61 4.1.7 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng theo các tháng trong năm.. Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NÔNG THỊ THU HÀ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN TRÒN ĐƯỜNG
TIÊU HÓA Ở LỢN NUÔI TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC
HUYỆN TRÀ LĨNH - TỈNH CAO BẰNG
VÀ SỬ DỤNG THUỐC LEVAMISOL ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
NÔNG THỊ THU HÀ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN TRÒN ĐƯỜNG
TIÊU HÓA Ở LỢN NUÔI TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC
HUYỆN TRÀ LĨNH - TỈNH CAO BẰNG
VÀ SỬ DỤNG THUỐC LEVAMISOL ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS La Văn Công
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quá trình thực tập là rất quan trọng với mỗi sinh viên trước khi ra trường, nó giúp cho mỗi sinh viên củng cố lại những kiến thức đã học, tiếp cận với thực tiễn sản xuất, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy
cô, gia đình, bạn bè em đã hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này
Xuất phát từ lòng kính trọng em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú
y và các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt với lòng biết ơn chân thành em xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo ThS La Văn Công đã ân cần chỉ bảo tận tình và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể ban lãnh đạo Chi cục Thú y tỉnh Cao Bằng, Trạm Thú y huyện Trà Lĩnh và các cán bộ kĩ thuật
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ và khích lệ em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nông Thị Thu Hà
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình học tập của sinh viên Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, giúp sinh viên tiếp cận với thực tiễn, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề của bản thân Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, tính sáng tạo và lòng yêu nghề, chuẩn bị hành trang vững chắc cho sinh viên trước khi ra trường
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, bộ môn bệnh động vật - Khoa Chăn nuôi Thú y cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn ThS La Văn Công và sự tiếp nhận của cơ sở Tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng và sử dụng thuốc Levamisol điều trị”
Vì khả năng và thời gian có hạn nên không thể tránh được những sai sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Những loài giun tròn tìm thấy ở đường tiêu hóa lợn tại huyện
Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 52 Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm chung các loài giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại
huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng (Qua xét nghiệm phân) 53 Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm chung các loài giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại
huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng (Qua mổ khám) 54 Bảng 4.4 Cường độ nhiễm chung các loài giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
tại huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng (Qua xét nghiệm phân) 56 Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại 3 xã thuộc huyện
Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 57 Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo lứa tuổi lợn (qua xét
nghiệm phân) 60 Bảng 4.7 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo tình trạng vệ sinh
thú y 61 Bảng 4.8 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo tháng trong năm
(Qua xét nghiệm phân) 63 Bảng 4.9 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo phương thức chăn
nuôi (qua xét nghiệm phân) 65 Bảng 4.10 Sự lưu hành trứng một số giun tròn đường tiêu hóa lợn ở cặn nền
chuồng, xung quanh chuồng nuôi, vườn bãi trồng cây thức ăn 56 Bảng 4.11 Hiệu lực của thuốc Levamisol 68 Bảng 4.12 Độ an toàn của thuốc Levamisol trong điều trị bệnh giun tròn ở lợn 69
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1: Vòng đời của giun đũa lợn 23
Sơ đồ 2: Vòng đời của giun lươn 24
Sơ đồ 3: Vòng đời của giun kết hạt 26
Sơ đồ 4: Vòng đời của giun tóc lợn 27
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
A suum
S ransomi
: Ascaris suum : Strongyloides ransomi
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 11
1.1 Đặt vấn đề 11
1.2 Mục đích nghiên cứu 12
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 12
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 13
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 13
2.1.1 Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn. 13
2.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn trong hệ thống phân loại động vật. 13
2.1.1.2 Thành phần giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn 16
2.1.2 Đặc điểm chung của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn 16
2.1.2.1 Hình thái giun tròn 16
2.1.2.2 Cấu tạo giun tròn 17
2.1.2.3 Sức đề kháng của giun tròn 19
2.1.3 Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn 20
2.1.3.1 Giun đũa lợn (Ascaris suum) 20
2.1.3.2 Giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi) 21
2.1.3.3 Giun tóc (Trichocephalus suis) 21
2.1.3.4 Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum) 22
2.1.4 Vòng đời của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn. 22
2.1.4.1 Vòng đời của giun đũa lợn 22
2.1.4.2 Vòng đời của giun lươn lợn 24
Trang 92.1.4.3 Vòng đời của giun kết hạt 26
2.1.4.4 Vòng đời của giun tóc 27
2.1.5 Bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa lợn. 28
2.1.5.1 Dịch tễ học của một số bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn 28
2.1.5.2 Cơ chế sinh bệnh của giun tròn đường tiêu hóa gây ra ở lợn 30
2.1.5.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn 33
2.1.5.4 Chẩn đoán bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn 35
2.1.5.5 Biện pháp phòng và trị giun tròn đường tiêu hóa ở lợn 36
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. 39
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước. 39
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài. 42
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
3.1 Đối tượng nghiên cứu và vật liệu nghiên cứu 44
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 44
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 44
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 44
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 44
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 44
3.3 Nội dung nghiên cứu 45
3.3.1 Điều tra tình hình dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 45
3.3.2 Sự ô nhiễm trứng của một số loài giun tròn đường tiêu hóa lợn ở ngoại cảnh 45
3.3.3 Hiệu lực của thuốc Levamisol trong điều trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn 45 3.4 Phương pháp nghiên cứu 45
3.4.1 Phương pháp lấy mẫu 45
3.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu 46
Trang 103.4.3 Phương pháp mổ khám 48
3.4.4 Phương pháp thu giữ và ngâm giữ giun tròn 48
3.4.5 Sử dụng Levamisol điều trị bệnh giun tròn ở một số hộ gia đình nuôi lợn tại huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng. 49
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 50
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
4.1 Tình hình nhiễm giun tròn ký sinh ở lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 52
4.1.1 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn tại huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng. 52
4.1.3 Cường độ nhiễm chung các loài giun tròn đường tiêu hóa lợn tại huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 55
4.1.4 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng 57
4.1.5 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo lứa tuổi lợn. 59
4.1.6 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng theo tình trạng vệ sinh thú y. 61
4.1.7 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng theo các tháng trong năm. 63
4.1.8 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo phương thức chăn nuôi lợn tại huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng. 65
4.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn đường tiêu hóa lợn ở ngoại cảnh. 66
4.3 Dùng thuốc điều trị bệnh giun tròn cho lợn tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng. 68
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Tồn tại 70
5.3 Đề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 11tố như giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng thì biện pháp phòng trị bệnh, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng cũng giữ vai trò quan trọng
Thực tế ngành chăn nuôi lại cho thấy, có nhiều loại dịch bệnh gây tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi lợn đặc biệt là bệnh ký sinh trùng Theo Phạm
Sỹ Lăng và cs (2006) [10], nước ta là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm, mưa nhiều nên có khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng Từ đó gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm, làm thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [21], bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mạn tính, làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác tăng cao như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng Nguy hiểm hơn, ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và
là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, virus xâm nhập gây bệnh
Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía bắc nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi lợn đang từng bước phát triển và chiếm một vị trí
Trang 12quan trọng trong cơ cấu vật nuôi Bên cạnh đó tình hình bệnh ngày càng phức tạp đặc biệt là bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn Tuy nhiên cho đến nay chưa
có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn ở lợn tại tỉnh Cao Bằng, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng chống bệnh hiệu quả
Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất chăn nuôi lợn ở huyện Trà Lĩnh - tỉnh
Cao Bằng chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh
- tỉnh Cao Bằng và sử dụng thuốc Levamisol điều trị”
− Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn đường tiêu hóa của lợn
− Sử dụng Levamisol trong điều trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn tại
một số xã thuộc huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [13], ký sinh trùng phân bố rất rộng trong thiên nhiên gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau Có số lượng loài phong phú nhất là ở loài nguyên sinh động vật trên 3000 loài Giun sán gồm đại diện của 13 lớp: lớp sán lá gồm 3000 loài, lớp giun tròn gần 3000 loài, lớp sán dây gần 1500 loài, lớp giun đầu gai 500 loài
2.1.1 Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn
2.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn trong hệ thống phân loại động vật
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10] cho biết: Ở lợn, cho đến nay đã phát hiện được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng ký sinh Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm
với tỷ lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột lợn do Fascioloposis buski…những bệnh này đã gây ra các tổn thương và
viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn các nội tạng của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không mắc bệnh
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12], lớp giun tròn thuộc ngành giun tròn
Nematheminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện sinh thái khác
nhau và phân bố rộng trên toàn cầu Phần lớn giun tròn sống tự do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật trong khu hệ giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam thống kê được 90 loài giun tròn
Theo hệ thống phân loại mới nhất của Malakhov.V.V (1986), lớp giun tròn
chia làm 3 phân lớp: Enoplia, Chromadoria và Rhabditia Ký sinh ở gia súc Việt Nam gồm một số loài gồm 6 bộ của 2 phân lớp: Enoplia và Rhabditia
Trang 14Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], hiện nay đã xác định được hơn
5000 loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1000 loài giun
sống tự do, hơn 3.000 loài giun sống ký sinh Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ :
+ Bộ phụ giun đũa (Ascaridata)
+Bộ phụ giun kim (oxyurata)
+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
+ Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata)
+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidea Bard, 1953 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788
Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925
Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861
Loài Oesophagostomum Dentatum
Trang 15Phân bộ Rhabditia Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Micinstosch, 1034
Giống Strongyloidides Grassi, 1979
Loài Strongyloidides papillosus (wedl, 1856)
Loài Strongyloidides ransomi
(Schwartz et Alicata, 1930)
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linacus, 1758
Giống Ascaris Linaeus, 1758
Loài Ascaris suum Goeze, 1782
Phan Lục và cs (2006) [14] cho biết: Giun tròn thuộc lớp Nematoda có
hơn 3000 loài sống ký sinh nhưng giun tròn ký sinh ở súc vật nuôi thuộc các
Trang 16+ Bộ phụ giun lươn
+ Bộ phụ Cucullamata
2.1.1.2 Thành phần giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [12] cho biết: Thành phần loài giun tròn
ký sinh đường tiêu hóa lợn gồm:
Alicata, 1930
Trichocephaliadae, Strongyloidida, Oxyurida, Ascaridida, Spirurida
2.1.2 Đặc điểm chung của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn
Trang 17thước giun thay đổi tùy loài Giun tròn gồm nhiều loài sống ký sinh ở thực vật
và động vật
2.1.2.2 Cấu tạo giun tròn
Lớp ngoài là biểu bì bằng giác chất (kitin), có vân ngang, vân dọc hoặc vân chéo Một số loài giun tròn có những chỗ biểu bì phình to gọi là cánh (cánh thân, cánh đuôi - chỉ có một số giun đực có cánh đuôi) Một số loài giun có gai chồi và các bộ phận phụ khác có tác dụng cảm giác, vận động và bám vào ký chủ Dưới lớp biểu bì là lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt Trong cùng là lớp tế bào cơ có hình sợi, hình bó hoặc hình vòng tùy loài
Giun tròn thường có môi, gai, xoang miệng Một số loài giun tròn có túi đuôi, cơ thể giun thường được bao bọc bằng lớp vỏ ngoài dày Trên lớp vỏ này có những vân ngang, dọc, giác, móc vào các cấu tạo phụ khác Thành phần của lớp vỏ gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn chịu đựng khỏe với hóa chất, dịch tiêu hóa và chức năng như áo giáp bảo vệ đời sống ký sinh của giun Lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp, những giun ký sinh đường tiêu hóa có
từ 7 - 10 lớp (lớp vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiến trong, lớp hình băng dải, lớp bazan, lớp màng bazan, lớp nhiều thớ sợi, màng kép bazan)
Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di chuyển được Sau lớp cơ có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất của giun Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang
cơ thể có chứa các khí quan:
+ Hệ tiêu hóa: Giun tròn có hệ tiêu hóa khá hoàn chỉnh Là một ống dài chạy dọc theo thân gồm: môi −> miệng −> thực quản −> ruột −> trực tràng
Môi (có thể có 3 lá môi quanh miệng hoặc không có, hoặc không rõ)
Trang 18Miệng (thường ở đỉnh đầu), xung quanh miệng là môi, mào Một số loài có xoang miệng, đôi khi có răng bên trong
Thực quản: Sau miệng là thực quản hình viên trụ hoặc củ hành, cuối thực quản có tuyến tiết ra dịch tiêu hóa
Ruột: có ống dài, tận cùng là lỗ hậu môn thường ở cuối thân Riêng giun chỉ
(Filariata) không có lỗ hậu môn
+ Hệ bài tiết: gồm có hai ống bắt nguồn từ phía sau và hợp lại ở phía trước rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản
+ Hệ thần kinh: gồm có một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra nhiều nhánh thần kinh đi về phía trước và sâu tới các phần của cơ thể Có nhiều nhánh nhỏ nối với các nhánh chính này Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằm trong các gai ở đầu, cổ, thân giun - đó là các gai cảm giác
+ Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt) Bộ phận sinh dục đực gồm có hai ống nhỏ uốn khúc, các bộ phận tinh hoàn, ống dẫn tinh, bắn tinh thông với lỗ sinh tiết ở cùng chỗ với trực tràng Gần lỗ sinh tiết có bộ phận phụ: gai giao hợp (có hoặc không có), bánh lái giao hợp (điều tiết
sự vận động), một số giun tròn có bánh lái phụ ở phía bụng của gai giao hợp, lỗ sinh dục giun đực thông ra mặt bụng ở phía đuôi Có nhiều giun đực ở đuôi có cánh đuôi hình thành túi giao hợp, túi đuôi giống hình cái quạt giấy, đối xứng nhau có các gai chồi sinh dục hình thành những sườn nâng đỡ túi giao hợp (sườn bụng, sườn lưng, sườn hông) Bộ phận sinh dục cái: gồm hai ống nhỏ uốn khúc hợp với nhau gồm buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo thông ra ngoài qua lỗ sinh dục gọi là âm hộ ở mặt bụng giun Vị trí âm hộ có thể ở phía trước, phía sau, ở gần hậu môn, hoặc ở đoạn giữa giun, một số loài có nắp âm hộ
+ Bộ phận hô hấp và tuần hoàn: không có (hô hấp yếm khí), vì sống trong môi trường yếm khí
Trang 192.1.2.3 Sức đề kháng của giun tròn
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [24], trứng giun đũa khi thải qua phân đã có phôi Trứng tiếp tục phát triển phụ thuộc vào áp lực, oxy, ẩm độ, môi trường Ở vùng khô lạnh trứng có thể sống trên 6 năm
Nuôi trong phòng thí nghiệm trứng giun đũa phát triển thành phôi thai bình thường trong dung dịch foocmol 2% Theo Soulsby (1965), dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp trứng bị diệt trong một vài tuần, trứng giun đũa phát triển bình thường trong axit acetic và axit lactic 20% nhưng axit piruvic đặc
có thể dung dải vỏ kitin Trứng bị phá hủy trong NaOH 10% ở 700C trong vòng 15 -20 phút Formalin 10% làm cho trứng không nở và ấu trùng trở nên không lây nhiễm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hóa học như Formol 2%, Creolin 3%, H2SO4, NaOH 2%
Ở nhiệt độ 45 - 500
C chết trong nửa giờ, nước nóng ở 600C diệt trứng trong 5 phút, nước nóng 700C chỉ cần 1 - 10 giây Vì vậy ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa
Theo Phạm Sỹ Lăng (1997) [9], ấu trùng Oesophagostomum dentatum
có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, để ở -19oC → -29oC qua 10 ngày vẫn sống
và sẽ chết cũng để ở nhiệt độ -190C → -290C đến 31 ngày, ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm
Trứng giun lươn có sức đề kháng yếu, ở nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 500C và -90C trứng bị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn
Trang 20Sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở nhiệt độ 5 - 90C trứng ngừng phát triển, ở nhiệt độ 350C trứng bị chết Gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm trên dưới một tuần
2.1.3 Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài giun tròn ký sinh ở
đường tiêu hóa lợn
2.1.3.1 Giun đũa lợn (Ascaris suum)
Phạm Sỹ Lăng và cs (1995) [8], giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài
Ascaris suum ký sinh ở ruột non lợn nhà và lợn rừng
Theo Phan Lục (2006) [14], giun đũa có màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn Đầu giun đũa có 3 môi bao bọc quanh miệng (1 môi ở phía lưng, 2 môi ở phía bụng) Trên rìa môi có một hàng răng cưa rất rõ, cấu tạo của răng này rất khác nhau giữa hai loài giun đũa, hàng răng cưa ở giun đũa người không rõ bằng giun đũa lợn Giun đực dài 12 - 15 cm, đường kính 3,2 - 4,4 mm Đoạn đuôi cong về phía bụng Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ 69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt khác xếp trên một rồi trên hai hàng, một gai thịt lẻ ở trước hậu môn Con cái dài 20 - 30 cm, đường kính
5 - 6 mm, đoạn sau thẳng Đuôi mang hậu môn về phía bụng, hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên, âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ hình bầu dục về phía bụng khoảng 1/3 đoạn trước thân
Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng, đuôi giun cái thẳng Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau, khoảng cách 1,2 - 2 mm
Theo Đào Trọng Đạt (1995) [2], trứng giun đũa hình ovan, vỏ dày, bề mặt nhăn nheo, màu vàng, trong có nhân màu vàng thẫm Kích thước từ 45 -
85 µm x 35 - 55 µm Vỏ trứng giun có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đời phát triển của giun
Trang 212.1.3.2 Giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] mô tả: Giun lươn sống ký sinh ở ruột non lợn, giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm Đuôi ngắn, âm hộ ở nửa của thân giun, trứng uốn khúc Trứng hình bầu dục, màu trắng, kích thước 0,045 - 0,055 mm x 0,026 - 0,035 mm, trong trứng có ấu trùng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10] cho biết: Tác nhân gây bệnh giun lươn
ở Việt Nam là loài giun lươn thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột non
của lợn có hình thái sau:
Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): Ký sinh ở ruột
non lợn giun đực có hình sợi, dài 0,87 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách nút đuôi 0,07
mm Giun cái dài 2,1 - 4,2 mm, rộng 0,04 - 0,08 mm Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể cách mút đuôi là 0,36 - 1,53 mm, hai buồng trứng là các ống mỏng xuất phát gần lỗ sinh dục, một buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, buồng còn lại hướng phía đuôi Tử cung chứa 1 - 10 trứng, trứng giun giống hình trứng gà, kích thước 0,037 - 0,060 mm x 0,025 - 0,042 mm
2.1.3.3 Giun tóc (Trichocephalus suis)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [7] cho biết: Giun giống một sợi tóc, màu trắng Cơ thể chia hai phần rõ rệt Phần trước nhỏ như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại Chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm, được bao bọc trong một lớp màng có nhiều gai nhỏ bao phủ Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng Âm hộ ở đoạn cuối thực quản
Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, kích thước 0,052 - 0,061mm x 0,027 - 0,03 mm
Trang 222.1.3.4 Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], các loài giống thuộc
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất
nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh ở cổ; biểu bì phía trước rãnh cổ phình ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai
cổ Giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau Âm hộ giun cái ở gần hậu môn Giun kết hạt dài 2,5 cm khi trưởng thành
Loài Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, loài này
không có cánh đầu, có 9 tua ngoài và 18 tua trong Túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm,
có túi đuôi Có hai gai giao hợp dài bằng nhau, dài 1,0 - 1,14 mm Giun cái dài 8 - 11,2 mm Âm hộ ở trước hậu môn Âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], trứng giun kết hạt hình ovan, kích thước 0,056 - 0,071 mm x 0,032 - 0,045 mm
2.1.4 Vòng đời của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn
2.1.4.1 Vòng đời của giun đũa lợn
Giun đũa sống ký sinh ở ruột non Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng với số lượng lớn từ 10.000 - 15.000 trứng/ngày (Phan Lục, 2006) [14]
Giun cái trưởng thành đẻ trứng trong ruột non của lợn Trứng theo phân
ra ngoài môi trường gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành trứng chứa ấu trùng, lợn nuốt phải trứng chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm bệnh Vào cơ thể lợn ấu trùng xuyên qua thành ruột vào máu, theo hệ tuần hoàn di chuyển đến gan, phổi, sau đó theo khí quản lên hầu rồi quay lại ruột non Trong quá trình này
ấu trùng lột xác 3 lần và khi di chuyển gây tổn thương gan, phổi và các cơ quan chúng di hành qua Nếu giun đất ăn phải trứng giun, trứng giun cũng
Trang 23phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và khi lợn ăn phải giun đất, ấu trùng sẽ tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành như đã nêu ở trên
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] cho biết: Vòng di chuyển của giun đũa là vòng di chuyển từ gan - phổi - ruột
Giun đũa hình thành vòng đời là 54 - 62 ngày, tuổi thọ của giun đũa là không
quá 7 - 10 tháng, nhưng để Ascaris suum ở điều kiện sống bất lợi (ký chủ sốt cao) thì
tuổi thọ của giun ngắn hơn Giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian
Ascaris suum Phân A0, t0
(ký sinh ở ruột non lợn) Trứng Trứng có sức gây nhiễm
Lợn nuốt phải
Phổi ← Gan ← Máu← niêm mạc ruột Ấu trùng
Sơ đồ 1: Vòng đời của giun đũa lợn
Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ 240C và ẩm độ thích hợp, trong 2 tuần trong trứng có phôi thai, sau 1 tuần nữa thì phôi thai lại lột xác thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải ấu trùng này thì ấu trùng nở ở trong ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo máu về gan Một số ít chui vào ống lâm ba và màng treo ruột, qua tĩnh mạch màng treo ruột vào gan Sau khi nhiễm
từ 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là 18 giờ, muộn nhất
là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng qua phổi Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần, giun đũa
Trang 24sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa phân giải
tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân
2.1.4.2 Vòng đời của giun lươn lợn
Sơ đồ 2: Vòng đời của giun lươn
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] cho biết: Giun lươn cái đẻ trứng
ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoài sẽ phát triển theo 2 hướng:
+ Trực tiếp: vào mùa hè trứng phát triển nhanh, 5 - 6 giờ trứng phát triển nhanh thành ấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau phát triển thành ấu trùng
có sức gây nhiễm
+ Gián tiếp: ấu trùng phát triển thành giun đực và giun cái Sau khi giao phối, giun cái đẻ ra trứng có ấu trùng, ấu trùng có sức gây nhiễm ở hướng phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài không có chỗ phình to) Ấu trùng này vào cơ thể ký chủ theo 2 đường:
Trang 25Chui qua da và tổ chức liên kết, tới theo máu, hệ lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu và chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 giờ thành giun lươn ký sinh
Qua đường tiêu hóa, ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, vào phổi cũng giống như trên
Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc non khoảng 5 - 9 tháng
Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9] cho biết: Giun sống trong hoặc dưới lớp niêm mạc ruột non Giun cái ký sinh và sinh sản đơn tính Giun đực và giun cái sống tự do và thực hiện giao cấu ngoài ký chủ Sự cảm nhiễm của vật chủ
do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua da Sau khi vào cơ thể gia súc mang thai ấu trùng có thể di hành theo máu qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh Giun có thể xâm nhập vào cơ thể vật nuôi sơ sinh qua bú sữa đầu
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu về phổi, đi vào các phế nang, gây
ho và tiết dịch, chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến khi trưởng thành mất khoảng 9 ngày Sự phát triển của chúng theo hai con đường:
Một là, vòng đời đơn tính: Giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không cần thụ tinh Trứng thải qua phân ra ngoài rồi phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III
Hai là, vòng đời hữu tính: Giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non Trứng phát triển thành ấu trùng qua các giai đoạn, các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành Chúng có thể sống ngoài cơ thể vật chủ Trứng được thụ tinh, nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ thể, giai đoạn này được thực hiện trong vòng 10 ngày
Trang 262.1.4.3 Vòng đời của giun kết hạt
Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian Trứng có kích thước 70 - 74 µm x 40 - 42 µm, gồm 6 - 18 hạt (trong vỏ trứng khi mới nở gặp ở nhiệt độ 25 - 270C), sau 7 - 10 giờ trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng I sau 24 giờ ở nhiệt độ 22 - 240C phát dục thành ấu trùng II, sau 2 ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III Trứng nở thành ấu trùng ở ngoại cảnh Ấu trùng trải qua 2 lần biến thái để trở thành ấu trùng có sức gây bệnh Ấu trùng chui vào niêm mạc ruột và tạo thành hạt trên thành ruột
(phát triển trong xoang ruột) (Trong u kén ở thành ruột)
Sơ đồ 3: Vòng đời của giun kết hạt
Thời gian hoàn thành vòng đời 24 - 43 ngày
Trứng theo phân ra ngoài gặp nhiệt độ 25 - 270C, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua 2 lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạo
Trang 27thành những u kén, lột xác lần thứ 3, tới 6 - 8 ngày thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa thành giun trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1997) [9]
2.1.4.4 Vòng đời của giun tóc
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], vòng đời phát triển của giun tóc diễn ra theo sơ đồ sau:
Phân t0, A0, pH
Trichocephalus suis Trứng Trứng có sức gây nhiễm
(Manh tràng)
Sơ đồ 4: Vòng đời của giun tóc lợn
Thời gian hoàn thành vòng đời là 30 - 52 ngày
Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ, trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ,
ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun tóc nhưng đối
với Trichocephalus suis thì cần 30 ngày
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], giun tóc phát triển vòng đời không cần ký chủ trung gian Giun cái đẻ trứng trong ruột già của vật chủ
lợn nuốt
Thọc sâu đầu vào niêm mạc ruột Ấu trùng
Trang 28Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ 18 - 300C, ẩm độ
80 - 85%) sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày
Lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm qua thức ăn, nước uống sẽ bị nhiễm giun, trứng cảm nhiễm vào ruột lợn phát triển thành giun trưởng thành cần
30 ngày
2.1.5 Bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa lợn
2.1.5.1 Dịch tễ học của một số bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn
Giun đũa phân bố rộng khắp thế giới nguyên nhân chính là do vòng đời của giun đũa rất đơn giản, truyền trực tiếp và sức đề kháng của trứng giun rất cao (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1997) [9]
Phan Lục (2006) [14] cho biết: Lợn thường nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao, cường độ nặng ở lứa tuổi 3 - 5 tháng Lợn nuôi thả có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn nuôi nhốt Lợn thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin thường bị nhiễm giun cao hơn so với lợn đầy đủ dinh dưỡng Trứng giun ở giai đoạn gây nhiễm có sức đề kháng tốt với điều kiện bất lợi của môi trường
Lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao từ 13,2% - 43,6% (điều tra qua mổ khám ở các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hải Hưng, Hà Bắc, Hà Nam, Yên Bái…) Lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao ở lứa tuổi dưới 4 tháng tuổi, sau đó
tỷ lệ nhiễm giảm dần (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [7]
Nguyễn Phước Tương (2002) [24], đã tổng hợp và đưa ra những dẫn liệu sau:
Ở nước ta, kết quả điều tra mổ khám lợn từ những năm 1970 ở tỉnh Bắc
và miền trung, tỷ lệ nhiễm từ 13 - 43%
Lương Văn Huấn (1994) mổ khám 819 lợn thuộc các tỉnh miền trung, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng sông Cửu Long, tỷ lệ lợn có giun đũa là 55% (ở miền trung 56,9%, miền đông nam bộ 50,5%, đồng bằng sông cửu long 64,3%)
Trang 29Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], trứng giun đũa có sức đề kháng cao, do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm,
có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học (formon 2%, creolin 3%,
H2SO4 1%, NaOH 2%) Ở nhiệt độ 45 - 500C chết trong nửa giờ, nước nóng
600C diệt trứng trong 5 phút, nước 700C chỉ cần 1 - 10 giây Vì vậy ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học sẽ diệt được trứng giun đũa
Đường truyền bệnh: Chủ yếu qua đường miệng, lợn liếm dụng cụ, máng
ăn và đất ở bãi chăn nuôi nên trứng dễ theo vào đường tiêu hoá Khi bón phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng ở thức
ăn xanh Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun ở đầu vú mẹ
Theo Trần Tố và cs (2006) [23], chu kỳ phát triển của giun đũa lợn chỉ
có một vật chủ là lợn, không có vật chủ trung gian, nhưng có đoạn qua môi trường ngoài vì thế gọi là chu kỳ phát triển qua đất, qua phân Để phòng bệnh, chủ yếu là giữ vệ sinh chuồng trại sạch sẽ và vệ sinh nước uống, thức ăn, ủ phân trước khi bón cho cây để diệt mầm bệnh lẫn thức ăn và định kỳ tẩy giun
1 - 2 lần/năm
Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn sau cai sữa của tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [7] cho biết: Lợn không bị tiêu chảy nhiễm giun lươn với tỷ lệ 39,26%, tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn sau cai sữa bị tiêu chảy là 55,46%, trong đó cường độ nhiễm nặng chiếm 8,22%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn như sau:
Lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 46,9%
Lợn dưới 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 67,4%
Lợn dưới 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 72,1%
Lợn trên 8 tháng tuổi nhiễm 73,3%
Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở các loài gia súc khác nhau là khác nhau
Trang 30Phan Địch Lân và cs (2005) [11] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn tăng dần theo tuổi do lợn con có sức đề kháng tốt đối với giun kết hạt nên
tỷ lệ nhiễm thấp Tuy ấu trùng nhiễm vào lợn con nhưng không gây ra những
u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm vào thì gây bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Ngoài ra do thời gian sống của
O dentatum của cơ thể lợn tương đối dài từ 8 - 10 tháng Quá trình truyền lây
giun này còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (t0, A0, ánh sáng …) Ở mỗi vùng, khi gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm phải trên dưới một tuần, khi nhiệt độ 90C thì trứng ngừng phát triển, khi nhiệt
độ 350
C thì trứng bị chết Ngoài ra, truyền lây bệnh này còn liên quan đến tình hình chăn thả Nếu thường xuyên chăn thả trên bãi chăn đã bị bệnh xâm nhiễm thì gia súc rất dễ nhiễm phải giun này
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [19], tỷ lệ nhiễm giun tóc lợn (ở Hà Nội) như sau: Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30%
Lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8%
Không thấy giun tóc ở lợn dưới 2 tháng tuổi
Điều kiện chăn nuôi tốt, vệ sinh và dinh dưỡng đầy đủ tỷ lệ nhiễm thấp Ngược lại điều kiện chăn nuôi kém thì tỷ lệ tăng 23%
Tỷ lệ nhiễm giun tóc qua mổ khám ở một số vùng như sau:
Nghĩa Lộ 40,3%
Quảng Ninh 33,7%
Thanh Hoá 12,5%
Hà Nam 33,3%
2.1.5.2 Cơ chế sinh bệnh của giun tròn đường tiêu hóa gây ra ở lợn
Bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hóa của lợn thường tiến triển ở thể mãn tính Vì vậy, các triệu chứng biểu hiện thường không rõ ràng và thường
bị các triệu chứng khác che lấp, nên người ta thường ít quan tâm đến
Trang 31Con vật nhiễm bệnh thường gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài, lây lan từ con này sang con khác, làm cho mầm bệnh có điều kiện phát sinh Những con mắc bệnh thì cơ thể gầy còm, thiếu máu, giảm sức đề kháng Sở dĩ có tác hại như vậy là do các tác động của ký sinh trùng đến cơ thể vật chủ
- Tác động cơ giới: Hầu hết các ký sinh trùng đều gây nên những biến loạn cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập, làm tắc, chèn
ép, phá vỡ các tổ chức hoặc làm thủng, rách, do khí quan bám hút của ký sinh trùng mà làm tróc niêm mạc, gây xuất huyết và viêm thường gặp ở thể cấp tính, thứ cấp tính, mãn tính
- Tác động chiếm đoạt: Ký sinh trùng tự nuôi dưỡng cơ thể bằng cách
ăn tổ chức của ký chủ, cướp một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hóa, hút máu ký chủ Tác động này tiếp diễn liên tục bởi rất nhiều ký sinh trùng, gây nên tổn hại rất lớn cho ký chủ như thiếu máu, gầy còm, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, tiêu chảy…
- Tác động đầu độc: Ký sinh trùng bài tiết các chất độc hàng ngày, ký chủ hấp thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau như thường thấy nhất
là biến loạn thần kinh và tuần hoàn Nói chung, chất độc do ấu trùng bài tiết mạnh hơn thành trùng
- Tác động truyền bệnh: Một số loài tiết túc đốt súc vật, làm cho con vật khó chịu có thể bị viêm ngoài da nhưng không nguy hiểm mà cái nguy hiểm là chúng có thể truyền nhiễm có thể thành dịch lưu hành giết hại nhiều súc vật Ngoài ra, giun tròn cắn các niêm mạc gây thương tích cũng phá vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn từ môi trường chúng xâm nhập vào cơ thể, vi khuẩn gây bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng Ký sinh trùng và vi trùng thường kết hợp làm tổn hại thêm cho
ký chủ
Trang 32* Bệnh giun đũa lợn
Thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh Ấu trùng di hành gây tổn thương, mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể Ấu trùng di hành qua phổi làm cho suyễn lợn càng nặng hơn và tỷ lệ phát bệnh có thể tăng gấp 10 lần
Theo Anderdal (1957) [25], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau
5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bị bệnh suyễn Khi ấu trùng theo máu vào gan gây lầm tấm xuất huyết, đồng thời gây hủy hoại tế bào gan Khi ấu trùng từ mạch máu di chuyển tới phế bào gây ra vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi có thể kéo dài 5 - 14 ngày, có khi làm con vật chết Khi
là giun trưởng thành thì làm loét niêm mạc ruột non, gây đau bụng, nếu nhiều thì làm tắc ruột, khi chui vào ống dẫn mật tắc gây hoàng đản Giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần kinh như tê liệt hoặc hưng phấn, co giật
Giun lấy chất dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ Kết quả là làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn Giun đũa nhiều làm tắc ruột có khi thành búi, ruột có thể rách hay thủng
Lợn bị giun đũa thường xuyên yếu ớt, mệt mỏi, lông xù, dần dần gầy còm Nếu làm rách ruột thì lợn chết đột ngột Giun có thể chui lên dạ dày, thực quản, da, mõm hoặc qua yết hầu vào phổi gây ngạt thở
Trang 33Giun tóc lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy
2.1.5.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn
Khi viêm phổi thấy trên mặt phổi có đám xuất huyết màu hồng thẫm,
có nhiều ấu trùng giun đũa ở phổi Khi giun trưởng thành thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun ký sinh ở ruột non Nếu tắc và vỡ ruột thì có bệnh tích viêm phúc mạc
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], những triệu chứng chính của bệnh là: viêm ruột, bần huyết và gầy dần, có triệu chứng thần kinh Ấu trùng
Trang 34di hành qua phổi có thể gây ra tụ huyết hay viêm phổi, có khi thấy nổi mụn nước hay mịn ngoài da về sau đóng vẩy Khi ấu trùng theo máu về gan, dừng lại ở mạch máu gây ra lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây hủy hoại tế bào gan,
ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển tới phế bào nên mạch máu bị vỡ, ở phổi
có nhiều điểm xuất huyết Khi ấu trùng di hành tới phổi gây ra viêm phổi Triệu chứng viêm còn phụ thuộc mức độ nhiễm, có thể kéo dài 51 - 114 ngày,
có khi làm con vật bị chết
* Bệnh giun kết hạt ở lợn
Khi nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ, khi nặng thì con vật gầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, con vật có khi bị kiết lị Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ, lợn vỗ béo rất ít bị bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [10], lợn trưởng thành nhiễm giun thường không thể hiện rõ các triệu chứng lâm sàng Lợn con ở 2 - 4 tháng tuổi
bị nhiễm xuất hiện các triệu chứng như ỉa chảy lúc đầu phân lỏng sau sệt có nhiều dịch nhầy như mũi, lẫn máu Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải cong lưng
để rặn nhưng phân ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh lị Nếu lợn không được điều trị, lợn con sẽ kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày Lợn bị bệnh mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
+ Bệnh tích
Niêm mạc ruột già bị viêm, xuất huyết, trên niêm mạc có nhiều giun tóc trưởng thành cắm sâu vào thành ruột, xác chết gầy, có nhiều giun ở ruột già (nhất là manh tràng)
Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột phải kéo mạnh mới lấy được Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh Khi nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm, niêm mạc ruột bị bong ra
Trang 352.1.5.4 Chẩn đoán bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
Phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn ở vật nuôi gồm có các phương pháp như: phương pháp Fulleborn, phương pháp Darling, phương pháp Cherbovich, phương pháp chẩn đoán bằng kháng nguyên, phương pháp mổ khám tìm trứng giun tròn
* Bệnh giun đũa lợn
Đối với con vật sống: Kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi tìm trứng giun Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha loãng 1:200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt) phương pháp này rất tốt không gây phản ứng chéo với các giun khác, có kết quả dương tính sau khi nhiễm giun đũa 8 - 11 ngày
Đối với súc vật chết: Mổ khám tìm giun trưởng thành, ấu trùng và kiểm tra bệnh tích
* Bệnh giun lươn ở lợn
Vì kích thước giun nhỏ nên phải có kỹ thuật mổ khám và thu thập giun sán tốt mới thấy được giun lươn Do đó, phương pháp chẩn đoán chủ yếu là xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun lươn
* Bệnh giun kết hạt ở ruột lợn
Xét nghiệm phân tìm trứng giun kết hạt, nhưng phương pháp này ít
có ý nghĩa vì trứng Oesphagostomum dentatum giống trứng các loại giun
xoăn khác
Nuôi trứng nở thành ấu trùng và kiểm tra trên kính hiển vi hình thái và cấu tạo của ấu trùng Mổ khám kiểm tra bệnh tích (các u kén ở ruột), tìm giun trưởng thành
* Bệnh giun tóc ở lợn
Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun Có thể
mổ khám tìm giun và kiểm tra bệnh tích ở ruột già (manh tràng)
Trang 362.1.5.5 Biện pháp phòng và trị giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
* Biện pháp phòng bệnh giun tròn
Phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mục đích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển, thực hiện tốt các chu trình tiến hóa của nó, để nó không thể sinh ra ký sinh trùng trưởng thành mới được
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], các phương pháp tấn công
ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:
+ Chống giai đoạn thứ nhất: Ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuối cùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp: Dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng tức là thực hiện trước khi súc vật phát hành triệu chứng bệnh và trước khi súc vật gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường), tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kém mặc dù thịt gia súc vẫn sử dụng được)
+ Chống giai đoạn thứ hai: Trứng
Có thể dùng hai phương pháp: Tiêu diệt hết trứng bằng cách thu nhặt hết phân của gia súc ốm trong chuồng và đem chôn (biện pháp này phải làm
đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôi thai) hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học Đối với súc vật chăn thả, phải ngăn không cho trứng trên đồng cỏ phát triển bằng cách làm cho đồng
Trang 37Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm nhập vào cơ thể ký chủ (cách ly súc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, diệt
ký chủ trung gian)
Quan điểm của K I Skrjabin (1977) [26], đã đề ra học thuyết tiêu diệt tận gốc bệnh giun sán Học thuyết này có thể áp dụng cho các bệnh ký sinh trùng khác Nội dung của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động như dùng tất cả các biện pháp cơ giới, vật lý, hóa học, sinh vật học nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng ở tất cả các giai đoạn phát dục, tiêu diệt ký sinh trùng ở cả người và gia súc
Về mặt điều trị gia súc bệnh, nội dung của nó cũng là dự phòng: Chữa cho một súc vật khỏi bệnh, diệt được ký sinh trùng trong cơ thể nó là trừ được một con vật mang ký sinh trùng, trừ được một nguồn gieo mầm bệnh
Như vậy, đối với con vật mắc bệnh là điều trị nhưng đối với các con khác là tích cực đề phòng Vì vậy, việc phòng và trị bệnh giun sán tuy là hai vấn đề khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để tiêu diệt giun sán tận gốc, tránh lây lan mầm bệnh
Mỗi hộ gia đình, mỗi trại chăn nuôi cần phải thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp như sau:
+ Định kỳ cho thuốc tẩy giun sán
+ Dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun sán, chống tái nhiễm, bội nhiễm + Nuôi dưỡng chăm sóc tốt
+ Xử lý phân để diệt các mầm bệnh giun sán
+ Điều trị trên quy mô lớn
+ Đảm bảo vệ sinh chuồng trại và môi trường hạn chế việc lây nhiễm mầm bệnh