1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

94 912 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được một số quy luật phân bố giữa mật độ và đường kính thân cây, giữa mật độ và chiều cao vút ngọn.. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : QLTNR

Khóa Học : 2010 -2014

Thái Nguyên, 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : QLTNR

Khóa học : 2010 -2014 Gỉảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Công Hoan Khoa Lâm nghiệp - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Xác nhận giáo viên hướng dẫn

Ths Nguyễn Công Hoan

Người viết cam đoan

Nguyễn Anh Túc

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

(Ký, họ và tên)

Trang 4

Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường học đi đôi với hành, mỗi sinh viên khi ra trường cần chuẩn bị cho mình lượng kiến thức chuyên môn vững vàng cùng với những kỹ năng chuyên môn cần thiết Và thời gian thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian cần thiết để mỗi người vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, xây dựng phong cách làm việc khoa học của một kỹ sư Nông lâm nghiệp

Được sự giúp nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên

hưỡng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”

Sau thời gian thực tập được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa lâm nghiệp, UBND Xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cùng với sự

cố gắng của bản thân khóa luận tốt nghiệp đã được hoàn thành Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Công Hoan đã hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận Tôi chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa lâm nghiệp cùng UBND xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài thực tập tốt nghiệp

Do trình độ còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vậy tôi kinh mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong khoa cùng toàn thể các bạn sinh viên

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Trang 5

PHẦN 1 - MỞ ĐẦU 1

1.1 Đăt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 3

PHẦN 2 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Đặc điểm phân loại và phân bố tự nhiên của cây Keo lai 4

2.1.1 Đặc điểm phân loại 4

2.1.2 Đặc điểm phân bố của cây Keo lai 4

2.2 Những nghiên cứu rừng trồng trên thế giới 5

2.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5

2.2.1.1 Những nghiên cứu về quy luật cấu trúc đường kính thân 5

2.2.1.2 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính 6

2.2.2 Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân 8

2.2.3 Những nghiên cứu về cải thiện giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh 8

2.3 Những nghiên cứu rừng trồng ở Việt Nam 9

2.3.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 9

2.3.2 Nghiên cứu về quy luật cấu trúc đường kính thân cây rừng 10

2.3.3 Nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính thân 12

2.3.4 Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán cây với đường kính thân 14

2.3.5 Những nghiên cứu về cải thiện giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh 15 2.4 Tổng quan khu vưc nghiên cứu 18

2.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 18

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 20

PHẦN 3- ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

3.3 Phương pháp nghiên cứu 23

3.3.1 Cơ sở lý luận 23

Trang 6

3.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 24

3.3.2.3 Phương pháp sử lý số liệu 26

PHẦN 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Lịch sử trồng và phát triển cây keo lai tại khu vực nghiên cứu 31

4.1.1 Nguồn gốc rừng trồng Keo lai 31

4.1.2 Đặc điểm chung của lâm phần Keo lai 32

4.2 Nghiên cứu một số quy luật cấu trúc rừng trồng Keo lai 34

4.2.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính 34

4.2.2 Quy luật phân bố số cây theo chiều cao 37

4.3 Nghiên cứu một số quy luật tương quan của cây Keo lai 40

4.3.1 Quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính 40

4.3.2 Quy luật tương quan giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực 41 4.3.3 Tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến quy luật phân bố (N/D1,3) 42

4.4 Xác định mật độ tối ưu và cường độ chặt cho các lâm phần Keo lai 43

4.5 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật cho rừng trồng Keo lai 46

PHẦN 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Tài liệu Việt Nam 50

Tài liệu nước ngoài 52

Trang 7

Bảng 4.1 Các thông tin cơ bản của ô tiêu chuẩn 33

Bảng 4.2 Kết quả phân bố N/D1,3 theo hàm Weibull 35

Bảng 4.3 Kết quả phân bố N/Hvn theo hàm Weibull 38

Bảng 4.4 Tương quan giữa chiều cao với đường kính thân 41

Bảng 4.5 Tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân 42

Bảng 4.6 Tương quan giữa độ lệch của phân bố N/D1,3với các

nhân tố ảnh hưởng 43

Bảng 4.7 Số lượng cây chặt, cây chừa trong 18 ô tiêu chuẩn 44

Bảng 4.8 Cường độ tỉa thưa rừng Keo lai tại địa bàn nghiên cứu 45

Trang 8

Hình 4.1 Phân bố N/D1,3 có dạng lệch trái 36

Hình 4.2 Phân bố N/D1.3 có dạng lệch phải 37

Hình 4.3 Phân bố N/D1,3 có dạng lệch tiệm cận phân bố chuẩn 37

Hình 4.4 Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch trái 39

Hình 4.5 Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch phải 39

Hình 4.6 Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng đối xứng 39

Trang 10

Rừng là tài nguyên quý giá và có khả nặng tự tái tạo được và mau phục hồi Rừng có vai trò to lớn đối với đời sống con người không chỉ ở Việt Nam

mà toàn thế giới như cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, chống xói mòn, rửa trôi Rừng là nơi cư trú của động thực vật và tàng trừ các nguồn gen quý hiếm Mất rừng gây ra hậu quả nghiêm trọng, là nguyên nhân gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, mất diện tích canh tác, mất đi sự đa dạng sinh học Ở Việt Nam theo đến năm 2014 diện tích rừng trồng tăng, song rừng trồng thường có cấu trúc không ổn định, vai trò bảo

vệ môi trường, phòng hộ kém Hầu hết, rừng tự nhiên của Việt Nam đều bị tác động, sự tác động theo hai hướng chính đó, là chặt chọn (chặt cây đáp ứng yêu cầu sử dụng) Đây là lối khai thác tự do ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu

số sinh sống (lấy gỗ về làm nhà, làm củi ) Cách thứ hai là khai thác trắng như: phá rừng làm nương rẫy, khai thác trồng cây công nghiệp, phá rừng tự nhiên trồng rừng công nghiệp ) Trong hai cách này, cách thứ nhất rừng vẫn còn tính chất đất rừng, kết cấu rừng bị phá vỡ, rừng nghèo kiệt về trữ lượng và chất lượng, nhưng vẫn còn khả năng phục hồi Với cách khai thác thứ hai, rừng hoàn toàn bị mất trắng, khó có khả năng phục hồi

Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện

Trang 11

tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giới có 11 triệu

ha rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hằng năm có 1,8 triệu ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26% Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương làm rẫy [1]

Sự suy giảm cả về số lượng và chất lượng nguồn tài nguyên rừng đã và đang là vấn đề cấp bách được đặt ra cần giải quyết và đòi hỏi sự chung tay góp sức của cả cộng đồng

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình bảo vệ và phát triển rừng như chương trình 327 Chương trình trồng mới 5 triệu ha, và các chương trình khác… nhằm phát triển tài nguyên rừng và đã đem lại kết quả cao Tiếp tục với chiến lược Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 đã xác định nhiệm vụ kinh tế về trồng rừng phải đảm bảo diện tích rừng trồng sản xuất ổn định ở mức 2,4 - 2,6 triệu ha rừng trồng nguyên liệu công nghiệp

Và Keo lai là loài cây trồng chủ lực và chiếm tỷ trọng lớn trong các chương trình trồng và khôi phục rừng ở nhiều vùng sinh thái trong cả nước Cây Keo lai tiên phong chỉ tập trung vào khía cạnh giống, đánh giá sinh trưởng, khả năng cải tạo đất, còn các nội dung khác như điều tra sự biến đổi cấu trúc, sinh trưởng của loài ở các cấp tuổi khác nhau phục vụ cho kinh doanh bền vững

Xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên là một trong những vùng phòng hộ đầu nguồn của dòng sông Công Đây là một vùng núi thấp ở vùng Đông Bắc Việt Nam Nơi mà rừng đang bị thoái hóa nghiêm trọng do tác động của con người và diện tích đất trống đồi núi trọc tăng Rừng trồng Keo Lai được trồng với mục đích để cải tạo đất, tạo công ăn việc để phát triển kinh

tế trong khu vực Cây Keo lai là một trong những loài cây đáp ứng được tất cả

Trang 12

những điều kiện trên và cây Keo lai còn đáp ứng được mục tiêu Kinh tế - Xã hội trong khu vực

Trước thực tiễn đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai ( Acacia mangium x Auriculiformis) tại

xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” làm cơ sở khoa học cho

việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng

1.2 Mục đích nghiên cứu

Xác định được một số đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo lai làm cơ sở khoa học đề xuất kỹ thuật nuôi dưỡng rừng tại khu vực nghiên cứu

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được một số quy luật phân bố giữa mật độ và đường kính thân cây, giữa mật độ và chiều cao vút ngọn

- Xác định mật độ tối ưu cho các lâm phần Keo lai

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc và nuôi dưỡng rừng Keo lai

1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng keo Trên cơ sở các quy luật cấu

trúc đã phát hiện, đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng, nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng keo thuần loài

Trên cơ sở các quy luật cấu trúc đã phát hiện, đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng, nâng cao được năng suất và chất lượng rừng trồng Keo lai thuần loài tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên để cải thiện, nâng cao đời sống người dân trong khu vực

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm phân loại và phân bố tự nhiên của cây Keo lai

2.1.1 Đặc điểm phân loại

Keo lai là sự kết hợp giữa hai loài: Keo lá tràm (Acacia Auriculiormis)

và Keo tai tượng (Acacia Mangium) và được tuyển chọn từ những cây đầu

dòng có năng suất cao Cho đến nay, Keo lai đã được khẳng định là loài cây

có khả năng chịu đựng được khô hạn, tăng trưởng nhanh và ưu việt hơn Keo

lá tràm kể cả trên đất cát nghèo dinh dưỡng Cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn cây bố mẹ Nhằm hạn chế tình trạng phân ly của giống lai, Keo lai thường được tạo cây con bằng phương pháp vô tính (giâm hom)

Cây có thể cao đến 25 - 30 m, đường kính lên đến 60 - 80 cm Cây ưa sáng, mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, chống cháy rừng

2.1.2 Đặc điểm phân bố của cây Keo lai

Giống Keo lai tự nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern

và Shim vào năm 1972 trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia Năm 1976, M.Tham [32] đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ Đến tháng 7 năm

1978, kết luận trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia (Lê Đình Khả, 1999) [12] Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New, ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) [30]

và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992) Cây được trồng phổ biến ở Đông Nam

Á, ở Việt Nam cây được trồng rộng rãi trên toàn quốc trong những năm gần đây Cây mọc tốt ở hầu hết các dạng đất, thích nghi nhất là ở các tỉnh từ

Quảng Bình trở vào

Trang 14

2.2 Những nghiên cứu rừng trồng trên thế giới

2.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Quy luật cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian Nó là cơ sở khoa học chủ yếu để xây dựng các phương pháp thống kê dự đoán trữ lượng, sản lượng và đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp

Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng

Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX đã có nhiều nghiên cứu về cấu trúc rừng, những nghiên cứu trước đây chủ yếu mang tính định tính, mô tả thì nay

đã đi sâu vào nghiên cứu định lượng chính xác Việc nghiên cứu quy luật cấu trúc là để tìm ra dạng tối ưu theo quan điểm kinh tế, nghĩa là các kiểu cấu trúc cho năng suất gỗ cao nhất, chất lượng phù hợp nhất, với nhu cầu sử dụng gỗ

và bảo vệ môi trường Trên cơ sở quy luật cấu trúc, các nhà lâm sinh học có thể xây dựng phương pháp khai thác hợp lý như: chặt trắng, chặt chọn, chặt dần Các phương pháp kinh doanh rừng đều tuổi hay nhiều thế hệ tuổi [17]

Quy luật cấu trúc bao gồm nhiều quy luật tồn tại khách quan trong lâm phần nhưng quan trọng nhất là các quy luật: Cấu trúc đường kính, cấu trúc chiều cao lâm phần, quan hệ giữa đường kính tán (Dt) và đường kính ngang ngực (D1,3)

Odum E P (1971) [29] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ

sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A P (1935) [33] Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu

trúc trên quan điểm sinh thái học

2.2.1.1 Những nghiên cứu về quy luật cấu trúc đường kính thân

Balley (1973) [24] sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba Naslund M (1936, 1937) (dẫn theo tài liệu [2]) đã xác lập luật phân bố Charlier cho phân bố đường

Trang 15

kính của lâm phần thuần loài, đều tuổi sau khi khép tán

Prodan, M và Patatseasse A l (1964), Bliss, C L và Reinker, K A (1964) (dẫn theo tài liệu [2]) tiếp cận phân bố này bằng phương trình chính thái

Clutter, J L và Allison, B J (1973) [27] dùng đường kính bình quân cộng, sai tiêu chuẩn đường kính và đường kính nhỏ nhất để tích các tham số của phân bố Weibull với giả thiết các đại lượng này có quan hệ với tuổi, mật

độ lâm phần

Ngoài các hướng nghiên cứu trên còn có quan điểm cho rằng đường kính cây rừng là một đại lượng ngẫu nhiên phụ thuộc vào thời gian và quá trình biến đổi của phân bố đường kính theo tuổi là quá trình ngẫu nhiên Theo hướng nghiên cứu này có tác giả Suzuki (1971) [31] Theo tác giả trên, quá trình đó biểu thị một tập hợp các đại lượng ngẫu nhiên (x1) với thời gian (t) và lấy trong một khoảng thời gian nào đó Nếu trị số của đường kính tại thời điểm t chỉ phụ thuộc vào trị số ở thời điểm t -1 thì đó là quá trình Markov, tức

là mỗi trị số của t ứng với một số tự nhiên

Tiếp theo, từ các mô hình toán học thu được, các nhà khoa học đã nghiên cứu sự biến đổi của quy luật phân bố số cây theo thời gian mà điều tra rừng gọi là động thái phân bố đường kính

Clutter, J L và Allison, B J (1973) [27] dùng đường kính bình quân cộng, sai tiêu chuẩn đường kính và đường kính nhỏ nhất để tích các tham số của phân bố Weibull với giả thiết các đại lượng này có quan hệ với tuổi, mật

độ lâm phần

2.2.1.2 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính

Khi sắp xếp cây rừng cùng một lúc theo hai đại lượng đường kính ngang ngực và chiều cao thân cây sẽ được quy luật phân bố hai chiều và có thể định lượng thành quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây

Tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây rừng là một trong những quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Viêc nghiên cứu tìm hiểu và

Trang 16

nắm vững quy luật này là sự cần thiết đối với công tác điều tra, kinh doanh và nuôi dưỡng rừng Bởi lẽ, chiều cao cũng là một trong những nhân tố cấu thành thể tích thân cây và trữ lượng lâm phần, nó không thể thiếu được trong công tác lập các biểu chuyên dụng phục vụ điều tra và kinh doanh rừng

Tovstolese, D I (1930), lấy cấp đất làm cơ sở nghiên cứu quan hệ H/D Mỗi cấp đất tác giả xác lập một đường cong chiều cao bình quân ứng với mỗi

cỡ đường kính để có dãy tương quan cho loài và cấp chiều cao Sau đó dùng phương pháp biểu đồ để nắn dãy tương quan cho loài và cấp chiều cao Sau

đó dùng phương pháp biểu đồ để nắn dãy tương quan theo dạng đường thẳng của Gehrhardt và Kopetxki:

Krauter, G (1958) và Tiourin, A.V (1931) (dẫn theo tài liệu [3]), nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực dựa trên cơ sở cấp đất và cấp tuổi Kết quả cho thấy, khi dãy phân hóa thành các cấp chiều cao thì mối quan hệ này không cần xét đến cấp đất hay cấp tuổi, cũng không cần xét đến tác động của hoàn cảnh và tuổi đến sinh trưởng của cây rừng và của lâm phần, vì những nhân tố này đã được phản ánh trong kích thước của cây, nghĩa là đường kính và chiều cao trong quan hệ đã bao hàm tác động của hoàn cảnh và tuổi

Đối với những lâm phần thuần loài đều tuổi, cho dù có tìm được phương trình toán học biểu thị H/D theo tuổi thì cũng không đơn giản vì chiều cao cây rừng ngoài yếu tố tuổi còn phụ thuộc rõ nét vào mật độ, cấp đất, biện pháp tỉa thưa…Khi đối tượng nghiên cứu là những lâm phần chưa được tạo lập và dẫn dắt bằng một hệ thống kỹ thuật thống nhất thì phương pháp hàm toán học để mô phỏng sự phụ thuộc của chiều cao và đường kính vào tuổi sẽ không thích hợp Khi đó lên dùng phương pháp mà Kennel gợi ý, nghĩa là tìm

ra một dạng phương trình biểu thị mối quan hệ giữa chiều cao với đường kính, sau đó nghiên cứu xác lập mối quan hệ của các tham số phương trình trực tiếp hoặc gián tiếp theo tuổi lâm phần

Trang 17

2.2.2 Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân

Tán cây là bộ phận quyết định đến sinh trưởng, tăng trưởng cây rừng, là chỉ tiêu quan trọng để xác định không gian dinh dưỡng của từng cây riêng lẻ

Từ việc xác định được không gian dinh dưỡng của cây rừng có thể xác định được hệ số khép tán cho loài cây và lâm phần Các tác giả Cromer O A; Ahken J D (1948), Wiilingham (1948) (dẫn theo tài liệu [2]), sau khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực đã đi đến kết luận giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực tồn tại mối quan hệ mật thiết Tùy theo từng loài cây và điều kiện cụ thể, mối liên hệ này được thể hiện dưới các dạng phương trình khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng:

2.2.3 Những nghiên cứu về cải thiện giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Mục đích của cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác từ rừng Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu về vấn đề này điển hình là các nước: Công Gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe

Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng Đối với mỗi dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau Mật độ trồng rừng cây keo lai bằng các dòng vô tính chọn lọc được quy định 1.110 cây/ ha (cư ly hàng 3m, cự ly cây 3m) đối với nơi đất tốt và 1.660 cây/ha (cự ly hàng 3m, cự ly cây 2m) đối với nơi đất xấu Tuỳ theo điều kiện lập địa cụ thể nơi trồng và điều kiện đầu tư, kinh doanh để xác định mật độ Hàng cây bố trí theo đường đồng mức hoặc theo hướng Đông - Tây

Keo lai chịu đựng và sinh trưởng kém ở những nới có sương muối hoặc giá lạnh, nhiệt độ dưới 60C Những vùng có gió mạnh và bão nên trồng hạn

Trang 18

chế Nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng phát triển của keo từ 21 - 270C, lượng mưa 1400 mm - 2400 mm, phân bố ở độ cao dưới 700m so với mực nước biển, độ dốc dưới 15 - 200

C, ít có gió mạnh

Tóm lại, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về rừng trồng Keo lai, nhiều tác giả cho rằng sự thành công trong kinh doanh rừng trồng Keo lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố cơ bản là điều kiện sinh thái, chất lượng lập địa, chất lượng cây giống và các biện pháp kỹ thuật tác động trong chu kỳ kinh doanh rừng trồng Keo lai

2.3 Những nghiên cứu rừng trồng ở Việt Nam

2.3.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Trong những năm gần đây, cấu trúc rừng ở nước ta đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Sở dĩ như vậy vì cấu trúc là cơ sở cho việc định hướng phát triển rừng, đề ra biện pháp lâm sinh hợp lý

Đào Công Khanh (1996) [9], Bảo Huy (1993) [8] đã căn cứ vào tổ thành loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp lâm sinh

Lê Sáu (1996) [21] dựa vào hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng kết hợp với hệ thống phân loại của Loeschau, chia rừng ở khu vực Kon Hà

Nừng thành 6 trạng thái

Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát

hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân

dưới cành lớn (Lê Đình Khả, 2006) [14]

Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988) [30]; Gan, E và Sim Boom Liang (1991) [28] các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 -5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ

8 - 9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5 - 6 Bên cạnh đó là sự phát

Trang 19

hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản (Bowen, 1981) [25]

2.3.2 Nghiên cứu về quy luật cấu trúc đường kính thân cây rừng

Từ các nghiên cứu định lượng cấu trúc N/D đề cập ở trên cho thấy:

- Các nghiên cứu về phân bố số cây theo đường kính và ứng dụng của nó thường dựa vào dãy tần số lý thuyết

- Các hàm toán học được sử dụng để mô phỏng rất đa dạng và phong phú

- Xu hướng chung là tìm toán học thích hợp, xác định các tham số của phân bố N/D bằng các hàm tương quan trực tiếp hoặc gián tiếp theo tuổi, thiết lập một quá trình ngẫu nhiên (phân bố N/D được xem như một quá trình ngẫu nhiên) Ngoài ra, mô tả biến đổi phân bố N/D như một quá trình xác định trên

cơ sở quan niệm động thái phân bố N/D là kết quả của quá trình sinh trưởng

và quá trình tỉa thưa

Theo Nguyễn Ngọc Lung (1999) [16] khi nghiên cứu về phân bố đường kính của rừng Thông ba lá ở Việt Nam đã nhận xét: Việc dùng hàm này hay hàm khác để biểu thị dãy phân bố kinh nghiệm N/D phụ thuộc vào kinh nghiệm từng tác giả và bản chất quy luật đo đạc được Một dãy phân bố kinh nghiệm có thể chỉ phù hợp cho một dạng hàm số, cũng có thể phù hợp cho nhiều hàm số ở các mức xác suất khác nhau

Với rừng tự nhiên nước ta, các tác giả tiêu biểu như: Đồng Sỹ Hiền (1974) [4] đã chọn hàm Mayer, trong khi đó Nguyễn Hải Tuất (1991) [23] chọn hàm khoảng cách, Nguyễn Văn Trương (1983) [22] sử dụng hàm phân

bố Poisson nghiên cứu, mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính cây rừng cho đối tượng rừng hỗn dao, khác tuổi…

Với lâm phần thuần loài, đều tuổi giai đoạn còn non và giai đoạn trung niên các tác giả Vũ Tiến Hinh (1989) [5], Phạm Ngọc Giao (1989,1995) [3], Trịnh Đức Huy (1978, 1988) [7], Vũ Văn Nhâm (1988) [17], Lê Hồng Phúc (1960) [18]… đều nhất trí đường biểu diễn quy luật phân bố N/D có dạng lệch trái và tùy từng đối tượng cụ thể, có thể sử dụng các hàm toán học khác nhau

Trang 20

để biểu thị như hàm Scharlier, hàm Weibull…

Phạm Ngọc Giao (1995) [3] khi nghiên cứu quy luật N/D cho Thông đuôi ngựa vùng Đông Bắc đã chứng minh tính thích ứng của hàm Weibull và xây dựng mô hình cấu trục đường kính cho lâm phần Thông đuôi ngựa Kết quả này cũng được Vũ Tiến Hinh (1990) [5] và Vũ Văn Nhâm (1988) [17] khẳng định, vận dụng phân bố Weibull để nắn phân bố N/D Thông ba Đà Lạt Lâm Đồng

Đối với cây rừng khi bước vào thời kỳ khép tán giữa chúng xảy ra sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng làm cho kích thước của cây rừng có sự phân hóa Tiêu biểu là đường kính thân cây Tùy thuộc vào điều kiện lập địa

mà quy luật này diễn ra giống hay khác nhau Quy luật này gọi là luật phân bố

số cây theo đường kính lâm phần (viết tắt là phân bố N/D) Đây là một trong những quy luật cấu trúc cơ bản nhất cuả lâm phần, vì thế nó là nội dung chính trong điều tra lâm phần Từ kết quả nghiên cứu quy luật này cho phép xác định các nhân tố điều tra cơ bản như: Các loại đường kính bình quân, tổng tiết diện ngang, trữ lượng, mật độ hiện tại và là cơ sở để dự đoán một số nhân tố điều tra cơ bản lâm phần ở thời điểm điều tra nào đó Để xác định phân bố N/D, cần chọn phạm vi cỡ kính thích hợp, từ đó xác định liệt số phân bố số cây theo cỡ kính cho từng lâm phần nghiên cứu

Với lâm phần thuần loại có đường kính bình quân nhỏ hơn 20cm, nên chọn cỡ đường kính là 2cm, còn với những lâm phần có đường kính bình quân lớn hơn 20cm, thì nên chọn cỡ kính là 4cm Ở nước ta, theo kinh nghiệm khi điều tra rừng trồng, cỡ đường kính nên chọn là 2cm, với những lâm phần

có biến động lớn về đường kính thì dùng 4cm

Phạm Ngọc Giao (1996) [3] khi nghiên cứu phân bố đường kính rừng Thông đuôi ngựa khu Đông Bắc đã xác định cỡ kính là 2cm Theo Hoàng Văn Dưỡng (2001) [2], để xác định cỡ kính hợp lý thì phải thỏa mãn 3 yêu cầu

- Không làm biến dạng quy luật phân bố N/D vốn có của lâm phần

- Không mắc sai số hệ thống khi tính toán tổng diện ngang và sai số đó phải nằm trong giới hạn sai số cho phép

Trang 21

- Thuận lợi cho quá trình đo, ghi chép và tính toán

Như vậy xu hướng mô hình hoá quy luật N/D, nhìn chung các tác giả ở nước ta thường dùng một trong hai phương pháp, đó là phương pháp biểu đồ

và phương pháp giải tích toán học Phương pháp biểu đồ được dùng để phát hiện quy luật, còn phương pháp giải tích toán học dùng để định lượng quy luật Tuy nhiên, việc dùng hàm này hay hàm khác để biểu thị dãy phân bố thực nghiệm N/D còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng tác giả và bản chất quy luật đo đạc được

Thời gian gần đây khi mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính lâm phần nói chung và cho đối tượng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nước ta nói riêng, nhiều tác giả đã chọn phân bố Weibull để mô tả và xây dựng mô hình cấu trúc đường kính cho lâm phần thuần loài, đều tuổi thuộc các đối tượng khác nhau, phục vụ yêu cầu điều tra, điều chế và nuôi dưỡng rừng

Những kết quả nghiên cứu trên đây về quy luật phân bố đường kính của các tác giả là cở sở để vận dụng và kế thừa vào việc nghiên cứu quy luật phân

bố đường kính với rừng trồng Keo lai trong đề tài nghiên cứu của mình tại tỉnh

Thái Nguyên

2.3.3 Nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính thân

Vũ Đình Phương (1975) [19] cho rằng có thể lập biểu cấp chiều cao lâm phần Bồ đề tự nhiên từ phương trình Parabol bậc hai mà không cần phân biệt cấp đất và tuổi

Đồng Sỹ Hiền (1974) [4] khi nghiên cứu cho đối tượng rừng tự nhiên

đã thử nghiệm 5 dạng phương trình tương quan thường được nhiều tác giả nước ngoài sử dụng là:

Trang 22

nghiên cứu trên

Nguyễn Ngọc Lung (1999) [16], khi nghiên cứu tương quan H/D cho loài Thông ba lá đã thử nghiệm 8 dạng phương trình kết quả cho thấy cả 8 dạng phương trình đều phù hợp về mặt thống kê Tuy nhiên dạng

H = a(1-e-bD)m của Drakin (1940) được chọn do có hệ so tương quan cao nhất Phương trình chung đã lập cho cả đối tượng nghiên cứu là:

R = 0,9567

Với Thông đuôi ngựa khu vực Đông Bắc, kết quả nghiên cứu bước đầu của Vũ Văn Nhâm (1988) [17] về việc xây dựng mô hình đường cong chiều cao lâm phần Phạm Ngọc Giao (1995) [3] đã khẳng định tương quan H/D của các lâm phần Thông đuôi ngựa tồn tại chặt chẽ dưới dạng phương trình loogarit một chiều:

Dựa vào phương pháp của Kennel đã gợi ý, tác giả đã xây dựng mô hình động thái đường cong chiều cao cho lâm phần Thông đuôi ngựa khu Đông Bắc với các tham số của phương trình tương quan H/D như sau:

Hoàng Văn Dưỡng (2011) [2] đã thử nghiệm bốn phương trình tương quan H/D cho loài KLT ở một số tỉnh miền Trung như sau:

Trang 23

để vận dụng nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính rừng Keo lai ở tỉnh Thái Nguyên

2.3.4 Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán cây với đường kính thân

Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực cho một số loài cây rừng tự nhiên như Lim xanh, Vạng trứng, Chò chỉ,

Vũ Đình Phương (1985) [19] đã rút ra kết luận: Giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực tồn tại mối liên hệ chặt chẽ và được biểu thị bằng phương trình đường thẳng

Qua tính toán tác giả cho thấy hệ số tương quan biến động từ chặt đến rất chặt (R:0,86 đến 0,98), chứng tỏ có thể sử dụng quan hệ trên để xác định đường kính tán bình quân cho từng cỡ kính với độ chính xác cao

Hoàng Văn Dưỡng (2001) [2], tương quan giữa đường kính tán với đường kính ngang ngược loài cây Keo lá tràm tại một số tỉnh khu vực miền

Trang 24

Trung, có thể sử dụng phương trình đường thẳng:

Để biểu thị quan hệ này Kết quả tính toán cho thấy hệ số tương quan biến động từ 0,50 đến 0,99 Kết quả kiểm tra có 92,2% số ô phù hợp với dạng phương trình trên Như vậy, việc sử dụng dạng phương trình (2.21) để nghiên cứu là hợp lý

Như vậy, tương quan giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực hầu hết các tác giả trong và ngoài nước đều nhất trí sử dụng dạng phương trình (2.21) là hợp lý Trên cơ sở đó dự đoán tổng diện tích tán, cũng như xác định mật độ tối ưu cho lâm phần Từ những kết quả nghiên cứu trên đây sẽ là

cơ sở để vận dụng nghiên cứu cấu trúc tán cây rừng trồng Keo lai trong đề tài của mình

2.3.5 Những nghiên cứu về cải thiện giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Khi nghiên cứu sự thoái hóa và phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả (1997) [10] đã khẳng định: Không nên dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hóa và phân ly khá rõ rệt, cây lai F2 sinh trưởng kém hơn cây lai F1 và có biến động lớn về sinh trưởng

Do đó, để phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật

Trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây có rất ít người quan tâm, song do nguồn gỗ rừng tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu về gỗ ngày càng tăng của xã hội Bên cạnh đó, diện tích đất qui hoạch cho lâm nghiệp nói chung ngày càng giảm do phải cắt chuyển sang sử dụng vào mục đích khác như mở rộng đất nông nghiệp, đất thổ cư, đường Hơn nữa, đất qui hoạch cho trồng rừng hầu hết là đất nghèo và xấu, vì thế trồng rừng thâm canh đã trở thành xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy và ván nhân tạo

Trang 25

Vào những năm 1980, bên cạnh các nước có lịch sử phát triển rừng theo hướng thâm canh như: Đức, Ý, Thụy Điển, thì ở Việt Nam vấn đề này cũng bắt đầu được quan tâm và đưa ra thảo luận, điển hình là các tác giả Nguyễn Xuân Xuyên (1985), Phạm Chiến (1986), Vũ Đình Huề (1986), Phùng Ngọc Lan (1986)

Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], thâm canh rừng trồng là nhằm bảo

vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khí hậu, đất đai, sinh vật và

áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan để nâng cao năng suất rừng và hiệu quả kinh tế Thâm canh rừng đòi hỏi một hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp liên hoàn từ khâu chọn loài cây trồng, chọn giống, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, tỉa thưa dựa trên mô hình mật độ tối ưu cho đến đảm bảo tái sinh trong khai thác

Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [20], trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn Các biện pháp được tăng cường đầu

tư đó phải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng và phát triển của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềm năng đất đai và môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững

Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Không có giống được cải thiện theo mục đích kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao Trong thực tế đã cho thấy, cây rừng nói chung nếu chọn được giống tốt thì sản lượng gỗ có thể tăng từ 10 - 20%, có khi tăng tới 30% so với giống bình thường Đối với giống lai đã được chọn lọc của các loài cây mọc nhanh có thể tăng từ 50 - 100% sản lượng gỗ so với giống bố

mẹ Vì vậy, cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác Năm 1993, Bộ Lâm

Trang 26

nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã có Quyết định ban hành "Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống", "Quy phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa", trong đó quy định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống

và cây giống cũng như các phương thức khảo nghiệm giống và xây dựng rừng giống, vườn giống (Lê Đình Khả, 2003) [13]

Từ năm 1980 trở lại đây hoạt động cải thiện giống cây rừng mới được đẩy mạnh trong cả nước Các hoạt động trong thời gian đầu chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài cây trồng rừng chủ yếu ở một số vùng sinh thái chính trong nước như Bạch đàn, Keo, Phi lao Vào đầu những năm 1990, việc phát hiện ra giống Keo lai tự nhiên giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng đã thúc đẩy các hoạt động khảo nghiệm chọn lọc nhân tạo và nhân giống vô tính phát triển Trong những năm gần đây, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trung tâm phát triển lâm nghiệp Phù Ninh thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam cùng một số cơ sở nghiên cứu lâm nghiệp các tỉnh đã nghiên cứu thành công lai giống nhân tạo cho các loài Keo, Bạch đàn và Thông (Lê Đình Khả, 2003) [13] Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu đáng kể

Từ khảo nghiệm hàng chục giống Keo lai đã có 4 dòng có năng suất cao và thích hợp với nhiều vùng sinh thái đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia là BV10; BV16; BV32; BV33 (Lê Đình Khả, 1999) [12] Gần đây một số dòng khác cũng đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống tiến bộ kỹ thuật là BV71; BV73; BV75; TB3; TB5; TB6; TB12; BT1; BT7; BT11; KL2; KL20; KLTA3 (Lê Đình Khả, 2006) [14]

Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cho thấy, hoạt động trồng rừng cần phải lựa chọn được thời điểm trồng thích hợp, tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa để tận dụng được thời gian sinh trưởng dài trong mùa mưa và điều kiện thời tiết tốt vì ngay khi trồng cây cần có đủ nước để đảm bảo tỷ lệ sống cao và khả năng sinh trưởng là tốt nhất, tạo sinh lực cho cây trồng khi bước vào mùa khô hanh kéo dài Bên cạnh đó cũng cần phải chú trọng tới

Trang 27

điều kiện kỹ thuật, vì địa hình tại khu vực nghiên cứu không áp dụng được biện pháp cơ giới nên khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật thủ công như cuốc

hố thì cần có kích cỡ hố lớn hơn bình thường, số lần chăm sóc và kỹ thuật chăm sóc phải cao hơn, phân bón cũng nên lựa chọn loại thích hợp với đặc điểm đất, đặc biệt là bón vôi bột đế cải thiện độ chua đất

2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

* Vị trí địa lý, địa hình

Quy Kỳ là một xã thuộc vùng núi huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 55km về phía Bắc Có vị trí địa lý như sau:

+ Phía bắc giáp với xã Linh Thông

+ Phía đông giáp xã Lam Vỹ, xã Kim Phượng

+ Phía nam giáp với xã Kim Sơn

+ Phía tây giáp với hai xã Phúc Chu và xã Bảo Linh

Quy Kỳ có tuyến tỉnh lộ 248 chạy qua, đây là tuyến đường bắt đầu từ Km

31 (Quốc lộ 3) đi qua trung tâm huyện đến huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), đèo So nằm trên tuyến đường này và là ranh giới giữa hai tỉnh

Quy Kỳ là xã miền núi dốc dần từ Bắc xuống Nam có địa hình rất phức tạp, đồi núi là chủ yếu chiếm trên 80% tổng diện tích tự nhiên của xã, có núi cao,

độ dốc lớn, địa hình bị chia cắt, xen kẽ giữa núi, đồi là những giải ruộng nhỏ hẹp

và các dộc ruộng bậc thang nằm ở độ cao từ 120 - 130m Những khu dân cư tồn tại từ lâu đời với tính tiện canh, tiện cư, gây khó khăn cho việc bố trí khu dân cư tập trung, cũng như xây dựng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật

* Khí hậu, thủy văn

Quy Kỳ là một xã miền núi, khí hậu mang tính chất đặc thù của vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm được chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa đông (hanh, khô), từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này thời tiết lạnh, có những đợt gió mùa Đông Bắc cách nhau từ tháng 07 đến 10 ngày, mưa ít thiếu nước cho cây trồng vụ Đông Mùa hè (mùa mưa) nóng nực từ tháng 4 đến tháng 10,

Trang 28

nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, thường gây ngập úng cho nhiều nơi trên địa bàn

xã, ảnh hưởng lớn đến sản xuất của bà con nông dân, mùa hè có gió Đông nam thịnh hành Nhiệt độ trung bình trong năm 22,80C, tổng tích ôn là 7000 đến 80000

C

Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1700 đến 2210 mm Lượng mưa cao nhất tháng 8 và thấp nhất tháng 1 là 1212 mm Số giờ nắng trong năm dao động từ 1200 đến 1500 giờ được phân bố tường đối đồng đều cho các tháng trong năm Độ ẩm trung bình cả năm là 85%, độ ẩm cao nhất vào tháng 6,7,8 Độ ẩm thấp nhất vào tháng 11 - 12 hàng năm Sương mù bình quân từ 20 đến 30 ngày trong 1 năm Sương muối xuất hiện ít

Hệ thống thủy văn của xã Quy Kỳ chủ yếu là suối Đèo So cùng hệ thống sông suối nhỏ và 05 hồ đập lớn, đây là nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra còn có hệ thống kênh mương, ao hồ đập nằm rải rác khắp địa bàn xã là nguồn dự trữ nước tưới cho cây trồng vụ đông Mặc

dù vậy vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất

+ Đất thung lũng là sản phẩm dốc tụ, phân bố ở khắp các chân đồi gò

đã được nhân dân khai thác để trồng lúa nước và các cây hoa mầu ngắn ngày khác, loại đất này có tầng đất dầy, độ mùn cao

+ Ngoài ra trong xã còn có các loại đất khác như: Đất mầu nâu vàng trên mẫu chất phù sa cổ, đất biến đổi do trồng lúa nước, số lượng không đáng

kể nằm rải rác trên địa bàn xã

* Tài nguyên rừng

Diện tích rừng ở xã Quy Kỳ những năm trước đây bị khai thác, chặt

Trang 29

phá bừa bãi, dẫn đến rừng bị nghèo kiệt, các loại gỗ quý hiếm còn lại không đáng kể Những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp, các ngành rừng được bảo vệ và chăm sóc, diện tích rừng ngày một tăng nhanh cả về số lượng

và chất lượng, cơ cấu cây trồng rất đa dạng và phong phú, môi trường ngày được bảo vệ tốt, hạn chế được nhiều quá trình sói mòn đất trong khi mưa lũ

Diện tích rừng của xã hiện nay là: 2272,58 ha, trong đó rừng sản xuất là 2227,58 ha còn lại là rừng phòng hộ 45,00 ha, cây trồng chủ yếu là cây Tre, Mai, Luồng, Keo, Bạch đàn, Mỡ, Kháo, Giổi dẻ Đây là nguồn tài nguyên quý hiếm, có tiềm năng lớn, mang lại nguồn thu nhập kinh tế cao Độ che phủ của rừng hiện đạt 41,39% diện tích tự nhiên

2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Điều kiện kinh tế

Thực hiện các Nghị quyết của đại hội Đảng bộ và Nghị quyết của HDDND, UBND xã Quy Kỳ, trong những năm qua, cán bộ và nhân dân đã đoàn kết, phấn đấu thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội với những khó khăn của một

xã thuần nông của Huyện Định Hóa, ngành nghề chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi Dịch vụ, thương mại, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, năng xuất lao động còn thấp Được sự quan tâm, tạo điều kiện của Huyện ủy - HĐND - UBND

và các phòng ban chức năng của huyện Định Hóa

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Ủy - HĐND - UBND xã, Quy Kỳ

đã chủ động phối kết hợp với các đoàn thể, động viên nhân dân cùng đồng lòng quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kính tế xã hội của

xã đã đề ra Mặc dù thời tiết diến biến phức tạp, hạn hán kéo dài, rét đậm, việc gieo trồng gặp nhiều khó khăn song nền kinh tế cảu xã trong năm qua tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước

* Thành phần dân tộc, lao động

Quy Kỳ hiện có 19 xóm: Khuôn Nhà, Khuôn Câm, Khuôn Tát, Đăng

Mò, Sự Thật, Đồng Khẩu, Bản Pấu, Nà Rọ, Nà Kéo, Nà Áng, Bản Cọ, Nà Mòn, Đồng Củm, Tân Hợp, Túc Duyên, Gốc Hồng, Bản Noóng, Thái Trung,

Trang 30

Pác Cáp Đến năm 2011, Quy Kỳ có 1.042 hộ với 4.352 nhân khẩu gồm các

dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Dao, Sán chí, Cao Lan

* Cơ sở hạ tầng

- Trường: Xã Quy Kỳ có 3 cấp học: Mầm non, Tiểu học, Trung học

cơ sở Đội ngũ giáo viên có chuyên môn cao và thường xuyên trau dồi

kiến thức để truyền đạt cho học sinh có kết quả cao nhất trong học tập

- Trạm: Xã có một trạm y tế, cơ sở vật chất khá đầy đủ Đảm bảo cho việc

chăm sóc sức khỏe cho người dân Được xây dựng liền kề trục đường liên xã,

có diện tích là 1700 m2, có 02 nhà cấp IV: 05 phòng điều trị, 01 phòng tiêm,

01 phòng đẻ, 03 phòng khám Đội ngũ cán bộ gồm: 01 bác sỹ, 02 y sỹ, 02 y tá

có trách nhiệm tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưởng trẻ em

được thực hiện tốt

* Văn hóa: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới, việc cưới hỏi

ma chay cũng đã có nhiều tiến bộ Phong trào đền ơn đáp nghĩa được quan tâm,

thực hiện chế độ chính sách đầy đủ, đúng quy định

* Đường: Hệ thống giao thông của xã ngoài 11,2 km tỉnh lộ 268 chạy qua, 6

km đường liên xã được mở rộng và nâng cấp, mở rộng từ 5 - 7m theo chương trình 135, thuận lợi cho việc đi lại giao lưu hàng hóa còn lại các tuyến đường liên thôn mặt đường còn gồ ghề đi lại khó khăn, nhất là vào mùa mưa lầy lội

ảnh hưởng lớn đến việc đi lại và vận chuyển hàng hóa

Trên cơ sở hiện trạng tại khu vực nghiên cứu rút ra được những thuận lợi và khó khăn như sau:

- Thuận lợi: Xã Quy Kỳ là xã phía Bắc huyện Định Hóa, đất đai rộng,

có khả năng đầu tư để phát triển các trang trại vừa và nhỏ, phát triển các ngành nghề Đặc biệt là phát triển trồng rừng rất phù hợp với điều kiện đất đai của xã, vừa phủ xanh đất đồi trọc, môi trường trong sạch, tạo công ăn việc làm và mang lại lợi ích kinh tế rất cao Xã có nguồn lao động dồi dào, có đội ngũ cán bộ trẻ, có nhiều kinh nghiệm trong quản lý và điều hành, được đào tạo cơ bản, có trình độ, đáp ứng được yêu cầu hiện tại cũng như tương lai Trong những năm qua, xã Quy Kỳ đã có những chuyển biến tích cực

Trang 31

trong việc phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần, do có sự đầu tư, cải tiến phương tiện sản xuất và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm cho năng suất lao động ngày càng nâng cao, cuộc sống của nhân dân đang dần từng bước đi vào ổn định Do sự phát triển chung của xã hội đòi hỏi phải có sự xếp sắp lại lao động, phân bố một cách hợp lý để tạo ra một bước phát triển toàn diện

- Khó khăn: Là một xã miền núi thuộc diện khó khăn, nền kinh tế thuần

nông xuất phát điểm thấp, các ngành nghề khác phát triển chậm, chưa thu hút được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài Là một xã cơ sở kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phát triển chậm, chưa có cơ sở sản xuất hàng hóa và thị trường tiêu thụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu

sử dụng đất chưa hợp lý, các giải pháp để phát triển các ngành như phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề, dịch vụ chưa được cụ thể,

cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển chậm, thiếu vốn đầu tư

Trang 32

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng: Rừng trồng Keo lai thuần loài từ 4 - 7 tuổi

- Địa điểm: Xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian: Từ tháng 01/2014 đến 05/2014

3.2 Nội dung nghiên cứu

(1) Lịch sử gây trồng và phát triển rừng Keo lai tại khu vực nghiên cứu

- Nguồn gốc rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu

- Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

(2) Nghiên cứu một số quy luật phân bố

(3) Nghiên cứu một số quy luật tương quan

(4) Xác định mật độ tối ưu cho các lâm phần Keo lai

(5) Bước đầu đề xuất một số biện pháp kỹ thuật

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Cơ sở pháp luận

Rừng Keo lai trồng là một hệ sinh thái nhân tạo, do vậy mối quan hệ giữa quần thụ Keo lai với các yếu tố môi trường là rất phức tạp, có sự tương tác phụ thuộc chặt chẽ với nhau Ngoài những yếu tố khí hậu, địa hình, đất đai, thì nhân tố con người có vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi quần thụ và môi trường sống của quần thụ Vì vậy, phân tích mối quan hệ qua lại giữa quần thụ Keo lai với những yếu tố môi trường sẽ cho những hiểu biết về

kết cấu, sinh trưởng và năng suất rừng Keo lai

Trang 33

Rừng Keo lai luôn luôn thay đổi theo thời gian, do vậy những đặc trưng

về kết cấu lâm phần, cấu trúc, năng suất và tăng trưởng cần phải xem xét theo

không gian và thời gian Để ghi nhận chính xác những thay đổi của rừng và

môi trường sống cần phải nghiên cứu trên ô định vị, nhưng những nghiên cứu

này đòi hỏi phải có chi phí lớn về thời gian, nhân lực và kinh tế, điều này

vượt quá khả năng của đề tài Vì vậy, để thu thập đủ số liệu đảm bảo dung

lượng mẫu, đề tài sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu trên các ô tiêu chuẩn

theo không gian khác nhau, qua đó những biến đổi về hình thái, cấu trúc, độ

lớn đường kính được thể hiện ở vòng năm

Khi đưa ra biện pháp kỹ thuật cần phải cân nhắc quan hệ giữa kinh tế,

xã hội và môi trường

- Về kỹ thuật: Việc chọn phương thức nào cần phải dựa vào mục tiêu tạo rừng

- Về kinh tế: Cần phải dựa vào hiệu quả của việc kinh doanh rừng

- Về môi trường: Cần dựa vào hiệu quả của việc bảo vệ môi trường sinh thái 3.3.2 Phương pháp ngoại nghiệp

Để xác định chính xác diện tích và phân bố rừng trồng Keo lai thuộc khu vực nghiên cứu, đề tài căn cứ vào bản đồ hiện trạng để xác định các lô rừng trên bản đồ đồng thời khảo sát ngoài thực địa để kiểm tra từng lô rừng cụ thể như: diện tích, tuổi, mật độ trồng ban đầu, các biện pháp tác động từ khi trồng rừng đến nay

3.3.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa các tài liệu hiện có để hệ thống hóa các thông tin có liên quan đến nội dung của đề tài như:

- Tình hình kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu

- Bản đồ hiện trạng tại khu vực nghiên cứu

- Hồ sơ trồng rừng tại khu vực nghiên cứu

3.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn đại diện ở khu vực nghiên cứu, số liệu đảm bảo tính đại

Trang 34

diện, khách quan và chính xác Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích số liệu truyền thống, phương pháp kế thừa các tư liệu, số liệu có liên quan

* Xác định số lượng và kích thước ô tiêu chuẩn (ÔTC)

Số liệu đề tài là tổng hợp các thông tin thu thập từ các lâm phần nghiên cứu cùng với các thông tin khác có liên quan từ khi trồng cho đến thời điểm điều tra Theo Nguyễn Hải Tuất (1982) đối với rừng thuần loài đều tuổi, diện tích ÔTC thông thường được xác định từ 100 - 1000 m2 và bố trí đại diện cho các điều kiện sinh trường Các ÔTC được đặt cánh xa đường đi, đỉnh dông và khe suối hình dạng ÔTC là hình chữ nhật, chiều dài song song với đường

đồng mức

Sau khi tiến hành sơ thám trên cơ sở phối hợp với bản đồ hiện trạng, tiến hành lập 18 ô tiêu chuẩn (ÔTC) trong đó tuổi 4 có 6 ÔTC, tuổi 5 có 6 ÔTC và tuổi 6 có 6 ÔTC trên các dạng địa hình (chân, sườn, đỉnh), kích thước mỗi ô là 500 m2 (20 x 25m)

* Thu thập số liệu trong các ô tiêu chuẩn của lâm phần keo lai

Trong các ÔTC, đo đếm toàn bộ các chỉ tiêu Dl,3, Hvn, Hdc, Dt, Lt của

từng cây như sau:

- Đo đường kính tại vị trí l,3m (D1,3) bằng thước kẹp kính có độ chính xác đến 0,01 m hoặc dùng thước dây đo chu vi sau đó dùng công

thức quy đổi ra đường kính

- Các chỉ tiêu Hvn, Hdc được đo bằng thước đo cao Blumleiss kết hợp

với thước sào có chia vạch đến 50 cm, sai số đo cao ± l0cm

Đường kích tán Dt được xác định thông qua hình chiếu thẳng đứng của mép tán lá dưới mặt đất theo hai chiều vuông góc và song song với đường đồng mức, sau đó lấy giá trị trung bình cộng của hai trị số này Sai số đo

đường kính tán là ± 0 , l m

- Đo chiều dài tán cây L, dùng thước đo cao với độ chỉnh xác ±

10cm đo chiều cao Hvn và Hdc rồi tính qua công thức

- Độ dốc và hướng dốc: Được xác định bằng địa bàn cầm tay tại sườn dốc nơi đặt ÔTC

Trang 35

Số hiệu ÔTC: Độ dốc: Ngày điều tra: Địa điểm:

Độ tàn che: Hướng dốc: Vị trí ÔTC: Biện pháp tác động

TT D 1,3

(cm)

D t (cm)

H vn (m)

H dc (m)

Phân cấp theo Kraft

Tất cả số liệu sau khi thu nhập được đưa vào máy tính và tiến hành xử lý số

liệu dưới sự hỗ trợ của chương trình Ecxell trong phần mềm Office 2003

Xác định các đặc điểm chung của lâm phần Keo lai

- Tính đặc trưng thông kê mô tả: Giá trị trung bình, phương sai, sai tiêu

chuẩn, độ lệch độ nhọn, giá trị lớn nhất, giá tri nhỏ nhất, hệ số biến động,

khoảng biến động, sai số trung bình mẫu, sai số tuyệt đối của khoảng ước

lượng theo đường lệnh: Tool/Data Analysis/Descriptive Statistics/ok

- Công thức xác định mật độ cho lâm phần: N (cây)/ha

); N là số cây trên ha

- Chiều dài tán lá (Lt,m) qua công thức:

Dt n

Trang 36

Mô tả đặc trưng cấu trúc lâm phần keo lai

+ Xác định phân bố thực nghiệm cho các nhân tố điều tra lâm phần

Do các đối tượng quan sát có dung lượng mẫu lớn (n >30) nên ta tiến hành chia tổ ghép nhóm, tiến hành xác định giá trị lớn nhất nhỏ nhất Sau đó chọn mặc định cự ly tổ K, thường là giá trị chẵn cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Do đối tượng nghiên cứu là rừng trồng, nên cự ly tổ K được chọn cho đường kính ngang ngực là là 2 cm/cỡ; chiều cao vút ngọn là l m/cỡ; đường kính tán là 0,5m/cỡ

Tần số phân bố thực nghiệm trong từng ÔTC được xác định bằng

đường lệnh: Tool/Data Anlysis/Histrogram/ok

+ Quy luật phân bố số cây theo đường kính và chiều cao

Để nghiên cứu quy luật phân bố (N/D1 , 3) và (N/Hvn), đề tài đã sử dụng một số hàm phân bố như: Hàm Mayer, hàm Weibull, hàm Phân bố chuẩn cho

đề tài nghiên cứu Kết quả cho thấy sử dụng hàm phân bố Weibull là phù hợp hơn cả cho việc mô tả quan hệ phân bố cho đường kính và chiều cao

Hàm Weibull là hàm phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên liên tục với mỗi giá trị (0 ; +∞) hàm mật độ có dạng:

F(x) = α.λ.xλ − 1.e−λ.x.α (3-5) Trong đó:

- α và λ là 2 tham số của phân bố Weibull Khi các tham số α và λ thay đổi thì dạng đường cong phân bố cũng thay đổi theo Tham số a đặc trưng cho

độ lệch của phân bố

Nếu α = 1 phân bố có dạng giảm

Nếu α = 3 phân bố có dạng đối xứng

Nếu α < 3 phân bố có dạng lệch trái

Nếu α > 3 phân bố có dạng lệch phải

Tham số X được đặc trưng cho độ nhọn của đường phân bố, tham số X được tính theo công thức:

Trang 37

λ

i

i X f

= (3-6) Trong đó

- fi là tần số quan sát thực nghiệm:

- Xi = di-d(min) hoặc Xi= hi-h(min) (di và hi là trị số giữa tổ đường kính

và chiều cao)

- Sau khi tính toán xác xuất và tần số ly thuyết, ta tiến hành gộp những

tổ có flt<5 với tổ trên hay tổ dưới sao cho flt≥5

- Kiểm tra quy luật phân bố chuẩn bằng tiêu chuẩn 2

n

χ (khi bình phương)

Giả thuyết H0: Phân bố của nhân tố điều tra theo hàm Weibull

Giả thuyết H0 đươc kiểm tra bằng tiêu chuẩn 2

2

) (

l

f

f fi

χ (K=1-r-1) thì giả thuyết được chấp nhận (H0 +) tức là phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiệm

Nếu 2

n

χ > 2

05 , 0

χ (K=1-r-1) thì giả thuyết bị bác bỏ (H−0) tức là phân bố lý thuyết không phù hợp với phân bố thực nghiệm

+ Xác định mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến quy luật phân bố

đường kính

- Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: N (mật độ) ; q (hệ số dao tán)

- Ảnh hưởng của các nhân tố đến quy luật phân bố được xem xét trên

các lâm phần tuân theo quy luật hàm Weibull Quy luật phân bố được đại diện bằng độ lệch phân bố Các phương trình sử dụng là:

Y= a+b*N (3-8) LnY= a+b*N (3-12)

Y= a+b*ln(N) (3-9) LnY= a+b*ln(N (3-13)

Y= a+b*q (3-10) LnY= a+b*q (3-14)

Y= a+b*ln(q) (3-11) LnY= a+b*ln(q) (3-15)

Trong đó: Y là α

Trang 38

Đối với phương trình tuyến tính một lớp độ liên hệ giữa các đại lượng được xác định thông qua hệ số xác định, kiểm tra tồn tại của các hệ số tương

quan và các tham số bằng tiêu chuẩn t

Xác lập quan hệ bằng đường lệnh: tools/Data Analysis/Regression/Ok

Phương trình được lựa chọn là phương trình có hệ số xác định cao nhất, các tham số đều tồn tại trong tổng thể và đơn giản trong tính toán

Để nghiên cứu tương quan giữa chiều cao đường kính H/D1,3, đề tài dùng quan hệ theo công thức:

H=a + b* D1,3 (3-16) H=a + b*log(D1,3) (3-17)

Ln(H)=a + b* D1,3 (3-18) Ln(H)=a + b*log(D1,3) (3-19)

Để nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân Dt/D1,3, đề tài dùng quan hệ theo công thức:

Log(Dt)=a + b* D1,3 (3-22) Log(Dt)= a + b*log(D1,3) (3-23)

Trong đó: a, b là tham số của phương trình tương quan (3-8) đến (3-23) + Xác định mật độ tối ưu và cường độ chặt cho các lâm phần Keo lai

Mật độ tối ưu dựa vào diện tích dinh dưỡng, theo đó mật độ tối ưu được xác định theo công thức tổng quát:

- Nopt là mật độ tối ưu cần để lại nuôi dưỡng

-St là diện tích tán bình quân của cây để lại nuôi dưỡng

Trang 39

Từ công thức (2-24), Nopt từng ÔTC được tính toán theo công thức sau: Nopt/ÔTC=

Stopt

500

(3-25)

Trong đó:

- 500 là diện tích ÔTC nghiên cứu

- Nopt là mật độ tối ưu cần để lại nuôi dưỡng

- Stopt là diện tích tán bình quân của những cây sinh trưởng tốt có khả năng để lại nuôi dưỡng sau mỗi lần tỉa thưa

+ Số cây chặt được xác định theo công thức sau:

Trang 40

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Lịch sử trồng và phát triển cây keo lai tại khu vực nghiên cứu

4.1.1 Nguồn gốc rừng trồng Keo lai

Trước đây, người dân huyện Định Hóa không biết chọn cây trồng chủ lực cho phù hợp với đất trống, đồi trọc, nên đất bị bỏ hoang nhiều Những năm gần đây, huyện xác định trồng rừng là một trong các điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ môi trường sinh thái Vì thế, bình quân mỗi năm huyện trồng gần một nghìn héc - ta rừng keo, chủ yếu là giống Keo lai giâm hom cho tỷ lệ sống cao, mang lại hiệu quả kinh tế

Được biết, nhờ trồng keo nguyên liệu, nhiều hộ gia đình ở Định Hóa đã vươn lên thoát nghèo, có cuộc sống khá giả Năm 2013, công tác quản lý, bảo

vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Định Hóa đạt được những kết quả cao, các chỉ tiêu trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng đều đạt và vượt kế hoạch đề ra Người dân đã trồng được 1.107,5ha, bằng 103,5% kế hoạch, trong đó có 203,7 ha rừng phòng hộ, 828,1ha rừng sản xuất và 75,2 ha rừng

đặc dụng; chăm sóc trên 100 ha rừng trồng năm thứ hai; khoán bảo vệ rừng,

khoanh nuôi tái sinh rừng được trên 5.071 ha, bằng 104,56% kế hoạch

Rừng trồng Keo lai ở xã Quy Kỳ được trồng từ những năm 2008 theo dự

án 147 của nhà nước Các chủ hộ rừng này chịu sự quản lý của UBND xã và Trạm Kiểm Lâm số 3 đóng trên địa bàn Cây chủ yếu trồng trên loại đất feralit màu đỏ vàng và đất xám phù sa cổ có độ dày tầng đất trung bình từ 50 cm trở lên Mật độ trồng ban đầu là 1660 - 2500 cây/ha, địa hình có độ dốc trung bình

từ 13 - 300 Cây giống Keo lai để trồng rừng được sản xuất bằng phương pháp giâm hom, cây giống được lấy ở vườn ươm, xóm 8 xã Tân Sơn, huyện Định Hóa để trồng Cây con trồng rừng có chiều cao từ 40 - 50 cm, tuổi cây từ 2 - 3 tháng và đường kính gốc từ 0,2 - 0,3 cm, là những cây khỏe mạnh không sâu bệnh và hệ rễ phát triển đầy đủ Trên rừng trồng, đất được người dân làm bằng phương pháp cơ giới và thủ công Những nới có độ dốc < 150 thì áp dụng làm

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1 - Các thông tin cơ bản của ô tiêu chuẩn - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.1 Các thông tin cơ bản của ô tiêu chuẩn (Trang 42)
Bảng 4.2 - Kết quả phân bố N/D 1,3  theo hàm Weibull - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.2 Kết quả phân bố N/D 1,3 theo hàm Weibull (Trang 44)
Hình 4.1 - Phân bố N/D 1,3  có dạng lệch trái - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.1 Phân bố N/D 1,3 có dạng lệch trái (Trang 45)
Hình 4.2 - Phân bố N/D 1.3  có dạng lệch phải - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.2 Phân bố N/D 1.3 có dạng lệch phải (Trang 46)
Hình 4.3 - Phân bố N/D 1,3  có dạng lệch tiệm cận phân bố chuẩn - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.3 Phân bố N/D 1,3 có dạng lệch tiệm cận phân bố chuẩn (Trang 46)
Bảng 4.3 -Kết quả phân bố N/H vn  theo hàm Weibull - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.3 Kết quả phân bố N/H vn theo hàm Weibull (Trang 47)
Hình 4.4 -Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch trái - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.4 Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch trái (Trang 48)
Hình 4.6 - Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng đối xứng - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.6 Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng đối xứng (Trang 48)
Hình 4.5 - Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch phải - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Hình 4.5 Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch phải (Trang 48)
Bảng 4.4. Tương quan giữa chiều cao với đường kính thân - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.4. Tương quan giữa chiều cao với đường kính thân (Trang 50)
Bảng 4.5 - Tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân  Dạng phương trình  a  b  R  R 2 Số hiệu PT - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.5 Tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân Dạng phương trình a b R R 2 Số hiệu PT (Trang 51)
Bảng 4.6 - Tương quan giữa độ lệch của phân bố N/D1.3 - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.6 Tương quan giữa độ lệch của phân bố N/D1.3 (Trang 52)
Bảng 4.7 - Số lượng cây chặt, cây chừa trong 18 ô tiêu chuẩn - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 4.7 Số lượng cây chặt, cây chừa trong 18 ô tiêu chuẩn (Trang 53)
Phụ biểu 02- Bảng mô phỏng phân bố N/D 1.3  theo hàm Weibull - Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
h ụ biểu 02- Bảng mô phỏng phân bố N/D 1.3 theo hàm Weibull (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm