1.3 Mục tiêu 3

1.4 Ý nghĩa của khóa luận 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu 4

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Trên thế giới 5

2.2.2 Ở Việt Nam 9

2.3 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của khu vực nghiên cứu 16

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 16

2.3.1.1 Vị trí địa lý 16

2.3.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn 16

2.3.1.3 Đặc điểm địa hình 17

2.3.1.4 Đặc điểm hệ động thực vật 17

2.3.2 Tình hình dân cư kinh tế Khu bảo tồn nằm trên địa bàn của xã Xuân Lạc và xã Bản Thi với tổng số 986 hộ, 4750 khẩu, phần lớn là đồng bào Dao và Tày 18

2.3.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 19

2.3.3.1 Tình hình phát triển ngành trồng trọt 19

2.3.3.2 Tình hình phát triển lâm nghiệp 19

2.3.4.Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương 19

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 21

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

Trang 6

3.2 Nội dung nghiên cứu 21

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn ở địa phương 21

3.3.2 Ngoại nghiệp 22

3.3.2.1 Phỏng vấn người dân 22

3.3.2.2 Phương pháp lập điều tra theo tuyến 22

3.3.1.3 Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (ÔTC) 22

3.3.3 Nội nghiệp 26

3.3.3.1 Xử lý số liệu điều tra bằng cách sử lý mẫu đã được chụp ảnh và ghi chép lại qua quá trình ngoại nghiệp (lấy kết quả trung bình của 5-10 mẫu đã thu thập) 26

3.3.3.2 Đánh giá tác động của con người đến hệ thực vật 26

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28

4.1 Đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài cây 28

4.1.1 Sự hiểu biết của người dân về loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây 28

4.1.2 Đặc điểm sự dụng loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây 29

4.2 Đặc điểm nổi bật về hình thái của loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây 29

4.2.1 Đặc điểm về phân loại của loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây 29

4.2.2 Đặc điểm thân cây 29

4.2.3 Đặc điểm cấu tạo hình thái lá 30

4.2.3 Cấu tạo và đặc điểm của hoa 30

4.2.4 Đặc điểm của củ và rễ 31

4.3 Một số đặc điểm sinh thái của loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây 32

4.3.1.Các loài cây đi kèm 32

4.3.2 Đặc điểm về tái sinh của loài 33

4.3.3 Đặc điểm cây bụi, dây leo và thảm tươi nơi có loài phân bố 34

4.3.6 Đặc điểm đất nơi loài cây nghiên cứu phân bố 35

4.4 Đặc điểm phân bố của loài Mã Đậu Linh Quảng Tây 35

4.4.1 Đặc điểm phân bố trong các trạng thái rừng 35

4.4.2.Đặc điểm phân bố theo độ cao 36

4.5 Sự tác động của con người đến khu vực nghiên cứu 36

Trang 7

4.6 Đề xuất một số biện pháp phát triển và bảo tồn loài cây Mã Đậu Linh

Quảng Tây 39

4.6.1 Đề xuất biện pháp bảo tồn 39

4.6.2 Đề xuất biện pháp phát triển loài 40

Phần 5 KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Kiến nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

I Các tài liệu trong nước : 43

II Tiếng Anh 44

III Các cổng thông tin điện tử 44

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi 18 Bảng 4.1 Thống kê Sự hiểu biết của người dân về loài cây Mã Đậu Linh

Quảng Tây 28 Bảng 4.2: Công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có cây Mã Đâu Linh Quảng Tây phân bố 32 Bảng 4.3: Tổng hợp tái sinh khu vực có loài Mã Đậu Linh Quảng Tây phân

bố tự nhiên 33 Bảng 4.4: Độ che phủ của thảm tươi và dây leo trong OTC nơi có cây Mã Đậu Linh Quảng Tây phân bố 34 Bảng 4.5: Độ che phủ của cây bui trong OTC nơi có cây Mã Đậu Linh Quảng Tây phân bố 34 Bảng 4.6: Kết quả tổng hợp điều tra đất nơi phân bố loài Mã Đậu Linh phân

bố 35 Bảng 4.7: Tổng hợp số liệu tác động của con người và vật nuôi trên các tuyến điều tra.tuyến điều tra 36

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Hình ảnh thân cây già 30

4.2 Hình ảnh thân cây non 30

4.3 Hình ảnh 2 mặt lá 31

4.4 Ảnh hoa cây Mã Đậu Linh 31

4.5 Hình ảnh chiều dài và chiều rộng của củ 32

4.6 Hình ảnh tiết diện ngang của củ 32

4.7 Hình ảnh tiết diện ngang của rễ già 32

4.8 Cây Re hương bị chặt 38

4.9 Hình ảnh cây bị khai thác bừa bãi 38

4.10 Hình ảnh Xa nhân bị thu hái 39

4.11 Hình ảnh Trăn bị thịt 39

4.12 Hình ảnh chăn thả Dê 39

4.13 Hình ảnh đốt rừng, phát nương làm rẫy 40

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản phục vụ nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường và rừng là nơi lưu giữ các nguồn gen động thực vật, phục vụ cho cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Rừng có được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH) ĐDSH là một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất, vì nó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng và tiến hoá bền vững của các loài sinh vật trên hành tinh chúng ta Nhưng hiện nay dân số thế giới tăng, nhu cầu về lâm sản tăng dẫn đến khai thác rừng quá mức và không khoa học làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm ĐDSH Chính

vì vậy loài người đã, đang và sẽ phải đứng trước một thử thách, đó là sự suy giảm về ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo là những thảm họa như lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễm môi trường sống, các căn bệnh hiểm nghèo…xuất hiện ngày càng nhiều Tất cả các thảm họa đó là hậu quả, một cách trực tiếp hay gián tiếp của việc suy giảm ĐDSH

Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á có tính đa ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố

Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng

do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2

Trang 11

triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001) Tính tới hết năm 2010 - 2011 -2012 với nhiều nỗ lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua nhiều Chương trình và Dự án, Tỷ lệ che phủ rừng của nước ta đạt 39,5% năm

2010, 40,2%năm 2011 phấn đấu năm 2013 đạt 40.7% (Tình hình thực hiện phát triển kinh tế xã hội năm 2011, 2012 và quý 1 năm 2013) [1] xong chủ yếu là rừng trồng, rừng tự nhiên vẫn suy giảm

KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (KBTL&SCNXL) huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trong địa giới hành chính của xã Xuân Lạc, Bản Thi và Đồng Lạc chủ yếu là rừng trên núi đá vôi có nhiều loài cây quý hiếm

Mặc dù có diện tích nhỏ, nhưng KBTL&SCNXL là hành lang quan trọng nối liền Vườn quốc gia Ba Bể với KBT (Khu bảo tồn) thiên nhiên Na Hang Hiện trạng rừng ở KBT này còn nguyên tương đối nguyên vẹn, nhiều nơi ít bị tác động bởi con người, còn lưu giữ nhiều loài động vật quý hiến đang có nguy cơ bị tuyệt Chủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc đen má trắng, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như Huỳnh đường, Nghiến, Đinh, Thông pà cò các loài lan hài,các loài họ Mộc Hương, (Báo cáo

kết quả điều tra phân bố các loài thực vật quý, hiếm và sinh cảnh chính, 2012) [2]

Núi đá vôi là hệ sinh thái rất đặc biệt của nước ta, nó chứa đựng một nguồn tài nguyên sinh học vô cùng quí giá Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBTL&SC NXL là vùng núi đá vôi liền kề với VQG Ba Bể, KBT Na Hang Tuyên Quang Tuy nhiên trong thực tế nguồn tài nguyên rừng tại đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép của các làng bản xung quanh bảo vệ nguồn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại KBT đã được tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm Cũng như các KBT khác, KBTL & SCNXL huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn là nơi lưu giữ những nguồn gen và các loài động thực vật có giá trị, đặc biệt loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây Để tìm hiểu một số loài thực vật quý hiếm đó tôi tiến hành thực

hiện đề tài: “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã đậu linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Tỉnh Bắc Kạn ”

Trang 12

1.2 Mục đích

Dựa trên cơ sở điều tra nghiên cứu đặc điểm sinh thái và sự bố của loài cây

Mã Đậu Linh Quảng Tây làm cơ sở để đề xuất một số biện pháp nhằm bảo vệ loài cây này và bảo tồn nguồn gen loài thực vật quý hiếm còn tồn tại trong KBT

1.3 Mục tiêu

- Tìm hiểu được đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân địa phương

về loài Mã Đậu Linh Quảng Tây trong khu vực nghiên cứu

- Xác định được một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Mã Đậu Linh Quảng Tây

- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc Mã đậu linh Quảng Tây, một trong những loài cây thuốc quý hiếm có trong KBT

1.4 Ý nghĩa của khóa luận

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Việc nghiên cứu giúp tôi củng cố lại và bổ sung thêm kiến thức đã học Qua đó giúp tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thấy được sự đa dạng của các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu,

và sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua

Đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn loài cây thuốc Mã Đậu Linh cùng các loài thực vật quý hiếm khác tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

- Đây là tài liệu tham khảo cho những người có nhu cầu tìm hiểu về các vấn

đề đã được nêu trong khóa luận

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu về cây Mã đậu linh Quảng Tây

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần

∗Về cơ sở sinh học

Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là

cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên

∗Về cơ sở bảo tồn

Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH.v.v

Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978, Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ (Sách đỏ Việt Nam, 1996) phần II, Thực vật Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (Sách đỏ Việt Nam, 2007) phần II Thực vật để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau:

+ Bị tuyệt chủng (EX)

+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW)

Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân hạng chính sau:

+ Cực kì nguy cấp (CR)

+ Nguy cấp (EN)

Trang 14

- Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc)

+Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD)

+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)

Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban

hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP) [9] Nghị định quy định các loài động, thực

vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính:

+IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng)

+IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng)

Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại KBTL&SCNXL huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN

và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong những loài thực vật cần được bảo tồn là loài cây thuốc quý hiếm Mã đậu linh Quảng Tây tại KBT, đây là

cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận

Đối với bất kỳ công tác bảo tồn một loài động thực vật nào đó thì việc đi tìm hiểu

kỹ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất Ở KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc tỉnh Bắc Kạn, tôi đi tìm hiểu một số đặc điểm sinh học loài Mã đậu linh Quảng Tây, thống kê số lượng, tình hình sinh trưởng và đặc điểm sinh thái học của loài tại địa bàn nghiên cứu Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về cây Mã đậu linh Quảng Tây

2.2.1 Trên thế giới

Trang 15

Các hoạt động hướng tới phát triển bền vững và bảo tồn Đa dạng sinh học ở các vùng đá vôi ở Việt Nam cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới hiện còn gặp nhiều khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích đến từ nhiều phía Những vùng này thường có phong cảnh đẹp, giàu bản sắc truyền thống văn hoá dân tộc, tài nguyên rừng phong phú, nhất là các sinh vật quý hiếm mà chỉ có ở vùng núi đá vôi, hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi,v.v

Nhưng công cuộc phát triển kinh tế-xã hội ở đó chủ yếu mới chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà chưa chú ý đúng mức đến bảo vệ môi trường, bảo tồn các loài động thực vật nhất là các loài quý hiếm v.v

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO)Văn phòng UNESCO Hà Nội, 2005 [11]

CIFOR (Centrer for Internationl Forestry Resarch) thành lập năm 1993, trụ

sở chính tại Bogor, Indonesia với hoạt động chính là hướng tới một thế giới mà ở đó rừng được trú trọng trong các định hướng chính sách, và con người nhận thức được giá trị thực sự của rừng trong việc bảo đảm sinh kế và các dịch vụ từ rừng

Ở một số nước đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm đưa mối quan hệ giữa con người lên một mức độ khác Qua đó con người có những tác động tích cực vào rừng đem lại hiệu quả về mặt quản lí, rừng không bị suy giảm, con người được hưởng lợi nhiều từ rừng Trong các chương trình các nước quy định quyền sử dụng đất của người dân Tại Ấn Độ, nhà nước chỉ giao đất không có rừng cho các cộng đồng địa phương, đất Lâm nghiệp do nhà nước quản lý hoặc theo hình thức cộng quản Hiện nay Philippines, Thái Lan, Trung Quốc đã cấp giấy phép sử dụng đất cho các cá nhân theo các chương trình lâm nghiệp xã hội.Các tổ chức hợp tác bảo vệ rừng như chương trình hợp tác của TFAP (Tropical Forestry Action Plan), kế hoạch hành động bảo vệ rừng nhiệt đới và ITTA, Hiệp ước quốc tế về gỗ nhiệt đới Các công ước quốc tế đã được ký kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn

đa dạng sinh học như: Công ước Cites 1973, IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) - liên minh quốc tế về bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên.Nghị định Thư Montreal về các chất làm suy giảm

Trang 16

tầng Ozon (1987) Tháng 9 năm 1991, hội nghị lâm nghiệp thế giới lần thứ X tại Pari đã vạch ra chiến lược toàn cầu hóa về bảo vệ rừng

Năm 1991, Hiệp hội thế giới về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) và quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) đã đưa ra đề xuất tăng diện tích rừng được bảo vệ lên 10% vào thế kỷ XXI Những công ước quốc tế đã được kí kết nhằm mục đích bảo

vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới như: Công ước bảo vệ

di sản văn hóa thế giới (1973), công ước về buôn bán các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng (Công ước Cites, 1973) công ước bảo vệ các vùng đất ướt Ramar, Nghị định thư montreal về các chất làm suy giảm tầng Ozone (1987), ngày 5/6/1992 Công ước

đa dạng sinh học được kí kết và có 170 nước tham gia

Hệ thống AGP III là một hệ thống phân loại thực vật đối với thực vật có hoa hiện đại Nó được Angiosperm Phylogeny Group (APG) công bố tháng 10 năm

2009 trong Botanical Journal of the Linnean Society (Tạp chí thực vật học của Hiệp hội Linnaeus) Cho biết đã đưa họ Mộc Hương (danh pháp khoa học:

Aristolochiaceae ) vào trong bộ Hồ Tiêu ( Piperales ), nhưng việc đưa họ này vào trong bộ riêng của chính nó là bộ Mộc Hương Nam (Aristochiales) vẫn còn rất phổ biến, mặc dù điều này đã lỗi thời Họ Aristolochiaceae là một nhóm thực vật hai lá

mầm cơ sở (thực vật hai lá mầm cổ) Nó có quan hệ họ hàng gần với các bộ

Magnoliales, Laurales, Canellales và Piperales, chúng tạo thành một nhánh đơn

ngành gọi là phức hợp Mộc Lan (Magnoliids)

Các loài cây trong họ này chủ yếu là cây thân thảo, cây bụi, dây leo hay dây leo thân gỗ nhỏ sống lâu năm.Các lá màng, đơn, hình tim và bản rộng, mọc xen kẽ dọc theo thân trên các cuống lá Các mép lá nói chung trơn nhẵn Không có các lá kèm Các hoa

kỳ dị có kích thước từ trung bình tới lớn, phát triển trên các nách lá Chúng là song song hay đối xứng tâm Cây thường xanh là dây leo thân thảo và là cây sống lâu năm

Họ Mộc Hương Nam là họ thực vật có hoa với 5 - 7 chi (Apama, Aristolochia , Asarum, Euglypha, Holostylis, Saruma, Thottea) và khoảng 400 - 625 loài, với sự

phân bố ở hầu hết trên các nước[20]

Trang 17

Chi Tế Tân ( Asarum L – hay còn gọi là chi Hoa tiên , Dầu tiên ) trên thế giới chi

này có khoảng 90 loài phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới của Bắc bán cầu Phần lớn các loài

ở khu Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản ,Việt Nam ) Bắc Mỹ và một số loài ở Châu Âu

Chi Thottea này có khoảng 26 loài, phân bố ở Ấn Độ, Xri Lanca, Bănglađét,

Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Philippin, Inđônêsxia và Bócnêô

Chi Aristolochia các loài cây trong họ này chủ yếu là cây thân thảo, dây leo

hay dây leo thân gỗ nhỏ sống lâu năm Các lá có màng, đơn, hình tim và bản rộng, mọc xen kẽ dọc theo thân trên các cuống lẻ Các mép lá nói chung trơn nhẵn Không

có lá kèm, có hoa kỳ dị kích thước trung bình tới lớn, phất triển trên các nách lá, chúng song song hay đối xứng tâm Chi này thuộc Họ Mộc Hương (

Aristolochiaceae ) Aristolochia là một lớn các nhà máy chi với hơn 500 loài Các thành viên của nó thường được gọi là Birthwort , Pipevines hoặc Ống Hà Lan và là phổ biến xuất hiện ở các vùng khí hậu đa dạng nhất Một số loài như A.utriformis và A.westlandii bị đe dọa tuyệt chủng Phân bố ở hầu hết trên các nước nhiệt đới vùng nóng nhiều nhất có ở Châu Mỹ Cây Mã đậu linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) là 1 cây trong chi này, là cây dây leo cây non

có lông vàng cành già cỏ nứt nẻ thành rãnh sâu, bao hoa hình ống muống câu là nguồn gen quý và thường dùng làm thuốc …

Trên thế giới các nghiên cứu về cây dây leo Mã đậu linh Quảng Tây chưa có nhiều Do đây là loài đặc hữu chỉ thấy mọc ở Nam Trung Quốc (Quảng Tây) và Bắc Việt Nam

Mô tả đặc điểm từ thực vật của Trung Quốc: Aristolochia kwangsiensis là

cây bụi leo núi Bắt nguồn terete, cắm nông striate, đông bụi vàng đế xồm xoàm nâu Cuống 6 – 15 cm, mật độ xồm xoàm; lá lưỡi giống hình trái tim đế hình cầu, 11-13 x 9-32 cm, mỏng như giấy, cả hai bề mặt vừa phải để đông xồm xoàm, tĩnh mạch palmate, 2 cặp từ cơ sở, cơ sở giống hình trái tim hoặc auriculate, xoang sâu 3-5 cm, đỉnh tù hoặc cấp xồm xoàm; bractlets giống hình cây giùi, 3-6 mm Đài hoa chân tay màu tím sấm, cố họng màu vàng, 4-5 cm; ống hình móng ngựa, abaxially đông xồm xàm; phần cơ bản của ống 20-35 x 3-10 mm; chi dạng đĩa suborbicular, 3,5-4,5 cm đường kính, rõ ràng 3 thùy; thùy rộng cơ delta, Bao phấn thuôn dài, ca 2

Trang 18

mm Gynostemium 3 thùy Viên nag hình trụ, 8-10 x 2 cm, dehiscing baripetally Hạt hình trứng, 5 x 4 mm Fl Mar-May, fr Aug-Tháng chín

Aristolochia austroszechuanica được bao gồm ở đây trên cơ sở protologue;

tiếp tục nghiên cứu là cần thiết để làm rõ vị trí và tình trạng của nó

* Rừng trên sườn núi; 600-1600 m phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Chiết Giang

Trích dẫn: Bách khoa toàn thư tập 3 (NXB nhân dân Bắc Kinh )[19]

2.2.2 Ở Việt Nam

Việt Nam được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của vùng Đông Nam Á, nhiều nhà khoa học đã nhận định rằng rừng Việt Nam là một trong top 10 quốc gia châu Á có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Việt Nam được thế giới công nhận là 1/16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao, trong

đó có hệ động thực vật hoang dã điển hình của rừng nhiệt đới

Trên thực tế, việc bảo tồn, bảo vệ rừng đặc dụng là đóng góp tích cực của Việt Nam đối với việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trên toàn cầu, nhưng đang bị chính con người tàn phá và hủy diệt Để đạt được những thành quả đó Đảng

và Nhà nước đã có nhiều chính sách, bộ luật, chương trình dự án nhằm quản lí bảo

vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng

Mã đậu linh Quảng Tây là 1 loài cây đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam

Các nghiên cứu về bảo tồn

Cụ thể là luật quản lí bảo vệ và phát triển rừng năm 1994, tháng 7/1993 luật đất đai ra đời quy định cụ thể các điều khoản chính sách về đất đai

Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên được soạn thảo và chính thức công bố, trong thời gian từ 1992 đến 1996 và năm 2007, đã thực sự phát huy tác dụng, được sử dụng có hiệu quả trong các hoạt động nghiên cứu giảng dạy, quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên động thực vật ở nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, môi trường thiên nhiên nước ta trong giai đoạn vừa qua

Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã Điều này được thể hiện bằng một loạt

Trang 19

các văn bản, chính sách đã ra đời Ba mốc quan trọng nhất trong lĩnh vực bảo tồn của Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 18/HĐBT (1992), Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002) và Nghị Định 32-CP (2006) Nghị định 32/2006 CP được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006 nhằm quy định các loài động thực vật nguy cấp quý hiếm cần được bảo vệ

Theo Nghị định này, các loài thực vật được chia thành 2 nhóm: nhóm Ia là nhóm thuộc diện nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, nhóm IIa là nhóm bị hạn chế khai thác sử dụng Nhóm Ia có 15 loài và tất cả các loài trong hai chi: Lan kim

tuyến (Anoectochilus spp.), chi Lan hài (Paphiopedilum spp.) Nhóm IIa có 37 loài và và tất cả các loài trong hai chi: Tuế (Cycas spp.) và chi Lan một lá (Nervilia spp.) (Bộ Nông

nghiệp và phát triển nông thôn- Tổng cục lâm nghiệp, tháng 12 năm 2010)[3]

Đến năm 2008, hệ thống KBT thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ cảnh quan,

20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 KBT biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh cao, với diện tích trên 2,26 triệu ha, đại diện cho hầu hết các hệ sinh thái quan trọng trên cạn, đất ngập nước và trên biển (Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN Việt Nam (2008),Cục kiểm lâm và viện điều tra quy hoạch rừng) [13]

KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc theo đánh giá của WWF Chương trình

Việt Nam 2008 (Bộ Công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam WWF

Chương trình Việt Nam, 2008)[15] Đáp ứng đầy đủ các tiêu chí cho KBT có giá trị bảo tồn cao liên quan đến việc duy trì đa dạng sinh học ở mức độ loài Có ba tiêu trí

mà Bộ Công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam đã đề ra: (1) Là khu rừng đặc dụng, (2) Có nhiều loài bị đe dọa và nguy cấp, (3) Có các loài đặc hữu

Các mối đe dọa đối với tài nguyên thực vật hiện nay là rất lớn không loại trừ các KBT và VQG Để đánh giá mức độ tác động của con người đã có nhiều tài liệu

đã đề cập tới Bộ Công cụ xác định rừng có giá trị bảo tồn cao Việt Nam đã khuyến cáo nên đánh giá theo các tiêu chí chính sau:

- Mất loài, thay đổi quần xã

- Mất rừng, tình trạng manh mún

Trang 20

- Tăng độ lắng đọng trầm tích, tần suất hạn hán nhiều hơn

- Sản lượng lâm sản ngoài gỗ giảm sút

- Mất đi những địa điểm có tầm quan trọng

Chương trình hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội, 2000, Bài giảng Bảo tồn đa dạng sinh học đã đưa ra con người có thể gây nên các tác động ngắn hạn hoặc dài hạn Tác động tức thời như chăn thả quá mức có thể làm mất nguồn thức ăn cho động vật hoang dã Tác động lâu dài làm mất đi sự tái sinh tự nhiên của các loài cây thân gỗ

và lau sậy chiếm ưu thế Cũng như đối với các dạng điều tra khác, điều quan trọng

là chúng ta phải hiểu sâu sắc các mục tiêu đánh giá tác động của con người và vật nuôi lên các sinh cảnh Chỉ khi đó ta mới thu thập thông tin một cách chính xác và kịp thời để lên kế hoạch quản lý

Một chiến lược quản lý KBT hoàn chỉnh bao gồm việc giám sát mức độ

"quấy nhiễu sinh cảnh" do tác động của con người để dự báo được mức độ tác động trong tương lai và thực thi các biện pháp chống lại

Đứng trước thực trạng trên Đảng và nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu đối với công tác quản lí bảo vệ rừng là: Rừng phải có chủ, hạn chế tình trạng phá rừng, đốt nương làm rẫy, đưa người dân tham gia vào công tác bảo vệ nguồn tài nguyên rừng với trương trình phát triển kinh tế xã hội đất nước theo hướng bền vững

Nghiên cứu về sinh thái, phân loại

Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là

cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, Ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường

Cây Mã Đậu Linh Quảng Tây một loài cây quý hiếm có giá trị kinh tế cao cần được nghiên cứu bảo vệ và chăm sóc nhằm lưu giữ và phát triển nguồn gen cây rừng

Việt Nam là một trong những nước có tốc độ suy giảm với tốc độ rất nhanh nhiều loài động thực vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong đó có rất nhiều loài quý hiếm không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới, hiện nay với sự tác động mạnh mẽ của con người với cái lợi ích trước mắt mà đã quên hết đi tất cả những gì

Trang 21

mà thiên nhiên đã mang lại cho chúng ta, sự cấp bách như vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu tại KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc thuộc tỉnh Bắc Kạn, tại KBT này nhiều khu rừng nhiều loài động thực vật bị tàn phá và săn bắt không thương tiếc Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu đặc tính sinh học nhằm bảo tồn các loài quý hiếm là một vấn đề rất được chú ý nó chỉ là giúp một phần nhỏ vào công tác bảo tồn ,nhưng qua hoạt động này sẽ giúp ta duy trì và bảo tồn được thêm một loài thực vật đang bị khai thác nhiều chỉ còn lại số lượng ít, hy vọng sau kết quả nghiên cứu này, nhiều loài cây khác cũng sẽ được nghiên cứu và bảo tồn[17]

Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của các loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam [16]

Đỗ Tất Lợi (1991) [7] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bảm địa hoang dại hữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay Theo Hà Thu Chử (1996)[8] tới nay Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30 loài cây song bao gồm: Chi mây nếp (Calamus) có 19 loài và 1 loài phụ; chi hèo (Daemonrops) có 4 loài; chi phướn (Korthalsia) có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có 1 loài; chi song lá bạc (Plectocomia) có 2 loài và chi song voi (Plecomomiopsis) có 1 loài Ngoài ra tác giả

và các cộng sự [8] đã đưa ra định nghĩa, phân loại các loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích, giới thiệu về một số nhóm các loài thực vật bản địa dại hữu ích có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý các loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển các loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích

Theo Triệu Văn Hùng và cộng sự (2007) [12] ở Việt Nam có thể có đến 200 loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong

đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển

24 Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất

Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001) [10] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc

Trang 22

Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [12], đã mô tả hình thái, phân

bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích

Tổng quan về loài cây nghiên cứu

Họ Mộc Hương (Aristolochiaceae) là họ thực vật có hoa theo thông tin mới nhất thì thuộc về bộ Hồ Tiêu (Piperales)là 1 phân lớp của Mộc Lan (Magnoliidae ) Họ Mộc Hương có 5 – 7 chi và có khoản 400 – 480 loài [20] Một số loài trong họ

Mộc Hương ở Việt Nam như sau:

1 Sơn Dịch balansa : Aristolochia balansae Franch

2 Rễ gió; Sơn dịch vặn : Aristolochia contorta Bunge

3 Mã Đậu Linh lá to; Sơn dịch kaempf : Aristolochia kaempferi Willd

4 Mã Đậu Linh pê-tơ-lô: Aristolochiapetelotii O.C.Schmidt

5 Chu Sa Liên : Aristolochia tuberosa

6 Đại Diệp Mã đậu linh: Aristolochia Liang

7 Thanh Mộc Hương : Aristolochia Hwang

8 Mã Đậu Linh Quảng Tây : Aristolochia kwangsiensis Chun et How

9 Thố Tế Tân : Asarum caudigerum

10.Tốt Hoa Hải Nam : Thottea hainanensis

Loài Mã đậu linh Quảng Tây là loại dây leo thân gỗ thuộc trong họ Mộc Hương

được mô tả trong Sách đỏ Việt Nam (1996) [4] đã mô tả cây dây leo Mã đậu linh Quảng Tây này có giá trị làm thuốc và có nguồn gen quý hiếm Sách đỏ Việt Nam –

phần II thực vật năm 2007 [5]

Mã Đậu linh Quang Tây - Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang, 1975

Tên khác: Đại diệp mã đậu linh, mã đậu linh lá to, viên diệp mã đậu linh Họ mộc hương

Aristolochiaceae

Đặc điểm nhận dạng: Cây sống nhiều năm, thân leo hóa gỗ, có rễ củ to

Thân non và lá non có nhiều lông Lá giả chỉ có lông ở mặt dưới và ở gân mặt trên Phiến lá dạng trứng tròn: 23-34 x 22-32 cm, chóp lá tù, gốc lõm dạng tim; có 5 đôi gân bên gần đối xứng nhau Gân mạng nổi rõ ở mặt dưới lá Cụm hoa có 1-2 hoa ở nách lá Hoa có cuống, cả cuống và bao hoa cong hình chứ “S”, ống bao hoa màu

Trang 23

xanh nhạt, dài đến 7,5 cm.phần lớn nhất ở chỗ hình cong có đường kính khoảng 1,4

cm, các thùy của ống hình tam giác, mặt tím hồng, mặt trên có các gai nổi màu hồng đậm, họng ống tròn màu vàng Nhị 6 Bầu 6 ô, vòi nhụy 6 Quả màu nâu vàng, gần giống hình trụ tròn, dài 8-10 cm, có 6 cạnh lồi, đỉnh có đuôi dài khoảng 3mm Hạt hình trứng màu nâu, cỡ 5 x 4, mặt hơi lõm

Mã đậu linh Quảng Tây - Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang

1 Cành mang lá ; 2 Hoa ; 3 Quả (hình theo SĐVN, 1996)

Sinh học và sinh thái: Ra hoa vào tháng 5, mùa quả tháng 6 - 9 Cây tái sinh

chồi ở thân vào mùa xuân Chữa rõ khả năng trồng bằng hạt Cây ưa sáng và có thể chịu bóng; mọc rải rác trên đất lẫn đá, ở rừng thứ sinh, thưa, ở độ cao tới 1000 m

Phân bố:

- Trong nước: Hà Giang (Mèo Vạc), Cao Bằng (Thạch An), Lạng Sơn (Cao

Lộc, Đồng Đăng), Hải Phòng (Cát Bà)

- Thế giới: Trung Quốc

Giá trị: Loài quý hiếm, rễ củ làm thuốc chữa đau bụng thổ tả, đau xương,

đau gân, bệnh viêm gan, mật

Trang 24

Tình trạng: Loài đã từng bị khai thác lấy nguyên liệu làm thuốc Trong các

điểm phân bố trước đây, tại Thạch An (Cao Bằng) nay không còn tìm lại được Khu phân bố chia cắt xa nhau, bị tàn phá nghiêm trọng

Phân hạng: EN A1c,d

Theo danh lục các loài thực vật Việt Nam tập 2 trang 124 [6]

Dạng sống và sinh thái: Dây leo thân hóa gỗ Cây ưa sáng và ẩm, thường

mọc bên bờ suối, leo trên các cây thân gỗ khác ở vùng núi đá vôi, trên độ cao trên

300 – 1000 m Ra hoa quả tháng 5 – 9

Công dụng: Rễ có tác dụng giảm đau, chữa đau dạ dầy, đau họng, đau gan

và chữa rắn cắn

Theo trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam mô tả cây Mã đậu linh Quảng Tây

Mô tả: Là cây dây leo, dài 5 - 6m Cành non có lông tơ dày màu vàng; cành

già có vỏ nứt nẻ thành rãnh sâu theo chiều dọc Lá to, hình tim tròn hoặc gần tròn, đầu tù, mép nguyên, mặt trên màu lục sẫm có lông ở gân, mặt dưới trắng nhạt có lông dày mịn; cuống lá dài 7 - 8cm Hoa màu hồng tím, mọc 1 - 2 cái ở nách lá Bao hoa hình ống, uốn cong hình lưỡi câu, màu xám phớt tím, phủ đầy lông, phiến hoa màu hồng tím, đường kính 3cm, chia làm ba thùy, mặt trên có nhiều gai màu tím sẫm, họng màu vàng Quả nang hình trụ dài 8 - 10cm, phủ lông mịn

Phân bố: loài có gặp ở Hà Giang, Cao Bằng và Lạng Sơn Cây mọc ở rừng

thứ sinh thưa ở độ cao tới 1000m, ưa sáng, tái sinh bằng chồi ở thân vào vụ xuân, ra hoa tháng 5 và có quả tháng 6- 9

Công Dụng : rễ củ được sử dụng làm thuốc uống trong chữa viêm dạ dày,

ruột, đau họng và dùng ngoài chữa vết thương, nhọt độc và rắn cắn

Các nghiên cứu khác có liên quan

Võ Văn Chi trong từ điển cây thuốc Việt Nam ( NXB y học năm 1999 trang 702 )[9]

đã mô tả cây Mã đậu linh, cây Khố Rách - Aristolochia kwangsiensis Chun & How, thuộc họ Mộc Hương Nam – Aristolochiaceae Là cây dây leo dài 5-6m, cành non có

lông tơ dày màu vàng, cành già có vỏ nứt nẻ thành rãnh sâu Loài này của Nam Trung Quốc và ở Bắc Việt Nam Ở nước ta loài mọc hoang ở rừng núi, phát hiện ở lạng

Trang 25

sơn và hà giang Thu hái rễ vào mùa thu dùng tươi hay phơi khô Rễ có mùi thơm, có tác dụng giải nhiệt, giảm đau, sát trùng, cầm máu

Cây Mã đậu linh Quảng Tây hiên mới phát hiện tại KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu bảo vệ loài cây tại khu vực này Chính vì vậy, để bảo loài cây quý hiếm này cần phải có kế hoạch đầu tư khoa học và công nghệ để khảo sát, đánh giá, và bảo vệ cây Mã đậu linh Quảng Tây để nguồn lợi trên mang lại lợi ích về kinh tế và đồng thời góp phần gìn giữ một nguồn gen cây rừng quý hiếm một cách chủ động và tích cực

2.3 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.3.1.1 Vị trí địa lý

KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc có diện tích là: 1.788 ha, diện tích vùng đệm 7.508ha Diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 92% tổng diện tích KBT, diện tích rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá KBT Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm chủ yếu trên địa phận các xã Bản Thi, Xuân Lạc, Đồng lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, có tọa độ địa lý 220o17’-22o19’ và 105o28’-105o33’E

- Phía Bắc giáp thôn Bản Eng và Bản Tưn xã Xuân Lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

- Phía Tây giáp xã Thanh Tương và Vĩnh Yên huyện Na Hang, tỉnh tuyên Quang

- Phía Đông giáp Thôn Cốc Tộc xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Nam giáp thôn Phia Khao, thôn Khuổi Kẹn xã Bản Thi - Chợ Đồn - Bắc Kạn KBT cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng huyện Chợ Đồn 35km về phía Bắc, giao thông đi lại khó khăn Đây là khu rừng còn tương đối nguyên vẹn với hệ sinh thái đa dạng, phong phú và nối liền với KBT thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang) KBT nằm trên diện tích của xã Xuân Lạc và giáp với xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

2.3.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn

* Khí hậu: Theo số liệu khí hậu thuỷ văn của huyện Chợ Đồn thì khu vực xã

Xuân Lạc và xã Bản Thi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè từ tháng 4 đến tháng

10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20,100C; nhiệt độ trung bình cao nhất 26,70C vào tháng 7,nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,50C vào tháng 1

Trang 26

- Lượng mưa trung bình là 153mm phân bố không đều giữa các tháng trong năm, tập trung vào tháng 6, 7 lên tới 340 mm

* Thuỷ văn: Trong khu vực có một con suối chính bắt nguồn từ xã Vĩnh Yên

huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang chảy theo hướng Tây - Bắc, qua các thôn Nà

Dạ, Bản Eng, Bản Tưn, Bản Ó và Tà Han của xã Xuân Lạc rồi đổ ra Hồ Ba Bể với chiều dài suối dài khoảng 9km, thường có nước quanh năm nhưng về mùa đông thì mực nước thấp hơn Ngoài ra còn nhiều khe suối nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh núi cao

đổ xuống suối Tà Han

2.3.1.3 Đặc điểm địa hình

KBT loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, chủ yếu là rừng trên núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam, với độ cao trung bình từ 400m đến 800m so với mực nước biển, đỉnh Tam Sao cao nhất 1.159m, đi lại khó

loài gỗ quý Thông pà cò (Pinus kwangtungensis) Thường tập trung trên các đỉnh núi KBT, Chò đãi (Annamocarya sinensis) thường tập trung dọc các khe suối ẩm và thung lũng, Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri), Nghiến (Excentrodendron tonkinense) là loài đặc hữu của miền Bắc Việt Nam và miền Nam của Trung Quốc,

đây cũng là loài chiếm ưu thế ở các sườn núi đá vôi khu vực Nam Xuân Lạc Các

loài cây dược liệu quý Mã đậu linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun &

Trang 27

How) Mã hồ (Mahonia nepalensis), Bát giác liên (Podophyllum tonkinense) , Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia) phân bố rải rác trong KBT Các loài Lan Hài: Tiên hài (Paphiopedilum hirsutissimum), Hài mạng đỏ tía ( Paphiopedilum micranthum ), Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus) , và Tuế (Cycas balansae)

cũng là những đối tượng quan trọng của công tác bảo tồn trong khu vực

* Về động vật

Theo kết quả nghiên cứu sơ bộ của tổ chức BirdLife năm 2000 đã ghi nhận tổng số 373 loài động vật thuộc 70 họ, 22 bộ, 5 lớp trong đó 34 loài thú (có 8 loài Dơi), 159 loài chim, 19 loài bò sát, 14 loài ếch nhái và 150 loài bướm ở khu vực Nam Xuân Lạc Trong đó có 20 loài quý hiếm bao gồm 9 loài thú, 1 loài chim, 9 loài bò sát và 1 loài ếch nhái Có 11 loài bị đe dọa cấp toàn cầu ghi trong Danh lục

Đỏ IUCN (2000) gồm 3 loài bậc EN, 4 loài bậc VU, 2 loài bậc LR/nt và 2 loài bậc

DD Các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trong KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được liệt kê một số trong các loài này có thể không còn tồn tại Đặc biệt,

hệ động vật đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong những năm gần đây do nạn khai thác gỗ, săn bắn động vật hoang dã trái phép trong KBT

2.3.2 Tình hình dân cư kinh tế Khu bảo tồn nằm trên địa bàn của xã Xuân Lạc và

xã Bản Thi với tổng số 986 hộ, 4750 khẩu, phần lớn là đồng bào Dao và Tày

Bảng 2.1: Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi

STT Tên xã Số hộ Số khẩu

Mật độ dân số người/km 2

Số hộ nghèo

Số hộ %

(Nguồn: Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, năm 2009)

(Chú thích: Tỉ lệ hộ nghèo được xác định theo chuẩn nghèo của Bộ lao động

- Thương binh và xã hội áp dụng cho khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân: 400.000 VND/người/tháng)

Trang 28

Cư dân trong vùng chủ yếu sống tập trung thành các bản, những hộ ở trên cao rải rác đã chuyển xuống thấp sống cùng bản làng, phần lớn trong số họ đến định cư

ở khu vực này vào những năm 1979 - 1980

2.3.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp

2.3.3.1 Tình hình phát triển ngành trồng trọt

Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích Trong

đó đất trồng lúa, màu bình quân 383m2

/khẩu Sản phẩm trồng trọt chủ yếu là: Lúa nước, Ngô, Lúa nương, Sắn, …

Ruộng nước được phân bố nơi thấp gần khu dân cư, ven suối và một số diện tích nhỏ ruộng bậc thang Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, giống chưa được cải thiện Lúa nương được canh tác trên các sườn đồi hoặc núi thấp Do đất dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất không cao và bấp bênh Diện tích lúa nương thường không ổn định do sự du canh qua nhiều vùng khác nhau quanh các điểm dân cư

2.3.3.2 Tình hình phát triển lâm nghiệp

Trong khu vực không có hoạt động sản xuất lâm nghiệp của các Lâm trường, khai thác gỗ của nhân dân mà chủ yếu là thu hái lâm sản tự phát Trước đây, lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các loài động vật để phục vụ làm nhà và làm nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Hiện nay, người dân chủ yếu thu hái nguồn lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ.Hoạt động khai thác củi đun: người dân thường lấy cành khô, cây khô từ KBT, đặc biệt để có củi khô thì sau những lần đi lấy củi họ đều chặt một số cây tươi trong khu vực để lần sau lại có củi khô

Người dân địa phương đặc biệt là người dân tộc thiểu số thường thu hái các loại thảo dược để dùng cho mục đích chữa bệnh Nhìn chung, việc thu hái cây thuốc của các thầy Lang là không nhiều và không ảnh hưởng lớn đến sự đa dạng sinh học, sự bền

vững vì nó phụ thuộc vào nhu cầu của người bệnh đi tìm thầy Lang

2.3.4.Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương

* Thuận lợi

Trang 29

- KBT Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn có diện tích đất đai

rộng lớn và tính chất đất còn tốt do vậy đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng về thành phần loài và hệ sinh thái của địa phương

- KBT có hệ thống ban quản lý với số lượng lớn và chất lượng cao do vậy việc bảo tồn được duy trì và phát triển tốt, đóng góp lớn vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học cho KBT

- Địa hình phức tạp hiểm trở do vậy việc khai thác trái phép và các hoạt động làm suy giảm giá trị đa dạng sinh học ít

- Khí hậu là điều kiện thuận lợi để KBT lưu giữ và bảo tồn một số loài động thực vật đặc hữu

- Địa hình hiểm trở khiến cho công tác quản lý và bảo vệ còn gặp khó khăn

- KBT rộng nhưng số kiểm lâm viên địa bàn thì quá ít không đáp ứng được nhu cầu về bảo vệ của KBT

- Người dân sống một phần chủ yếu dựa vào rừng nên cần có thời gian thay đổi lối sống này

- Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số nên trình độ dân trí chưa cao, chủ yếu là trồng trọt và khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong rừng làm cho diện tích rừng bị giảm đi nhanh chóng

- Kinh tế kém phát triển chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp

Trang 30

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Một số đặc điểm sinh học và tình trạng của loài cây loài Mã đậu linh Quảng Tây ( Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) phân bố tự nhiên tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc- Chợ Đồn- Bắc Kạn

3.1.2 Địa điểm và thời gian

- Địa điểm: Khóa luận được thực hiện tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc trong diện tích rừng tự nhiên thuộc các xã Bản Thi và Xuân Lạc

- Thời gian tiến hành: Khóa luận tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu, phân tích

và tổng hợp tài liệu hoàn thiện đề tài từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 5 năm 2014

3.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu, tiến hành điều tra khảo sát địa điểm đã chọn tại các khu vực rừng tự nhiên trong KBT với các nội dung chính sau:

- Đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây

- Một số đặc điểm nổi bật về phân loại, hình thái của loài (Rễ, thân, lá, hoa, ) của loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây

- Một số đặc điểm sinh thái của loài Mã đậu linh Quảng Tây (Tầng cây cao, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi, đất )

- Đặc điểm phân bố của loài Mã đậu linh Quảng Tây (Theo độ cao, trạng thái rừng )

- Tác động của con người tới khu bảo tồn và loài cây nghiên cứu

- Đề xuất một số biện pháp phát triển và bảo tồn các loài Mã Đậu Linh Quảng Tây tại khu vực nghiên cứu

3.2 phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn ở địa phương

Thu thập các số liệu có sẵn: Bản đồ, các tài liệu nghiên cứu về thực vật, hệ sinh thái rừng

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Bảng 2.1 Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi (Trang 27)
4.1. Hình ảnh thân cây già 4.2. Hình ảnh thân cây non - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
4.1. Hình ảnh thân cây già 4.2. Hình ảnh thân cây non (Trang 38)
4.3. Hình ảnh 2 mặt lá - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
4.3. Hình ảnh 2 mặt lá (Trang 39)
4.5. Hình ảnh chiều dài và chiều rộng của củ - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
4.5. Hình ảnh chiều dài và chiều rộng của củ (Trang 40)
4.6. Hình ảnh tiết diện ngang của củ  4.7. Hình ảnh tiết diện ngang của rễ già - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
4.6. Hình ảnh tiết diện ngang của củ 4.7. Hình ảnh tiết diện ngang của rễ già (Trang 40)
Bảng 4.2: Công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có cây Mã đậu linh Quảng - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Bảng 4.2 Công thức tổ thành cây tầng cao lâm phần có cây Mã đậu linh Quảng (Trang 41)
Bảng 4.3: Tổng hợp tái sinh khu vực có loài Mã đậu linh Quảng Tây phân bố - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Bảng 4.3 Tổng hợp tái sinh khu vực có loài Mã đậu linh Quảng Tây phân bố (Trang 42)
Bảng 4.6: Độ che phủ của cây bụi trong OTC nơi có cây Mã đậu linh Quảng Tây - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Bảng 4.6 Độ che phủ của cây bụi trong OTC nơi có cây Mã đậu linh Quảng Tây (Trang 43)
Bảng 4.7: Kết quả tổng hợp điều tra đất nơi phân bố loài Mã đậu linh phân bố - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Bảng 4.7 Kết quả tổng hợp điều tra đất nơi phân bố loài Mã đậu linh phân bố (Trang 44)
Bảng 4.7: Tổng hợp số liệu tác động của con người và vật nuôi trên các tuyến - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Bảng 4.7 Tổng hợp số liệu tác động của con người và vật nuôi trên các tuyến (Trang 45)
4.10. Hình ảnh Sa nhân bị thu hái  4.11. Hình ảnh Trăn bị thịt - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
4.10. Hình ảnh Sa nhân bị thu hái 4.11. Hình ảnh Trăn bị thịt (Trang 47)
4.13. Hình ảnh đốt rừng, phát nương làm rẫy - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
4.13. Hình ảnh đốt rừng, phát nương làm rẫy (Trang 48)
Mẫu bảng 3.2: Bảng thu thập số liệu hình thái thân - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
u bảng 3.2: Bảng thu thập số liệu hình thái thân (Trang 57)
Mẫu bảng 3.3: Bảng thu thập số liệu hình thái lá - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Mã Đậu Linh Quảng Tây (Aristolochia kwangsiensis Chun & How ex Liang) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
u bảng 3.3: Bảng thu thập số liệu hình thái lá (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm