Trang 1 PHẠM THỊ DƯỠNG Tên đề tài: “ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HẠI CỦA MỘT SỐ LOẠI BỆNH HẠI CHỦ YẾU ĐỐI VỚI CÂY GIỐNG LÂM NGHIỆP TẠI VƯỜN ƯƠM TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÂM NGHIỆP MIỀN NÚI PHÍA BẮC THUỘ
Trang 1PHẠM THỊ DƯỠNG
Tên đề tài:
“ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HẠI CỦA MỘT SỐ LOẠI BỆNH HẠI CHỦ
YẾU ĐỐI VỚI CÂY GIỐNG LÂM NGHIỆP TẠI VƯỜN ƯƠM TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÂM NGHIỆP MIỀN NÚI PHÍA BẮC THUỘC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoá học : 2010 – 2014 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thu Hoàn Khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2mình lượng kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng Thời gian thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên trong các trường đại học nhằm hệ thống lại các trương trình đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Qua đó mỗi sinh viên khi ra trường sẽ hoàn thiện về kiến thức lý luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
và nghiên cứu khoa học Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái nguyên Em được phân công thực tập tại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp miền núi phía Bắc thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Nguyễn Thị Thu Hoàn đã nhiệt tình hướng dẫn chỉ bảo em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp miền núi phía Bắc thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập
Do trình độ và thời gian có hạn, bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu Vì vậy bài khóa luận của em còn rất nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn để bài khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Phạm Thị Dưỡng
Trang 3Bảng 4.2 Mức độ hại của bệnh cháy lá Keo qua các lần điều tra 30
Bảng 4.3 mức độ hại của bệnh đốm nâu lá keo qua các lần điều tra 33
Bảng 4.4 Mức độ hại của bệnh gỉ sắt lá keo 36
Bảng 4.5 mức độ hại của bệnh khảm lá cây lát hoa 39
Bảng 4.6 Mức độ hại của bệnh lở cổ rễ cây Mỡ qua các lần điều tra 43
Bảng 4.7 Thống kê thành phần loại bệnh hại cây con trong vườn ươm 24
Trang 4Hình 4.2 Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh phấn trắng lá keo tai tượng qua các lần điều tra 28 Hình 4.3 Ảnh bệnh cháy lá keo tai tượng 30 Hình 4.4 Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh cháy lá keo tai tượng qua các lần điều tra 31 Hình 4.5 Ảnh bệnh đốm nâu lá keo tai tượng 33 Hình 4.6 Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh đốm nâu lá keo tai tượng qua các lần điều tra 34 Hình 4.7 Ảnh bệnh gỉ sắt lá keo 36 Hình 4.8 Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh gỉ sắt lá keo qua các lần điều tra 37 Hình 4.9 Ảnh bệnh khảm lá cây lát hoa 39 Hình 4.10 Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh khảm lá cây lát hoa qua các lần điều tra 40 Hình 4.11 Ảnh bệnh lở cổ rễ cây Mỡ 43 Hình 4.12 Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh lở cổ rễ cây mỡ qua các lần điều tra 44
Trang 51.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 7
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 8
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 11
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 11
2.4.2 Điều kiện dân sinh kinh tế 14
Phần 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2.1 Địa điểm 17
3.2.2 Thời gian tiến hành 17
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc 17
3.4.2 Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh 18
3.4.3 Điều tra đánh giá tỉ lệ và mức độ bị bệnh (điều tra tỉ mỉ ) 18
3.4.4 Phương pháp xử lý tổng hợp số liệu 21
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm của cây con trong giai đoạn vườn ươm và tình hình vệ sinh và tình hình sinh trưởng của cây con trước khi tiến hành điều tra 23
4.1.1 Đặc tính chung của cây con ở giai đoạn vườn ươm 23
Trang 6ươm 26
4.3.1 Bệnh phấn trắng lá keo 26
4.3.2 Bệnh cháy lá keo tai tượng 29
4.3.3 Bệnh đốm nâu lá keo tai tượng 32
4.3.4 Bệnh gỉ sắt lá keo 34
4.3.5 Bệnh khảm lá lát 38
4.3.6 Bệnh lở cổ rễ cây mỡ 40
4.4 Một số tồn tại và đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu đối với cây con trong vườn ươm tại khu vực nghiên cứu 45
4.4.1 Một số tồn tại trong quá trình sản xuất cây giống tại địa bàn nghiên cứu 45 4.4.2 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu ở vườn ươm tại khu vực nghiên cứu 46
Phần 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 7Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội thì các ngành kinh tế cũng thay đổi từng ngày theo chiều hướng đi lên Sự thay đổi diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau và theo nhiều mức độ khác nhau Cùng với sự phát triển chung này thì ngành lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có diện tích đồi núi lớn, đây là những tiềm năng lớn cho sự phát triển của ngành Nông-Lâm nghiệp nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng Ngành lâm nghiệp là một ngành kỹ thuật đặc thù, có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế an sinh xã hội và môi trường sinh thái Hiện tại ngành lâm nghiệp đang quản lý 16,24 triệu ha rừng, chiếm khoảng 1/2 tổng diện tích lãnh thổ quốc gia, liên quan trực tiếp tới đời sống của 24 triệu đồng bào trên cả nước
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Hiện nay rừng không chỉ cung cấp gỗ, củi các lâm đặc sản cho nền kinh tế quốc dân mà rừng còn tạo cảnh quan khu vực sinh thái, là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường và còn nhiều tác dụng to lớn khác Nhưng bên cạnh đó thì nhu cầu của con người đối với rừng và các sản phẩm từ rừng cũng ngày càng cao Vấn đề đô thị hóa, sức ép dân số, cháy rừng cũng là những nguyên nhân chính làm giảm đáng kể diện tích rừng ở nước ta hiện nay
Với tình hình thu hẹp nhanh chóng của diện tích và chất lượng rừng như hiện nay sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như mất cân bằng sinh thái, gây ra hạn hán, lũ lụt, nhiệt độ toàn cầu tăng lên, ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và các loài sinh vật trên trái đất Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung nhằm đáp ứng các nhu cầu về nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà máy, xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ khác
Trang 8Để đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu gỗ ngày càng cao cho sản xuất, đảm bảo môi trường sinh thái, hiện nay Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách chủ trương để nâng cao độ che phủ của rừng như dự án
661, dự án 327, dự án PAM và các dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng ở miền núi như dự án bảo vệ và phát triển rừng 4 huyện của tình Hà Giang giai đoạn 2008-2015
Tuy nhiên khi trồng rừng trên một diện tích lớn, số lượng cây nhiều và thuần loài lại rất dễ bị sâu bệnh hại phát sinh phát triển Để đạt được kết quả tốt trong công tác trồng rừng thì điều quan trọng nhất là phải tạo được nhiều cây giống tốt, khỏe mạnh, không bị sâu bệnh hại và không có mầm bệnh Muốn được kết quả như thế, ngoài việc lựa chọn hạt giống, bảo quản hạt giống tốt đối với những cây có khả năng tái sinh bằng hạt, những phương thức xử lý trước khi gieo ươm thì việc phòng trừ sâu bệnh hại ở giai đoạn vườn ươm là không thể thiếu được, nếu giải quyết được những vấn đề này thì tổn thất do sâu bệnh hại sẽ giảm xuống một cách đáng kể
Trên thực tế, tổn thất do bệnh hại gây ra đối với cây lâm nghiệp lớn hơn rất nhiều lần tổn thất của các tác nhân tự nhiên khác Trong sản xuất cây con các loài như: thông, keo, bạch đàn, mỡ,… Đã có rất nhiều dịch bệnh xảy
ra làm cây con bị chết hàng loạt như bệnh thối cổ rễ, bệnh rơm lá thông bệnh phấn trắng hại keo,… Vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng và ảnh hưởng của môi trường đến sự phát sinh, phát triển bệnh cây từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh cho cây con ở giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá mức độ hại của một số loại bệnh hại chủ yếu đối với cây giống lâm nghiệp tại vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Miền núi phía bắc thuộc trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật phòng trừ bệnh hại cây con trong giai đoạn vườn ươm tại địa bàn nghiên cứu, góp phần tạo ra cây giống tốt, sạch bệnh cho sản xuất lâm nghiệp
Trang 91.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các loại bệnh trên các đối tượng gieo ươm khác nhau
và đánh giá mức độ bệnh hại của từng loại bệnh
- Đánh giá hiệu quả của một số giải pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu
đối với cây con trong vườn ươm tại địa bàn nghiên cứu
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này giúp cho sinh viên được củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học, từ đó vận dụng vào thực tiễn sản xuất Đồng thời có cơ hội làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể cũng như thực hiện chắc các phương pháp điều tra bệnh hại tại vườn ươm Đồng thời, đây cũng là cơ hội để tích lũy kinh nghiệm về kỹ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu, rèn luyện kỹ năng làm việc, kỹ
năng làm đề tài cho bản thân
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Thông qua việc nghiên cứu bệnh hại, trên cơ sở đó xác định biện pháp bảo vệ cây con trong giai đoạn vườn ươm, nâng cao năng suất của việc trồng rừng
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu sản xuất cây nông-lâm nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con người, giữ ý thức hệ duy tâm và duy vật Ngay từ ngày đầu của lịch sử trồng trọt, nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão, 1995) [6]
Theo cách hiểu thông thường khoa học bệnh cây là khoa học nghiên cứu về cây bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những lý
do sinh vật cũng như không phải sinh vật Bệnh cây là kết quả tác động của 3 yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện ngoại cảnh Cách hiểu trên giúp chúng ta nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng cá thể Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên chưa cho phép giải quyết một cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây Trong hoạt động thực tế của mình, người làm công tác về bệnh cây phải giải quyết nhiệm vụ có liên quan đến vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định mà thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu khác nhau
Như ta đã biết, bệnh cây là một loại tác hại tự nhiên khá phổ biến, là nhân tố tác động đến sức khỏe thực vật Khi bị bệnh hại, thì cây bệnh sẽ có hiện tượng sinh trưởng, phát triển không bình thường, dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm bị kém đi, thậm chí sẽ làm cho cây bị chết và chết hàng loạt, đặc biệt nguy hại đối với rừng thuần loài Hằng năm bệnh cây đã gây ra những tổn thất to lớn không chỉ cho nền kinh tế mà còn với môi trường sinh thái Bệnh hại đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng trong sản xuất lâm nghiệp ở nước ta
Do tính biểu hiện bệnh ra bên ngoài là chậm so với các mối nguy hại khác trong lâm nghiệp, nên con người thường coi nhẹ bệnh hại hơn, tuy nhiên đến khi tác hại của bệnh đã được bộc lộ ra bên ngoài thì khi đó thường đã mắc bệnh từ lâu và khó có thể diệt trừ bệnh hoàn toàn Vì vậy, muốn giảm những thiệt hại về bênh gây ra, chúng ta cần đẩy mạnh công tác phòng trừ, đặc biệt là ngay từ giai đoạn vườn ươm để có thể đạt được hiệu quả tốt nhất Ở giai đoạn vườn ươm, cây
Trang 11đang còn trong thời gian sinh trưởng mạnh và còn bị ảnh hưởng lớn từ điều kiện ngoại cảnh, sức chống chịu của cây con còn kém nên thời điểm này cây dễ bị mắc bệnh Trong khi đó, nước ta có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng
ẩm mưa nhiều, thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật nhưng cũng là điều kiện lý tưởng cho sự phát sinh phát triển của các loài nấm bệnh và vi sinh vật, trực tiếp hoặc gián tiếp gây hại cho cây trồng
Mỗi một loại bệnh cây sẽ có những biểu hiện khác nhau trên cây Chúng sẽ gây hại cho cây về mặt sinh trưởng phát triển, thậm chí có thể gây chết, đặc biệt nguy hiểm đối với rừng trồng thuần loài khi gặp điều kiện thuận lợi cho bệnh, có thể tạo nên dịch bệnh trên một vùng diện tích rộng lớn Tuy nhiên, chính những biểu hiện này lại là căn cứ để ta có thể chuẩn đoán bệnh,
từ đó có biện pháp phòng ngừa và diệt bệnh
Do thực vật và vật gây bệnh đều chịu tác động của môi trường xung quanh nên cả hai đều bị môi trường khống chế Tính chống chịu của cây và tính xâm nhiễm của vật gây bệnh tùy thuộc vào điều kiện môi trường khác nhau thì khác nhau Trong quá trình tác động lẫn nhau giữa cây và vật gây bệnh nếu điều kiện môi trường thuận lợi cho cây chủ mà không thuận lợi cho vật gây bệnh thì quá trình gây bệnh có thể kéo dài hoặc ngưng lại Nếu điều kiện môi trường thuận lợi cho vật gây bệnh thì quá trình gây bệnh sẽ phát triển thuận lợi
Quá trình gây bệnh, có một mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời, đó
là mối quan hệ giữa vật gây bệnh, cây chủ và môi trường Ba nhân tố này luôn tồn tại và biến động theo thời gian và không gian cho nên mối quan hệ tương hỗ giữa chúng không ngừng phát triển, vì vậy để có thể nắm bắt được quy luật phát sinh phát triển của bệnh cây thì cần phải tìm hiểu mối quan hệ động thái của ba nhân tố trên để có biện pháp phòng trừ đúng đắn và đạt hiệu quả cao
Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó, xác định các biện pháp bảo vệ cây làm cho năng suất cây trồng ở mức cao và ổn định
Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến: bón phân, chế độ nước, mật độ cây… Trong sản xuất, không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch
Trang 12Giải quyết vấn đề bệnh cây, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh tế lớn (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Để có thể hoàn thành được các nội dung trên trong lâm nghiệp, khoa học bệnh cây cần có các nội dung: Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh; Phát hiện các quy luật phát sinh phát triển và hình thành của bệnh cây
và dịch bệnh cây; Tìm hiểu bản chất, đặc điểm và các quy luật chống chịu của bệnh cây; Nghiên cứu, xác định các phương pháp phòng trừ bệnh
Phòng trừ bệnh cây phải được thực hiện trên nguyên tắc tổng hợp, toàn diện và chủ động Biện pháp tổng hợp là áp dụng nhiều phương pháp khác nhau trong một hệ thống hợp lý và hoàn chỉnh Trong hệ thống đó các biện pháp bổ sung cho nhau, phát huy kết quả lẫn nhau tạo nên tác động và sức mạnh tổng hợp, phát huy ở mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây, loại trừ tác hại của bệnh Do tính chất và chiều hướng tác động của các biện pháp khác nhau cho nên khi áp dụng một hệ thống gồm nhiều biện pháp sẽ nhằm tác động lên vi sinh vật gây bệnh, tác động lên cây, tác động lên môi trường sống của cây và vi sinh vật gây bệnh Hệ thống biện pháp tổng hợp bảo vệ cây chống bệnh cần được áp dụng một cách phân hóa phù hợp với điều kiện cụ thể từng nơi và từng thời điểm Áp dụng phân hóa trên cơ sở khoa học, có phân tích đầy đủ các yếu tố và quy luật sinh thái của từng địa phương, đảm bảo cho hệ thống tổng hợp nâng cao được hiệu quả kinh tế và thiết thực (Đường Hồng Dật, 1979) [2]
Hệ thống phòng trừ bệnh hại phải mang tính toàn diện Các biện pháp bảo vệ cây không chỉ tiến hành trực tiếp trên cây mà còn phải thực hiện trong
cả đất, trong không khí và trong môi trường sống của cây
Công tác phòng trừ bệnh cây chỉ có thể đảm bảo mang lại kết quả tốt khi được tiến hành một cách chủ động Chủ động trước hết là sử dụng nhiều biện pháp tác động khác nhau Cần điều khiển làm sao cho giai đoạn yếu trong chống chịu bệnh của cây không trùng với giai đoạn phát sinh phát triển của bệnh Chủ động điều khiển các yếu tố trong môi trường sống, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây phát triển và tạo điêu kiện ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh
Trang 13Như vậy, để loại trừ tác hại của bệnh cây phải tiến hành trên các hướng: Phòng bệnh, tránh bệnh, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh, bồi dưỡng cây sau khi
bị bệnh Các biện pháp phòng bệnh là những biện pháp được áp dụng để bảo
vệ cây, chống sự xâm nhiễm và gây hại của bệnh trước khi bệnh bắt đầu xuất hiện trên cây
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Bệnh cây rừng đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, là một bộ môn khoa học còn rất non trẻ nhưng sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây là hết sức to lớn
Từ năm 1874 ở Châu Âu, Robert Hartig (1839-1901) là người đặt nền móng cho môn khoa học nghiên cứu bệnh cây rừng, ông đã phát hiện ra sợi nấm nằm trong gỗ và công bố nhiều công trình nghiên cứu, đến nay đã trở thành môn khoa học không thể thiếu được Kể từ đó đến nay trên thế giới đã
có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh cây rừng như: G.H.Hapting nhà bệnh lý cây rừng người Mỹ trong 30 năm nghiên cứu bệnh cây (1940-1970)
đã đặt nền móng cho công tác điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan đến sinh lý, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh (Trần Văn Mão, 1997) [7]
Năm 1773, nhà bác học người Đức Zallinges đã xuất bản cuốn sách đầu tiên về bệnh cây rừng trên thế giới Năm 1837 Leveille đã đưa ra bảng phân loại đầu tiên về nấm Trong thời gian này nhà bác học người Đức Anton DdowBari (1831-1888) và nhà bác học người Nga Voronin M.S (1938-1903)
đã phát hiện ra bệnh gỉ sắt và bệnh nấm mốc sương các loại cây khoai tây và lúa mì (Dẫn theo Trần Văn Mão,1997) [7]
Vào giữa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX lúc này khoa học nghiên cứu về bệnh cây đã tương đối phát triển, các nhà khoa học luôn chú tâm vào nghiên cứu các loài bệnh hại chủ yếu ở cây trồng và đề xuất các biện pháp phòng trừ (Dẫn theo Trần Văn Mão, 1993) [5]
Những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh phát triển của bệnh Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L.Roger (1953) đã nghiên cứu
Trang 14bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt đới, trong đó có một số bệnh hại của thông, keo, bạch đàn
John Boyce năm 1961 xuất bản sách bệnh cây rừng, đã mô tả một số bệnh hại cây rừng
Từ đầu thế kỷ XX đến nay là thời kì phát triển của khoa học bệnh cây rừng, là thời kì vận dụng những duy vật biện chứng trong việc nghiên cứu những nguyên nhân gây bệnh, các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của vật gây bệnh và tìm biện pháp phòng trừ có hiệu quả nhất Những năm 50 của thế
kỷ XX nhiều nhà bệnh lý cây rừng đã tập trung xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng gây bệnh và vấn đề này đã được các nước Đông Nam Á quan tâm, trong đó có cả Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2006) [1]
Ngày nay với khoa học công nghệ ngày càng phát triển tiên tiến nên vấn đề sản xuất nông lâm nghiệp đòi hỏi kỹ thuật ngày càng cao, cần nghiên cứu tìm hiểu quá trình phát sinh phát triển các loại bệnh gây hại và tìm ra các biện pháp phòng trừ có hiệu quả cao Chính vì vậy ngành khoa học bệnh cây cũng đang được phát triển ở Việt Nam, có rất nhiều nhà khoa học đã và đang say mê nghiên cứu lĩnh vực này
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam các nghiên cứu về bệnh cây rừng được phát triển muộn hơn so với các nước trên thế giới Các nghiên cứu về bệnh hại cây ở nước ta đã kế thừa nhiều thành tựu của ngành khoa học sinh thái học, bệnh cây của thế giới
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành nông-lâm nghiệp nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng, tuy nhiên cũng đưa đến không ít khó khăn, làm cản trở hoặc phá hoại
cơ sở vật chất và thành quả của sản xuất lâm nghiệp như: Làm thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây rừng cũng là thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển, lan tràn của sâu bệnh hại thực vật Nạn dịch sâu ăn lá, sâu đục thân, nấm
cổ rễ… phát sinh hầu hết ở khắp nơi, gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lâm nghiệp (dẫn theo Vương Văn Quỳnh – và cs, 1996) [11]
Bệnh cây ở Việt Nam rất phổ biến, các cây trồng ít nhiều đều bị bệnh Song khoa học bệnh cây cũng như khoa học bệnh cây rừng ở nước ta
Trang 15lại được bắt đầu muộn hơn so với thế giới Mặc dù trong thời kì Pháp thuộc, một số nhà khoa học bệnh cây đã có những công trình nghiên cứu đến các loại nấm gây bệnh cây rừng, cây gỗ và cây cảnh, nhưng môn khoa học bệnh cây rừng chỉ có điều kiện phát triển từ những năm đầu của thập
kỷ 60 (Trần Văn Mão, 2003) [9]
Năm 1960, khi điều tra bệnh cây rừng ở miền nam Việt Nam, Hoàng Thị My đã đề cập đến một số bệnh hại lá, chủ yếu là bệnh gỉ sắt, phấn trắng, nấm bồ hóng… Có thể nói là từ sau cách mạng tháng 8, năm 1945, nhất là từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nước ta xây dựng một nhà nước Xã hội chủ nghĩa phát triển về ngành nông-lâm nghiệp Với phương thức sản xuất tập trung, thì phương pháp bảo vệ cây chống sâu bệnh có nhiều thuận lợi hơn trước, sản xuất có kế hoạch, có tập trung tổ chức, cho phép từng bước xây dựng nề nếp cho công tác bệnh cây, tạo điều kiện đi sâu, tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, chủ động các biện pháp phòng trừ
Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia nước ngoài và các cơ quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng, trong đó có khoảng 600 loài nấm mục
gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ; Trên 50 loài cây rừng
bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể Trên cơ sở nắm vững những quy luật phát sinh, phát trển của bệnh cây, những nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đã đề xuất biện pháp phòng trừ
Vào năm 1966, Nguyễn Sỹ Giao đã phát hiện bệnh khô lá thông hại cây con ở vườn ươm Tác giả cũng nghiên cứu về đặc điểm sinh học và áp dụng một số loại thuốc hóa học để phòng trừ bệnh hại này, chủ yếu là Boocđô Vào năm 1969, Nguyễn Sỹ Giao đã phát hiện nguyên nhân gây bệnh này là do nấm Crospora pini - densflorae Horiet Nambu và đặt tên cho bệnh này là bệnh rơm lá thông Cũng vào thời gian này, nhiều chuyên gia nước ngoài như Anh, Ấn Độ, Mỹ đã nghiên cứu về bệnh hại lá keo như Hodge (1990); Zhon (1992); Sharma(1994), và công bố trong báo cáo chuyên đề bệnh cây ở Hà Nội
Các bệnh đốm lá, gỉ sắt, khô héo gây tổn thất lớn, do vậy cần phải có biện pháp phòng trừ như chọn giống, chọn vườn ươm, gieo đúng thời vụ, xới
Trang 16xáo, diệt cỏ, tưới nước, bón phân hợp lý, che bóng kịp thời thì sẽ giảm được nhiều khả năng lây lan, xâm nhiễm của bệnh, tạo điều kiện cho cây con phát triển tốt (Trần Văn Mão, 1993) [5]
Từ năm 1971, các nhà nghiên cứu như Vũ Quang Côn, Phạm Bình Quyền, Phạm Ngọc Anh… đã có nhiều tài liệu về nấm bệnh ở các loài như quế, trẩu, hồi, sở… và xác định được điều kiện phát bệnh và biện pháp phòng trừ (Trần Công Loanh, 1992) [4]
Cũng trong khoảng thời gian từ năm 1971, với nhiều công trình nghiên cứu của mình, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố bệnh cây như quế, trẩu, sở, hồi… ông đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và phương pháp một số loại bệnh hại lá Các tác giả Nguyễn Sỹ Giao, Đỗ xuân Quý, Phạm Xuân Mạnh… đã nghiên cứu trên lá keo phát hiện một số bệnh hại như cháy lá, phấn trắng (Trần Văn Mão, 1997) [7]
Năm 1991, Phạm Văn Mạch đã nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh thối nhũn cây thông ở vườn ươm (Trần Công Loanh, 1992) [4]
Từ năm 1990 Giáo sư Hodges đã nghiên cứu và đánh giá bệnh cây tại vườn ươm và rừng trồng cây bồ đề, keo, mỡ, thông và bạch đàn trong vùng nguyên liệu giấy của nhà máy giấy và bột giấy Vĩnh Phú Trong vườn ươm ông đã quan sát được một loại bệnh nghiêm trọng làm tổn thương lá và thân cây con của cây bạch đàn Eucalyptus Camaldulensis và E urophylla gây nên bởi nấm Botrytis Cinerea Trong rừng trồng bạch đàn, ông đã phát hiện được
2 căn bệnh: Thối mục thân cây do nấm Cryphonectria cubebsis trên cây bạch đàn liễu và bệnh đốm lá trong vườn ươm và rừng trồng (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2006) [1]
Ở vườn ươm bệnh thối cổ rễ cây con là rất phổ biến, nấm gây bệnh sống ở trong đất, có khả năng thích ứng với môi trường lớn, phân bố rộng rãi nên rất khó phòng trừ Do vậy cần có biện pháp kỹ thuật phòng trừ như chọn đất vườn ươm, gieo ươm đúng thời vụ thì sẽ giảm được nhiều khả năng lây lan xâm nhiễm của bệnh, tạo điều kiện thuận lợi giúp cây con phát triển tốt (Trần Văn Mão, 1993) [5]
Năm 1993 một nghiên cứu khác về nấm bệnh đã được thực hiện trong vườn ươm và rừng trồng của 13 tỉnh thuộc dự án WFP4304, những loài cây được
Trang 17nghiên cứu chủ yếu là thông, keo và phi lao Trong vườn ươm các nhà nghiên cứu
đã phát hiện tỉ lệ cây con bị thối cổ rễ là 70-80% (Phạm Quang Thu) [13]
Năm 1994 Trần Văn Mão nghiên cứu về bệnh lụi cây con và chết ngược ở cây bạch đàn tại Quảng Trị và Thừa Thiên Huế cho biết tỉ lệ cây con chết là 46,7% trong tổng số 1.161.000 cây con trong vườn ươm ( Trần Văn Mão, 1993) [5]
Hiện nay ở nước ta đã có các cơ quan về lâm nghiệp có các bộ phận chuyên trách về phòng trừ sâu bệnh hại như Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, viện điều tra quy hoạch rừng và các trung tâm bảo vệ rừng (Trần Văn Mão, 1997) [7]
Đối với bệnh cây rừng, biện pháp phòng trừ chủ yếu là triệt để nguồn bệnh, thường xuyên theo dõi, kiểm tra vườn ươm, rừng trồng kịp thời phát hiện bệnh để
có những biện pháp như cắt bỏ lá bệnh, chặt bỏ cành nhánh rậm rạp…
Ngày nay khoa học bệnh cây rừng ngày càng phát triển bằng việc hoàn thiện cơ sở lý luận và đưa ra những phương pháp phòng trừ bệnh hữu hiệu Nhờ đó đã làm giảm bớt những thiệt hại gây ra đối với tài nguyên rừng Nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều bệnh nghiêm trọng mà chúng ta chưa có biện pháp giải quyết triệt để, cũng có nhiều bệnh có lúc, có nơi được dập tắt nhưng trong điều kiện mới lại gây dịch trở lại Cho nên vấn đề bệnh cây rừng hôm nay vẫn phải được thừa kế những kết quả nghiên cứu trước đây trên những cơ sở lý luận và phương pháp phòng trừ sáng tạo và phát triển cho việc
áp dụng phòng trừ bệnh cây trồng của ngày mai
2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lý
• Vị trí địa lý
Vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Miền núi phía Bắc thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc khu vực thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố khoảng 3km về phía Tây và nằm trong địa bàn xã Quyết Thắng
- Phía Nam Trung tâm giáp với phường Thịnh Đán
- Phía Bắc vườn ươm giáp với phường Quán Triều
- Phía Đông vườn ươm giáp với khu kí túc xá Đại học Thái Nguyên
Trang 18- Phía Tây vườn ươm giáp với xã Phúc Hà
• Địa hình
- Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 19,8m Nơi cao nhất là
25,5m, thấp nhất là 11m
- Xã Quyết Thắng chủ yếu là đồi bát úp, không có núi cao, có độ dốc
trung bình từ 10-24⁰, độ cao trung bình từ 50-70m Nói chung, xã quyết thắng
có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
2.4.1.2 Đặc điểm khí hậu thủy văn
• Đặc điểm khí hậu:
- Với địa hình thấp dần từ núi cao xuống núi thấp, rồi xuống trung du,
đồng bằng theo hướng Bắc - Nam làm cho khí hậu Thái Nguyên chia làm 3 vùng rõ rệt trong mùa đông: Vùng lạnh, vùng lạnh vừa và vùng ấm Hai mùa
rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Tổng số giờ nắng trong năm giao động từ 1500
- 1750 giờ và phân bố tương đối đều cho các tháng trong năm Thời gian từ tháng 12 đến tháng 3 có số giờ nắng đạt thấp nhất, sang tháng 4 có số giờ nắng tăng dần lên và đạt cao nhất vào tháng 7, sau đó giảm nhẹ dần đến tháng
11 và sang tháng 12 - 3 thì giảm hẳn Lượng mưa trung bình hàng năm ở Thái Nguyên tương đối lớn, khoảng 2000-2500mm nên tổng lượng nước mưa tự nhiên dự tính lên tới 6,4 tỉ m3/ năm
- Độ ẩm không khí trung bình qua các tháng trong năm biến động từ 75
- 90% phụ thuộc vào chế độ mưa, thời gian từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau
có độ ẩm không khí trung bình thấp hơn các tháng khác
• Đặc điểm thủy văn :
- Xã Quyết Thắng là một xã nằm trong thành phố Thái Nguyên - Việt Nam
nên cũng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Do vậy điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho sự phát triển của ngành nông lâm nghiệp nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng Do đặc điểm của địa hình và sự phân bố lượng mưa hằng năm nên thường ít có lũ quét, lũ ống hay lở đất, và ảnh hưởng của gió bão là rất ít Thiên nhiên ưu đãi cho thành phố Thái Nguyên diện tích ao hồ và dòng chảy tương đối lớn, yếu tố này đem lại rất nhiều lợi ích cho quá trình sinh hoạt và sản xuất của con người Ngoài 247,90 ha diện tích mặt nước phục vụ vào việc nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp, thành phố còn có
Trang 19nguồn nước lớn đó là con sông Cầu, nơi đây đã đem lại nguồn lợi kinh tế nhưng cũng là một trong những nơi bị ô nhiễm rất nặng, là nguyên nhân truyền bệnh từ vùng này sang vùng khác và khó có thể khắc phục được
Như vậy nhìn chung điều kiện khí hậu Thái Nguyên cơ bản thuận lợi để gieo ươm keo lai và mỡ Tuy nhiên cần lưu ý một số khó khăn đó là đầu vụ xuân thường ảnh hưởng của gió mùa đông bắc gây rét đậm, rét hại kéo dài, số giờ nắng ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con giai đoạn vườn ươm Mùa mưa độ ẩm không khí cao cũng là môi trường thuận lợi để sâu bệnh hại phát triển Trong tất cả các yếu tố khí hậu thì nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt và nhạy cảm nhất, quyết định đến thời vụ gieo trồng và phát sinh dịch bệnh
- Tài nguyên đất khu vực vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp
miền núi phía Bắc thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên: Đất khu vực vườn ươm là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu vàng Đất dùng để gieo ươm tại khu vực trong vườn ươm là đất được mua về dùng để đóng bầu, có chất dinh dưỡng tương đối cao, nên thích hợp cho việc gieo ươm hoặc ươm cây trong bầu
- Hiện trạng sử dụng đất:
Xã Quyết Thắng có tổng diện tích đất tự nhiên là 1155,52 ha trong đó: + Đất nông nghiệp: 793,31 ha, chiếm 68,65% tổng diện tích đất tự nhiên + Đất phi nông nghiệp: 347,37 ha, chiếm 30,06% tổng diện tích đất tự nhiên + Đất chưa sử dụng: 14,84 ha, chiếm 1,28% tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 20Với tổng diện tích đất của xã được quy hoạch như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế của xã phát triển đặc biệt là phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
2.4.1.4 Tài nguyên rừng
Hiện nay, Thái Nguyên có 206.999 ha đất lâm nghiệp, trong đó 146.639 ha đất có rừng, chiếm 41,4% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, diện tích đất rừng tự nhiên là 102.190 ha, rừng trồng 44,449 ha Bên cạnh đó diện tích đất chưa sử dụng của tỉnh chiếm 17%, trong đó đất rừng phòng hộ 64.553,6 ha, rừng đặc dụng là 32.216,4 ha, rừng sản xuất 110.299,6 ha vừa có tiềm năng phát triển ngành lâm nghiệp, vừa là nhiệm vụ để Thái Nguyên nhanh chóng tiến hành các biện pháp để phủ xanh đất trống đồi núi trọc
2.4.2 Điều kiện dân sinh kinh tế
2.4.2.1 Dân số - lao động
• Dân số:
- Xã Quyết Thắng có tổng số dân là 10.474 nhân khẩu, người dân nơi đây đa
số sống chủ yếu dựa vào nghề sản xuất nông lâm nghiệp, chăn nuôi, hoạt động dịch
vụ và đi làm thuê ngoài trong những lúc nông nhàn Trình độ dân trí ở đây tương đối cao nhưng tỉ lệ hộ sống trong ngành nông nghiệp vẫn còn cao
• Lao động:
- Số lao động trong độ tuổi là 5523 người chiếm 59,92% trong tổng số
nhân khẩu của toàn xã hội
2.4.2.2 Giao thông- thủy lợi
• Giao thông:
- Xã Quyết Thắng có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, các
tuyến đường liên xã đều đã được nhựa hóa, hệ thống liên thôn đều được bê tông hóa thuận tiện cho việc đi lại Tuy nhiên chất lượng một số tuyến đường còn thấp gây nên khó khăn cho việc đi lại trao đổi mua bán hàng hóa còn gây khó khăn cho nhân dân
- Đường đi vào trung tâm lâm nghiệp miền núi phía bắc đã được nhựa
hóa, thuận tiện cho vận chuyển cây con trong vườn ươm
• Thủy lợi:
- Ở đây người dân sống phần đa là sản xuất nông-lâm nghiệp, vì vậy
công tác thủy lợi được chính quyền xã cùng với nhân dân rất quan tâm và đầu
Trang 21tư Toàn xã đã xây dựng được 15km kênh mương đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất Hiện nay các thôn xóm cũng đã và đang tiến hành xây dựng những đoạn kênh mương còn lại nhằm đảm bảo cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông lâm nghiệp đạt hiệu quả tốt
2.4.2.4 Kinh tế xã hội
- Mặc dù là một tỉnh miền núi nhưng Thái Nguyên có dân số tương đối
đông và chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thành phố Theo số liệu cục thống kê tỉnh toàn thành phố có 212.908 người, mật độ dân số là 1.248 người/km2 gồm nhiều dân tộc cùng nhau sinh sống Dân tộc kinh: 195.662 người, chiếm 91,9%, dân tộc tày: 8.091 người chiếm 3,8%, các dân tộc khác: 9.155 người chiếm 4,3 % Mỗi năm thành phố tiếp nhận thêm khoảng 10.000 học sinh, sinh viên từ các tỉnh về học tập Việc quy tụ được một số lượng lớn thành phàn tri thức cũng là một thế mạnh cho phát triển kinh tế, song mặt khác cũng gây ra một áp lực lớn về đất đai, xã hội
- Trước tình hình ô nhiễm hiện nay vấn đề cải tạo môi trường sống
đang là một vấn đề cực kì quan trọng, cấp bách của thành phố Một trong những biện pháp làm giảm ô nhiễm là trồng nhiều cây xanh, mà muốn cây sinh trưởng phát triển tốt thì cần phải có giống tốt Vì vậy công tác chăm sóc phòng trừ sâu bệnh hại cho vườn ươm là rất quan trọng
- Sản xuất nông nghiệp: Chiếm 80% số hộ là sản xuất nông nghiệp,
ngoài ra còn có sự kết hợp giữa vật nuôi và cây trồng
- Sản xuất lâm nghiệp: Từ 10 năm trở lại đây việc trồng cây gây rừng
phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã được tiến hành Hiện nay toàn xã đã được phủ xanh phần lớn diện tích đất trống đồi núi trọc Mặc dù thu nhập từ lâm nghiệp chưa đáng kể nhưng đến thời điểm này có một số rừng trồng đã đủ tuổi khai thác
- Dịch vụ: Dịch vụ đang có sự phát triển đi lên, nhìn chung kinh tế của
xã vẫn chưa cao, quy mô sản xuất chưa lớn và chưa có quy hoạch cụ thể, rõ ràng đây là một điểm hạn chế của xã Trong xã chưa phát triển cân đối giữa các ngành, mức sống của người dân vẫn chưa đồng đều
Trang 22-Dân số trong độ tuổi lao động khá cao tuy nhiên lại tập trung sống
ở khu vực thành phố, không phải là nguồn nhân lực chủ đạo cho phát triển lâm nghiệp
• Thuận lợi:
- Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp
- Điều kiện giao thông phù hợp cho phát triển kinh tế lâm nghiệp, vận chuyển buôn bán các loại lâm sản và sản phẩm từ lâm nghiệp
- Hệ thống thủy lợi phát triển, đảm bảo đủ nước cung cấp cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp
- Dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỉ lệ khá cao, chiếm tới 59,92% tổng số nhân khẩu của toàn xã hội, đây là nguồn lao động tại chỗ đáp ứng cho các hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh
- Thời tiết của tỉnh Thái Nguyên khá mát mẻ, lượng mưa phân bố khá đều qua các năm là điều kiện cho phát triển ngành lâm nghiệp
Trang 23Phần 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loại bệnh hại trên các cây keo tai tượng, cây mỡ
và cây lát hoa trong vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp miền núi phía Bắc thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm
Địa điểm: Tại vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Miền núi phía Bắc thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian tiến hành
Thời gian: Từ ngày 03/03/2014 đến ngày 15/5/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
Các chỉ tiêu theo dõi
Ảnh hưởng của thời tiết đến bệnh hại cây con (nhiệt độ, lượng mưa, độ
ẩm không khí….)
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc
- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện về kinh tế xã hội,
đánh giá về điều kiện khí hậu của khu vực nghiên cứu
- Tìm hiểu, tham khảo thông tin có chọn lọc thông qua sách báo, mạng,
chuyên đề… về các nội dung liên quan đến đối tượng đang nghiên cứu
Trang 243.4.2 Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh
- Phương pháp thu thập mẫu bệnh (phương pháp điều tra sơ bộ) :
Tiến hành đi khắp vườn ươm theo các rãnh luống điều tra và quan sát tình hình bệnh hại, đánh dấu các luống bị bệnh hại và ghi chép khái quát mức độ hại, loại bệnh hại, loài cây bị hại Chọn các mẫu lá hoặc cành bị bệnh có triệu chứng điển hình thì được cắt và gói trong giấy báo Mẫu bệnh được đựng trong các túi giấy ghi số mẫu và mô tả một số các đặc điểm của khu vực thu mẫu Trong quá trình thu thập mẫu lá, thân, rễ bị bệnh bảo quản để không bị dập nát
- Phương pháp mô tả triệu chứng bệnh:
Cần phải xác định bộ phận bị bệnh: Lá, thân hay rễ, mô tả đặc điểm về màu sắc, kích thước của vết bệnh Sử dụng kính lúp cầm tay có độ phóng đại
10 lần quan sát bề mặt vết bệnh, mô tả màu sắc, hình dạng của nấm bệnh So sánh với các tài liệu tham khảo đã được nghiên cứu trước đó, tìm ra các đặc điểm riêng của từng loại bệnh
- Xác định nguyên nhân gây bệnh
Căn cứ vào triệu chứng bệnh và biểu hiện của bệnh, đặc điểm sinh trưởng, phát triển của bệnh trong thời gian nghiên cứu kèm theo đó là kết hợp với đặc tính sinh học của loài cây, điều kiện ngoại cảnh mà xác định nguyên nhân gây bệnh của từng loại bệnh đối vời từng loài cây
3.4.3 Điều tra đánh giá tỉ lệ và mức độ bị bệnh (điều tra tỉ mỉ )
Sau khi thu thập được thành phần bệnh có trong vườn ươm Trung tâm Nghiên cứu lâm nghiệp Miền núi Phía Bắc, ta lập bảng thống kê thành phần bệnh hại và xếp chúng vào bảng sau:
Nguyên nhân Loài Chi Bộ Họ
Số lần xuất hiện/ số lần điều tra
1
2
3…
Trang 25Điều tra tỉ mỉ ở vườn ươm sử dụng phương pháp điều tra theo tài liệu điều tra theo tài liệu điều tra và dự tính dự báo sâu bệnh hại rừng của Đặng Kim Tuyến và C.s năm 2007 [15] Nhằm đánh giá một các chính xác về tình hình bệnh hại, thành phần bệnh hại, mức độ hại và tìm hiểu một số nhân tố sinh thái có liên quan đến sự phát triển của bênh hại
Ta tiến hành điều tra mức độ hại của bệnh hại đối với cây keo tai tượng, cây mỡ, cây lát hoa Mỗi loại bệnh hại chủ yếu đối với cây ta tiến hành điều tra 3 lần, mỗi lần điều tra 3 ODB
Các loài cây ở vườn ươm thường được gieo cấy thành hàng, hoặc gieo vãi trên luống Trên luống gieo tiến hành lập 3 ODB, một ô đầu luống, một ô giữa luống và một ô cuối luống Diện tích mỗi ODB bằng chiều rộng của luống ×1m Cách một hàng ta tiến hành điều tra một hàng, trong hàng ta tiến hành điều tra hết các cây Cây điều tra được tiến hành phân cấp bị bệnh, cấp
Cấp bệnh Chỉ số và biểu hiện của triệu chứng
Cấp 0: Cành non, lá không bị bệnh
Cấp 1: Dưới 25% diện tích lá bị bệnh hoặc số lá của cây bị bệnh Cấp 2: 25 - 50% diện tích lá bị bệnh hoặc số lá của cây bị bệnh Cấp 3: 50 - 75% diện tích lá bị bệnh hoặc số lá của cây bị bệnh Cấp 4: > 75% diện tích lá bị bệnh hoặc số lá của cây bị bệnh Sau khi điều tra xong, kết quả điều tra sẽ được ghi vào mẫu bảng sau:
Mẫu bảng 3.2 Kết quả điều tra đánh giá mức độ bệnh hại lá
Trang 26• Điều tra đánh giá mức độ bệnh hại thân:
Trên ODB ta tiếp tục tiến hành điều tra bệnh hại thân và đếm tổng số cây bị hại trong tổng số cây trong ô dạng bản Mức độ bệnh hại thân sẽ được đánh giá như sau
Cấp bệnh Chỉ số và biểu hiện của triệu chứng
Cấp 0: Không bị hại thân cành
Cấp 1: Bị hại < 20% thân, cành
Cấp 2: Bị hại 20-50% thân cành
Cấp 3: Bị hại > 70% thân cành
Và kết quả sẽ được ghi trong dạng bảng mẫu sau:
Mẫu bảng 3.3 Kết quả điều tra đánh giá mức độ bệnh hại thân
STT cây điều tra Số cây bị hại /
• Điều tra đánh giá mức độ bệnh hại rễ:
Trong ODB ta tiếp tục điều tra đánh giá mức độ bệnh hại rễ, đếm cây bị hại trong tổng số cây Mức độ bệnh hại rễ sẽ được đánh giá như sau:
Cấp bệnh Chỉ số và biểu hiện của triệu chứng
Trang 27Mẫu bảng 3.4 Kết quả điều tra đánh giá mức độ bệnh hại rễ
STT cây điều tra
Số cây bị hại / tổng số cây điều
Sau khi tiến hành điều tra số liệu đầy đủ thì ta sẽ tiếp tục tiến hành xử
lý số liệu theo những công thức tính sau:
1 Đối với bệnh hại lá ta xử lý theo công thức sau:
N là tổng số cây điều tra
Sau khi tính được R%, chúng ta sẽ đánh giá được mức độ bị hại của thân theo những mức sau:
R < 10% là cấp bị bệnh hại nhẹ
Trang 28N là tổng số cây điều tra
*Tính mức độ hại trung bình luống theo công thức:
Rtb luống = R1 R2 R n
n
Trong đó: Rtb luống là mức độ hại trung bình của mỗi luống
R1, R2, Rn là mức độ hại của mỗi ô dạng bản
n là số ô dạng bản điều tra trên luống
Qua quá trình điều tra và sau khi đã thu thập được thành phần các loài bệnh hại cây con có trong vườn ươm ta sẽ tiến hành lập bảng thống kê thành
phần bệnh hại theo mẫu bảng 3.4
Trang 29Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm của cây con trong giai đoạn vườn ươm và tình hình vệ sinh
và tình hình sinh trưởng của cây con trước khi tiến hành điều tra
4.1.1 Đặc tính chung của cây con ở giai đoạn vườn ươm
Cây con ở giai đoạn vườn ươm có đặc điểm chung là còn nhỏ, chủ yếu
có độ tuổi dưới 12 tháng Sức sống của cây còn kém, vì cây ở giai đoạn này hóa gỗ chưa cao, thân cây mềm, là còn ít, non, sức chống chịu của cây con với điều kiện ngoại cảnh ở giai đoạn này rất thấp, đây là giai đoạn cây rất mẫn cảm với các điều kiện của môi trường, đây là cơ hôi thuận lợi cho nguồn bệnh
dễ xâm nhập gây nên các bệnh hại về thân, về lá và về rễ cho cây con, là những bệnh hại phổ biến đối với cây con ở giai đoạn vườn ươm
4.1.2 Tình hình vệ sinh vườn ươm và kết quả điều tra sơ bộ
Vườn ươm Trung tâm nghiên cứu phát triển Lâm nghiệp miền núi phía Bắc thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, là khu vực vườn ươm cung cấp lượng cây giống chủ yếu cho các hoạt động lâm nghiệp cho khu vực miền núi phía bắc của nước ta, đồng thời cũng là khu vực cho sinh viên khoa lâm nghiệp thực tập nghề nghiệp, nắm chắc và nâng cao tay nghề
Trong vườn ươm có rất nhiều cây được gieo ươm như: lát hoa, mỡ, keo, chuỗi ngọc, các giống lan, chuối, sấu, xoan… trong đó chủ yếu là cây keo, mỡ, sấu và lát hoa Các cây con ở đây đều ở giai đoạn cây con vườn ươm, và không có cây bị quá tuổi xuất vườn, gây ảnh hưởng tới chất lượng cây giống Vườn ươm sản xuất cây giống với mục đích là vừa đáp ứng nhu cầu cây con cho các chương trình, dự án trồng rừng ở các khu vực lân cận, vừa phục vụ cho công tác học tập nghiên cứu của các sinh viên trong khoa
Tình hình vệ sinh vườn ươm trước khi tiến hành điều tra: Vệ sinh vườn ươm đã được đảm bảo, vỏ bầu sau xử dụng được thu gom, cây con được trồng trong bầu theo luống, diệt cỏ định kì, vệ sinh vườn ươm sạch sẽ, khu vực đất
để đóng bầu được tách riêng biệt với khu tạo bầu và gieo ươm cây con, không để đất rơi vãi, mất vệ sinh khu vực vườn ươm Đây cũng là những biện pháp lâm sinh phù hợp, được kết hợp với chăm sóc cây con, vệ sinh vườn ươm, tránh sâu bệnh phát sinh phát triển do vệ sinh
Trang 30Qua điều tra sơ bộ, đi khắp vườn ươm, theo các rãnh luống và quan sát trực tiếp vườn ươm Đánh giá chung tình hình vệ sinh vườn ươm sạch sẽ, có hệ thống tưới nước và thoát nước tốt, đảm bảo cấp thoát nước cho khu vực vườn ươm Sau quá trình quan sát từng loài, ta thấy một số bệnh của cây con trong vườn ươm như: Bệnh phấn trắng lá keo, bệnh khảm lá lát, bệnh thối cổ rễ cây xoan, bệnh cháy lá keo, đốm lá keo Tuy nhiên những bệnh này đều chỉ xuất hiện với mức độ khá ít
và nhanh chóng bị loại trừ nhờ công tác diệt bệnh - phòng dịch
Các cây con trong vườn ươm đều có độ tuổi dưới 1 tuổi, nhỏ hơn 12 tháng
sẽ xuất vườn
Qua kết quả điều tra sơ bộ như vậy tôi đã phần nào khái quá được tình hình bệnh hại ở vườn ươm, sau đó tôi tiếp tục tiến hành điều tra tỉ mỉ
4.2 Thống kê thành phần bệnh hại cây con tại khu vực nghiên cứu
Từ kết quả điều tra thực tế, kết hợp với tham khảo tài liệu, đã tổng hợp và thống kê được thành phần bệnh hại cây con trong vườn ươm tại Trung tâm nghiên cứu và phát triền Lâm nghiệp Miền núi phía Bắc như trong bảng sau đây:
Bảng 4.1 Thống kê thành phần loại bệnh hại cây con trong vườn ươm
Số lần xuất hiện trên
số lần
Cercospara mang lietia glauca