Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y, tôi được phân công về thực tập tại Trạm truyền giống gia súc Thái Nguyên với đề tài: “Đánh g
Trang 1TRUYỀN GIỐNG GIA SÚC THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2010 – 2014
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 2TRUYỀN GIỐNG GIA SÚC THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2010 – 2014
THÁI NGUYÊN – 2014
Trang 3Sau 5 tháng thực tập tốt nghiệp, đến nay em đã hoàn thành xong khóa luận của mình Có được kết quả này là nhờ sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của nhà trường, của khoa chăn nuôi thú y và ban lãnh đạo Trạm truyền giống gia súc tỉnh Thái Nguyên
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y, anh chị ở trạm truyền giống gia súc tỉnh Thái Nguyên
Đặc biệt em xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm giúp đỡ của Th.S Đặng Thị Mai Lan đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Bên cạnh đó là sự quan tâm, khích lệ, động viên của gia đình và bạn bè Một lần nữa em xin kính chúc các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y cùng ban lãnh đạo, các anh chị trong Trạm truyền giống gia súc tỉnh Thái Nguyên sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Phùng Thị Kiều
Trang 4Thời gian thực tập tốt nghiệp chính là cơ hội cho sinh viên củng cố và
hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học Đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, đúc rút kinh nghiệm qua sản xuất để từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, bồi dưỡng lòng hăng say nghề nghiệp
Thực tập tốt nghiệp không những tạo điều kiện để sinh viên áp dụng những kiến thức khoa học vào sản xuất mà còn tạo tính năng động, sáng tạo
để sau này rời ghế nhà trường trở thành những kĩ sư chăn nuôi thú y có năng lực tốt, có trình độ chuyên môn giỏi đáp ứng yêu cầu của xã hội
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y, tôi được phân công về thực tập tại Trạm truyền
giống gia súc Thái Nguyên với đề tài: “Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng tinh dịch của hai giống lợn Landrace, DU75 và điều tra một số bệnh thường gặp ở lợn đực giống nuôi tại Trạm truyền giống gia súc Thái Nguyên”
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn hạn chế, mới làm quen với thực tiễn sản xuất nên không tránh khỏi sai sót, tôi rất mong sự góp ý của các thầy, cô để bản khóa luận của tôi hoàn chỉnh hơn
Trang 5Từ viết tắt Tiếng Việt
Trang 6PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 3
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 5
1.1.4 Tình hình hoạt động, phương hướng, thuận lợi, khó khăn của ……… 7
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 9
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 9
1.2.2 Phương pháp tiến hành 9
1.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 10
1.3 Kết luận, tồn tại và đề nghị 17
1.3.1 Kết luận 17
1.3.2 Tồn tại 17
1.3.3 Đề nghị 18
PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 19
2.1 Đặt vấn đề 19
2.1.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài 20
2.1.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài 20
2.2 Tổng quan tài liệu 20
2.2.1 Cơ sở khoa học 20
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 34
2.3 Đối tượng, nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 37
2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37
2.3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 37
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 37
Trang 72.4.1 Kết quả đánh giá các chỉ tiêu về độ vẩn, màu sắc, mùi tinh dịch của hai
giống lợn Landrace, DU75 (theo cảm quan) 43
2.4.2 Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng tinh dịch 44
2.4.3 Kết quả đánh giá chất lượng tinh dịch qua các tháng theo dõi 48
2.4.4 Kết quả điều tra một số bệnh thường gặp ở lợn đực giống nuôi tại Trạm truyền giống gia súc Thái Nguyên 58
2.4.5 Kết quả điều trị một số bệnh thường gặp ở lợn đực giống 59
2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 60
2.5.1 Kết luận 60
2.5.2 Tồn tại 61
2.5.3 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 8Bảng 1.1 Nhiệt độ, ẩm độ trung bình hàng năm của huyện Đồng Hỷ 3
Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 16
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá hoạt lực của tinh trùng 40
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá nồng độ tinh trùng dựa vào độ vẩn tinh dịch 40
Bảng 2.3 Độ vẩn, màu sắc, mùi của tinh dịch 44
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu chất lượng tinh dịch qua các tháng theo dõi……… 44
Bảng 2.5 Khí hậu các tháng theo dõi 48
Bảng 2.6 Thể tích tinh dịch qua các tháng theo dõi 49
Bảng 2.7 Hoạt lực tinh trùng qua các tháng theo dõi 50
Bảng 2.8 Nồng độ tinh trùng qua các tháng theo dõi 52
Bảng 2.9 Sức kháng của tinh trùng qua các tháng theo dõi 54
Bảng 2.10 Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình qua các tháng theo dõi 55
Bảng 2.11 Chỉ tiêu tổng hợp V.A.C qua các tháng 56
Bảng 2.12 Chỉ tiêu pH của tinh dịch 57
Bảng 2.13 Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh ở lợn đực giống 58
Bảng 2.14 Kết quả điều trị một số bệnh 59
Trang 9Hình 2.1 Biểu đồ thể tích tinh dịch qua các tháng theo dõi 49
Hình 2.2 Biểu đồ hoạt lực tinh trùng qua các tháng 51
Hình 2.3 Biểu đồ nồng độ tinh trùng qua các tháng 52
Hình 2.4 Biểu đồ sức kháng của tinh trùng qua các tháng 54
Hình 2.5 Biểu đồ tỷ lệ tinh trùng kỳ hình qua các tháng 55
Hình 2.6 Biểu đồ chỉ tiêu tổng hợp V.A.C qua các tháng………56
Trang 10PHẦN 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trạm truyền giống gia súc tỉnh Thái Nguyên là một đơn vị thành viên trực thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên Trạm nằm trên địa bàn xóm Tân Thái, xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Ranh giới của huyện Đồng Hỷ:
- Phía Đông giáp huyện Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang
- Phía Đông Bắc giáp huyện Võ Nhai
- Phía Tây giáp huyện Phú Lương
- Phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình
- Phía Bắc giáp huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Bắc Kạn
Đồng Hỷ nằm trong toạ độ địa lý như sau:
Độ cao trung bình của huyện so với mặt nước biển là 21 - 25m, những nơi thấp là 20 - 21m, những nơi cao là 50 - 60m Phía Nam của huyện địa hình phức tạp hơn
Do tính chất đa dạng của nền địa chất và địa hình, nên đã tạo ra nhiều đất có đặc trưng khác nhau Theo kết quả trên bản đồ thổ nhưỡng của huyện cho thấy trên địa bàn có một số loại đất chính sau:
+ Đất phù sa: Đây là loại đất tốt, sử dụng chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp
Trang 11+ Đất vàng đỏ (macmaaxit): Đất có tính chất chua, dễ xói mòn
+ Đất dốc tụ: Là loại đất được hình thành do tích tụ các sản phẩm phong hoá phì nhiêu tốt Đất chủ yếu sử dụng trong trồng trọt
1.1.1.3 Giao thông thuỷ lợi
+ Giao thông: Huyện Đồng Hỷ với nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh
lộ, liên huyện, liên xã thuận tiện cho việc đi lại giao lưu kinh tế văn hoá của người dân Các tuyến đường liên tục được cải tạo nâng cấp và mở rộng
+ Thuỷ lợi: Huyện Đồng Hỷ có dòng sông Cầu uốn lượn quanh co từ
xã Cao Ngạn theo hướng Bắc - Nam xuống đến đập Thác Huống (xã Huống Thượng) cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước cho huyện vào mùa khô
1.1.1.4 Khí hậu thuỷ văn
Theo phân vùng của Nha khí tượng thuỷ văn thì huyện Đồng Hỷ nằm trong khu vực đặc trưng của trung du miền núi phía Bắc Đó là nóng ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc
- Mùa Hè: Nóng ẩm mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10)
+ Nhiệt độ trung bình: 270C
+ Tổng lượng mưa: 1726 mm
Tháng 7 là tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình của tháng là 28,50C
- Mùa Đông: Khô, lạnh, ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau)
Trang 12Bảng 1.1 Nhiệt độ, ẩm độ trung bình hàng năm của huyện Đồng Hỷ Yếu tố khí hậu
Tháng
Nhiệt độ không khí ( o C)
Lượng mưa (mm)
Âm độ không khí (%)
(Nguồn trích: Nha khí tượng thuỷ văn thành phố Thái Nguyên)
1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.1.2.1 Dân cư
Tổng số dân toàn huyện là 125.000 người, trong đó dân số ở độ tuổi lao động chiếm 50,8% (2012) chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Mật độ dân số phân bố không đều Huyện Đồng Hỷ có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm chủ yếu
Trình độ dân trí ở các vùng khác nhau, vùng sâu vùng xa trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng được đầu tư ít, kém phát triển, đời sống vẫn còn nghèo
1.1.2.2 Tình hình kinh tế
Sau sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, huyện Đồng Hỷ được đánh giá tình hình phát triển đang ở thế ổn định và có tăng trưởng Tuy nhiên
Trang 13huyện Đồng Hỷ vẫn là một huyện thuần nông, sản xuất mang tính chất tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hoá tập trung ở các Doanh nghiệp của tỉnh và Trung ương là chính
Cơ cấu kinh tế của huyện hiện nay đang có sự chuyển dịch, tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng và ngành Dịch vụ tăng dần, tỷ trọng ngành Nông - Lâm - Nghiệp giảm dần, tuy nhiên sản xuất Nông - Lâm - Nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện, chính vì vậy vai trò của các mô hình kinh tế trang trại cũng tương đối quan trọng với sự phát triển của huyện
Nhờ có vị trí thuận lợi về giao thông (cả về đường bộ, đường thuỷ), dịch vụ thương mại trên địa bàn huyện cũng tăng nhanh, trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực
Hệ thống các chợ được quan tâm và cải tạo nâng cấp và xây mới, cơ sở giao lưu buôn bán mở rộng, sản xuất hàng hoá phát triển
Việc đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ sản xuất ngày càng nhiều, do vậy đời sống sinh hoạt của người dân càng được nâng cao
1.1.2.3 Y tế, giáo dục
+ Y tế: Hiện nay trên địa bàn huyện có mạng lưới y tế đa dạng, huyện có
01 Trung tâm y tế và nhiều Trạm y tế ở các xã, tạo điều kiện cho công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng được nâng cao
+ Giáo dục: Trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tập trung một số trường
Trung học chuyên nghiệp, các trường Trung học phổ thông và Trung học cơ
sở khác
1.1.2.4 Văn hoá xã hội
Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, hiện nay huyện đã xây dựng được nhiều Câu lạc bộ, Nhà thi đấu để phục vụ về văn hoá - văn
Trang 14nghệ, thể dục - thể thao của nhân dân Công tác giữ gìn an ninh thật tự và
an toàn xã hội tương đối tốt, tệ nạn xã hội ngày càng giảm bớt
Ngoài ra công tác xây dựng và củng cố chính quyền, các tổ chức đoàn thể cùng với việc kiện toàn bộ máy nhà nước trong những năm gần đây đã được các cấp chính quyền quan tâm
Bên cạnh đó, nhờ có nguồn tài nguyên khoáng sản, du lịch phong phú, nên các hoạt động du lịch, công nghiệp ngày càng được quan tâm phát triển
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.2 Ngành chăn nuôi
Trên địa bàn huyện Đồng Hỷ hiện nay đang hình thành các mô hình chăn nuôi theo quy mô trang trại và chăn nuôi hộ gia đình với quy mô lớn nhằm mục đích cung cấp thực phẩm phục vụ con người, cung cấp sức cày kéo, phân bón, nguyên liệu cho ngành chế biến
Theo thống kê sơ bộ năm 2012 thì tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện Đồng
Hỷ hiện có trên 11.000 con trâu, bò; 65.000 con lợn và trên 700.000 con gia cầm
* Chăn nuôi lợn
Huyện đã có nhiều trang trại chăn nuôi lợn với quy mô lớn, người chăn nuôi đã biết áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nhằm góp phần nâng cao năng suất chất lượng đàn lợn
Trang 15Trạm truyền giống gia súc tỉnh Thái Nguyên cũng đã phát triển tăng lên với số lượng từ 65 con (2012) đến 85 con (2014) Chất lượng con giống cũng được nâng cao Nhằm cung cấp đủ số lượng và chất lượng tinh dịch cho đàn lợn nái để nâng cao năng suất trong chăn nuôi
* Chăn nuôi gia cầm
So với chăn nuôi lợn và chăn nuôi trâu bò thì chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh hơn cả Đặc biệt là chăn nuôi gà Nhiều giống gà cao sản chuyên thịt, chuyên trứng như gà Mía, gà Sasso, gà lai chọi, gà AA, gà Ai Cập,.… được nuôi tại các trang trại theo phương thức chăn nuôi công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra phương thức chăn nuôi gà thả vườn, gà đồi cũng được phát triển mạnh mẽ và được người tiêu dùng ưa chuộng
* Chăn nuôi trâu bò
Chăn nuôi trâu bò ở huyện Đồng Hỷ vẫn chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình nhỏ lẻ chưa có nhiều trang trại lớn Chăn nuôi theo phương thức chăn thả
tự do, thức ăn chủ yếu có sẵn trong tự nhiên và tận dụng sản phẩm phụ của ngành trồng trọt và chế biến
Hiện nay trại bò giống Điềm Thụy thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên đã phát triển về quy mô số lượng lớn đàn bò đực với 34 con bò đực giống, cung cấp tinh cọng rạ của các giống bò đực ngoại và đực lai, cải tiến giống bò nội có năng suất thấp
1.1.3.3 Công tác thú y
Công tác thú y là khâu quan trọng không thể thiếu được trong quy trình chăn nuôi gia súc, gia cầm Trạm thú y của huyện luôn coi trọng việc tiêm phòng định kì hàng năm cho đàn gia súc Ngoài ra, công tác kiểm dịch động vật cũng được chú trọng
Trạm có một bộ phận chuyên làm công tác kiểm dịch có trình độ chuyên môn, hoạt động tích cực, mỗi gia súc, gia cầm bị bệnh đem về chợ bán
Trang 16đều bị xử lí tùy vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, bởi vậy mà hạn chế được
nguồn dịch bệnh lây lan
1.1.4 Tình hình hoạt động, phương hướng, thuận lợi, khó khăn của Trạm truyền giống gia súc tỉnh Thái Nguyên
1.1.4.1 Tình hình hoạt động
Trạm truyền giống gia súc gồm:
- Quản lý: 01 Trạm trưởng là thạc sỹ ngành chăn nuôi thú y và 02 trạm phó là kỹ sư chăn nuôi thú y
- Kỹ thuật viên sản xuất tinh: 02 kỹ thuật viên
- Công nhân: Có 02 công nhân đã công tác lâu năm tại Trạm
- Bảo vệ: 01 người
Trong những năm qua Trạm đã thực hiện:
- Sản xuất và cung cấp tinh lợn cho các đàn lợn nái trong tỉnh và một số tỉnh lân cận
- Tiến hành lai tạo và Sind hóa đàn bò địa phương
- Tăng cường đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên, dẫn tinh viên và mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác truyền tinh nhân tạo cho đàn gia súc
- Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật về truyền tinh nhân tạo vào sản xuất giúp người chăn nuôi tận dụng ưu thế lai để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
- Hướng dẫn sinh viên thực tập đúng quy trình kỹ thuật
1.1.4.2 Phương hướng của Trạm
- Xây dựng Trạm truyền giống gia súc với quy mô đàn gia súc lớn hơn, trang thiết bị hiện đại, áp dụng nhiều khoa học vào thực tế sản xuất, nâng cao chất lượng con giống, chất lượng tinh dịch, phẩm chất con giống khi đưa ra thị trường
- Cung cấp đủ số lượng và chất lượng con giống cho bà con nông dân trong tỉnh và mở rộng ra các tỉnh lân cận
Trang 17- Tăng cường mua sắm thêm các trang thiết bị hiện đại, mở thêm nhiều lớp tập huấn, nâng cao kiến thức kỹ thuật tay nghề cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, kỹ thuật viên góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
- Nhập nội và thử nghiệm một số gia súc quý để thực hiện công tác lai tạo và đưa vào nuôi ở địa phương
- Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển chăn nuôi lợn nái ngoại, dự án
- Luôn được sự quan tâm, đầu tư hỗ trợ của các cấp, ban, ngành liên quan, luôn quan tâm đến đời sống của anh chị em công nhân, tạo điều kiện cho sự phát triển chung của toàn cơ quan
- Nằm gần các tuyến giao thông thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán
và tiếp nhận những thông tin khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước
- Là cơ sở có điều kiện thuận lợi cho sinh viên thực tập, học hỏi kinh nghiệm và nâng cao tay nghề, chuyên môn
Trang 18- Do nhận thức của người dân còn hạn chế và mật độ dân số không đều nên việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
1.2.1.1 Công tác chăn nuôi
- Chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn đực giống
1.2.1.2 Công tác thú y
- Phòng bệnh cho đàn lợn của Trạm bằng vaccine
- Chẩn đoán và điều trị bệnh mà lợn đực giống thường mắc phải
1.2.1.3 Công tác khác
- Huấn luyện lợn đực hậu bị và khai thác tinh dịch
- Pha chế và bảo tồn tinh dịch
Trang 191.2.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Kết quả công tác chăn nuôi
Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng lớn tới năng lực phối giống, phẩm chất tinh dịch cũng như thời gian khai thác của lợn đực giống Chính vì vậy, đàn lợn đực giống luôn phải có chế độ chăm sóc chặt chẽ, nghiêm ngặt
về khẩu phần ăn, vệ sinh, tắm chải, vận động Tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được đảm bảo khô ráo, sạch sẽ, luôn đảm bảo về nhiệt độ, độ ẩm
Trong thời gian thực tập tôi đã cùng với các cô chú, anh chị công nhân viên, đội ngũ kỹ thuật, thường xuyên theo dõi tình hình sức khỏe của lợn đực giống cũng như chế độ ăn, khẩu phần ăn, thường xuyên quét dọn vệ sinh chuồng nuôi và xung quanh, định kỳ phun thuốc khử trùng tiêu độc chuồng trại, trồng cây lấy bóng mát,…
+ Thu dọn phân, nước tiểu hàng ngày
+ Phun thuốc sát trùng chuồng trại
Trang 20* Chẩn đoán và điều trị bệnh
Việc chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều trị khỏi bệnh cho vật nuôi, làm giảm thiệt hại về kinh tế, ngăn chặn dịch bệnh lây lan, giúp con vật hồi phục nhanh
Trong thời gian thực tập tại trạm, tôi đã tham gia cùng cán bộ kỹ thuật phát hiện và điều trị một số bệnh cho lợn đực giống như sau:
- Bệnh suyễn lợn:
+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn Mycoplasma gây ra Bệnh thường xảy ra
ở lợn hậu bị Lây qua đường hô hấp, sau khi xâm nhập vào phổi vi khuẩn sẽ tạo trạng thái cân bằng nếu cơ thể khoẻ mạnh, sức đề kháng tốt Khi cơ thể lợn gặp điều kiện bất lợi do chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi đột ngột… sức đề kháng của con vật giảm, mất trạng thái cân bằng, vi khuẩn tác động gây viêm phổi
+ Triệu chứng: Bệnh xảy ra ở 3 thể:
Thể cấp tính: Lợn ốm, sốt 39,5 - 410C Lợn thường nằm ở góc chuồng, mệt mỏi, ít ăn hoặc không ăn, da xanh nhợt, hắt hơi từng hồi dài, ho sau khi vận động, tần số hô hấp tăng, thở khò khè, thở dốc, ngồi như chó ngồi
Thể á cấp tính: Bệnh có triệu chứng như thể cấp tính nhưng nhẹ hơn Thể mãn tính: Từ hai thể trên chuyển thành, lợn ho khò khè, ho thành từng tiếng, từng hồi, ho từng tuần, sau giảm hoặc ho liên miên, thở khò khè Lợn đi táo sau đó ỉa chảy Lợn còi cọc, chậm lớn, gây thiệt hại về kinh tế
+ Điều trị: Thường dùng một trong các loại kháng sinh sau:
Trang 21Ngoài ra kết hợp dùng một số loại thuốc trợ sức, trợ lực như Hanalgin C, B-complex, Cafein - benzoat natri 20%
- Bệnh vỡ móng, viêm móng:
+ Nguyên nhân: Có thể do một số nguyên nhân sau:
- Do thức ăn thiếu một số chất khoáng hoặc vitamin
- Do con vật làm việc quá sức
- Do con vật thiếu vận động
- Do vệ sinh chuồng trại kém, nền chuồng không đạt tiêu chuẩn tạo điều kiện cho vi khuẩn yếm khí tồn tại, khi khe móng bị tổn thương vi khuẩn xâm nhập gây bệnh…
+ Triệu chứng: Con vật đi lại khó khăn do móng bị rạn, vỡ, nứt (vi khuẩn xâm nhập), khi bị viêm nặng con vật không đi, đứng được Thân nhiệt tăng, vùng móng sưng, nóng, đau Con vật ăn kém hoặc bỏ ăn
+ Điều trị:
- Trường hợp bị nhẹ: Rửa sạch phân và nước tiểu xung quanh móng, ngâm chân bị vỡ móng vào dung dịch CuSO4, lau khô, bôi thuốc diệt khuẩn như cồn Iot 5%, dùng penicillin nhét vào chỗ nứt
Kết hợp sử dụng một trong số kháng sinh sau:
Trang 22- Bệnh ghẻ
+ Nguyên nhân: Do cái ghẻ Sarcoptes scabciei là loại côn trùng hình
nhện ký sinh ở da, đục khoét lớp biểu bì da, gây rụng lông, ngứa ngáy Lợn mắc ở mọi lứa tuổi
+ Triệu chứng: Thông thường ghẻ bắt đầu ở tai, đầu, mắt sau đó lan xuống hai bên sườn, đùi, háng…
Trên da xuất hiện các mụn ghẻ màu đỏ sau đó lại tróc da thành các vảy màu nâu xám, lợn gầy dần, rụng lông, lở loét
Bệnh lây lan từ lợn bệnh sang lợn khoẻ chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp, cọ xát, do nước rửa chuồng có ghẻ cái khu trú
+ Điều trị: Dùng Ivermectin tiêm 1ml/10kg TT hoặc dùng Sebacil đổ dọc sống lưng lợn Liều sử dụng là: 2-4ml/kg TT
- Bệnh loét da thối thịt
+ Nguyên nhân
- Do lợn không được tắm chải thường xuyên, lợn không được vận động, nằm nhiều
- Do lợn cắn nhau gây thương tích
- Do vi khuẩn yếm khí gây hoại tử da thịt, nhiễm tạp khuẩn
Streptococcus, Spherophorus, Necrophorus gây ra
- Do chuồng trại có nhiều vật cứng nhọn gây sây sát cho lợn
+ Triệu chứng: Nơi bị viêm thường hơi nhạt màu, ứ máu mềm, xuất hiện các ung mụn nhỏ ở những nơi như mông, đùi, má, lưng, vai…
- Ung mụn đầu tiên nhỏ sau to dần và lan rộng ra xung quanh
- Con vật ăn uống bình thường, khoẻ mạnh, ít sốt
- Sau 5 - 7 ngày ung vỏ loét, miệng to, rộng, hình thành lỗ hổng sâu, thịt bị thối loét màu nâu sạm hay đen, phủ chất bã đậu, chảy ra dịch màu nâu
Trang 23- Mùi hôi thối khó chịu, không điều trị kịp thời có thể bị đục khoét mất mông, má, vai, bắp thịt cổ…
+ Điều trị: Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Chỉ dùng dao kéo cắt bỏ tất cả các tổ chức loét, thối Sau khi cắt bỏ xong, rửa bằng nước sát trùng và kết hợp với dùng kháng sinh
- Bệnh khớp
+ Nguyên nhân
- Do vi khuẩn hoặc thiếu khoáng chất, ít vận động
- Do điều kiện ngoại cảnh nóng lạnh thất thường, chuồng trại ẩm thấp
- Do tích tụ canxi trong khớp, tổ chức sụn tăng sinh, khớp sẽ cứng, lợn không còn khả năng vận động
- Theo M.F.Vol-covoi (1996) [27] thoái hoá xương khớp ở lợn đực là do rối loạn trao đổi chất khoáng, hậu quả của việc cho ăn nhiều thức ăn tinh, thiếu vận động, ít tắm nắng, khai thác quá mức cũng tạo điều kiện phát sinh bệnh
+ Triệu chứng: Con vật gầy yếu, đi lại khó khăn, không muốn vận động Thân nhiệt lúc đầu tăng cao 40 - 410
C, sau trở lại bình thường Không ham muốn nhảy giá hoặc giao phối Khớp sưng to, nóng, đau, sau đó cứng hoàn toàn, con vật không vận động được
+ Điều trị:
- Trường hợp bị nhẹ: Cho con vật thường xuyên vận động, tắm nắng kết hợp xoa bóp vùng khớp Cho ăn đầy đủ và cân đối dưỡng chất Để chuồng trại khô ráo, sạch sẽ, tránh gió lùa
- Trường hợp bị nặng: Nên loại thải do sức sản xuất giảm, kém hiệu quả
- Bệnh đường tiêu hoá
+ Nguyên nhân: có thể do nhiều nguyên nhân như:
Trang 24+ Triệu chứng: Lợn giảm ăn, sốt hoặc không sốt, tiêu chảy, mất nước làm cho lợn gầy sút cân nhanh
+ Điều trị: Có thể sử dụng một trong số các loại kháng sinh tổng hợp như: Hanceft tiêm bắp 1ml/10- 15kg TT liên tục trong 3 ngày
D.O.C tiêm bắp 1- 2ml/10kg TT liên tục 3-5 ngày
1.2.3.3 Kết quả công tác khác
Ngoài các công việc chăm sóc nuôi dưỡng, phát hiện, điều trị bệnh cho lợn và tiến hành chuyên đề nghiên cứu khoa học, tôi còn tham gia một số công việc sau: Huấn luyện lợn đực nhảy giá, pha chế và bảo tồn tinh dịch khai thác tinh, đóng và dán mác lọ tinh, kiểm tra chất lượng tinh hàng ngày
* Huấn luyện lợn đực hậu bị và khai thác tinh dịch
Đực giống già, sức sản xuất kém cần loại thải, đồng thời với việc chuẩn
bị để tăng quy mô đàn Vì vậy, để đảm bảo đủ số lượng tinh cung cấp cho đàn lợn nái trong tỉnh, Trạm đã đưa về đàn lợn hậu bị để thay thế số đực giống loại thải và tăng quy mô đàn
Trong thời gian thực tập tôi đã cùng với cán bộ kỹ thuật của Trạm huấn luyện thành công 10 lợn đực hậu bị và bắt đầu đưa vào khai thác Trong quá trình huấn luyện có một số con có tính hăng kém, chúng tôi phải đưa chúng vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đặc biệt hơn và sử dụng các biện pháp cơ học, hoá học hay kích tố để tăng tính hăng
Kết quả là chúng tôi đã huấn luyện thành công đàn lợn hậu bị Với tỷ lệ đạt 100%
Bên cạnh đó, hàng ngày tôi cùng với cán bộ kỹ thuật của Trạm tiến hành khai thác tinh dịch lợn đực giống phục vụ sản xuất
* Pha chế và bảo tồn tinh dịch
Pha chế, bảo tồn nhằm mục đích tăng thể tích tinh dịch, kéo dài thời gian sống ngoài môi trường của tinh trùng Do đó, có thể nâng cao năng suất của lợn đực giống
Trang 25Trong khi pha loãng và bảo tồn tinh dịch chúng tôi luôn tuân thủ đúng nguyên tắc về áp lực thẩm thấu, độ pH, năng lực đệm của môi trường, tỷ lệ giữa chất điện giải và chất không điện giải, môi trường có đặc điểm vật lý phù hợp với tinh trùng, thoả mãn tính kinh tế và đáp ứng được nhu cầu thực tế
Ngoài ra, các dụng cụ sử dụng trong khi pha loãng và bảo quản tinh dịch chúng tôi phải hấp sấy vô trùng sạch sẽ sau mỗi lần sử dụng để đảm bảo chất lượng tinh tốt nhất
* Đóng lọ, dán mác lọ tinh
Đóng lọ, dán mác lọ tinh để bảo vệ tinh trùng trong quá trình bảo quản
và vận chuyển, dễ dàng quản lý khi đưa vào thụ tinh nhân tạo
Kết quả công tác phục vụ sản xuất trong thời gian thực tập được thể hiện qua bảng 1.2:
Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung phục vụ sản xuất Số lượng
Kết quả (An toàn, khỏi)
Số lượng (con)
Tỷ lệ (%)
1 Huấn luyện lợn hậu bị tập nhảy giá 10 10 100
2 Đóng lọ, dán mác lọ tinh 48.563 48.563 100
Trang 261.3 Kết luận, tồn tại và đề nghị
1.3.1 Kết luận
Nhờ sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn Ths Đặng Thị Mai Lan, Ban lãnh đạo Trạm và đội ngũ cán bộ kỹ thuật, anh chị em công nhân tôi đã hoàn thành tốt đợt thực tập của mình
Sau 5 tháng thực tập tại Trạm truyền giống gia súc tỉnh Thái Nguyên, tôi đã học tập được rất nhiều kiến thức, biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế sản xuất, biết cách chọn lọc giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý cho lợn đực giống, quy trình khai thác, pha chế và bảo tồn tinh dịch lợn, huấn luyện lợn đực giống nhảy giá, biết cách sử dụng một số loại thuốc, vaccine, cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh đực giống thường mắc phải, cách xử lý khi có dịch bệnh xảy ra…
Hơn nữa đợt thực tập còn giúp tôi rèn luyện được tác phong nhanh nhẹn, nhạy bén, biết cách quản lý, tổ chức làm việc tại một trại chăn nuôi
Ngoài ra, thời gian thực tập còn giúp tôi trưởng thành hơn, yêu ngành, yêu nghề của mình hơn, tự tin hơn trước khi ra trường
Bên cạnh đó thời gian thực tập còn giúp tôi nhận thấy tôi còn cần học hỏi thêm rất nhiều từ thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, thường xuyên tham khảo, nghiên cứu tài liệu mới, tìm hiểu thêm về tiến bộ khoa học kĩ thuật, nâng cao kiến thức chuyên môn
Cuối cùng, tôi nhận định, thời gian thực tập cuối khóa là thời gian vô cùng quý báu và cần thiết, nó là bước đầu tập duyệt của mình, nó giúp tôi vững vàng hơn trong quá trình công tác sau này
Trang 27- Đối với cơ sở:
+ Chất lượng nguồn nước uống chưa đảm bảo vệ sinh gây ảnh hưởng tới sức khoẻ đàn đực giống và môi trường xung quanh
+ Chưa có chuồng trại cách ly lợn bệnh, lợn hậu bị mới bắt về
+ Điều kiện chuồng trại còn hạn chế nên đã để một số bệnh xảy ra + Việc chống nóng chưa đảm bảo nên cũng phần nào ảnh hưởng tới khả năng sản xuất của lợn
+ Các trang thiết bị dùng để nghiên cứu, khai thác, pha chế và bảo quản tinh dịch chưa đầy đủ nên còn nhiều hạn chế
+ Khu vực chăn nuôi chưa đảm bảo yêu cầu xa khu dân cư
1.3.3 Đề nghị
- Cải thiện chất lượng nguồn nước và có kế hoạch chống nóng cho lợn
- Xây dựng khu vực cách ly lợn bệnh, lợn hậu bị mới nhập về
- Cần chú ý tới vệ sinh chuồng trại, sửa chữa những hạng mục đã xuống cấp
- Đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng tinh dịch lợn
Trang 28PHẦN 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng tinh dịch của hai giống lợn Landrace, DU75 và điều tra một số bệnh thường gặp ở lợn đực giống nuôi tại Trạm truyền giống gia súc Thái Nguyên”
2.1 Đặt vấn đề
Ở nước ta, nghề chăn nuôi lợn đã có truyền thống lâu đời, đến nay con lợn vẫn được nuôi rộng rãi ở khắp mọi miền tổ quốc Tuy nhiên, trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng xu hướng hội nhập, kinh tế quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay đã đặt ra cho ngành chăn nuôi lợn một bài toán mới là phải bắt kịp các tiến bộ khoa học kĩ thuật, tìm ra hướng đi mới cho mình
Hiện nay, để nâng cao năng suất, chất lượng thịt lợn, nước ta đã nhập vào rất nhiều giống lợn ngoại cao sản như: Landrace, Yorkshire, Matter, Duroc, Pietrain, Hamshire… Trong số đó thì lợn Landrace và Duroc được sử dụng phổ biến nhất để lai kinh tế và phục vụ chương trình nhân giống, lai giống Bởi ảnh hưởng của lợn đực giống tới chất lượng đàn lợn con là rất lớn Nhiều đặc điểm mang tính trội ở con đực như màu sắc lông, thể chất khỏe mạnh, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kgP giảm… Trần Đình Miên (1975) [16] đã chứng minh sức sống của đời sau phụ thuộc vào sức sống của tinh trùng Tinh trùng của lợn đực càng có sức sống cao thì khả năng sinh trưởng, phát dục, sức đề kháng bệnh tật của đời sau càng cao nên lợn đực giống chiếm một vị trí quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn
Phương pháp thụ tinh nhân tạo là phương pháp đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất Biện pháp kĩ thuật này đã góp phần đẩy nhanh công tác cải tạo giống, hợp lý hóa cơ cấu quy hoạch giống Trên cơ sở đó, thụ tinh nhân tạo góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu kinh tế, kỹ thuật trong chăn nuôi lợn
Trang 29Do vậy, để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng đàn lợn đang được nuôi thì việc kiểm tra số lượng và chất lượng tinh dịch, hiệu quả so sánh giữa các giống lợn thông qua một số chỉ tiêu cũng là một khâu rất quan trọng trong quy trình sử dụng lợn đực giống
Xuất phát từ thực tế sản xuất chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề:
“Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng tinh dịch của hai giống lợn Landrace, DU75 và điều tra một số bệnh thường gặp ở lợn đực giống nuôi tại Trạm truyền giống gia súc Thái Nguyên”
2.1.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được một số chỉ tiêu về chất lượng tinh dịch của hai giống lợn Landrace và DU75
- Phát hiện và điều trị được một số bệnh thường gặp ở lợn đực giống nuôi tại Trạm
- Trên cơ sở các đánh giá để áp dụng các biện pháp kỹ thuật đúng nhằm phát triển chăn nuôi lợn đực giống và thụ tinh nhân tạo
2.1.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc xem xét sử dụng hay loại thải các lợn đực giống, đồng thời có biện pháp nâng cao số lượng và chất lượng tinh dịch
- Các kết quả nghiên cứu thu được là tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo bổ sung vào quy trình chăn nuôi lợn đực giống
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Sơ lược cấu tạo và chức năng sinh lý của cơ quan sinh dục lợn đực
Cơ quan sinh dục lợn bao gồm: Bao dịch hoàn, dịch hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh, các tuyến sinh dục phụ, dương vật và bao dương vật
- Bao dịch hoàn: Là phần bao phủ bên ngoài dịch hoàn tạo thành một khối lồi hình bán cầu và chia thành 2 thuỳ không rõ ràng Ở lợn, bao dịch
Trang 30hoàn nằm sau vùng bẹn, dưới hậu môn Bao dịch hoàn có chức năng điều hòa nhiệt độ, chứa và bảo vệ dịch hoàn
- Dịch hoàn: Nằm trong bao dịch hoàn, là một đôi hình bầu dục, nằm trong bao dịch hoàn, có hai chức năng: nội tiết (tiết ra hocmon sinh dục) và ngoại tiết (sản xuất ra tinh trùng) Tất cả các giai đoạn phát triển của tế bào sinh dục đều diễn ra ở dịch hoàn
- Dịch hoàn phụ hay thượng dịch hoàn: Rất phát triển, là một thể kéo dài hình ngoằn ngoèo, gồm 3 phần: đầu, thân, đuôi Dịch hoàn phụ là nơi xuất phát các ống dẫn tinh ra
- Ống dẫn tinh: Làm nhiệm vụ chính đưa tinh trùng ra ngoài Vách ống là một loại cơ trơn hoạt động rất mạnh, khi cơ trơn co bóp thì tinh trùng bị đẩy ra ngoài
- Các tuyến sinh dục phụ: Bao gồm tuyến tinh nang, tuyến tiền liệt và niệu đạo, tuyến cowper Các tuyến sinh dục phụ có chức năng bài tiết các chất
đi vào thành phần của tinh dịch và có vai trò trong hoạt động sinh dục
- Dương vật và bao dương vật
+Dương vật có hình dạng mũi khoan gồm 2 phần:
Phần gốc hay còn gọi là phần cố định: Nằm trong vùng đáy chậu giữa khum ngồi và bao dịch hoàn, được bao bọc bởi mạng lưới mao mạch thần kinh và mô liên kết
Phần thân hay còn gọi là phần tự do: Thò ra ngoài khi dương vật cương cứng và đưa vào đường sinh dục cái khi giao phối Trong tình trạng không hoạt động thì phần tự do nằm trong bao dương vật
Dương vật được hình thành từ niệu quản dương vật, các thể xốp, thể hổng, các tổ chức liên kết huyết quản và các sợi chun Khi con vật chuẩn bị giao phối, máu từ các đám rối tĩnh mạch trong kế vách ngăn dồn đẩy vào các xoang của thể hổng, thể xốp gây nên hiện tượng cương cứng dương vật Đầu
Trang 31dương vật hình mũi khoan, khi giao phối hoặc lấy tinh dương vật thò ra ngoài
từ 20- 40 cm tuỳ theo giống, lứa tuổi, và khối lượng cơ thể
+ Bao dương vật: Là túi da chứa dương vật khi không hoạt động, túi này tiết chất nhờn và mùi hăng
2.2.1.2 Sinh lý bài tiết tinh dịch
Khi lợn thành thục về tính (8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 80 - 100 kg đối với lợn ngoại) thì có thể giao phối hoặc lấy tinh
Hoạt động sinh dục của lợn đực là tập hợp hàng loạt các phản xạ không điều kiện phức tạp bao gồm:
- Phản xạ hưng phấn: Thần kinh con vật bị kích thích, nhịp tim tăng, lưu lượng máu vận chuyển nhiều, các dây thần kinh cảm thụ hưng phấn sẵn sàng đón nhận sự tiếp xúc va chạm
- Phản xạ cương cứng: Dương vật cứng lên do phần thể hổng của dương vật bị xung huyết
- Phản xạ nhảy: Con vật nhảy lên mình con cái hoặc nhảy lên ôm giá
- Phản xạ giao phối: Xuất hiện đồng thời với phản xạ nhảy Con vật thực hiện phản xạ nhảy, đồng thời đưa dương vật vào âm đạo của con cái Mông con đực co giật liên tục, nhờ đó mà dương vật và âm đạo được cọ xát với nhau
- Phản xạ bắn tinh: Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [19] có thể quan sát thấy 3 giai đoạn xuất tinh của lợn đực như sau:
+ Giai đoạn đầu tiết ra 10 - 20 ml dịch trong suốt không có tinh trùng, chất này có tác dụng rửa đường niệu đạo chuẩn bị cho tinh trùng di chuyển
+ Giai đoạn giữa kéo dài 1 - 2 phút tiết ra khoảng 100 - 120 ml chất dịch gồm tinh trùng và các chất phân tiết của các tuyến sinh dục phụ như: tiền liệt, tinh nang, Cowper…
+ Giai đoạn cuối là sự bài tiết chủ yếu của các tuyến sinh dục phụ, giai đoạn này tiết ra khoảng 150 - 200 ml, số lượng tinh trùng giai đoạn này ít, thời gian kéo dài 4 - 5 phút
Trang 322.2.1.3 Thành phần hóa học của tinh dịch
Khi thực hiện thành công phản xạ sinh dục con đực tiết ra tinh dịch phóng vào đường sinh dục của con cái hoặc dụng cụ lấy tinh Tinh dịch lợn đực gồm hai phần là tinh thanh và tinh trùng
* Tinh thanh
Tinh thanh chiếm 84,7% khối lượng tinh dịch (Herrick và Seff, 1962) [32] Tinh thanh của tinh dịch lợn chiếm 93-96% và là môi trường có tác dụng kích thích tinh trùng hoạt động Sự hoạt động của tinh trùng làm tiêu hao năng lượng dự trữ, làm phồng các màng bọc của đầu tinh trùng, đồng thời làm mất điện tích bề mặt gây ra các đám kết dính làm tinh trùng chóng chết khi ra ngoài cơ thể con đực (Milovalov, 1988) [34]
Tinh thanh của tinh dịch là loại hỗn hợp chất lỏng được tiết ra từ các tuyến sinh dục phụ:
Tuyến tiền liệt và niệu đạo: 55-70%
Tuyến tinh nang: 20-26%
Tuyến Cowper: 18-25%
Dịch hoàn phụ: 2-3%
Do tinh thanh chiếm một lượng lớn tinh dịch và chỉ là môi trường cho tinh trùng hoạt động, do vậy khối lượng tinh dịch là chỉ tiêu có ý nghĩa trong pha loãng Qua đó không thể hiện được tinh dịch tốt hay xấu
Tinh trùng chứa khoảng 25% vật chất khô và 75% là nước Trong vật chất khô thì 50% là protein; 13,2% là lipit và khoảng 1,8% là khoáng
Trang 33- Cấu tạo: Tinh trùng lợn cấu tạo gồm: Đầu, cổ thân và đuôi
+ Đầu tinh trùng: Gồm 2 phần chính là nhân và thể Acrosome (thể đỉnh) Nhân: Ngoài cùng của nhân là màng nhân, phía trước gắn với thể Acrosome thành mũ chóp trước, phía sau gắn với màng ngoài của tinh trùng Thành phần của nhân chủ yếu là chromatine đậm đặc, đồng nhất với nó bao gồm AND và các protit thuộc nhóm protamin
Thể Acrosome: Nằm bên trong màng sinh chất và ở phía đỉnh đầu tinh trùng, vì vậy người ta còn gọi là thể đỉnh Màng trước của Acrosome dính sát với màng ngoài của tinh trùng và màng sau dính với màng nhân làm thành mũ chóp trước của tinh trùng Dịch chứa trong thể Acrosome là một thể dịch đặc, đồng nhất, trong thành phần của nó có các enzyme cần thiết cho quá trình thụ tinh giữa trứng và tinh trùng Phần phía trên của thể Acrosome chứa enzyme hyaluronidase có tác dụng phá huỷ vành phóng xạ của tế bào trứng, trong khi
đó phần sau của thể Acrosome chứa enzyme acrosine có vai trò trong việc chọc thủng vùng trong suốt của tế bào trứng Ngoài ra, thể Acrosome còn chứa các enzyme photphatase axit, esterase, hydrolase axit
Thể Acrosome của tinh trùng có vai trò rất quan trọng trong quá trình thụ tinh nên ngoài việc đánh giá chất lượng tinh trùng qua các chỉ tiêu thông thường người ta còn đánh giá phẩm chất tinh trùng thông qua thể Acrosome nhờ sự phát sáng của nó trong môi trường
Theo Nguyễn Tấn Anh (1985) [2] đã dùng dung dịch acrota cùng với
tinh dịch soi trên kính hiển vi nền đen để kiểm tra sự phát triển của tinh trùng
Ngoài ra, lớp protit của Acrosome dễ bị trương phồng trong môi trường axit, vì vậy khi bảo tồn tinh dịch nên chú ý vì Acrosome dễ bị phá huỷ làm mất khả nãng thụ thai Do vậy việc đánh giá Acrosome của tinh trùng là rất cần thiết ( Nguyễn Tấn Anh, 1984) [1]
Trang 34+ Phần cổ, thân: Là vùng phức hợp do nguyên sinh chất dồn ép tạo thành Trong phần cổ thân có 2 loại cặp hạt là: Cặp hạt trung tâm và 9 cặp hạt bên
Từ 9 cặp hạt bên xuất phát ra 9 cặp sợi bên, được phân chia thành từng đoạn sáng tối xen kẽ nhau đi theo hình xoắn trôn ốc về phía đuôi Bao xung quanh sợi bên là hệ thống ty lạp thể (Mitochondrie)
Phần cổ thân của tinh trùng có chứa nhiều loại enzyme oxy hoá khử giúp cho tinh trùng trao đổi chất Các enzyme chủ yếu là phosphatase, tranferase và ATPase Ngoài ra, phần cổ thân còn chứa phospholipit có tác dụng cung cấp năng lượng cho tinh trùng hoạt động
+ Phần đuôi: Được chia làm 3 phần chính bao gồm:
Trung đoạn: Bắt đầu từ các hạt bên và kết thúc ở chỗ dày lên của màng đuôi về phía dưới Nhìn theo tiết diện ngang thì chính giữa là một cặp sợi trung tâm và xung quanh có 9 cặp sợi trục ngoại vi (sợi bên) Bao bọc các sợi bên là
những thể hạt (ty lạp thể) và một lớp nguyên sinh chất mỏng (protoplasma) Lớp ngoài cùng bao bọc trung đoạn là lớp màng sinh chất (cytoplasma)
Đuôi chính: Là phần dài nhất của đuôi Ngoài cùng là màng sinh chất,
ở giữa có 1 cặp sợi trung tâm và xung quanh sợi trung tâm là 9 cặp sợi ngoại
vi (sợi bên) tạo thành 2 lớp, xung quanh những cặp sợi này được bao bọc bởi một lớp ty lạp thể
Đuôi phụ: Không có màng sinh chất bên ngoài, các sợi trục bên không tạo thành vòng xoắn nữa mà chúng được giải phóng thành chùm tơ đuôi giúp cho tinh trùng vận động và chuyển hướng được dễ dàng
2.2.1.4 Kỹ thuật khai thác tinh dịch
* Phương pháp dùng âm đạo giả
Nguyên lý của phương pháp này là cho con đực giao phối và xuất tinh trong một loại dụng cụ gọi là âm đạo giả có các điều kiện (nhiệt độ, áp suất,
độ nhớt ) tương tự như trong đường sinh dục của con cái động dục Đây là
Trang 35phương pháp khai thác tinh dịch cổ điển nhưng hiện nay vẫn đang được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và sản xuất
* Phương pháp kích thích cơ học
Nguyên lý của phương pháp này là sử dụng áp lực cơ học tác động vào
cơ quan sinh dục đực, kích thích, gây hưng phấn sinh dục cho con đực để gây nên phản xạ xuất tinh
Các bước tiến hành của phương pháp này như sau:
- Chuẩn bị dụng cụ: Dụng cụ khai thác tinh địch gồm có: găng tay bằng
cao su mỏng, lọ (hay bình) hứng tinh Rửa sạch phần bụng, sát trùng bộ phận sinh dục đực, phần mông của giá nhảy, lọ hứng tinh và găng tay cao su
- Khai thác tinh dịch: Dùng tay kích thích vào bao dương vật để lợn
đực hưng phấn, nhảy lên ôm giá nhảy Khi dương vật của lợn đực bắt đầu thò
ra, dùng lòng bàn tay nắm nhẹ vào đầu dương vật (đoạn xoắn mũi khoan) và lái cho qui đầu lệch ra ngoài giá nhảy Lúc này dương vật của lợn đực sẽ giao cấu trong lòng bàn tay Bàn tay của người khai thác tinh cần nắm nhẹ dương vật (giữ nguyên tư thế, vị trí của lòng bàn tay), các ngón tay hơi cử động nhẹ
để gây kích thích Khi hưng phấn đạt cao độ, lợn bắt đầu xuất tinh Người
Trang 36khai thác tinh dùng tay kia cầm lọ hứng tinh kề gần vào qui đầu để hứng tinh dịch chảy ra
để lợn tự co dương vật lại và tụt khỏi giá nhảy
+ Khi hứng tinh phải để cho tinh dịch chảy nhẹ theo thành lọ
- Ưu điểm:
+ Không cần nhiều trang thiết bị, dụng cụ
+ Người khai thác tinh dịch có thể quan sát trực tiếp được các pha trong quá trình xuất tinh, từ đó đưa ra quyết định hứng tinh ở "pha" nào là tốt nhất, đặc biệt trong quá trình khai thác tinh dịch lợn
- Nhược điểm:
+ Cần có sự luyện tập và thích ứng của động vật
+ Dễ bị nhiễm bẩn cơ quan sinh dục hoặc lây truyền bệnh cho người khai thác tinh dịch nếu không vô trùng tốt hoặc các dụng cụ bảo hộ không đảm bảo an toàn vệ sinh
+ Kích thích không gây khoái cảm cho con đực dễ gây ức chế khó xuất tinh và tinh dịch thu được có số lượng và chất lượng tinh trùng thấp
2.2.1.5 Các chỉ tiêu kiểm tra thường xuyên và định kỳ
- Các chỉ tiêu kiểm tra thường xuyên
+ Lượng tinh V (ml)
Lượng tinh là thể tích tinh dịch bài xuất tối đa trong một lần xuất tinh sau khi đã loại bỏ keo phèn Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng sản xuất tinh
Trang 37dịch của lợn đực giống qua đó đánh giá chế độ dinh dưỡng, chế độ khai thác,
sử dụng lợn đực giống Thể tích tinh dịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, tuổi, điệu kiện dinh dưỡng, chế độ sử dụng… theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [19] thì thể tích tinh dịch lợn nội hậu bị từ 50 - 80ml, trưởng thành là 100ml Đực giống ngoại hậu bị là từ 80 - 100ml và trưởng thành là 250 - 400ml Ngoài ra các tác giả Lương Tất Nhợ (1998) [17], Cao Đắc Đạm và cs (1993) [9] đã có những nghiên cứu về thể tích tinh dịch của lợn nội và lợn ngoại nuôi tại Việt Nam
+ Màu sắc: Bình thường tinh dịch lợn thường có màu trắng sữa hoặc như nước vo gạo Tinh dịch pha loãng có màu trong Nhiều lợn đực nội (đặc biệt là lợn đực trưởng thành) do nồng độ tinh trùng thấp nên tinh dịch loãng
và trong hơn so với lợn ngoại Cần chú ý loại bỏ những tinh dịch có màu không bình thường như:
Màu vàng: do tinh dịch có thể lẫn nước tiểu
Màu đỏ hồng: Tinh dịch có thể lẫn máu
Màu xanh hoặc vàng đục: Có thể lẫn mủ
+ Mùi: Tinh dịch của lợn đực bình thường có mùi đặc biệt, hơi tanh, hắc Không nên sử dụng những tinh dịch có mùi khác thường như: Mùi khai (có lẫn nước tiểu), mùi hôi, thối
+ Độ vẩn: Nó thể hiện sức sống và nồng độ tinh trùng Có thể dùng chỉ tiêu này để đánh giá sức sống và độ đậm đặc của tinh dịch bằng mắt thường Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [19] thì độ vẩn của tinh dịch như sau:
Khi tinh dịch đậm đặc, người ta nhận thấy có trạng thái chuyển động trong lòng chất lỏng sẽ ghi nhận bằng ký hiệu: + + +
Khi tinh dịch có độ đậm đặc trung bình, độ vẩn được ký hiệu: + +
Trang 38Khi tinh dịch loãng, nhận thấy độ đậm đặc hầu như không đáng kể, được ký hiệu: +
Đối với tinh dịch lợn ngoại, độ vẩn thường đạt + + +, lợn lai và lợn giống mới thường đạt + +, còn lợn nội thường đạt +
+ Hoạt lực của tinh trùng (A)
Hoạt lực tinh trùng thể hiện chất lượng tinh dịch, được tính bằng tổng
số tinh trùng còn khả năng vận động tiến thẳng so với tổng số tinh trùng có trong tinh dịch Tinh trùng lợn cũng như các loài gia súc khác khi được ra ngoài cơ thể và ở trong điều kiện thuận lợi chúng vận động rất mạnh, với tất
cả khả năng nó có Vì vậy, người ta đánh giá chất lượng tinh dịch thông qua hoạt lực
Nhưng cũng với các giống lợn trên nuôi tại nước nhiệt đới như nước ta thì hoạt lực nhỏ hơn Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) [19]; Nguyễn Văn Hưởng và cs (1976) [13] thì hoạt lực của đực giống nuôi tại Việt Nam thường đạt từ 0,7 - 0,8 Tinh trùng có hoạt lực càng cao thì tỷ lệ thụ thai thành công càng lớn
- Các chỉ tiêu kiểm tra định kỳ
+ Sức đề kháng của tinh trùng (R): Là chỉ tiêu đánh giá sức đề kháng của tinh trùng trong điều kiện bất lợi của môi trường sống Tinh trùng có sức kháng càng cao thì thể hiện sức sống và sức hoạt động cao Đồng thời dựa vào chỉ tiêu này người ta có thể xác định môi trường pha chế thích hợp, xác định thời gian bảo tồn và vận chuyển trong thụ tinh nhân tạo Sức đề kháng của tinh trùng là khả năng chống chịu với dung dịch NaCl 1% cần thiết để pha loãng 1 đơn vị thể tích tinh dịch đến lúc tinh trùng ngừng tiến thẳng Cơ sở khoa học để đánh giá sức đề kháng của tinh trùng là độ bền màng lipoprotein của tinh trùng dưới tác động của dung dịch NaCl 1%