Tôi xin cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, thầy cô phụ trách trại chăn nuôi gia cầm, nơi tôi đã học tập và nghiên cứu trong suốt quá trình tiến hành thực tập và thí nghiệm.. Nhằm
Trang 1NÔNG SƠN TÙNG
Tên đề tài:
§¸nh gi¸ hiÖu qu¶ sö dông cña hai lo¹i thøc ¨n kh¸c nhau tíi kh¶ n¨ng sinh tr−ëng cña gµ thÞt F1 (MÝa lai L−¬ng Ph−îng) t¹i tr¹i Gia cÇm khoa Ch¨n nu«i thó y, tr−êng §¹i häc N«ng L©m Th¸i Nguyªn
KhãA LUËN TèT NGHIÖP §¹I HäC
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : CNTY Khoá học : 2010-2014 Giảng viên hướng dẫn: TS Từ Trung Kiên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2NÔNG SƠN TÙNG
Tên đề tài:
§¸nh gi¸ hiÖu qu¶ sö dông cña hai lo¹i thøc ¨n kh¸c nhau tíi kh¶ n¨ng sinh tr−ëng cña gµ thÞt F1 (MÝa lai L−¬ng Ph−îng) t¹i tr¹i Gia cÇm khoa Ch¨n nu«i thó y, tr−êng §¹i häc N«ng L©m Th¸i Nguyªn
KhãA LUËN TèT NGHIÖP §¹I HäC
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : CNTY Khoá học : 2010-2014 Giảng viên hướng dẫn: TS Từ Trung Kiên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất chí của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trại Chăn nuôi gia cầm của khoa Chăn nuôi thú y Qua quá trình học tập ở nhà trường và sau 6 tháng thực tập tại cơ sở, tôi được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn, bạn bè và công nhân viên của trại chăn nuôi gia cầm Nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Thành công này không chỉ là nỗ lực của cá nhân tôi mà bao gồm cả công sức của rất nhiều người Tôi muốn dành một vài lời để bày tỏ tấm lòng của tôi với những sự giúp đỡ đó
Đầu tiên, tôi muốn cảm ơn thầy giáo TS Từ Trung Kiên, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Thầy không những hướng dẫn tôi hoàn thành về nội dung và hình thức của khóa luận mà còn động viên tôi rất nhiều trong quá trình thực tập, phân tích số liệu và biên soạn khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người đã dìu dắt tôi từ những năm đầu đại học cho đến lúc tôi có kiến thức đủ để hoàn thành khóa luận cũng như chuẩn bị cho những năm công tác sau này
Tôi xin cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, thầy cô phụ trách trại chăn nuôi gia cầm, nơi tôi đã học tập và nghiên cứu trong suốt quá trình tiến hành thực tập và thí nghiệm
Cuối cùng, tôi xin nói lời biết ơn tới bố, mẹ, anh chị em trong gia đình
và các bạn bè của tôi Thiếu họ, tôi không thể yên tâm học tập và hoàn thành khóa luận này
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nông Sơn Tùng
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn trong quá trình đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật vững về lý thuyết, giỏi về tay nghề Trong giai đoạn này, sinh viên phải đem những kiến thức đã được học trong nhà trường sử dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp
Nhằm đạt được kết quả đó, dựa trên phương châm của Đảng và Nhà
nước là “Học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải đi đôi với thực tế, nhà
trường phải gắn liền với xã hội”, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
đưa sinh viên đi thực tập tốt nghiệp tại cơ sở sản xuất Thông qua thực tập tốt nghiệp, sinh viên sẽ hoàn thiện thêm về kiến thức đã học trong nhà trường và đưa kiến thức đó vào thực tiễn Đây là thời điểm tạo cho sinh viên tính sáng tạo, khả năng tiếp nhận những kiến thức thực tế mới để từng bước trở thành người cán bộ có trình độ chuyên môn cao, năng lực tốt, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo
hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng của hai loại thức ăn khác nhau tới khả năng sinh trưởng của gà thịt F1 (Mía lai Lương Phượng) tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành bản khóa luận này Do một số yếu tố khách quan cũng như chủ quan của bản thân, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong được sự quan tâm góp ý của các thầy cô và
các bạn bè để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Lịch phòng vaccine cho gà 12
Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 15
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 28
Bảng 2.2 Hàm lượng dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 29
Bảng 2.3 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (%) 32
Bảng 2.4 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiêm qua các tuần tuổi (gam/con) 33
Bảng 2.5 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/ngày) 36
Bảng 2.6 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 38
Bảng 2.7 Khả năng chuyển hoá và sử dụng thức ăn 40
Bảng 2.8 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (kg) 41
Bảng 2.9 Bảng chỉ số sản xuất PI và chỉ số kinh tế 42
Bảng 2.10 Chi phí cơ bản cho đàn gà thí nghiệm 43
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 35 Hình 2.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 37 Hình 2.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 39
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 2
1.1.3 Tình hình sản xuất của cơ sở 3
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của trại gia cầm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên 6
1.2 NHẬN XÉT CHUNG 7
1.2.1 Thuận lợi 7
1.2.2 Khó khăn 8
1.3 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 8
1.3.1 Nội dung thực tập tốt nghiệp 8
1.3.2 Biện pháp tiến hành 9
1.3.3 Nội dung phục vụ sản xuất 9
1.3.4 Tham gia các công việc khác 14
1.4 KẾT LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 15
1.4.1 Bài học kinh nghiệm 15
1.4.2 Tồn tại 16
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đặt vấn đề 17
2.2 Tổng quan tài liệu 18
2.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gia cầm 18
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 19
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
2.3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27
Trang 92.3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4 Kết quả và phân tích kết quả 31
2.4.1 Kết quả nuôi sống của gà thí nghiệm 31
2.4.2 Kết quả về sinh trưởng của gà thí nghiệm 33
2.4.3 Khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn 39
2.4.4 Kết quả về hiệu quả sử dụng thức ăn cho gà thí nghiệm 40
2.4.5 Chỉ số sản xuất và chỉ số kinh tế 42
2.4.6 Sơ bộ hạch toán thu chi cho 1 kg khối lượng gà xuất bán (đồng/kg) 43 2.5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 44
2.5.1 Kết luận 44
2.5.2 Tồn tại 44
2.5.3 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 10Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố khoảng 6 km về phía Tây Ranh giới của xã được xác định như sau: Phía nam giáp với xã Phúc Trìu
Phía tây giáp với xã Phúc Xuân
Phía bắc giáp với xã Phúc Hà
Phía đông giáp với phường Thịnh Đán
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu thủy văn
Trại gia cầm khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong địa bàn của tỉnh Thái nguyên, do đó mang khí hậu đặc trưng của tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc nước ta nên có khí hậu đặc trưng cho vùng Đông Bắc đó là khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới với hai mùa rõ rệt đó là: mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình dao động
từ 24-29oC, ẩm độ trung bình từ 80-86%, lượng mưa trung bình là 160mm/tháng tập trung chủ yếu vào tháng 5, 6, 7, 8 Với khí hậu trên, trong chăn nuôi cần chú ý công tác phòng bệnh cho đàn vật nuôi
Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong các tháng này khí hậu lạnh và khô, nhiệt độ dao động từ 12-26oC, ẩm độ từ 76-83% Về mùa đông còn có gió mùa đông bắc gây rét và có sương muối gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp
Trang 111.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của trại
Trại thực tập thí nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được thành lập ngày 03/08/1974 với cơ cấu tổ chức như sau:
Ban lãnh đạo trại gồm: 1 trưởng trại và 2 phó trại
Bên cạnh ban lãnh đạo trại còn có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có nhiệm vụ tham mưu cho ban lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ của trại
Trại thực tập thí nghiệm có các đội ngũ cán bộ công nhân viên trong đó
có một chi bộ Đảng, một công đoàn cơ sở, một chi đoàn thanh niên luôn tích cực hoạt động
Với cơ cấu tổ chức như trên, nhiệm vụ của trại cần phải thực hiện tốt là: Xây dựng và tổ chức sản xuất theo kế hoạch nhằm phục vụ công tác đài tạo và hướng dẫn sinh viên học tập và rèn nghề
Tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên, sinh viên nghiên cứu khoa học
Xây dựng mô hình thâm canh, chuyên canh cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao
Sản xuất cây, con giống cung cấp cho trại và nhân dân trong và ngoài tỉnh Hợp tác giúp đỡ chuyển giao kỹ thuật nông- lâm- ngư nghiệp cho các địa phương
Không ngừng mở rộng hợp tác với các trường, các tổ chức trong và ngoài nước nhằm mục đính giao lưu, học hỏi và hội tụ tri thức
Sau khi nền kinh tế tập thể chuyển sang cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, trại thực tập đổi tên thành Trung tâm thực hành thực nghiệm, vận hành theo cơ chế khoán sản phẩm đã tạo động lực cho cán bộ, công nhân trại hăng say lao động Trong những năm gần đây cơ chế quản lý của trại đã có nhiều thay đổi để phù hợp với thực tế nghiên cứu và học tập của
Trang 12thầy và trò, cụ thể là các khu sản xuất, thực hành thực nghiệm giao về cho các khoa chuyên môn quản lý
1.1.2.2 Tình hình phát triển sản xuất
Trung tâm thực hành thực nghiệm vừa có chức năng sản xuất vừa có chức năng phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của giáo viên và sinh viên của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Từ năm 2007, Nhà trường chuyển đổi hình thức từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, đòi hỏi phải có hệ thống giảng đường, phòng thí nghiệm
và trại thực hành đáp ứng yêu cầu của người học Trước tình hình đó, Nhà trường giao cho khoa Chăn nuôi - Thú y quản lý trại chăn nuôi lợn, trại chăn nuôi gia cầm, khu chăn nuôi trâu bò, khu nuôi trồng thủy sản, khu đồng cỏ và cây thức ăn
1.1.3 Tình hình sản xuất của cơ sở
- Cây chè: trại có 6 ha chè, với diện tích chè trên đảm bảo cho công tác học tập và nghiên cứu của giáo viên và sinh viên Đối với cây chè, trại giao khoán cho các hộ gia đình, cán bộ công nhân của trại chăm sóc và quản lý, khi thu hoạch trại thu mua sản phẩm
Trang 13- Cây ăn quả: trại có vườn cây ăn quả tương đối phong phú: nhãn, vải, hồng, bưởi, xoài, táo… Đối với cây ăn quả chủ yếu phục vụ cho công tác học tập
và nghiên cứu, đồng thời sản xuất cây giống cung cấp cho những người làm vường Trại có vườn ươm giống tương đối lớn gồm nhiều các loại cây giống
1.1.3.2 Ngành lâm nghiệp
Đối với ngành lâm nghiệp do thành lập sau nên ngành đã được đầu tư tương đối đồng bộ, phát triển hơn các ngành khác Trại cũng có vườn ươm nhân cây giông, đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu Cung cấp cây giống lâm nghiệp đáng kể cho công tác trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi chọc… Trại không ngừng mở rộng diện tích sản xuất cây lâm nghiệp
1.1.3.3 Ngành chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của trại gồm: chăn nuôi lợn, gia cầm, cá Quy mô chăn nuôi chưa lớn nhưng đã đáp ứng được nhu cầu học tập, rèn luyện tay nghề của sinh viên, thực hiện được các chuyên đề nghiên cứu khoa học của giáo viên và sinh viên đồng thời hàng năm còn cung cấp một lượng con giống tương đối lớn và sản phẩm chăn nuôi cho nhân dân quanh vùng…
Hiện nay trại chăn nuôi lợn đang nuôi dương lợn thịt và lợn nái ngoại, với quy mô ngày càng mở rộng để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu khoa học, rèn nghề cho sinh viên khoa Chăn nuôi - Thú y
- Chăn nuôi gia cầm:
Trang 14Trại chăn nuôi gia cầm vừa là mô hình sản xuất vừa là nơi học tập, nghiên cứu khoa học Năm 2013, thầy cô khoa chăn nuôi thú y cùng với nhà trường đã bỏ vốn đầu tư mới hoàn toàn mô hình chăn nuôi gà đẻ trứng thương phẩm chất lượng cao phục vụ nghiên cứu khoa học, tạo ra sản phẩm trứng, gà thịt an toàn sinh học mang thương hiệu khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Hiện nay trại có đàn gà đẻ HA và Ai Cập, tỷ lệ
đẻ đạt trên 70 % và đàn gà thịt Với sự quyết tâm của thầy và trò khoa Chăn nuôi - Thú y, Nhà trường đang đầu tư trang thiết bị để xây mới trại gia cầm với đầy đủ các hạng mục như: khu chăn nuôi gà đẻ, khu chăn nuôi gà thịt, khu nuôi giữ tập đoàn gia cầm giống gốc, khu chế biến thức ăn, khu sản xuất con giống đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một trại gà tiên tiến
- Chăn nuôi cá:
Trại thực hành thực nghiệm có hệ thống ao hồ rộng với diện tích là 8,5
ha, hệ thống cấp tiêu nước được xây dựng hoàn chỉnh, hệ thống bể đẻ, bể ương ấp trứng cá đã đáp ứng được yêu cầu học tập của sinh viên và phục vụ sản xuất Trại có đội ngũ công nhân thủy sản lành nghề, có đủ trang thiết bị thủy sản như: máy bơm, lưới, bình oxy Hàng năm trại đã cung cấp gần 25 vạn cá giống và khoảng 3 tấn cá thịt ra thị trường Trại đã tiến hành nuôi thử nghiệm cá Rô Phi đơn tính, cá Trê lai, đặc biệt nuôi thử nghiệm cá Chim Trắng nước ngọt, bước đầu cho kết quả tốt Trại còn mở lớp đào tạo công nhân kỹ thuật nuôi trồng thủy sản
Trang 15Phòng bệnh định kỳ: trước khi nuôi gia súc, gia cầm, đã được dọn vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, định kỳ tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm của trại Cụ thể, đối với gia súc tiêm phòng vaccine: tụ huyết trùng, dịch
tả, phó thương hàn, LMLM Đối với gia cầm chủng các loại vaccine: Newcastle, Gumboro, Đậu, Cúm, OVO4 Thường xuyên làm vệ sinh và định
kỳ tổng vệ sinh toàn bộ khu vực trại chăn nuôi Phát hiện và điều trị kịp thời những con ốm, xử lý những súc vật chết đúng quy định của thú y
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển của trại gia cầm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
-Quá trình thành lập và quy mô của trại: Trại gia cầm khoa Chăn
nuôi - Thú y được xây dựng lại trên nền khu trại gà cũ của trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học từ năm 2013 Vị trí:
+ Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng
+ Phía tây giáp vườn ươm khoa Lâm Nghiệp
+Phía đông giáp khu Hoa viên cây cảnh
+Phía bắc giáp khu cây trồng cạn
Trại có tổng diện tích là 11.960 m2 Bao gồm 8.960 m2 đất và 3.000 m2mặt nước Trong đó:
+ Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là 3.000 m2 Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6 m2 và2 kho rộng 40 m2, phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát Toàn bộ khu vực được rào bằng thép B40 với tổng chiều dài 220 m, đảm bảo ngăn cách với các khu vực khác
+ Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m2 được chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên + Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2 Trong đó hố sát trùng 20 m2; khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10 m2
+ Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120 m2 Trong đó có các công trình như:
Trang 1601 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20 m2
01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30 m2
01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50 m2
01 Kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót ): 20 m2
-Chức năng và nhiệm vụ của trại: xây dựng mô hình chăn nuôi gà đẻ
an toàn sinh học phục vụ cho học tập, nghiên cứu khoa họa và rèn nghề của
sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
-Tình hình sản xuất của trại: sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, trại tiến
hành đưa vào nuôi hơn 1000 gà sinh sản các giống Ai Cập và HA theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học, 800 gà thương phẩm giống Mía x Lương Phượng Ngoài ra, Trại còn nuôi khoảng gần 100 con gà các giống gà trọi, gà rừng, gà đa cựa, đa ngón nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh học và bảo tồn các giống gà này
Trang 17Trại luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lãnh đạo khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo giỏi có nhiều kinh nghiêm và các cơ quan ban ngành liên quan
Ban lãnh đạo trại thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất
và nâng cao đới sống cho cán bộ, công nhân viên của trại
Trại có đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ, nhiệt tình, năng động sáng tạo, sẵn sàng tiếp nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đặc biệt luôn có sự đoàn kết thống nhất cao
Trại gà của trung tâm thực hành thực nghiệm có vị trí gần các trung tâm khoa học kỹ thuật và trục đường giao thông là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tiếp nhận và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
1.2.2 Khó khăn
Tuy nhiên, trang trại gà đang gặp những điều kiện khó khăn:
Do mới được thành lập và nâng cấp nên trại gà không tránh khỏi những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều
Do đất đai bạc mầu, nghèo dinh dưỡng và khí hậu có một số tháng trong năm không được thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, khả năng sinh trưởng, phát triển của vật nuôi cây trồng bị hạn chế
Mặc dù trang trại đã được phòng chống dịch bệnh chặt chẽ nhưng vẫn xảy ra và tồn đọng trong các giai đoạn sinh trưởng của gia cầm
1.3 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.3.1 Nội dung thực tập tốt nghiệp
1.3.1.1 Công tác phục vụ sản xuất
- Công tác ứng dụng tiến bộ kĩ thuật vào chăn nuôi
Công tác thức ăn: Tính toán lượng thức ăn gà ăn hàng ngày
Công tác chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc toàn bộ gà của trại
Trang 18Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho vật nuôi
1.3.1.2 Công tác nghiên cứu khoa học
Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học với tên đề tài : “Đánh giá hiệu quả sử dụng của hai loại thức ăn khác nhau tới khả năng sinh trưởng của
gà thịt F1 (Mía lai Lương Phượng) tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.3.2 Biện pháp tiến hành
Theo yêu cầu của nội dung thực tập tốt nghiệp trong thời gian thực tập
tại cơ sở bản thân đề ra một số biện pháp thực hiện như sau:
Tìm hiểu kĩ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập
Tham gia tích cực vào công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia cầm
Luôn luôn chấp hành đúng và tham gia các hoạt động tại cơ sở, tiếp thu
ý kiến của thầy giáo hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với thực tế để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành hơn nữa
Áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật mới mà bản thân tôi được học và tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất
1.3.3 Nội dung phục vụ sản xuất
1.3.3.1 Công tác chăn nuôi
* Công tác chuẩn bị chuồng trại nuôi gà
Trước khi chuyển gà vào, chuồng đã được để trống 10-15 ngày và được quét dọn sạch sẽ bên trong và bên ngoài, lối đi, hệ thống cống rãnh thoát nước
nền chuồng, tường và vách ngăn được quét vôi, sau đó phun thuốc sát trùng
Tất cả các dụng cụ chăn nuôi như: máng ăn, máng uống, đèn sưởi đều được cọ rửa sạch sẽ, phun thuốc sát trùng, phơi nắng trước khi được đưa vào
chuồng nuôi
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà và tùy từng loại gà mà ta áp dụng khi nào thấy gà tản đều khi đó là nhiệt độ phù hợp Máng ăn, máng uống đều được điều chỉnh theo độ tuổi của gà, ánh sáng được đảm bảo cho gà hoạt động bình thường
Trang 19Giai đoạn úm gà con: Khi chuyển từ khu ấp trứng về chuồng nuôi chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây và cho gà uống nước ngay Nước uống cho gà phải sạch và pha B.complex + vitamin C + đường glucoza 5% cho gà uống hết lượt sau 2-3h mới cho gà ăn bằng máng
Giai đoạn này yếu tố nhiệt độ trong quây là 33-350C Từ 3 - 6 ngày tuổi nhiệt độ cần thiết là 300C sau đó nhiệt độ giảm dần theo ngày tuổi đến khi thích hợp Thường xuyên theo dõi đàn gà: Nếu gà tập trung đông, tụ đống gần
lò sưởi là hiện tượng gà thiếu nhiệt, cần tăng nhiệt độ lò Còn gà tách xa lò sưởi là nhiệt độ nóng quá phải giảm nhiệt cho phù hợp Chỉ khi nào thấy gà tản đều khi đó là nhiệt độ phù hợp Máng ăn, máng uống đều được điều chỉnh theo độ tuổi của gà, ánh sáng được đảm bảo cho gà hoạt động bình thường
Giai đoạn hậu bị: Gà nuôi sinh sản từ 6-18 tuần tuổi, giai đoạn này lượng thức ăn cho gà được xác định trong khẩu phần ăn theo các giai đoạn khác nhau (giai đoạn 6-10 tuần tuổi và từ 10-18 tuần tuổi) Ở giai đoạn này cho ăn khống chế có thể dùng 1 trong 2 phương pháp: Là cho gà 2 ngày ăn 1 ngày nhịn hoặc ngày nào cũng cho ăn theo khẩu phần khống chế Khẩu phần
ăn được xác định tùy theo khối lượng cơ thể gà gầy hay béo mà điều chỉnh phù hợp Ngày cho ăn 2 lần để giảm những ảnh hưởng xấu và stress cho đàn
gà Khi phân phối thức ăn vào máng thì trong vòng 5 phút tất cả các máng đều
có thức ăn Máng gà cho giai đoạn này cần treo cao sao cho gờ miệng máng luôn ngang với diều gà để tránh rơi vãi thức ăn, không khống chế nước uống
Sử dụng thức ăn của hãng JAPFA
Công tác quản lý đàn gà giai đoạn hậu bị: Hàng ngày theo dõi và giám sát tình trạng sức khỏe của đàn gà Khi phát hiện gà có triệu chứng, biểu hiện bệnh, tiến hành theo dõi, kiểm tra, chẩn đoán bệnh và có biện pháp điều trị bệnh kịp thời cho đàn gà Trong quá trình nuôi dưỡng tiến hành tiêm chủng các loại vaccine cho gà theo đúng lịch phòng bệnh theo quy trình kỹ thuật chăn nuôi đã quy định, thường xuyên kiểm tra và tiến hành cân khối lượng gà hàng tuần, thực hiện nghiêm ngặt chế độ chiếu sáng về thời gian và cường độ
Định kỳ thay đệm lót khô và tơi xốp
Trang 20- Đối với giai đoạn gà đẻ: Chuẩn bị đầy đủ máng ăn, máng uống cho gà theo đúng quy định, không để gà khát nước vì thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến sản lượng trứng và khối lượng trứng Nền chuồng đảm bảo luôn khô, độ dày đệm lót phải đảm bảo, ổ đẻ được đưa vào chuồng nuôi phải đủ trấu Thường xuyên bổ sung đệm lót mới và vệ sinh sạch sẽ, hạn chế gà đẻ xuống nền chuồng Định kỳ đảo đệm lót tơi đều
Thường xuyên kiểm tra loại thải gà mái đẻ kém, không đẻ Căn cứ vào
tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng hàng tuần để điều chỉnh khối lượng thức ăn cho phù hợp, ghi chép tất cả số liệu và sổ sách theo biểu mẫu để theo dõi Trứng được thu nhặt 4 lần/ngày để hạn chế trứng bị dập vỡ
* Chế độ chiếu sáng
Chế độ chiếu sáng cùng với chế độ ăn có tác dụng kích thích hay kìm hãm sự phát dục của gà sớm hay muộn hơn quy định Điều cần ghi nhớ để áp dụng cho đàn gà sinh sản đó là: Không tăng lượng thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị, không được giảm thời gian và cường độ chiếu sáng trong giai đoạn đẻ trứng Với chuồng nuôi hở nhưng có
hệ thống bạn che, cho nên việc điều chỉnh hệ thống chiếu sáng dễ dàng
1.3.3.2 Công tác thú y
* Công tác phòng bệnh cho đàn gà
Trong chăn nuôi, công tác đề phòng dịch bệnh rất quan trọng, là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi và an ninh kinh tế nông nghiệp Do vậy, trong quá trình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật thường xuyên quét dọn vệ sinh, khơi thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát trùng định kỳ, tẩy uế, khử trùng máng ăn, máng uống Trước khi vào chuồng cho gà ăn phải thay bằng quần áo lao động đã được giặt sạch, đi ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khỏe người lao động và phòng bệnh cho gia cầm Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòng bệnh theo lịch trình
Chúng tôi sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn gà thịt theo lịch sau:
Trang 21Bảng 1.1: Lịch phòng vaccine cho gà Ngày tuổi Vaccine sử dụng Phương pháp dùng
Gumboro lần 1 Nhỏ miệng 1 -2 giọt
• Bệnh cầu trùng:
- Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do các loại động vật đơn bào khác nhau
thuộc họ cocidia gây ra, ký sinh chủ yếu trên tế bào biểu mô ruột
- Triệu chứng: Qua quan sát chuồng nuôi thấy phân loãng hoặc sệt, màu socola, đôi khi có lẫn máu Mổ khám những con bị chết thấy ruột non, manh tràng bị tụ huyết Manh tràng sưng, chứa hơi
- Bệnh tích: Mào, tích, cơ bắp nhợt nhạt Mổ khám nếu là cầu trùng manh tràng thì thấy manh tràng ứ đầy máu, sưng to Nếu là cầu trùng ruột non thì tá tràng sưng to, ruột phình to từng đoạn, niêm mạc tá tràng viêm, trên bề mặt thấy các ổ tròn xám
- Điều trị: Khi đàn gà bị nhiễm cầu trùng, chúng tôi tiến hành điều trị như sau:
+ Dùng Rigecoccin: Liều trị 1g/2 lít nước uống
+ B.complex: Liều 1g/2 lít nước
+ Vitamin K: Liều 1g/2 lít nước
Cho gà uống liên tục 4 ngày thì thấy gà hoạt động và ăn uống bình thường, không thấy máu trong phân nữa Trở lại dùng thuốc với liều phòng cầu trùng, liều phòng bằng 2/3 liều điều trị
Trang 22• Bệnh CRD:
- Nguyên nhân: Do Mycoplasma gallisepticum gây ra Bệnh thường
xảy ra ở đàn gà 3 tuần tuổi và gà trưởng thành Bệnh phát triển mạnh vào thời điểm mưa phùn, độ ẩm cao
- Triệu chứng: Các triệu trứng qua quan sát gà bệnh thấy một số con thở khò khè, há hốc mồm ra để thở, gà hay cạo mỏ xuống đất, đứng ủ rũ, có con chảy nước mắt, nước mũi Khớp khuỷu sưng rất to, trong bao khớp có nhiều dịch nhầy, gà có tư thế ngồi lên khuỷu chân
- Bệnh tích: Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực
+ Mổ khám thấy xoang mũi, khí quản có nhiều dịch nhầy, túi khí viêm đục Màng phổi, màng bao tim và màng gan bị phủ lớp fibrin dày có màu trắng ngà, phù nề các khớp, xuất tiết dịch viêm ở khớp, thoái hóa bề mặt của khớp, viêm bao gân và viêm màng hoạt dịch, có hiện tượng xuất hiện những đám nhạt màu ở não
- Điều trị: Sau khi quan sát thấy các triệu chứng như trên chúng tôi chẩn đoán gà bị mắc bệnh CRD và tiến hành điều trị như sau
+ Bắt riêng những gà có biểu hiện bệnh nặng sang chuồng khác để cách
Mổ cắn đứt lông: Ở gà nuôi nhốt không được vận động, dinh dưỡng và khoáng không đủ gây nên hiện tượng gà mổ lông nhau, quanh ống chân lông bị
mổ có sắc tố tập trung tạo hình màu nâu sẫm
Trang 23Mổ cắn trên đầu: Khi ở mào, tích có vết thương là gà khác mổ cắn tiếp
Gà nuôi nhốt hay mổ cắn mào, tích lẫn nhau
Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng mổ cắn như: thiếu máng ăn, thiếu thức ăn xanh, thiếu máng uống, bị kích thích do ngoại ký sinh trùng Khi đã có một con mổ cắn nhau, đàn gà tiếp tục thói quen
đó không cần có sự kích thích nào khác
Biện pháp khắc phục, hạn chế: Thức ăn chất lượng tốt, cho ăn lượng thức ăn đủ không để gà đói lâu, cho ăn thêm rau xanh, có đầy đủ máng ăn máng uống, đảm bảo chuồng đủ độ thông thoáng, tránh ánh sáng mạnh quá gây
kích thích cho gà Khi gà bị mổ cắn bắt nhốt riêng và bôi xanh methylen vào,
không được bôi thuốc đỏ vì màu đỏ kích thích làm gà tiếp tục mổ cắn
1.3.4 Tham gia các công việc khác
Trong thời gian thực tập, ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thí nghiệm, bản thân tôi còn tham gia vào một số công việc khác như:
+ Tiêu độc, khử trùng chuồng trại và khu vực xung quanh
+ Chọn lọc và loại thải gà đẻ kém
+ Sửa chữa chuồng trại
+ Chăm sóc đàn gà thịt
Trang 24Bảng 1.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Đơi vị Số lượng
Kết quả (An toàn, khỏi)
1.4 KẾT LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.4.1 Bài học kinh nghiệm
Qua thời gian thực tập tại trại gia cầm của khoa chăn nuôi, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS.Từ
Trung Kiên, tôi đã có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn sản xuất, nâng cao kiến thức, hiểu biết thêm về nghề nghiệp của mình và bằng sự lỗ lực của bản thân
tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra
Điều quan trọng hơn là tôi rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn từ thực tiễn sản xuất như:
+ Biết cách chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý
+ Biết cách dùng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh + Biết chẩn đoán một số bệnh thông thường và biện pháp điều trị
+ Tay nghề thực tế được nâng cao rõ rệt
Có niềm tin ở chính mình, giúp tôi yêu nghề hơn, say mê với công việc, không ngừng cố gắng học hỏi để làm tốt hơn khi ra thực tiễn sản xuất
Trang 25Tôi thấy rằng việc đi cơ sở thực tập là rất cần thiết đối với bản thân tôi cũng như mỗi sinh viên trước khi ra trường
1.4.2 Tồn tại
Trong thời gian thực tập với kết quả thu được tôi thấy còn một số tồn tại sau:
- Thời gian thực tập có hạn, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên kết
quả thu được chưa cao
- Còn non về tay nghề, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc Các kiến thức được học và rèn luyện chưa được áp dụng hết vào thực tiễn
- Tôi thấy từ kiến thức trên sách vở vận dụng vào thực tế sản xuất là một quá trình dài do vậy bản thân tôi là một kỹ sư thú y trong tương lại, tôi nhận thấy cần khắc phục những khó khăn và luôn cố gắng rèn luyện vươn lên
Trang 26Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
“Đánh giá hiệu quả sử dụng của hai loại thức ăn khác nhau tới khả năng sinh trưởng của gà thịt F1 (Mía lai Lương Phượng) tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
2.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước thì đời sống của người dân được cải thiện Chính vì vậy, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân ngày càng tăng lên Đặc biệt, là nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Để đáp ứng được nhu cầu của người dân, cũng như khẳng định được vị trí của ngành nông nghiệp trên thị trường quốc
tế, trong những năm gần đây ngoài những giống gà chuyên thịt, trứng nước ta
đã nhập một số giống gà kiêm dụng lông màu như: Lương phượng, Sasso, Isa brown…để lai tạo với các giống gà trong nước nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của thịt gà để cung cấp cho thị trường những sản phẩm chất lượng cao,
an toàn và sạch
Song song với công tác giống gia cầm trong chăn nuôi thức ăn luôn là một phần quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và chất lượng sản phẩm, quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Hiện nay, trên thị trường có lưu hành rất nhiều hãng sản xuất thức ăn cho gà với các nhãn hiệu và mẫu mã khác nhau, chất lượng và khả năng hấp thu của các loại thức ăn này cũng khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của đàn gà cũng khác nhau Do đó, người chăn nuôi rất khó khăn trong lựa chọn thức ăn phù hợp cho đàn gà của mình Để có cơ sở khoa học nhằm khuyến cáo cho người chăn nuôi lựa chọn các
loại thức ăn phù hợp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả
sử dụng của hai loại thức ăn khác nhau tới khả năng sinh trưởng của gà thịt F1 (Mía lai Lương Phượng) tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi thú
y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trang 27* Mục đích của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của hai loại thức ăn tới gà F1 (Mía lai Lương Phượng)
- Hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà F1 (Mía lai Lương Phượng)
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gia cầm
Tiêu hóa ở miệng: Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Mặt trên lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về phía trong để đưa thức ăn về phía thực quản, nuốt nguyên vẹn cả thức ăn sau khi thấm một lượng nhỏ nước bọt giúp làm dính
và bôi trơn thức ăn dễ chuyển vào thực quản Các tuyến ở khoang miệng gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu là nước bọt và dịch nhầy Trong nước bọt có chưa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng đối với men tiêu hóa
Hầu trơn và có dạng ống ngắn, có vách dày nối với dạ dày cơ bằng
eo nhỏ, khối lượng 4 - 6g Thức ăn chịu tác động của dịch vị có chứa men pepsin, axit chlohdric và một số chất khác: Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, còn phía trước hầu có khe hô hấp ở thanh quản
Thực quản: Thực quản phình to thành diều Diều gà hình túi, trong diều
có thể chứa được 100 - 120g thức ăn Trong diều thức ăn được thấm ướt chịu tác động của nhiệt trương lên làm mềm và một phần hydrat cacbon được phân hủy dưới tác dụng của men amylaza
Thức ăn từ thực quản xuống dạ dày rất nhanh
Dạ dày: Từ diều, thức ăn được đưa vào dạ dày tuyến Dạ dày tuyến được cấu tạo từ cơ nhầy musin Thức ăn sau khi được làm ướt sẽ được chuyển đến dạ dày cơ Đây là một túi có dạng hình đĩa cấu tạo từ lớp cơ rất dày và khoẻ Dạ dày
cơ không tiết dịch tiêu hoá mà chỉ có chức năng nghiền nhỏ và trộn đều thức ăn với dịch vị của dạ dày tuyến Dưới tác dụng của men dịch vị dạ dày Protein được phân giải thành peptone và các axit amin
Ruột non: Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào ruột non, tại đây có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ làm giảm nồng độ axit tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của men phân giải protein và gluxit
Trang 28trong thức ăn được chuyển hóa tạo thành những chất dễ hấp thu Ở ruột, gluxit được phân giải thành các monosacarit nhờ men amylaza của dịch tuỵ
và một phần của dịch ruột, protit được phân giải đến pepton và polipeptit, tiếp
đó các men proteolyse của dịch tuỵ sẽ phân giải thành các axit amin, lipit thì được chuyển hoá thành glyxerin và các axit béo nhờ men lipaza Chất xơ được tiêu hoá một lượng nhỏ ở manh tràng nhờ quá trình hoạt động của các vi khuẩn (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [4])
Quá trình tiêu hoá trong ruột bắt đầu ở tá tràng và kết thúc ở hồi tràng Tại đây hoạt động tiêu hoá diễn ra 85 - 95% Ở gà, hấp thu các chất dinh dưỡng từ bộ máy tiêu hoá vào máu và lympho đều tiến hành chủ yếu ở ruột non, bao gồm các sản phẩm phân giải protit, lipit, gluxit, khoáng, vitamin và nước Chính vì vậy, khi gà mắc bệnh cầu trùng sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến cơ thể gà Ở manh tràng quá trình phân giải các chất trên còn tiếp tục diễn ra nhờ men ở đường ruột tồn tại và do vi sinh vật tiết ra nhưng rất ít Thức ăn được giữ lại trong đường tiêu hoá của gà trong thời gian ngắn Ở gà con thức ăn đi qua đường tiêu hoá hết 4 - 5 giờ Với gà trưởng thành
là 7 - 8 giờ Chính đặc điểm này làm cho gà sau khi nuốt phải noãn nang cầu trùng sẽ cùng thức ăn di chuyển nhanh xuống đường tiêu hóa, xuống ruột non, manh tràng, trực tràng, nên quá trình xâm nhập của cầu trùng vào biểu mô ruột xảy ra rất nhanh, vòng đời của cầu trùng ngắn (5 - 7 ngày)
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
* Khái niệm sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật trưởng thành Để có được số đo chính xác
về sinh trưởng ở từng thời kì không phải dễ dàng (Chambers, 1990 [15])
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đuờng, 1992 [10] cho biết: theo H Driesch, 1990 thì sự tăng thể khối của cơ thể là do các tế bào trong cơ thể tăng về số lượng và kích thước Theo tài liệu của J.D chambers, 1990 [15],thì Mozan định nghĩa sinh trưởng là tổng hợp sinh trưởng của các bộ phận như thịt xương, da
Trang 29Ganer (1992) cho rằng sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường 1992 [10])
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa
là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận
và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền Sinh trưởng chính là sự tích lũy dần dần các chất, chủ yếu là protein nên tốc độ và khối lượng tích lũy các chất phụ thuộc vào tôc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [10])
Đứng về khía cạnh sinh học các nhà khoa học cho rằng sự sinh trưởng được xem như là sự tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu tăng trưởng Tuy nhiên, tăng trưởng không đông nghĩa với tăng khối lượng, sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng và các chiều của các tế bào mô cơ
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất: 42-45% khối lượng cơ thể Khối lượng cơ thể con trống luôn lớn hơn khối lượng cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm) Giai đoạn 70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g (Ngô Giản Luyện, 1994 [9])
Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trưởng gồm hai quá trình: Tế bào sinh sản và tế bào phát triển Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản suất đều được hoàn chỉnh dần trong suốt quá trình sinh trưởng Các đặc tính này tuy là một sự tiếp tục thừa hưởng các tính di truyền của bố mẹ, nhưng hoạt động mạnh hay yếu do tác động của môi trường
Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con Để xác định khối lượng cơ thể ở khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng
Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số đánh giá sự sinh trưởng một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được nhưng sự khác nhau về tỷ
lệ sinh trưởng của các thành phần trong khoảng thời gian của độ tuổi