NGUYỄN THỊ UYÊN Tên đề tài: “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC AMINOMIX – POLYVIT TRONG PHÒNG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN TỪ GIAI ĐOẠN 21 NGÀY TUỔI ĐẾN 56 NGÀY TUỔI TẠI TRẠM TR
Trang 1NGUYỄN THỊ UYÊN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC
AMINOMIX – POLYVIT TRONG PHÒNG HỘI CHỨNG
TIÊU CHẢY Ở LỢN TỪ GIAI ĐOẠN 21 NGÀY TUỔI ĐẾN 56 NGÀY TUỔI TẠI TRẠM TRUYỀN GIỐNG
HUYỆN LỤC NGẠN, BẮC GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khoá học : 2010 - 2014 Giáo viên hướng dẫn : GS.TS Từ Quang Hiển
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2Qua quá trình học tập lý thuyết tại trường và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, em đã hoàn thành bản khóa luận này Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TS Từ Quang Hiển và TS Từ Trung Kiên đã trực tiếp tận tình chỉ bảo, hướng dẫn
em hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên tại trạm Truyền giống gia súc huyện Lục Ngạn đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt qua trình thực tập tại trạm
Một lần nữa em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong nhà trường Các bạn bè đồng nghiệp lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe cùng mọi điều tốt đẹp
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Uyên
Trang 3Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn trong quá trình học tập nghiên cứu của mỗi sinh viên của các trường Đại học nói chung và Trường Đại học Nông Lâm nói riêng Với phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn” Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn rất cần thiết giúp sinh viên có điều kiện tiếp cận, nắm bắt thực tế, củng cố những kiến thức đã học, đồng thời áp dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, lao động nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, phong cách làm việc đúng đắn sáng tạo khoa học, đáp ứng được nhu cầu thực tế sản xuất, góp phần vào sự nghiệp phát triển Nông nghiệp nói chung và ngành Chăn nuôi thú y nói riêng
Xuất phát từ cơ sở trên, được sự giúp đỡ của Nhà trường, các thầy
cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y, trạm Truyền giống huyện Lục Ngạn, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo GS.TS Từ Quang Hiển -
Bộ môn Cơ Sở - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của chế phẩm Amonimix – polyvit đến sinh trưởng và phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn giai đoạn từ 21 đến 56 ngày tuổi tại trạm Truyền giống huyện Lục Ngạn, Bắc Giang”
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song thời gian thực hiện còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi sơ suất Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn hiện hơn
Trang 4Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 2
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 3
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển trạm 5
1.2 Đánh giá chung 7
1.2.1 Thuận lợi 8
1.2.2 Khó khăn 8
1.3 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ 8
1.3.1 Nội dung phục vụ sản xuất 8
1.3.2 Phương pháp tiến hành 9
1.3.3 Kết quả phục vụ sản xuất 9
1.4 Kết luận và đề nghị 14
1.4.1 Kết luận 14
1.4.2 Đề nghị 15
Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 17
2.1 Đặt vấn đề 17
2.2 Tổng quan tài liệu 19
2.2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu chuyên đề 19
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.3.2 Nội dung nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi 31
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.4 Kết quả và phân tích kết quả 37
Trang 52.4.2 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy 38
2.4.3 Khối lượng của lợn qua các kỳ cân 39
2.4.4 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 40
2.4.5 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 42
2.4.6 Tiêu tốn thức ăn/ 1kg tăng khối lượng 44
2.4.7 Chi phí thức ăn và thuốc thú y cho lợn thí nghiệm 45
2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 46
2.5.1 Kết luận 46
2.5.2 Tồn tại 47
2.5.3 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 7Bảng 1.1: Cơ cấu đàn lợn của trạm 6
Bảng 1.2: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 10
Bảng 1.3: Lịch tiêm phòng cho đàn lợn của trạm 10
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 32
Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 33
Bảng 2.3: Ảnh hưởng của chế phẩm Aminomix - polyvit đến khả năng phòng tiêu chảy ở lợn 37
Bảng 2.4: Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy 38
Bảng 2.5: Khối lượng của lợn qua các kỳ cân 39
Bảng 2.6: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) 41
Bảng 2.7: Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) 43
Bảng 2.8: Tiêu tốn thức ăn/ 1kg tăng khối lượng (kg) 44
Bảng 2.9: Chi phí thức ăn và thuốc thú y cho 1kg tăng khối lượng 45
Trang 8Hình 2.1: Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 40 Hình 2.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 42 Hình 2.3: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 43
Trang 9Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Trạm Truyền giống huyện Lục Ngạn thuộc Công ty cổ phần giống gia súc Bắc Giang, nằm trên địa bàn xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, ngay cạnh vườn quả Bác Hồ, cách trung tâm huyện 3 km về hướng đông Phía đông giáp thị trấn Chũ, xã Trù Hựu
Phía tây giáp huyện Lục Nam
Phía nam giáp xã Phượng Sơn và thị trấn Chũ
Phía bắc giáp xã Kiên Lao
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Lục Ngạn nằm trọn trong vùng Đông Bắc, Việt Nam nên chịu ảnh hưởng vùng nhiệt đới gió mùa, trong đó có tiểu vùng khí hậu mang nhiều nét đặc trưng vùng miền núi
Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,5oC, vào tháng 6 cao nhất là 27,8oC, tháng 1 và tháng 2 nhiệt độ thấp nhất là 18,8oC
Độ ẩm không khí trung bình là 81%, cao nhất là 85 % và thấp nhất là 72% Gió bão: là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, vào mùa đông tốc độ gió bình quân 2,2 m/s, mùa hạ có có gió mùa đông nam, là vùng ít chịu ảnh hưởng của bão
Đánh giá chung về điều kiện khí hậu thời tiết có thể thấy Lục Ngạn là vùng có lượng mưa thấp, ít sương muối, mưa xuân đến muộn hơn, ẩm độ không khí không quá cao, lượng bức xạ nhiệt trung bình, so với các vùng khác trong tỉnh Bắc Giang, Lục Ngạn thường có lượng mưa thấp hơn
Trang 101.1.1.3 Điều kiện đất đai
Lục Ngạn có tổng diện tích đất tự nhiên là 101.223,72 ha Theo kết quả điều tra bổ sung gần đây nhất cho thấy đất Lục Ngạn có 3 nhóm đất chính sau: nhóm đất phù sa sông suối, nhóm đất bùn lầy, nhóm đất feralit
1.1.1.4 Điều kiện giao thông
Lục Ngạn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, nằm trên trục đường Quốc lộ 31 Trạm được lợi thế giao thông thuận tiện sát ngay cạnh đường Quốc lộ 31 là trục đường chính chạy qua huyện Lạng Giang - Lục Nam - Lục Ngạn - Sơn Động, thuận lợi cho các phương tiện xe cơ giới, giao lưu buôn bán giữa trạm và nhân dân quanh vùng
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Tình hình kinh tế
Huyện Lục Ngạn có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động: công nghiệp, nông – lâm nghiệp, dịch vụ, tạo mối quan hệ hữu cơ hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển Trong đó ngành nông nghiệp vẫn chiếm 60%, bao gồm cả ngành trồng trọt và chăn nuôi
1.1.2.2 Tình hình xã hội
- Dân cư:
Năm 2013, dân số trung bình của huyện là 204.041 người Mật độ dân số bình quân 202 người/km2, dân số nông thôn chiếm 96,63% và dân số thành thị 3,37%, điều đó chứng tỏ mức đô thị hoá, phát triển công nghiệp và dịch vụ
ở Lục Ngạn còn ở mức rất thấp
- Y tế:
Trên địa bàn của huyện có bệnh viện đa khoa huyện Lục Ngạn, các xã thì gồm có các trạm y tế xã, hệ thống y tế cơ sở hoạt động khá hiệu quả Các bác sỹ và cán bộ y tế luôn tận tụy với công việc, thường xuyên quan tâm chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân Mọi trẻ em dưới 6 tuổi đều được tiêm phòng vaccine đầy đủ
Trang 11- Văn hóa:
Do nhận thức nhân dân được nâng cao, đời sống được cải thiện, chương trình kế hoạch hóa gia đình phát triển rõ rệt, tỷ lệ tăng dân số của huyện tương đối thấp, các tệ nạn xã hội hầu hết được đẩy lùi Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phương tiện nghe nhìn như báo đài, ti vi…Đây là điều kiện thuận lợi để người dân trọng huyện nắm bắt kịp thời chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các thông tin kỹ thuật phục vụ sản xuất, đời sống hàng ngày Ngoài ra huyện còn tổ chức các hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, …
- Giáo dục:
Huyện luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đạo tạo, luôn đẩy mạnh các hoạt động tổ chức chăm lo cho hoạt động giáo dục, cho nên những năm gần đây, giáo dục có nhiều khởi sắc Toàn huyện có 108 trường bao gồm mầm non, tiểu học, trung học, phổ thông, dạy nghề
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1 Về nghành trồng trọt
Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng và là nguồn thu chủ yếu của nhân dân Do vậy, sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và phát triển Cây trồng chủ yếu và mũi nhọn trên địa bàn huyện là cây vải với diện tích khoảng 7500 ha, và đang khuyến khích phát triển cam Đường canh, phát triển cây ăn quả theo hướng nâng cao chất lượng, tăng giá trị sản phẩm, khai thác tốt các lợi thế của địa phương Ngoài ra, người dân còn thực hiện trồng các cây ngắn ngày, cây hoa màu, thâm canh tăng vụ để đạt được năng suất hiệu quả cao
Về lâm nghiệp: Với đặc điểm của vùng trung du miền núi, do đó diện tích đất đồi núi khá lớn Huyện đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân nên diện tích trồng cây lâm nghiệp ngày càng tăng, phủ xanh gần hết đất trống, đồi trọc
Trang 121.1.3.2 Về nghành chăn nuôi
Cùng với ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng đang phát triển không ngừng Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho cây trồng, đồng thời cung cấp thực phẩm và thu nhập không nhỏ cho các hộ gia đình
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi ở huyện vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp, sản phẩm hàng hóa đưa ra thị trường còn ít Nhưng trong những năm gần đây, dưới sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, người dân đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng số hộ sản xuất có quy mô nhỏ, sản phẩm chăn nuôi từng bước được nâng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường, cụ thể như sau: + Trâu bò: Tổng đàn trâu có khoảng 14489 con, bò khoảng 2810 con, trong đó chủ yếu là trâu bò cày kéo Hình thức chăn nuôi là tận dụng các bãi thả tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, cho nên thức ăn cung cấp cho trâu bò chưa thật sự đầy đủ, cả số lượng và chất lượng Việc dự trữ các loại thức ăn cho trâu bò vào vụ đông chưa được quan tâm đầy đủ, vì vậy về mùa đông trâu bò thường có sức khỏe kém nên hay mắc bệnh Chuồng trại và công tác vệ sinh thú y chưa được chú trọng nhiều Công tác tiêm phòng chưa triệt để, nên trâu bò hay mắc các bệnh ký sinh trùng và một số bệnh khác + Lợn: Tổng đàn lợn của huyện có 131409 con, hầu hết các hộ dân đều chăn nuôi lợn, nhưng số lượng còn ít, thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt: lúa, ngô, khoai, sắn
vì vậy năng suất chăn nuôi lợn chưa cao Tuy nhiên, một số gia đình mạnh dạn đầu tư vốn chăn nuôi, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và chăn nuôi như sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời gian chăn nuôi, tăng năng suất đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Công tác giống lợn đã được quan tâm, nhiều hộ gia đình chăn nuôi lợn nái Móng Cái hay nái F1(Móng Cái x Landrace) hoặc nái ngoại thuần để chủ động con giống và cung cấp một phần sản phẩm ra thị trường Ngoài ra, trên địa bàn huyện có trạm Truyền giống huyện Lục Ngạn cung cấp con giống cho thị trường trong và ngoài huyện
Trang 13+ Gia cầm: Trên toàn huyện hiện có 1,779 triệu con Nhìn chung chăn nuôi gia cầm trong toàn huyện Lục Ngạn khá phát triển, chủ yếu chăn nuôi gà, vịt theo phương thức chăn thả tự nhiên và bán chăn thả Bên cạnh đó một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn xây dựng các trang trại quy mô từ 500 – 10000 con, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đưa năng suất lên cao + Công tác thú y: Công tác thú y đóng vai trò quan trọng, then chốt trong chăn nuôi, nó quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi, đặc biệt trong điều kiện chăn nuôi quảng canh Ngoài ra, nó có ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của người dân Vì vậy, công tác thú y luôn được ban lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm, chú trọng như:
Tuyên truyền lợi ích phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi
Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm trên địa bàn
Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở
Theo dõi tình hình diễn biến dịch bệnh để kịp thời có phương án chỉ đạo
1.1.4 Quá trình thành lập và phát triển trạm
1.1.4.1 Cơ cấu tổ chức của trạm
Trạm Truyền giống huyện Lục Ngạn được thành lập ngày 15 tháng 11 năm 1996 thuộc Công ty cổ phần giống chăn nuôi Bắc Giang với cơ cấu tổ chức như sau:
Trạm trưởng : 01 người Thủ kho : 01 người Cán bộ kỹ thuật : 01 người Công nhân : 02 người
Kế toán : 01 người Nhân viên giao hàng : 02 người
Có thể nói đội ngũ cán bộ công nhân viên của trạm là đội ngũ năng động
có kỹ thuật và trách nhiệm với công việc
* Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất của trạm bao gồm:
Trang 14Chuồng lợn nái : 01 dãy
Chuồng lợn hậu bị : 01 dãy
Kho thức ăn, vật liệu : 01 kho
* Nhiệm vụ của trạm:
Lưu giữ các giống lợn được nhập về huyện
Nuôi khảo nghiệm những giống lợn mới, sản xuất con giống tới tận tay người chăn nuôi
Sản xuất một lượng tinh lớn cung cấp cho người chăn nuôi trong huyện cũng như những vùng xung quanh để làm tươi máu đàn lợn, nâng cao chất lượng chăn nuôi
Áp dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi lợn cho người dân Ngoài ra, trạm còn cung cấp số lượng lớn lợn thịt ra thị trường
1.1.4.2 Tình hình sản xuất của trạm
Hiện nay cơ cấu đàn lợn của trạm đa dạng và được trình bày qua bảng sau:
Bảng 1.1: Cơ cấu đàn lợn của trạm
Nội
60 con
2 con
Nội
85 con
20 con
Trang 15Công tác nuôi dưỡng:
Phương thức nuôi dưỡng chính ở đây là chăn nuôi theo hướng công nghiệp với kiểu chuồng hai mái, máng ăn, máng uống tự động, kết cấu trong chuồng rất tiện lợi cho công việc vệ sinh hàng ngày Về thức ăn, trạm sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên của Công ty TNHH Cargill Việt Nam với các dạng khác nhau đáp ứng cho từng loại lợn ở các giai đoạn khác nhau
Công tác thú y:
Trạm thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y nhằm ngăn chặn dịch bệnh xảy ra Vệ sinh thú y luôn được cán bộ, công nhân viên của trạm chú trọng vì vệ sinh thú y sẽ nâng cao sức đề kháng không đặc hiệu cho đàn lợn Cùng với công tác vệ sinh ăn uống, vệ sinh sinh sản thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được quan tâm, thực hiện nghiêm túc Hàng ngày, chuồng trại được vệ sinh sạch sẽ, máng ăn, nền chuồng được quét dọn 2 lần/ ngày Đảm bảo chuồng trại thoáng mát về mùa
hè, ấm áp về mùa đông
Phòng bệnh:
Do hình thức sản xuất của trạm đa dạng, cho nên việc cung cấp các sản phẩm ra thị trường của trạm rất rộng đến với người tiêu dùng Nhận thức được điều đó, công tác phòng bệnh bằng vaccine luôn được cán bộ trạm coi trọng và đặt lên hàng đầu Tiêm phòng vaccine là phương pháp tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn Trong quy trình phòng bệnh, trạm đã thực hiện tiêm vaccine phòng một số bệnh phổ biến và bệnh bắt buộc cho đàn lợn như Dịch
tả, LMLM theo định kỳ
1.2 Đánh giá chung
Qua điều tra tình hình thực tế sản xuất của trạm lợn chúng tôi có một số nhận định như sau:
Trang 161.2.1 Thuận lợi
Đội ngũ cán bộ khoa học, công nhân viên có kinh nghiệm, năng động trong sản xuất, luôn có tinh thần tự rèn luyện nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn luôn sẵn sàng tiếp nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đặc biệt luôn có sự đoàn kết thống nhất cao
Trạm luôn nhận được sự quan tâm của huyện cũng như công ty và được
hỗ trợ kinh phí của các đơn vị để xây dựng, phát triển trạm trở thành mô hình sản xuất kiểu mẫu, phục vụ cho công tác sản xuất phục vụ bà con nông dân Trạm nằm gần trục đường chính chạy qua các huyện là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tiếp nhận và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Những khó khăn trên đã ảnh hưởng tới tốc độ phát triển sản xuất của trạm
1.3 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.3.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Để đảm bảo tốt nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp tôi đã căn cứ vào kết quả điều tra và mục đích bản thân trong thời gian này Từ đó đề ra nội dung công việc phải hoàn thành như sau:
Tham gia nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn
Tiêm phòng dịch bệnh cho đàn lợn của trạm
Chẩn đoán và điều trị bệnh
Phun thuốc sát trùng, rắc vôi bột, tẩy giun sán cho đàn lợn
Trang 17Tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học trên đàn lợn
Tham gia vào các công tác khác
1.3.2 Phương pháp tiến hành
Để thực hiện tốt các nội dung trên, trong thời gian tiến hành đề tài tôi đã
đề ra các biện pháp thực hiện như sau:
Lên kế hoạch phù hợp với nội dung thực tập và tình hình sản xuất của trại lợn
Đi sâu đi sát vào thực tiễn sản xuất tại cơ sở
Luôn bám sát cán bộ kỹ thuật, công nhân của trạm để học hỏi về kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tế, tiếp thu những ý kiến đóng góp của mọi người xung quanh
Thường xuyên xin ý kiến chuyên môn của thầy giáo hướng dẫn
Nhiệt tình, khiêm tốn học hỏi, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn để nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức chuyên môn
Xác định cho mình động lực làm việc đúng đắn, chịu khó học hỏi từ cán
bộ công nhân viên trong trại lợn, không ngại khó khăn vất vả
1.3.3 Kết quả phục vụ sản xuất
1.3.3.1 Kết quả trong công tác chăn nuôi
Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng:
Công tác vệ sinh chăn nuôi là một trong những khâu quan trọng nó quyết định rất lớn đến thành quả trong chăn nuôi Nó bao gồm tổng hợp nhiều yếu
tố không khí, đất, nước, chuồng trại… hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này nên trong suốt quá trình thực tập tôi đã cùng công nhân của trạm thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, quan tâm đến tiểu khí hậu chuồng nuôi, tham gia quét dọn chuồng trại, vệ sinh cống rãnh thoát nước để tránh mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài vào khu vực chăn nuôi
Trang 18Bảng 1.2: Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi
Bảng 1.3: Lịch tiêm phòng cho đàn lợn của trạm
Loại lợn Tuổi lợn Vaccine/
28 ngày Thuốc trị KST Nội, ngoại KST
Mycoplasma (Suyễn) Sau
đẻ 2 tuần Dịch tả lợn Dịch tả lợn Dịch tả ngoại Lợn đực
Trang 19Tôi đã cùng cán bộ kỹ thuật của trạm tiêm phòng các loại vaccine và kết quả đều đạt 100% an toàn
* Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Chẩn đoán kịp thời và chính xác là việc làm hết sức quan trọng, mang lại hiệu quả điều trị cao, giúp cho con vật nhanh chóng hồi phục, giảm tỷ lệ chết, giảm thời gian dùng thuốc Do vậy, giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Hàng ngày, tôi cùng cán bộ kỹ thuật theo dõi, quan sát tất cả các chuồng, phát hiện những biểu hiện bất thường Khi mới mắc bệnh, lợn không biểu hiện triệu chứng điển hình, thường thấy con vật ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt
Do vậy, để chẩn đoán chính xác không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài, mà còn cần phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của cán bộ kỹ thuật Trong thời gian thực tập tại trạm, đây là dịp quan trọng để tôi thực hành những gì đã được học tại trường Chúng tôi đã tiến hành điều trị và thu được những kết quả như sau:
+ Hội chứng hô hấp ở lợn
Triệu chứng: Lợn mệt mỏi, hay nằm, chán ăn, bụng hóp, tần số hô hấp tăng, thở giật cục, thở thể bụng, thân nhiệt tăng, ho, chảy nước mắt, chảy nước mũi
Điều trị: dùng ganadexil enrofloxacina 5 % tiêm bắp, liều 0,5ml/10kg thể trọng/ngày Hoặc dùng bio genta-tylosin, tiêm bắp, liều 1ml/20kg thể trọng/ ngày Các thuốc đều dùng liên tục trong 3-5 ngày
Navet-Analgin C: 1ml/10-15kg thể trọng/ngày có tác dụng giảm đau, hạ sốt, tăng sức đề kháng
MD-Bromhexin có tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho
B complex, vitamin C có tác dụng tăng cường sức đề kháng
Kết quả: điều trị 49 con, khỏi 47 con đạt tỷ lệ 95,92 %
Trang 20+ Hội chứng tiêu chảy ở lợn
Nguyên nhân: Bệnh do vi khuẩn đường tiêu hoá gây ra, do thức ăn kém chất lượng, nuôi dưỡng quản lý chưa thích hợp, do khí hậu thay đổi, nhất là khi trời lạnh và độ ẩm cao
Triệu chứng: Lợn ỉa chảy liên tục kém ăn, mệt mỏi, có con bụng trướng
to, phân lỏng mùi hôi khắm, hậu môn dính phân be bét
Điều trị: Chúng tôi thường dùng một số thuốc sau:
Enroflox 10 % hoặc pneumotic (thuốc tiêm): Liều dùng 1ml/10 - 12 kg thể trọng/lần/ngày Kết hợp với các loại thuốc điện giải như B complex, vitamin C
Spectime (thuốc tiêm): liều dùng 1ml/10 - 12 kg thể trọng/lần/ngày Dùng liên tục 3 - 5 ngày Những ngày đầu nên dùng liều tấn công bằng cách tiêm
2 lần/ngày Kết hợp với các loại thuốc điện giải như B complex, vitamin C Nhận xét: Bệnh tiêu chảy ở lợn là một bệnh phổ biến của trạm Bệnh
do nhiều nguyên nhân gây nên nhưng theo tôi là do chuồng trại ẩm thấp kém thông thoáng Kết quả điều trị 159 con bị tiêu chảy thì khỏi 155 con đạt 97,48 %
Điều trị: Dùng thuốc:
Tobra - tyl: 1ml/10kg thể trọng/ngày Tiêm bắp liên tục 3 - 5 ngày
Trang 21Hoặc vimelinspec: 1ml/10kg thể trọng/ngày Tiêm bắp liên tục 3 - 5 ngày Kết hợp diclofen để điều trị viêm, giảm đau, giảm sốt Dùng tiêm bắp, điều trị từ 1-3 ngày với liều 1ml/10kg thể trọng/ ngày
Bổ sung thêm vitamin ADE để trợ lực và tăng sức đề kháng
Ở trại lợn bệnh viêm khớp là một bệnh hiếm xảy ra Trong quá trình thực tập chỉ có 5 trường hợp lợn mắc bệnh, điều trị khỏi 4 con đạt 80%
+ Bệnh ghẻ
Nguyên nhân: Do là loại ghẻ ngứa Sarcoptessuis gây nên, kèm theo viêm
da mãn tính với triệu chứng ngứa, hình thành các nếp nhăn và vẩy dầy Chúng đào hang dưới da, ăn tế bào biểu bì và dịch tế bào, ở nơi ghẻ đào hang có biểu hiện ngứa, da bì đỏ, thân nhiệt tăng Nếu không điều trị kịp thời da sẽ dầy nên, mất đàn tính dễ vỡ và bị dồn thành nếp, lông rụng dần, dẫn đến da bị sừng hóa Đôi khi quan sát thấy bị ghẻ toàn thân, trong trường hợp này lợn giảm ăn, gầy, chậm lớn
Điều trị: Dùng ivermectin liều 1ml/5kg thể trọng/ngày tiêm dưới da 1 lần, 3 tuần sau tiêm nhắc lại nếu cần Vệ sinh dưới da lợn và bôi thuốc dimethyl photalate 40% hay dung dịch dipterex 1% sát trùng vùng ghẻ Có 7 con mắc bệnh, điều trị khỏi 6 con đạt 85,71%
1.3.3.3 Công tác khác
Ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng phòng trị bệnh cho lợn, chúng tôi còn tham gia vào một số công việc khác như:
Chăm sóc, theo dõi tình hình sức khỏe của đàn lợn
Thiến lợn đực, lợn úng do dân mang đến và lợn loại thải của trạm
Khâu ô úm cho lợn con, đỡ lợn đẻ Tiêm bổ sung dextran-Fe cho lợn con Chuyển lợn qua các ô chuồng, cân bán, nhập lợn
Trang 22Tẩy nội, ngoại ký sinh trùng cho lợn
Trộn chế phẩm sinh học Aminomix – polyvit trong phòng hội chứng
tiêu chảy
Bảng 1.4: Nội dung kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Số lượng
(con)
Kết quả
Số lượng (con)
Tỷ lệ (%)
Qua thời gian thực tập tại trạm Truyền giống gia súc huyện Lục Ngạn được
sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo trạm cùng với các cán bộ kỹ thuật, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, đã tạo điều kiện tốt cho tôi được vận dụng những kiến thức đã học ở nhà trường vào thực tiễn sản xuất cũng
Trang 23như nghiên cứu khoa học Từ đó giúp tôi củng cố thêm và nâng cao kiến thức cho mình, hiểu biết hơn về chuyên ngành của mình Hơn nữa tôi cũng rèn luyện cho mình tác phong làm việc của một cán bộ kỹ thuật, biết cách quản lý chăn nuôi, cũng như tổ chức làm việc trong một trại chăn nuôi
Qua thời gian thực tập, được tiếp xúc với thực tiễn sản xuất, tôi đã thấy mình trưởng thành hơn rất nhiều, rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm cho bản thân, biết cách vận dụng quy trình chăn nuôi, quy trình sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn lợn, chẩn đoán một số bệnh thường xảy ra trên đàn lợn
và các phương pháp điều trị đúng Có được những kiến thức đó sẽ tạo điều kiện tốt cho tôi trong quá trình làm việc và công tác sau này
Cũng qua thời gian trên, tôi nhận thấy từ lý thuyết đến thực tế còn một khoảng cách khá dài, nếu chỉ học không thôi thì chưa đủ mà học còn cần phải biết, biết nhưng phải làm được, như thế mới có thể đảm đương được vai trò của một người cán bộ kỹ thuật Đồng thời, từ trong thực tiễn có rất nhiều điều mình chưa biết, cần phải học hỏi thêm từ những người đi trước, từ bạn bè đồng nghiệp; thường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu những kiến thức mới, để không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn của mình
1.4.2 Đề nghị
Trong quá trình đi sâu vào thực tiễn sản xuất tại trạm, tôi nhận thấy có một số mặt tồn tại như:
Một số dãy chuồng chưa đảm bảo chỉ tiêu kỹ thuật về vệ sinh thú y, chưa
có chuồng để cách ly lợn ốm; vật liệu phục vụ chăn nuôi còn thiếu, chưa cung cấp kịp thời theo yêu cầu của công việc
Việc sử dụng kháng sinh phải được theo dõi chặt chẽ, phải thường xuyên đổi thuốc để tránh hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất của trạm, bằng những hiểu biết của mình tôi có một số đề nghị sau nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của trạm:
Trang 24Công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y cần được quan tâm hơn nữa để nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Cán bộ phụ trách kỹ thuật cần hướng dẫn chu đáo và theo dõi chi tiết việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh nhằm mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí
Cần đảm bảo vấn đề vệ sinh phòng bệnh, cần có hố sát trùng ở trước mỗi dãy chuồng để đảm bảo vệ sinh phòng dịch
Trang 252.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi thú y cũng đang ngày một phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng đàn vật nuôi, góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội Ngành chăn nuôi đang có xu hướng trở thành ngành quan trọng nhất của ngành sản xuất nông nghiệp,
nó góp phần nâng cao thu nhập của người chăn nuôi và thúc đẩy nền kinh
tế nước ta phát triển
Trong ngành chăn nuôi thì chăn nuôi lợn là một ngành có truyền thống lâu đời, phổ biến của nhân dân ta và đem lại hiệu quả kinh tế cao Chính vì vậy, trong những năm qua, được sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì ngành chăn nuôi lợn đã đạt được nhiều thành tựu và đang có xu hướng chuyên môn hoá sản xuất, chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại ngày càng phát triển và phổ biến
Tuy nhiên, trong chăn nuôi muốn đạt hiệu quả kinh tế cao thì ngoài các vấn đề về con giống, công tác dinh dưỡng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng thì công tác thú y là yếu tố rất quan trọng không thể thiếu trong ngành chăn nuôi Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất giúp chúng ta nâng cao hiệu quả chăn nuôi, đề phòng xử lý và khống chế dịch bệnh Ngoài ra, đời sống của người dân đang ngày một phát triển thì những đòi hỏi về nhu cầu sử dụng thực phẩm sạch là vấn đề mà xã hội
Trang 26đang quan tâm Do đó, ngành chăn nuôi ngoài tăng về số lượng đàn vật nuôi thì chất lượng thực phẩm cũng cần được cải thiện và nâng cao, qua
đó đòi hỏi ngành chăn nuôi cần có biện pháp hợp lý để đáp ứng nhu cầu của xã hội
Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm hàng năm vẫn xảy ra hết sức phức tạp: bệnh lợn nghệ, bệnh sẩy thai truyền nhiễm và gần đây nhất là dịch cúm lợn, bệnh tai xanh… gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi Trong
đó cũng phải kể đến hội chứng tiêu chảy của lợn Bệnh lây lan mạnh, xảy ra ở mọi trang trại, mọi vùng miền, mọi giống lợn Mầm bệnh tồn tại trong cơ thể lợn rất lâu làm cho việc phòng trị bệnh gặp rất nhiều khó khăn, chi phí điều trị lớn, thời gian và liệu trình điều trị kéo dài, tỷ lệ lợn chết cao, giảm khả năng tăng trọng của đàn lợn
Aminomix - polyvit là một chế phẩm sinh học đã được sử dụng phổ biến trong nông nghiệp, nhất là trong chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam việc ứng dụng Aminomix - polyvit chưa nhiều, nó mới chỉ biết đến với vai trò kích thích sự tiêu hoá và tăng trọng ở lợn
Để giảm bớt thiệt hại do hội chứng tiêu chảy gây ra ở lợn và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm Aminomix - polyvit chúng tôi tiến hành đề tài
với nội dung: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Aminomix – polyvit trong phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn từ giai đoạn 21 ngày tuổi đến
56 ngày tuổi tại trạm Truyền giống huyện Lục Ngạn, Bắc Giang”
Mục đích nghiên cứu đề tài:
- Xác định hiệu quả của chế phẩm Aminomix - polyvit đến khả năng phòng bệnh tiêu chảy ở lợn
- Xác định hiệu quả của chế phẩm Aminomix - polyvit đến khả năng tăng trọng của lợn
Trang 27Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
- Góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác phòng bệnh cho lợn Góp
phần phát triển ngành chăn nuôi lợn
- Kết quả của đề tài khuyến cáo bổ ích cho các tập thể, hộ gia đình, các
cá nhân chăn nuôi lợn
- Góp phần nâng cao thu nhập cho trang trại chăn nuôi, hộ nông dân, phát triển kinh tế xã hội địa phương
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu chuyên đề
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh trưởng phát dục của lợn con giai đoạn 21 ngày tuổi đến 56 ngày tuổi
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính
Theo Trần Đình Miên (1975) [6] đã khái quát: Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, bề ngang, chiều dài, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức cơ thể luôn hoàn thiện các chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Sinh trưởng, phát dục có mối quan hệ mật thiết không tách rời nhau và ảnh hưởng hỗ trợ nhau Đó là 2 quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể gia súc làm cho con vật hoàn chỉnh Sinh trưởng và phát dục của gia súc tuân theo quy luật nhất định, đó là quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng không đồng đều Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cơ thể có sự khác nhau Sinh trưởng và phát dục không đều được biểu hiện ở sự thay đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường
độ tăng trọng của cơ thể con vật ở từng lứa tuổi, sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận cơ quan (mô, cơ xương) có thời kỳ phát triển nhanh,
Trang 28có thời kỳ phát triển chậm Dựa vào quy luật này mà các nhà chăn nuôi căn cứ vào mục đích chăn nuôi để quyết định quy trình chăm sóc, thời điểm giết mổ cho phù hợp để có thể đạt được tỷ lệ nạc cao nhất
Theo Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo (2004) [9] lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng nhanh cho năng suất thịt cao và phẩm chất thịt, mỡ tốt Nếu lấy khối lượng lúc mới sinh là 1kg thời kỳ 7 - 8 tháng tuổi đã có thể đạt 100kg, tức là tăng trọng lên 100 lần Tuy nhiên tốc độ tăng theo từng giai đoạn: sau cai sữa tăng trung bình 400 g/con/ngày, tiếp theo là 500 g/con/ngày, đến lúc khối lượng đạt 30kg là 600 g/con/ngày Đặc biệt trong giai đoạn bú sữa lợn sinh trưởng phát triển rất nhanh, lợn con 8 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 2 lần khối lượng sơ sinh Do lợn có tốc độ sinh trưởng phát triển rất nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng rất mạnh Lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9 - 14g protein/1kg khối lượng cơ thể Trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4kg protein
Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, nhưng để khai thác hết khả năng sản xuất thịt của chúng người chăn nuôi cần nắm vững đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn để tác động đúng lúc và thu được hiệu quả kinh tế cao
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con giai đoạn 21 ngày tuổi đến 56 ngày tuổi
Cùng với sự tăng lên của khối lượng cơ thể có sự phát triển các cơ quan trong cơ thể, trong đó cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và hoàn thiện dần về chức năng Có sự phát triển theo tuổi một cách rõ rệt nhưng vẫn chưa hoàn thiện Khi còn trong bào thai cơ quan tiêu hoá của lợn đã hình thành đầy đủ nhưng mang dung tích cục bộ Trong thời gian bú sữa cơ quan tiêu hóa phát triển và phát dục nhanh Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc mới sinh, 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần lúc sơ sinh Mặc dù vậy ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức
Trang 29năng, đặc biệt là hệ thần kinh do đó lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn con cũng rất dễ bị mắc bệnh và dễ bị rối loạn tiêu hoá
Theo tác giả Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) [3] thì lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl tự do vì lúc này lượng axit tiết
ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với dịch nhầy của dạ dày Hiện tượng này gọi là hypochlohydric Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày
ở lợn con, vì thiếu HCl tự do nên dạ dày không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây ra các bệnh đường tiêu hoá cho lợn con
Bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng khả năng chống đỡ bệnh tật của đường ruột dạ dày rất yếu Do đó cần vệ sinh chuồng trại, máng
ăn, máng uống…và áp dụng các biện pháp kĩ thuật để phòng chống bệnh tiêu hoá cho lợn con (Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Quang Tuyên, 1993) [13] Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1998) [16] thì dịch vị lợn có chứa enzym pepsin và chymosin Pepsin có hoạt tính phân giải mạnh, chymosin làm ngưng kết sữa nhanh, loại enzym này có ở lợn trưởng thành và lợn con.Trong
dạ dày lợn được cấu tạo trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép Chính vì vậy, lợn được liệt vào loại động vật ăn tạp
Quá trình tiêu hoá tinh bột nhờ enzym amilaza của nước bọt và enzym
có trong thức ăn thực vật Dạ dày lợn có quá trình lên men vi sinh vật để tạo
ra axit nhưng với số lượng không đáng kể
Khi nghiên cứu về sự phân tiết của hệ thống men tiêu hoá, chúng ta thấy chức năng men tiêu hoá của lợn con mới sinh chưa có hàm lượng cao, chức năng tiêu hoá của lợn con được hoàn thiện dần (Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2004) [9]
-Men pepsin là men chủ yếu của dịch vị khi mới tiết ở dạng không hoạt
động gọi là men pepsinogen Dưới tác dụng của HCl nó chuyển thành pepsin