1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận về cạnh tranh và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam

27 3,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về cạnh tranh và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam
Tác giả Lưu Thị Lan Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm xã hội
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 215,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nhập kinh tế quốc tế đang là đòi hỏi khách quan, ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế xã hội

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế đang là đòi hỏi khách quan, ảnh hưởng mạnh

mẽ tới sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên toàn thế giới ngàynay Trong xu thế đó, vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, củahàng hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng dối với sự thành công của tiến trìnhhội nhập kinh tế Riêng trong lĩnh vực thương mại quốc tề, năng lực cạnhtranh của mỗi quốc gia về cơ bản phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp

Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần có một nền kinh

tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độcông hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Cơ sở vật chất - kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên những thành tựu mới nhất, tiên tiếnnhất của khoa học công nghệ Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa đangphát triển mạnh mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và côngnghệ hiện đại phát triển rất nhanh chóng; những thuận lợi về khách quan vàchủ quan, có nhiều thời cơ và cũng có nhiều nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới,vừa cản trở thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan xen lẫn nhau tác độnglẫn nhau Vì vậy, đất nước chúng ta phải chủ động sáng tạo nắm lấy thời cơ,phát huy những thuận lợi đặc biệt là tăng sức cạnh tranh của chúng ta trên thịtrường trong nước và quốc tế

Sống trong thời kỳ đổi mới của một đất nước đang trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa với xu thế hội nhập, mở cửa nền kinh tế, emthấy mình cần phải quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế của đất nước

mình Vì vậy em chọn đề tài: “Lý luận về cạnh tranh và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam” để nghiên cứu và trang bị thêm kiến thức cho mình Với

vốn kiến thức còn hạn chế bài viết của em không tránh khỏi những thiếu xót

Trang 2

Rất mong được sự hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy giáo để bài viết của em đượchoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

đó chi phí lao động cá biệt khác nhau, kết quả là có người lãi nhiều, người lãi

ít, người thua lỗ, người bị phá sản Để giành lấy các điều kiện thuận lợi trongsản xuất và tiêu thụ sản phẩm, họ buộc phải cạnh tranh Hơn nữa, những điềukiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lại thường xuyên biến động, do đó cạnhtranh không ngừng tiếp diễn

Cạnh tranh có vai trò tích cực trong nền sản xuất hàng hóa, buộcngười sản xuất không những phải thường xuyên động não tích cực, nhạy bén,năng động thường xuyên cải tiến kỹ thuật, ứng dụng kỹ thuật, công nghệmới… mà còn cải tiến chất lượng, hình thức mẫu mã, làm cho sản xuất gắnvới người tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội tốt hơn Thực tế: ở đâu thiếucạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ bảo thủ, kémphát triển

Trang 4

Quy luật cạnh tranh có tác động đào thải cái lạc hậu, tiến bộ để thúcđẩy sản xuất hàng hóa phát triển

Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng đồng thời để lại những hậuquả tiêu cực Đó là sự phân hóa người sản xuất hàng hóa, làm phá sản nhữngngười sản xuất gặp khó khăn do trình độ công nghệ thấp, ít vốn, gặp rủi do,tai nạn hoặc rơi vào những hoàn cảnh điều kiện không thuận lợi

2 Quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

2.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh:

Cạnh tranh là một khái niệm rộng không những tồn tại trong lĩnh vựckinh tế mà còn tồn tại trong lĩnh vực xã hội Trong kinh tế thị trường, các chủthể hành vi kinh tế vì lợi ích riêng của bản thân mình mà tiến hành cạnh tranhvới nhau Cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh

tế nhằm giành lợi ích tối đa cho mình Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của cơ chếthị trường Nó là hiện tượng tự nhiên, tất yếu của kinh tế thị trường, ở đâu cósản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh

Cạnh tranh được phân thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnhtranh giữa các ngành, cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo,cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh có thể diễn

ra giữa những người sản xuất với nhau, giữa người sản xuất với người tiêudùng và giữa người tiêu dùng với nhau

Trong cạnh tranh người ta có thể dùng nhiều biện pháp, thủ đoạn khácnhau:

- Nếu là cạnh tranh lành mạnh: tìm cách thắng đối thủ bằng cách nângcao chất lượng, cải tiến mẫu mã, quảng cáo thông tin để kích thích người tiêudùng

Trang 5

- Nếu là cạnh tranh không lành mạnh: dùng các thủ đoạn phi kinh tếnhư đầu cơ tích trữ, bán phá giá, tác động qua bộ máy chính quyền để tiêudiệt đối thủ

- Cạnh tranh là một quy luật của kinh tế hàng hóa mang tính phổ biếnkhách quan không phụ thuộc vào ý muốn con người Quy luật cạnh tranh quyđịnh việc sản suất kinh doanh phải đạt hiệu quả cao, giành được lợi ích lớnnhất bằng các biện pháp kinh tế hợp pháp

2.2 Yêu cầu của cạnh tranh

- Trong sản xuất, cạnh tranh đòi hỏi các nhà sản xuất phải dùng mọibiện pháp, phát huy mọi khả năng để làm cho hàng hóa dịch vụ chiếm đượcthiện cảm và sự chấp nhận của người tiêu dùng, qua đó chiếm ưu thế trên thịtrường và thu được nhiêu lợi ích nhất

- Trong trao đổi, quy luật cạnh tranh đòi hỏi người bán cũng nhưngười mua hàng hóa phải nghiên cứu thị trường để có quyết định đúng đắn vàthu được lợi ích lớn nhất

Thúc đẩy việc đáp ứng yêu cầu xã hội ngày càng tốt hơn về chấtlượng, giá cả, chủng loại, mẫu mã, kiểu dáng hàng hóa, dịch vụ

Trang 6

II CẠNH TRANH TRONG NỘI BỘ NGÀNH VÀ CẠNH TRANH GIỮA CÁC NGÀNH:

1 Cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá thị trường

Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hànghoá Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những ngưòi sảnxuất, kinh doanh hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuát

và tiêu thụ hàng hoá, để thu lợi nhuận cao nhất Cạnh tranh vừa là môi trườngvừa là động lực

Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tồn tại hai loại cạnh tranh là: cạnhtranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành

Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệptrong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm giành giậtnhững điều kiện thuận lợi tronh sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn đểthu lợi nhuận siêu ngạch

Biện pháp cạnh tranh: các nhà tư bản thường xuyên cải biến kỹ thuật,nâng cao năng suất lao động làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá sản xuất rathấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch

Kết quả của cạnh tranh nội bộ ngành là sự hình thành nên giá xã hội(giá thị trường) của từng loại hàng hoá điều kiện sản xuất trung bình trongmột ngành thay đổ do kỹ thuật sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng

Trang 7

lên, giá trị xã hội ( giá trị thị trường) của hàng hoá giảm xuống Chúng ta biếtrằng, trong các đơn vị sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều kiện kỹthuật, tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề công nhân…) khác nhau, cho nênhàng hoá có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường các hàng hoá phảibán theo giá trị xã hội - giá thị trường.

Theo C.Mác, “một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bìnhcủa những hàng hoá được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó Mặtkhác, lại phải coi giá trị thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá đượcsản xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm mộtkhối lượng lớn trong tổng số những sản phẩm của khu vực này”

2 Cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành lợi nhuận bình quân:

Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuátkhác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn

Biện pháp cạnh tranh: Tự do di chuyển tư bản từ ngành này sangngành khác nghĩa là tự phát phân phối tư bản vào các ngành sản xuất khácnhau

Kết quả các cuộc cạnh tranh này là hình thành tỷ suất lợi nhuận bìnhquân, và giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất

Chúng ta đều biết, ở các ngành sản xuất có những điều kiện tự nhiên,kinh tế kỹ thuật và tổ chức quản lý khác nhau nên tỷ suất lợi nhuận khácnhau

Trang 8

tư bản ở ngành cơ khí sẽ di chuyển tư bản của mình sang ngành đã làm chosản phẩm ở ngành da nhiều lên (cung lớn hơn cầu), do đó giá cả hàng hoá ởngành da sẽ hạ xuống thấp hơn giá trị của nó Ngược lại sản phẩm ở ngành cơkhí sẽ giảm đi nên giá cả sẽ cao hơn giá trị, và do đó lợi nhuận ở ngành cơ khí

sẽ tăng lên Như vậy, do hiện tượng di chuyển tư bản tự do từ ngành này sangngành khác, làm cho ngành có cung (hàng hoá) nhỏ hơn ngành có cầu (hànghoá) thì giá cả giảm xuuống, còn ngành có cầu ( hàng hoá) lớn hơn ngành cócung (hàng hoá) thì giá cả tăng lên Sự tự do di chuyển tư bản tư ngàh nàysang ngành khác làm thay đổi cả tỷ suất lợi nhuận cá biệt vốn có của cácngành sự tự do di chuyển tư bản này chỉ tạm dừng lại khi tỷ suất lợi nhuận ởtất cả các ngành đều xấp xỉ bằng nhau

C.Mác viết: …Những tỷ suất lợi nhuận hình thành trong những ngànhsản xuất khác nhau, lúc đầu rất khác nhau Do ảnh hưởng của cạnh tranh,những tỷ suất lợi nhuận khác nhau do đó san bằng thành tỷ suất lợi nhuậnchung, đó là con số trung bình của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau

Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì số lợi nhuận của cácngành sản xuất đều tính theo tỷ suất lợi nhuận bình quân và do đó nếu có số

Trang 9

tư bản bằng nhau, dù đầu tư vào ngành nào cũng đều thu được lợi nhuận băngnhau.

Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đãche giấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, sự hình thành tỷ suấtlợi nhuận bình quân không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tưbản

Tỷ suất lợi nhuận là hình thức chuyển hóa của tỷ suất giá trị thặng dư

Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào đâu thì cólợi hơn Do đó việc thu lợi nhuận và thúc đẩy tỷ suất lợi nhuận là động lựcthúc đẩy các nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản

Sự thèm khát lợi nhuận của các nhà tư bản không có giới hạn Mức tỷsuất lợi nhuận cao bao nhiêu cũng không thỏa mãn được lòng tham vô đáycủa chúng Vì vậy trên thực tế để nâng cao tỷ suất lợi nhuận, các nhà tư bản

đã tìm mọi cách để tiết kiệm tư bản bất biến, như sử dụng máy móc, thiết bịnhà xưởng, nhà kho, phương tiện vận tải với hiệu quả cao nhất; kéo dài ngàylao động, tăng cường độ lao động, thay thế nguyên liệu đắt tiền bằng nhữngnguyên liệu rẻ tiền, giảm những chi tiêu bảo hiẻm lao động, bảo vệ môitrường, giảm tiêu hao vật tư năng lượng và tận dụng phế thải để sản hàng hóa.Trong cùng một lượng tư bản như nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khácnhau, tỷ suất lợi nhuận thu được khác nhau Vì vậy, các nhà tư bản ra sứccạnh trạnh kịch liệt với nhau và dẫn tới việc hình thành tỷ suất lợi nhuận bìnhquân

III CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN:

Trong chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, cơ chế điều tiết nền sảnxuất xã hội có những thay đổi lớn Sự kết hợp hữu cơ giữa các quan hệ thịtrường với sự tác động tập trung của nhà nước tạo ra một hệ thống thống nhất

Trang 10

điều tiết độc quyền nhà nước Cơ chế độc quyền tự do cạnh tranh và cơ chếđộc quyền tư nhân đều có nhũng mặt tích cực và tiêu cực Khi trình độ xã hộihóa của lực lượng sản xuất đã vượt khỏi giới hạn điều tiết của cơ chế thịtrường và độc quyền tư nhân thì tất yếu đòi hỏi phải được sự bổ sung bằng sựđiều tiết của nhà nước Mặt khác, sự điều tiết của nhà nước cũng có mặt tíchcực và hạn chế, đôi khi những sai lầm trong sự điều tiết kinh tế của nhà nướcmang lại hậu quả tai hại hơn cả tác động tiêu cực của cạnh tranh tự do và độcquyền tư nhân Vì thế, cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyềnnhà nước là sự dung hợp cả ba cơ chế; thị trường,độc quyền tư nhân và điềutiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực củatừng cơ chế Hay nói cách khác, đó là cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhànước nhằm phục vụ chủ nghĩa tư bản độc quyền.

Trong quá trình vận hành cơ chế kinh tế, nhà nước giữ vai trò điềutiết vĩ mô đối với các quá trình sản xuất xã hội, định hướng các mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội ở từng thời kì thông qua các chính sách và công cụ cóhiệu quả như hệ thống tài chính nhà nước, hệ thống tiền tệ - tín dụng, cácchính sách cơ cấu và chương trình hóa … Các tổ chức độ quyền điều tiết sảnxuất trong phạm vi của nó bằng các kế hoạch, hợp đồng kinh tế dựa trên sựnghiên cứu thận trọng và thường xuyên các nhu cầu xã hội luôn biến đổi về

xu hướng, khối lượng cơ cấu…Các tư bản tư nhân vẫn chịu sự điều tiết trựctiếp của cạnh tranh thị trường Các yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó thị trường vẫn ra sức mạnh cơbản của cơ chế điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, tính tự phátcủa thị trường bị giới hạn bởi sự đồng thời tác động của độc quyền tư nhân vànhà nước làm cho các quan hệ thị trường được thể chế hóa và có tính tổ chứchơn Như vậy, cơ chế điều tiết nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền

Trang 11

nhà nước đã tạo ra cách thức phối hợp và phương tiện điều hợp lý hơn so với

cơ chế tự do cạnh tranh ở giai đoạn trước

Việc phân chia thế giới về kinh tế cũng có sự tham gia của một loạtcác nước đang phát triển nhằm chống lại sức ép của các cường quốc tư bảnchủ nghĩa Tư bản độc quyền quốc tế là thế lực đang chi phối quá trình toàncầu hóa thông qua các tổ chức kinh tế quốc tế và đang ra sức hạn chế sự pháttriển của các tổ chức khu vực

Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới hình thứccạnh tranh và thống trị mới Tuy chủ nghĩa thực dân đã hoàn toàn sụp đổ vàchủ nghĩa thực dân mới đã suy yếu, nhưng các cường quốc tư bản chủ nghĩa,khi ngấm ngầm, lúc công khai, vẫn tranh giành nhau phạm vi ảnh hưởng bằngcách thực hiện “chiến lược biên giới mềm”, ra sức bành trướng “biên giớikinh tế” rộng hơn biên giới địa lý, ràng buộc, chi phối các nước kém pháttriển từ sự lệ thuộc về vốn, công nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính trị vào cáccường quốc

Tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ làm cho lựclượng sản xuất phát triển có tính chất nhảy vọt nên nhà nước phải tham giavào quá trình kinh tế - xã hội Đó là một xu thế tất yếu, thường xuyên Cơ chếđiều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là: cơ chế kết hợpthị trường tự do cạnh tranh với tính năng động của tư bản độc quyền tư nhân.Trên phương diện kinh tế, thực hiện tư nhân hóa khu vực kinh tế nhà nướcnhằm tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và khắc phục sự hoạtđộng kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước Nới lỏng sự điều tiết củanhà nước, xóa bỏ những quy dịnh của nhà nước có thể dẫn đến hạn chế sựcạnh tranh trên thị trường

Trang 12

1 Cạnh tranh và độc quyền

Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do, độc quyền đối lập với cạnhtranh tự do Nhưng sự xuất hiện của độc quyền không thủ tiêu được cạnhtranh tự do, trái lại nó còn làm cho cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt và cósức phá hoại to lớn

Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, không chỉ tồn tại sự cạnh tranhgiữa những người sản xuất nhỏ, giữa những nhà tư bản vừa và nhỏ như tronggiai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, mà còn có thêm các loại cạnhtrạnh sau:

- Một là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệpngoài độc quyền Các tổ chức độc quyền tìm mọi cách chèn ép, chi phối, thôntính các xí nghiệp ngoài độc quyền bằng nhiều phương pháp như: Độc chiếmnguồn nguyên liệu, nguồn nhân công, phương tiện vận tải, tín dụng, hạ giá có

hệ thống… để đánh bại đối thủ

- Hai là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau Loại cạnhtranh này có nhiều hình thức: Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền trongmột ngành, kết thúc bằng một sự thỏa hiệp hoặc bằng sự phá sản của một bêncạnh tranh, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền khác ngành có liên quanvới nhau về nguồn nguyên liệu, kỹ thuật…

- Ba là, cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền Những nhà tưbản tham gia cácten, xanhđica cạnh tranh với nhau để giành thị trường tiêuthụ có lợi hoặc dành tỉ lệ sản xuất cao hơn Các thành viên của tờrớt và côngxoócxiom cạnh tranh với nhau để chiếm cổ phiếu khống chế, từ đó chiếm địa

vị lãnh đạo và phân chia lợi nhuận có lợi hơn

Các tổ chức độc quyền hình thành do chính sự vận động nội tại của

Trang 13

mới nhưng nó không vượt ra khỏi các quy luật của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ là

sự tiếp tục mở rộng phát triển của những xu thế sâu sắc nhất của chủ nghĩa tưbản và của nền sản xuất hàng hóa nói chung, làm cho các quy luật kinh tế củanền sản xuất hàng hóa và của chủ nghĩa tư bản có những biểu hiện mới

Do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền đã áp đặtgiá cả độc quyền, giá cả độc quyền thấp khi mua, cao khi bán Tuy nhiên điều

đó không có nghĩa là trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa quy luật giá trị khôngcòn hoạt động Về thực chất, giá cả độc quyền vẫn không thoát ly và khôngphủ định cơ sở của nó là giá trị Các tổ chức độc quyền thi hành chính sáchgiá cả độc quyền chẳng qua là chiếm đoạt một phần giá trị và giá trị thặng dưcủa những người khác Nếu xem xét trong toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủnghĩa thì tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị Như vậy, nếu như trong giaiđoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện thành quyluật giá cả sản xuất, thì trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, quy luật giá trịbiểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền

Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, quy luật giá trịthặng dư biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân Bước sang giaiđoạn chủ nghĩa đế quốc, các tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế bằng giá

cả độc quyền và thu được lợi nhuận độc quyền cao Do đó quy luật lợi nhuậnđộc quyền cao chỉ là hình thức biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư tronggiai đoạn đế quốc chủ nghĩa

Nguồn gốc của lợi nhuận độc quyền cao là lao động không công củacông nhân ở các xí nghiệp độc quyền; một phần giá tri thặng dư của các nhà

tư bản vừa và nhỏ bị mất đi do thua thiệt trong cuộc cạnh tranh; lao độngthặng dư và đôi khi cả một phần của lao động tất yếu của những người sản

Ngày đăng: 12/04/2013, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w