1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.

73 346 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 5,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn .... Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ

Trang 1

-

PHƯƠNG THỊ DUYẾN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO ẤU TRÙNG

CYSTICERCUS TENUICOLLIS GÂY RA Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ

TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khoa : Chăn nuôi Thú y

Khóa học : 2010 - 2014

Thái Nguyên, 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

PHƯƠNG THỊ DUYẾN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO ẤU TRÙNG

CYSTICERCUS TENUICOLLIS GÂY RA Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ

TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua một quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của giáo viên trường

Đại học Nông Lâm Thời gian thực tập tại cơ sở tôi cũng nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình của cán bộ thú y huyện Đồng Hỷ, cùng sự nỗ lực cố gắng rèn

luyện của bản thân đã giúp tôi hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này Qua

đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y

Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn

Th.S Nguyễn Thu Trang người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo Trạm thú y

huyện Đồng Hỷ cùng toàn bộ các anh chị thú y viên cơ sở đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 29 tháng 05 năm 2014

Trang 4

Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại các

Bảng 4.7 Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ

nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 42

Bảng 4.8 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn khỏe và lợn bệnh 44Bảng 4.9 Công thức bạch cầu của lợn khỏe và lợn bệnh 46

Trang 5

Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại các địa phương 34

Hình 4.2 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tuổi 35

Hình 4.3 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tính biệt 37

Hình 4.4 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo các tháng 38

Hình 4.5 Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các địa phương 41

Hình 4.6 Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 43

Hình 4.7 Sự thay đổi một số chỉ số huyết họccủa lợn khỏe và lợn bệnh 45

Hình 4.8 Công thức bạch cầu của lợn khỏe và lợn bệnh 47

Trang 7

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài: 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis 4

2.1.2 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 5

2.1.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó và bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 17

2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 20

2.1.5 Chẩn đoán bệnh sán dây chó và bệnh Cysticercus tenuicollis gây ra 22

2.1.6 Phòng và trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 23

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 25

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng, vật liệu, thời gian, địa điểm nghiên cứu 27

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 27

3.1.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 27

3.2 Nội dung nghiên cứu 28

3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 28

Trang 8

3.2.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 28

3.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn 28

3.3.2 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó 29

3.3.3 Phương pháp bố trí và xét nghiệm máu của lợn bị nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis và lợn khỏe 31

3.3.4 Phương pháp nghiên cứu tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn với tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó 31 3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 32

4.1.1 Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 32

4.1.2 Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 39

4.2 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis 43

4.2.1 Số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố của lợn khỏe và lợn bệnh 43

4.2.2 Công thức bạch cầu của lợn khỏe và lợn bệnh 46

4.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra cho lợn 48

PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Tồn tại 51

5.3 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Bệnh sán dây là một bệnh rất phổ biến ở đàn chó nước ta Ấu trùng một

số loài sán dây ký sinh, gây bệnh ở người và một số loài gia súc khác - ký chủ trung gian của sán dây, gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi cũng như

sức khoẻ con người Một trong những loài ấu trùng đó là Cysticercus

tenuicollis Đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, gây bệnh ở lợn,

dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa đôi khi cả ở người

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10], cho biết ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và

gây bệnh Ấu trùng là những bọc nước có kích thước to, nhỏ không đều nhau bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, phổi Vì thế, trong quá trình giết mổ, có thể khó phát hiện, dễ nhầm lẫn ấu trùng với các bọc nước bình thường làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người và gia súc

Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) [11], bệnh phân bố ở khắp các vùng, đặc biệt là những nơi nuôi nhiều chó và giết mổ gia súc bừa bãi, không kiểm soát

vệ sinh chặt chẽ Tỷ lệ nhiễm bệnh tăng dần theo tuổi do thời gian và cơ hội tiếp xúc với ấu trùng tăng dần

Khi bị nhiễm ấu trùng, vật chủ có thể có một số triệu chứng như gầy yếu dần, đau bụng, bụng căng to, ấn vào vùng bụng có cảm giác bị đau, nếu nhiễm nặng có thể hoàng đản da và niêm mạc Vật chủ có thể chết do thiếu máu, nội quan bị huỷ hoại hoặc do các bệnh kế phát

Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis hay còn gọi là bệnh

ấu sán cổ nhỏ chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng

Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với vật chủ sống rất khó khăn do đặc điểm dịch tễ và triệu chứng bệnh không điển hình, giống một số bệnh ký sinh trùng khác Đặc biệt, không thể xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng bằng cách xét nghiệm

Trang 10

phân do ấu trùng ký sinh tại bề mặt các khí quan trong cơ thể Đối với vật chủ sống, có thể chọc dò dịch xoang ngực và bụng để xác định nhưng rất khó thực hiện, có thể nguy hiểm cho vật chủ

Những năm gần đây, tình hình chăn nuôi chó tại tỉnh Thái Nguyên phát triển mạnh, cả chó nuôi lấy thịt và chó cảnh Tuy nhiên, chó nuôi thường thả rông, nếu bị mắc sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, lây lan cho người và các vật nuôi khác Đặc biệt, việc giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng giết mổ bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh ấu sán cổ nhỏ là khá cao

Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra, để từ đó xây dựng các quy trình phòng trị thích hợp là hết

sức cần thiết Nghiên cứu này không những quan trọng cho việc phát triển chăn nuôi chó của tỉnh, mà còn góp phần phòng chống bệnh sán dây cho người và một số loài thú nuôi khác

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu

đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi

tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống"

1.2 Mục đích của đề tài:

Xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống

bệnh đạt hiệu quả cao

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Sự thay đổi chỉ tiêu huyết học của lợn khi nhiễm ấu trùng

Cysticercus tenuicollis

- Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra cho lợn

Trang 11

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ

bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loài gia súc tại tỉnh

Thái Nguyên, về quy trình phòng chống bệnh hiệu quả, có một số đóng góp

mới cho khoa học

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp

dụng quy trình phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra,

nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên một số loại vật nuôi và kể cả trên người

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Pablo Junquera, (2013) [36] Cystisercus tenuicollis là giai đoạn ấu trùng

của Taenia hydatigena, một ký sinh trùng sán dây của chó, chó sói, cáo, mèo

cừu, dê, bò, hươu và động vật hoang dã nhai lại khác là vật chủ trung gian

Cystisercus tenuicollis được tìm thấy chủ yếu ở gan, các mạc

nối và mạc treo, trên bề mặt của các cơ quan khoang bụng khác

Cysticercus tenuicollis là bong bóng đầy chất lỏng có thể dài đến 8 cm,

có cái cổ dài và mỏng, và có một đầu sán dây Động vật bị nhiễm khuẩn có thể có một tá hoặc nhiều hơn bong bóng như vậy Vài tháng sau khi nhiễm

trùng các nang chết và hình thành vết sẹo

Theo Johannes Kaufmann (1996) [31], ấu trùng Cysticercus tenuicollis

ký sinh ở bề mặt gan, màng mỡ chài ở khoang bụng của cừu và gia súc Gia súc nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một

số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo

ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [8])

Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [13], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là

những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] cho biết, ấu trùng Cysticercus

tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả

cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3] cho biết: căn bệnh là ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của

lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là

Trang 13

mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra

phía ngoài Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo

tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng

Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật

khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn

2.1.2 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó

2.1.2.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4] cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước

Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm

thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus

tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và

thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó

có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis

Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã có công trình tổng kết được hầu hết

những nghiên cứu trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus

cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu

Năm 1967 hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc,

trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena

Trang 14

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn

thịt, kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy giống, cầy hương, cày lỏn và

chó nhà được mổ khám phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia

pisifomis, Multiceps multiceps, Spirometra erinacei-europaei, Dipylidium caninum

Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ,

2003 [5])

Faust E C và cs (1929) [29] đã lập nên một phân giống là Spirometra trong giống Diphyllobothrium Mueller (1935) [34] đã mô tả loài

Diphyllobothrium mansonoides trên mẫu vật tìm được từ chó và mèo ở vùng

Syracus (New York) Đến năm 1937 Muller đề xuất giống Spirometra và thống nhất đổi tên loài Diphyllobothrium mansonoides thành loài Spirometra

mansonoides

Rudolphi (1918) đã phát hiện ấu trùng của sán dây loài Spirometra

ericnaice trên loài nhím ở châu Âu Faust E C và cs (1929) [29] cũng đã phát

hiện ấu trùng loài này trên nhím ở Trung Quốc và dạng sán trưởng thành ở

chó Khi nghiên cứu về hệ enzym của loài Spirometra erinacei ở Nhật Bản và

ở Australia, Fukumoto S và cs (1992) [30] nhận xét rằng hai loài sán này là

giống nhau

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại

ở Việt Nam Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:

Trang 15

Loài Spirometra erinacei-europaei

Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782

Loài Multiceps multiceps Leske, 1780 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940

Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782

Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy

ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans,

Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6]: tính đến thời điểm hiện tại, đã phát hiện 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo

Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea

Trang 16

Phạm Sỹ Lăng (2002) [11] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam

Việc mô tả hình thái các loài sán dây còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam Cande J (1870) là người đầu tiên mô

tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở Nam Bộ trên người Sau

này một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam như Đỗ Dương Thái và cs (1970);

Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống

Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni Sự phán đoán này không dựa

trên mẫu nên không có sự mô tả loài Theo Yamaguti (1959), loài

Diphyllobothrium mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra europaei thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae)

erinacei-Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo

nhà, cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans Theo Yamaguti (1959), loài này thuộc giống Spirometra

Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S L., Skrjabin A S., Serdukov A M (1985) Diphyllobothrium

mansoni không là tên động vật của một loài nào trong họ này Khi nói về lịch

sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài

Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm

và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum Tuy nhiên, các tác giả

có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo

Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [5])

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài

Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân

loại và không có mẫu Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] đã xem xét lại toàn bộ vị trí

phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh

một loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937

Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1])

Trang 17

2.1.2.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó

* Đặc điểm chung:

Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13] cho biết:

Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải

băng màu trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau)

Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng,

kích thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc Ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài

Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ

Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực

và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc

bộ Cyclophyllidea)

Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc Phần

Trang 18

bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể

Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung

ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây

phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang

Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí

Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính

Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung

Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở

Trang 19

phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục

Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào

ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng Trong ootyp, trứng thụ tinh

được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung của sán dây

rất khác nhau Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống

cong, dẫn từ ooptyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng Ở

sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài Ở những

sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các

đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp

vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng

sán lá, một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5]

* Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:

- Giống Dipylidium Leuckart, 1863

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13] cho biết:

+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 – 17 cm, gồm 80 – 250 đốt

Đầu rộng 0,24 – 0,50 mm Đầu có vòi hình chóp, có 4 – 10 hàng móc, mỗi

hàng có từ 16 – 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 – 0,016 mm, móc hàng cuối cùng dài 0,003 – 0,008 mm Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt Túi sinh dục dài 0,1 – 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt Buồng trứng phân thùy hình quạt Tuyến noãn hoàng hình khối Đốt già chứa nang trứng, mỗi nang chứa 3 – 30 trứng, có kích thước 0,026 – 0,060 mm Phôi 6 móc có kích thước 0,020 – 0,036 mm

Trang 20

- Giống Taenia Linnaeus, 1758

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] cho biết:

+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 – 700 đốt rất rộng

Đầu hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 – 44 móc, xếp

thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 – 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,110 – 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau và

có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm Có 600 – 700 tinh hoàn ở giữa các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm

đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không

có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy buồng trứng tạo thành túi nhận tinh Ở các đốt già thân tử cung có 5 – 10 nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài 0,038 – 0,031 mm, rộng 0,034 – 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm

Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng

của lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu có móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099 – 0,310 mm, có 28 – 40 móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 – 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng

+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 – 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm

400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640, có 34 – 48 móc xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong Móc hàng dưới dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 – 0,330 mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm Lỗ sinh dục xen kẽ không

đều, các núm sinh dục hơi nhô ra Có 400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục,

Trang 21

đường kính 0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn

hoàng và buồng trứng Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính 0,210 – 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 – 0,800, rộng 0,130 – 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo

đi từ lỗ sinh dục, tạo thành túi nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng Ở những đốt già, mỗi phần của thân tử cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các

nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm

- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810

Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết:

+ Loài Echinococcus granulosus: Sán dài 2,7 - 3,4 mm, gồm 3 - 4 đốt

Đầu không lớn, có đường kính 0,258 - 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098

- 0,133 mm, vòi 0,100 – 0,140 mm Có 36 - 40 móc vòi, thường thay đổi về kích thước và số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 – 0,043 mm, móc hàng dưới dài 0,020 – 0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán phình rộng hoặc có mỏm lớn Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng dưới buồng trứng, thể Melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 -

40 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,025 – 0,026 mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh dục mở ra ở hai bên đốt, tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên với số lượng và hình dạng không giống nhau Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028 - 0,036 mm

Ấu trùng Echinococcus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê Nó có dạng

túi, trong chứa đầy dịch, nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi vàng, vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con)

- Giống Multiceps Goeze, 1782

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13]:

Trang 22

+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250

đốt, rộng gần 5 mm Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm Vòi có đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài

0,150 mm, hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm Giác bám có đường kính 0,290 - 0,300 mm Cổ dài 2 - 3 mm Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315 – 0,350 mm, rộng 0,110 – 0,145 mm Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần

bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình

ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng

Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có

đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm

Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục,

vỏ mờ đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật

- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13] cho biết:

+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m Đầu

không có vòi, có móc bám và 4 giác bám Tử cung có dạng túi dọc nằm ở giữa đốt Kích thước trứng 0,040 – 0,060 x 0,035 – 0,043 mm Phôi 6 móc,

đôi móc giữa dài hơn móc bên

2.1.2.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [16], chu kỳ sinh học của sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ

Cyclophyllidae trứng chứa thai trùng sáu móc đã hình thành Vào dạ dày ký

chủ, thai trùng sáu móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi

khác nhau: Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở bộ

Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid

Trang 23

Những dạng ấu trùng này sống lâu hay chóng ở KCTG và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành

Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian

là nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể là động vật không xương sống Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng

đời, nhưng cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời

Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán

dây: Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium

caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh

ở ruột của chó Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục Cụ thể vòng đời của các loài sán dây

thường gặp ký sinh ở chó diễn ra như sau:

+Loài Spirometra erinacei-europae

Vòng đời phát triển của Spirometra erinacei-europae có sự tham gia

của vật chủ trung gian thứ nhất là các các loài giáp xác, KCTG bổ sung là cá Trứng được thải ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng

nở ra ấu trùng có những lông nhỏ xung quanh thân gọi là Coracidium, được vật chủ trung gian thứ nhất là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops,

Eucyclops nuốt Trong cơ thể bọ nước, Coracidium phát triển thành dạng ấu

trùng đặc biệt – Procercoid Trong trường hợp cá nuốt phải bọ nước bị nhiễm

Procercoid thì ấu trùng Procercoid sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới - Plerocercoid Chó ăn cá có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán, sau 15 – 18

ngày sẽ xuất hiện trứng trong phân chó thải ra

+ Loài Spirometra mansonoides

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian thứ nhất

là các loài giáp xác nước ngọt (Copepods), vật chủ trung gian thứ hai là

những loài chim, rắn, bò sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm Trứng theo phân chó ra ngoài, trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và

thứ hai, trở thành ấu trùng gây bệnh Plerocercoid Chó ăn phải vật chủ trung

gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 10 – 30 ngày ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành

Trang 24

+ Loài Dipylidium caninum

Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài

bọ chét giống Ctenocephalides Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang

trứng Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt vào, phát triển thành ấu trùng Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán dây Sau 3 – 4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

+ Loài Taenia hydatigena

KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán KCTG nuốt phải trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng

gây bệnh Cysticercoid sau 3 tháng Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung

gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

+ Loài Taenia pisiformis

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động vật gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm sau 15 – 30 ngày Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán

+ Loài Multiceps multiceps

Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu Đốt sán già ra ngoài theo phân chó Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê, cừu - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành

ấu trùng cảm nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 – 8 tháng Chó ăn phải óc vật chủ

trung gian có ấu trùng sẽ nhiễm sán

Phan Thế Việt (1977) [21] đã mô tả: “Tất cả bề mặt của sán dây là một cái “mồm” khổng lồ Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây Các loài sán dây thường tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ Cái mồm đã không cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có Ăn và tiêu hoá đều qua

bề mặt cơ thể của sán dây” Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta

có thể nghĩ rằng: Cơ thể sán dây sẽ dần dần ngắn lại Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán

Trang 25

dây trở nên “trẻ lại” Sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [8] cho biết: Những đốt sán dây hầu như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập Nhờ có sự hóa đốt mà khả năng sinh đẻ của sán dây tăng lên gấp bội Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác Đó là, do có đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà

sự reo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những

đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại, có sức lực và năng lượng

mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới

2.1.3 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó và bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis gây ra

2.1.3.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây Taenia hydatigena

Đặc điểm dịch tễ bệnh do sán dây gây ra đã được nhiều tác giả đề cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu còn ít và chưa hệ thống nên chưa phản ánh đầy đủ những vấn đề liên quan đến sự phát sinh và phát triển của bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [18]: chó săn thường nhiễm sán dây do

ăn thịt thỏ chứa ấu trùng Chó của những người chăn cừu, chăn bò, chó ở lò

sát sinh mắc sán do ăn phủ tạng của bò, cừu, lợn Chó nuôi trong nhà mắc sán

do ăn bọ chó trên mình nó chứa ấu trùng Ấu trùng sán ở thỏ, bò, cừu, lợn, bọ chó… là ấu trùng của những loài sán khác nhau, nên chó là một trong những loài vật bị nhiều loài sán dây ký sinh nhất

Skarabin và Petrov (1963) [23] cho biết, nếu như đường xâm nhập của các giun sán địa lý thường là qua nước hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn, thì nhiều loại giun sán sinh vật xâm nhập vào cơ thể ký chủ cuối cùng khi ký chủ đó ăn phải các mô và các cơ quan của KCTG chứa ấu trùng giun sán ở giai đoạn

cảm nhiễm Với cách xâm nhập này, chó sói cảm nhiễm sán dây Taenia

hydatigena do ăn phải cừu có ấu trùng sán

Trang 26

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [16], chó nhiễm sán

dây loài Dipylidium canium do ăn phải các KCTG sống trên mình chó như bọ, rận Chó nhiễm sán dây loài Taenia hydatigena do ăn phủ tạng loài nhai lại hay lợn chứa ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Theo kết quả nghiên cứu của Dalimi A và cs (2006) [28], kiểm tra 83

chó ở các tỉnh phía Tây của Iran cho thấy: có 38,55% chó nhiễm Dipylidium

caninum; 53,01% chó nhiễm Taenia hydatigena; 7,23% chó nhiễm Taenia ovis; 4,82% chó nhiễm Multiceps multiceps; 13,25% chó nhiễm Echinococcus granulosus

Theo kết quả nghiên cứu của Yotko K và cs (2009) [44], tỷ lệ nhiễm

loài Taenia hydatigena của chó ở vùng Tây Bắc Bulgaria là 47,85%

Một nghiên cứu khác của Xhaxhiu D và cs (2010) [42] từ năm 2004 – 2009: mổ khám 111 chó từ các vùng ngoại ô Tirana của Albania để kiểm tra

giun sán đường tiêu hóa, phát hiện được 3 loài sán dây là Dipylidium caninum (65,8%); Taenia hydatigena (16,2%); Echinococcus granulosus (2,7%)

Ở nước ta, các loài Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia

pisiformis, Multiceps multiceps được phân bố rộng ở cả 3 vùng: đồng bằng, trung

du, miền núi với những kiểu khí hậu khác nhau (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [4]

Kết quả kiểm tra 130 mẫu phân chó của Lê Hữu Nghị, Nguyễn Văn Duệ (2000) [14] ở Thành phố Huế cho thấy: chó nhiễm sán dây từ rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến 1 năm tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao

Biến động nhiễm sán dây ở chó tùy theo giai đoạn tuổi Chó con bị nhiễm từ rất sớm Theo dõi 138 chó bị bệnh sán dây ở Hà Nội cho thấy, chó con từ 27-30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán (Phạm Sỹ Lăng, 2002 [11])

Dịch tễ học của bệnh sán dây ở chó liên quan chặt chẽ đến số lượng chó nuôi và chế độ kiểm soát giết mổ Ở những nơi mà chế độ kiểm soát sát sinh không chặt chẽ thì chó dễ mắc bệnh sán dây do ăn phải những khí quan của gia súc có ấu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [6])

Tuổi thọ của sán trưởng thành dài, có thể tới hàng chục năm nên loài ăn thịt mang sán là nguồn gieo rắc căn bệnh nguy hiểm Mỗi đốt sán chửa chứa hàng nghìn trứng sán Chó mang trứng sán phát tán khắp nơi

Trang 27

Sức đề kháng của mầm bệnh ở ngoài tự nhiên cũng góp phần vào sự phát triển của bệnh Trứng sán dây có sức đề kháng mạnh ở ngoại cảnh, có thể sống lâu ở những nơi ẩm ướt

Sán dây là động vật sống ký sinh trong ruột động vật có xương sống, trong chu trình phát triển chúng cần sự tham gia của một hoặc hai vật chủ trung gian, vật chủ chứa Vì vậy sự phân bố của sán dây phụ thuộc rất nhiều vào vật chủ Ngoài quy luật phân bố của vật chủ, quy luật sinh thái học của cả vật chủ và sán dây là yếu tố quan trọng nhất chi phối sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm sán dây ở vật chủ (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [5])

2.1.3.2 Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis

Bệnh Cysticercus tenuicollis xảy ra trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực nông thôn Tỷ lệ nhiễm ở các khu vực thay đổi rất nhiều Dịch bất ngờ có thể

xảy ra do điều kiện khí hậu có lợi cho sự tồn tại của trứng trong đồng cỏ hoặc các hoạt động của động vật hoang dã mang bệnh (P Junquera, 2013) [36]

Wondimu A., Abera D., Hailu Y (2011) [41] cho biết: tỷ lệ nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis trên dê ở Ethiopia là 21,01% và đã gây thiệt hại

lớn về kinh tế

Theo Mohammad Hossein Radfar và cs (2005) [33], trong thời gian từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 3 năm 2002, có 1336 cừu và 1674 dê được giết

mổ tại lò mổ Kerman, Đông Nam Iran, trong đó 172 cừu (12,87%) và 302 dê

(18,04%) bị nhiễm Cysticercus tenuicollis

Mổ khám 589 dê có nuôi ở các tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thấy tỷ lệ nhiễm ấu sán cổ nhỏ ở dê là 23,8% và cường độ nhiễm sán là 1 - 18 ấu sán/dê Tuổi gia súc càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng tăng lên và mức độ nhiễm càng nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [6]

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [9] đã mổ khám 1273 trâu, bò, lợn

của ba huyện thành tỉnh Phú Thọ phát hiện 294 con nhiễm ấu sán Cysticercus

tenuicollis (23,10%), trong đó tỷ lệ ở trâu biến động từ 10,59 - 31,78%, ở bò

từ 9,82 - 28,10% và ở lợn từ 10,28 - 37,66% với cường độ nhiễm từ 1 - 56 ấu

sán/con Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ

lệ nhiễm ấu sán Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, lợn là tương quan thuận rất chặt với hệ số tương quan R = 0,881; 0,990 và 0,997

Trang 28

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3]:

- Phân bố của bệnh: phổ biến khắp các vùng, lợn nước ta nhiễm khoảng 44% Ở những nơi nuôi nhiều chó, bệnh càng phổ biến và gây nhiều thiệt hại

- Biến động nhiễm ấu sán theo tuổi: nhìn chung tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi lợn, vì số lần tiếp xúc với căn bệnh tăng theo tuổi

2.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus

tenuicollis gây ra

2.1.4.1 Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Các vật chủ trung gian bị nhiễm bệnh khi ăn phải thức ăn hoặc nước bị

nhiễm trứng hoặc phân mang trứng của Taenia hydatigena qua cây dạng cỏ

hoặc thức ăn lưu trữ Một đoạn mang trứng duy nhất chứa hàng ngàn trứng Ô nhiễm thức ăn có thể xảy ra thông qua phân chó Trứng có thể tồn tại ngoài môi trường trong vài tháng

Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

KCTG, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sammuel – Girma G Zewde, 2010 [41])

Khi nhiễm nhẹ, các chức năng rối loạn không rõ Thai 6 móc của ấu sán chui qua thành ruột, sau 24h vào gan, dừng lại ở các nhánh tĩnh mạch cửa, rồi vào gan đào thành rãnh, gây viêm gan cấp tính, có khi viêm màng bụng

Ấu trùng di hành chui qua mặt gan vào xoang bụng, ký sinh ở màng

treo ruột, màng mỡ chài, phổi

Trong gan, ấu trùng di chuyển thông qua các mô gan tới các bề mặt cơ quan (thanh mạc) trong thời gian khoảng 30 ngày Trên bề mặt các cơ quan

Trang 29

bụng khác nó hình thành các nang nước Phát triển thành u nang cần 35 đến

55 ngày sau khi nhiễm bệnh Các nang có thể lây nhiễm cho chó trong vài tháng (P Junquera, 2013) [36]

2.1.4.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh Cysticercus tenuicollis

Cysticercus tenuicollis không có tác dụng gây bệnh trong khi nằm trong

ổ bụng Khi nhiều ấu trùng di chuyển đồng thời qua gan ta có thể nhìn thấy

dấu hiệu lâm sàng Sự di cư có thể gây hủy hoại trầm trọng mô gan và các bệnh lý nhìn thấy trong gan tương tự như quan sát thấy trong nhiễm sán lá gan (P Junquera, 2013) [36]

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2] bệnh thường ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng Khi bị nặng, giai đoạn đầu con vật gầy yếu, hoàng đản, tiếp đó là viêm màng bụng cấp tính, thường sốt cao, khi ấn mạnh vào bụng con vật thấy đau, bụng to và căng, một số trường hợp thấy xoang bụng xuất huyết Khi cấp tính gan sưng to, mặt gan gồ ghề, màng fibrin phủ kín, có nhiều điểm tụ huyết, có nhiều rãnh do ấu trùng di hành trong gan Thời kỳ đầu nhiều nước, thời kỳ cuối nước màu vàng Một vài trường hợp viêm màng bụng cấp tính có nhiều dịch thẩm xuất lẫn máu,

đầu sán có trong dịch đó

Cysticercus tenuicollis thường gây bệnh không nghiêm trọng cho gia súc,

nhưng nhiễm trùng nặng có thể gây viêm gan chấn thương khi nhiều ấu trùng di chuyển qua gan Trường hợp nặng có thể tử vong, chủ yếu là ở động vật non Thiệt hại kinh tế chủ yếu là do sự tổn thương của gan và các cơ quan khác

Các bệnh lý của bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê đã được nghiên cứu

vào ngày 7, 15, 30 và 60 sau khi gây nhiễm Các tổn thương đặc trưng thể hiện vào ngày thứ 15 sau khi nhiễm bệnh bao gồm tích tụ của một số lượng lớn chất lỏng fibrin trong xoang phúc mạc và ngực Xuất huyết cũng xuất hiện

trên bề mặt gan và trong nhu mô do di cư C tenuicollis Các tổn thương nhỏ

trong gan bao gồm các u nang với một khối lượng của fibrin và hồng cầu Các

tế bào gan bị thoái hóa chủ yếu là do sự phá hủy nhu mô Xoang được giãn ra

và ống mật bắt đầu có những thay đổi thoái hóa Lá phổi của động vật bị giết chết vào ngày 15, thể hiện những đặc trưng của bệnh khí thũng và xuất huyết

Trang 30

với tác hại của C tenuicollis Màng phổi xuất hiện phù nề Phế nang cho thấy

sự hiện diện của dịch rỉ huyết thanh

Cysticercus tenuicollis với số lượng lớn ký sinh gây ra viêm gan, hoại

tử, thoái hóa dạng hạt, viêm phổi (Nath S., Pal S., Sanyal P.K., Ghosh R.C., Mandal S.C, 2010) [35]

Các ấu trùng của Taenia hydatigena gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi

do tác hại bệnh lý và tỷ lệ tử vong cao (Abidi và cs, 1989) [24] Di cư của

Cysticercus trong gan có thể gây ra xuất huyết và viêm phúc mạc (Blazek và

cs, 1985 [27])

2.1.5 Chẩn đoán bệnh sán dây chó và bệnh Cysticercus tenuicollis gây ra

2.1.5.1 Chẩn đoán bệnh sán dây chó

Để chẩn đoán bệnh do sán dây gây ra, có thể dựa vào triệu chứng lâm

sàng, tuy nhiên phần lớn chó mắc bệnh thường không có biểu hiện đặc trưng

và khó phân biệt, vì vậy phải kết hợp với việc kiểm tra phân tìm đốt sán

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [16] cho biết: việc chẩn đoán

dễ khi chó ỉa ra những đốt sán và thường lòng thòng ở hậu môn, gây ngứa

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], (2008) [8]:

- Đối với chó còn sống: Kiểm tra phân tìm trứng sán và đốt sán dây

Nếu số lượng đốt sán trong phân nhiều thì có thể trực tiếp tìm đốt sán trong phân Trường hợp chó nhiễm nhẹ, chỉ có ít đốt sán thì xét nghiệm phân tìm đốt sán và mảnh đốt bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943), cho cặn lên đĩa Petri màu đen tìm đốt sán bằng kính lúp Có thể dùng phương pháp Fulleborn tìm trứng sán dây Đối với sán dây bộ Pseudophyllidea tử cung có

lỗ thông ra bên ngoài nên trứng được đẻ ra bên ngoài, do vậy kể cả khi trong ruột chó có sán dây ký sinh nhưng không tìm thấy được đốt sán trong phân vẫn có thể kết luận chó nhiễm sán qua việc xét nghiệm phân tìm trứng Cũng

có thể tìm được trứng sán khi đốt sán già vỡ ra đối với sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp trong có phôi 6 móc Trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng sán lá: hình bầu dục, một đầu có nắp, bên trong chứa phôi bào

Trang 31

- Đối với chó đã chết hoặc những con nghi mắc bệnh còn sống: có thể

mổ khám để kiểm tra bệnh tích và tìm sán trưởng thành

Theo Valerie Foss (2003) [39], chó nhiễm sán loài Dipylidium caninum

là chủ yếu và có thể dễ dàng chẩn đoán được khi đốt già rụng ra ngoài giống như những hạt gạo dính trên lông đuôi

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [12] cho biết, dựa vào việc kiểm tra đốt sán trong phân vật bệnh để khẳng định là chó bị mắc bệnh sán dây

Chu Thị Thơm và cs (2006) [19] cho rằng: để xác định tên của sán dây trưởng thành một cách chính xác, thân sán dây để chết tự nhiên trong nước sạch phải được ép mỏng trong cồn etylic 700 Sau đó nhuộm Carmine, rút hết nước trong mẫu vật, làm trong và gắn thành tiêu bản trên phiến kính để chẩn

đoán, xác định tên khoa học của các loài sán dây

2.1.5.2 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

Theo P Junquera (2013) [36], cho đến nay chẩn đoán bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis chỉ có thể thực hiện khi gia súc chết

Vật còn sống rất khó chẩn đoán, có thể chọc dò để tìm đầu sán trong dịch xoang ngực và bụng Thường chẩn đoán sau khi chết, mổ con vật tìm ấu sán nơi chúng ký sinh (Phan Lục và Phạm Văn Khuê, 1996) [3]

Ba loại kháng nguyên được tìm thấy từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis

có trọng lượng phân tử là: 36.2KDa, 23.9KDa và 9.6KDa Các kháng nguyên

này có thể được dùng để chẩn đoán huyết thanh học bệnh do Cysticercus

tenuicollis gây ra trên động vật (Goswamia A., Das M., Laha R., 2013) [31]

2.1.6 Phòng và trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

2.1.6.1 Điều trị:

Ấu trùng sán dây Taenia hydatigena gây bệnh ấu sán cổ nhỏ ở người,

lợn, trâu, bò, dê, cừu , hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị Kim Lan

và cs, 1999 [6])

Theo P Junquera, 2013 [36], việc sử dụng thường xuyên thuốc trị giun

sán không được chỉ định để ngăn ngừa gia súc nhiễm với Cysticercus

tenuicollis, có báo cáo cho rằng Albendazole và Praziquantel có hiệu quả,

nhưng chỉ ở liều lượng cao hơn so với những điều trị thông thường, và kết quả có thể không đáng tin cậy

Trang 32

2.1.6.2 Phòng bệnh

Phá vỡ chu kỳ lây nhiễm liên quan đến việc kiểm soát chu kỳ giữa chó

và các vật chủ trung gian Điều trị cho chó thường xuyên với thuốc trị giun sán tiêu diệt sán dây và ngăn ngừa chó ăn thịt cừu, dê sống hoặc bộ phận nội tạng

là cần thiết để kiểm soát chu kỳ của nhiễm trùng Hạn chế ô nhiễm đến mức tối thiểu bằng cách dọn dẹp phân chó cũng sẽ giúp hạn chế bệnh Điều này có thể thực hiện được trong không gian nhỏ nhưng kiểm soát của phân chó rõ ràng là

ít hơn thực tế trên đồng cỏ lớn Ký sinh trùng cũng có thể lây truyền giữa nai hoang dã và chó sói Bắc Mỹ Khu vực đồng cỏ và cỏ khô hay thức ăn lưu trữ nên được rào chắn để giữ cho chó sói Bắc Mỹ và chó hoang dã khác đi vào

Cách phòng ngừa tốt nhất là hạn chế sự nhiễm trứng sán Taenia hydatigena

vào nguồn thức ăn, nước uống của vật nuôi (P Junquera, 2013) [36]

Theo Phan Lục và Phạm Văn Khuê (1996) [3], không cho chó ăn các khí quan có ấu trùng, (gan, phổi, lách ) Khi mổ gia súc, thấy ấu sán phải tập trung để diệt ấu trùng, định kỳ tẩy sán dây cho chó, không nuôi chó ở các gia

đình và trại chăn nuôi gia súc

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ

trước Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium

latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện

các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người

Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi

mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã

Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và

thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó

có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis

Năm 1967 hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại tại 8 tỉnh miền

Bắc, trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena

Trang 33

Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [13], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là

những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] cho biết, ấu trùng Cysticercus

tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu,

quả cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước Có một đầu sán bám vào màng trong của bọc, đầu sán có 4 giác bám, có 29 – 44 móc

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3] cho biết: căn bệnh là ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của

lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là

mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra

phía ngoài Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus

tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo

tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng

2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Theo Johannes Kaufmann (1996) [32]; Urquahart và cs (1996) [39]

Cysticercus tenuicollis là giai đoạn ấu trùng của Taenia hydatigena Các vật

chủ trung gian của Cysticercus tenuicollis là cừu, dê, linh dương, lợn, hươu,

ngựa và khỉ

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán

Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Theo Johannes Kaufmann (1996) [32], ấu trùng Cysticercus tenuicollis

ký sinh ở bề mặt gan, màng mỡ chài ở khoang bụng của cừu và gia súc Gia súc nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra

Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

KCTG, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sammuel – Girma G Zewde, 2010 [41])

Trang 34

Woinshet Sammuel – Girma G Zewde (2010) [41], một cuộc khảo sát

lò mổ được tiến hành để xác định tỷ lệ Cysticercus tenuicollis và đánh giá sự phân bố của C Tenuicollis trong cơ quan nội tạng của cừu và dê thịt.Trong

tổng số 768 con dê và 630 con cừu cơ quan nội tạng được kiểm tra,

C tenuicollis đã được tìm thấy trong 358 dê (46,6%) và 252 con cừu

(40,0%) Dê (58,1%) và cừu (46,5%) từ vùng cao bị nhiễm bệnh nhiều hơn

so với dê (35,2%) và cừu (33,8%) từ các vùng đất thấp C tenuicollis thường

phát hiện ở các mạc nối của dê và cừu hơn bất kỳ cơ quan nội tạng khác

Theo Mohammad Hossein Radfar và cs (2005) [33], trong thời gian từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 3 năm 2002, có 1336 cừu và 1674 dê được giết

mổ tại lò mổ Kerman, Đông Nam Iran, trong đó 172 cừu (12,87%) và 302 dê

(18,04%) bị nhiễm Cysticercus tenuicollis

Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

KCTG, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sammuel – Girma G Zewde, 2010 [41])

Cysticercus tenuicollis không có tác dụng gây bệnh trong khi nằm trong

ổ bụng Khi nhiều ấu trùng di chuyển đồng thời qua gan ta có thể nhìn thấy

dấu hiệu lâm sàng Sự di cư có thể gây hủy hoại trầm trọng mô gan và các bệnh lý nhìn thấy trong gan tương tự như quan sát thấy trong nhiễm sán lá gan (P Junquera, 2013) [36]

Cysticercus tenuicollis với số lượng lớn ký sinh gây ra viêm gan, hoại

tử, thoái hóa dạng hạt, viêm phổi (Nath S., Pal S., Sanyal P.K., Ghosh R.C., Mandal S.C, 2010) [35]

Theo P Junquera, 2013 [36], việc sử dụng thường xuyên thuốc trị giun

sán không được chỉ định để ngăn ngừa gia súc nhiễm với Cysticercus

tenuicollis, có báo cáo cho rằng Albendazole và Praziquantel có hiệu quả,

nhưng chỉ ở liều lượng cao hơn so với những điều trị thông thường, và kết quả có thể không đáng tin cậy

Trang 35

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, vật liệu, thời gian, địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chó, lợn nuôi tại một số địa phương của huyện Đồng Hỷ, tỉnh

Thái Nguyên

- Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

* Động vật trong nghiên cứu:

- Chó ở các địa phương (mổ khám tìm sán dây)

- Lợn ở các địa phương (mổ khám tìm ấu trùng Cysticercus tenuicollis)

* Các loại mẫu dùng trong nghiên cứu:

- Mẫu ấu trùng sán dây Cysticerscus tenuicollis thu thập từ lợn

- Mẫu sán dây ký sinh ở đường tiêu hóa chó

- Mẫu máu lợn gây nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis và mẫu máu

), nước cất, xylen, Baume-Canada,…

3.1.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

* Thời gian nghiên cứu: từ 12/2013 đến 5/2014

* Địa điểm nghiên cứu:

- Đề tài được thực hiện ở một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh

Thái Nguyên

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

Trang 36

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên

+ Phòng ký sinh trùng - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3.2.1.1 Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại một

số xã thuộc huyện Đồng Hỷ

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tuổi

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo

tính biệt

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo các tháng

3.2.1.2 Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn, với tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Thành phần và sự phân bố các loài sán dây ký sinh ở chó nuôi tại huyện Đồng hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây chó ở một số xã thuộc huyện Đồng

Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Xác định tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở

chó với tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn

3.2.2 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn bị nhiễm ấu trùng

Cysticercus tenuicollis

3.2.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

3.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn

3.3.1.1 Bố trí điều tra tình hình nhiễm

Bố trí thu thập mẫu theo phương pháp lấy mẫu phân tầng (Nguyễn Như Thanh, 2001) [17]

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.1. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn (Trang 42)
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 42)
Hình 4.2. minh họa rõ hơn sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm theo tuổi của lợn - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.2. minh họa rõ hơn sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm theo tuổi của lợn (Trang 43)
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 44)
Hình 4.3. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tính biệt - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.3. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn theo tính biệt (Trang 45)
Hình 4.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 46)
Hình 4.4. minh họa rõ sự biến động tỷ lệ nhiễm ấu sán qua các tháng. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.4. minh họa rõ sự biến động tỷ lệ nhiễm ấu sán qua các tháng (Trang 46)
Bảng 4.5. Thành phần và sự phân bố các loài sán dây ký sinh - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.5. Thành phần và sự phân bố các loài sán dây ký sinh (Trang 47)
Hình 4.5. Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các địa phương - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.5. Tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó tại các địa phương (Trang 49)
Bảng 4.7. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.7. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó (Trang 50)
Hình 4.6 minh họa rõ hơn cho kết quả trình bày ở trên. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.6 minh họa rõ hơn cho kết quả trình bày ở trên (Trang 51)
Bảng 4.8. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Bảng 4.8. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học (Trang 52)
Hình 4.7. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.7. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học (Trang 53)
Hình 4.8. Công thức bạch cầu của lợn khỏe và lợn bệnh - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
Hình 4.8. Công thức bạch cầu của lợn khỏe và lợn bệnh (Trang 55)
HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO ĐỀ TÀI - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống.
HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO ĐỀ TÀI (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w