1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn Bảo Ninh nhìn từ thi pháp thể loại

104 895 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 805,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẽ những câu chuyện này chủ yếu nhằm diễn đạt những ý nghĩ, những cảm nhận, những băn khoăn về đau khổ, chứ không nhằm mô tả nỗi đau, nên khiến người ta phải thấy rằng chúng muốn giả

Trang 1

1.2 Trong số những cây bút viết về chiến tranh thời kì hậu chiến, Bảo Ninh có

thể coi là một cây bút tiêu biểu Nhưng nếu tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh lâu

nay đã được khẳng định trong đời sống văn học thì truyện ngắn Bảo Ninh vẫn chưa được quan tâm đúng với giá trị nghệ thuật đích thực của nó

1.3 Truyện ngắn luôn là thể loại “xung kích” trong mọi thời đại văn học Sự vận động và cách tân thi pháp thể loại của nó nhiều khi phản ánh xu thế đổi mới của

cả một nền văn học Ở Việt Nam, chúng ta đang gặp thực trạng ấy Hơn ba mươi năm đã trôi qua, quá trình đổi mới văn học đã gặt hái được những thành tựu nổi bật mà truyện ngắn là một trong những thể loại đi đầu Để hiểu được những đổi thay to lớn về mặt bút pháp thể loại, việc nghiên cứu tác phẩm của một tác giả văn xuôi tiêu biểu dưới cái nhìn thi pháp là việc làm cần thiết, từ đó ta không chỉ

Trang 2

thấy được thành tựu của một tác giả mà còn nhận thấy rõ hơn thành tựu của văn chương Việt Nam đương đại

Giải mã truyện ngắn Bảo Ninh từ góc độ thi pháp thể loại sẽ phần nào cho chúng ta thấy những thành tựu to lớn về những sáng tạo, đổi mới ở bút pháp của Bảo Ninh, góp phần khẳng định giá trị truyện ngắn của ông, cũng như vai trò của Bảo Ninh trong những đổi mới của văn xuôi Việt Nam đương đại Đó là lý do

khiến chúng tôi lựa chọn đề tài : Truyện ngắn Bảo Ninh nhìn từ thi pháp thể

loại

2 Lịch sử vấn đề

Bảo Ninh là một trong số những nhà văn viết về đề tài chiến tranh có đóng góp trong cách nhìn về đề tài chiến tranh trong văn học hậu chiến Đề tài chiến tranh được Bảo Ninh thể hiện trong hai thể loại: truyện ngắn và tiểu thuyết Nghiên cứu về các sáng tác của Bảo Ninh đang thu hút sự quan tâm của người cầm bút với những đặc trưng về thể loại và nội dung phản ánh

Trong Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Bùi Việt Thắng đã khẳng định Bảo

Ninh là một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn, và là cây bút gây ấn tượng mạnh với người đọc [14,337]

Tiếp đó, đi vào tìm hiểu nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Bảo Ninh, tác

giả cuốn sách Bình luận truyện ngắn chỉ ra truyện ngắn Khắc dấu mạn thuyền

là kiểu tình huống tượng trưng [64,32]

Bích Thu trong Những thành tựu của truyện ngắn sau năm 1975 cũng xem

Bảo Ninh là một cây bút ấn tượng với người đọc [65,32]

Waynekarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn Tình yêu sau

chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh: “ in dấu

Trang 3

niềm khao khát tình yêu”, [74,12] “đối diện trực tiếp với hậu quả chiến tranh, những bậc cha mẹ bị mất con” [74,14]

Nguyễn Chí Hoan, khi giới thiệu tập truyện ngắn Lan man trong lúc kẹt

xe, đã nhận xét : “Cái nhìn của hồi tưởng cho thấy cái quá khứ ấy cao hơn, lớn hơn, hư ảo hơn đồng thời là thực hơn Đó là cái nhìn vào ý nghĩa, không phải nhìn vào sự kiện, biến cố, con người Tất cả những câu chuyện ở đây đều đi theo quỹ đạo ấy Tuy nhiên, những cái kết có hậu về tinh thần ấy, một lần nữa, không

hề là những ước mộng nói suông Những truyện ở tập này chỉ dừng lại mà không kết thúc, và tác giả đã làm như vậy một cách có chủ ý rõ ràng Bởi lẽ những câu chuyện này chủ yếu nhằm diễn đạt những ý nghĩ, những cảm nhận, những băn khoăn về đau khổ, chứ không nhằm mô tả nỗi đau, nên khiến người ta phải thấy rằng chúng muốn giải thoát cho những nỗi đau khổ ấy” [50]

Đoàn Ánh Dương, trong bài viết với nhan đề Bảo Ninh – nhìn từ thân

phận của truyện ngắn, cho rằng thân phận truyện ngắn Bảo Ninh tiêu biểu cho

chính thân phận nghiệp văn của Bảo Ninh, chứ không chỉ tiểu thuyết Nỗi buồn

chiến tranh Sự long đong trọn một đời Kiều của tiểu thuyết rồi cũng đã có cơ

hội “đoàn viên” vào đời sống văn học đương đại Truyện ngắn của ông thì khác hẳn, nó vẫn còn là một sự long đong, như sự long đong của văn chương ông Phải chăng nó nhỏ bé hơn so với thành tựu của tiểu thuyết như lối viết của ông

so với “chủ âm” của lối viết đương thời? Tác giả nghĩ phải giải mã truyện ngắn Bảo Ninh cũng như văn nghiệp ông từ một giác độ khác, như đã nói ở trên, là câu chuyện cuộc đời Đặt ra vấn đề câu chuyện cuộc đời qua truyện ngắn của Bảo Ninh ở đây là để nhấn mạnh vai trò của Bảo Ninh trong sự dịch chuyển kiểu thức thể loại và tư duy văn học trong văn học Việt Nam đương đại [12]

Trang 4

Về tập truyện mới nhất của Bảo Ninh, Chuyện xưa kết đi được chưa ?, Nhị Linh trong blog của mình đã đưa ra những nhận xét sắc sảo : “chưa bao giờ

trong văn học Việt Nam có một sự day dứt kéo dài và nồng độ đậm đặc như thế”,

“ám ảnh như một sự quán xuyến cả tập sách Nhưng sự ám ảnh này cũng có một

nét đặc biệt, nó không thể hiện trong nỗi nhớ, niềm tiếc nuối, mà lại thể hiện nhiều hơn ở sự quên Rất nhiều nhân vật trong các truyện không thực sự nhớ mình đã như thế nào, cuộc đời xưa kia của mình ra sao Chỉ thỉnh thoảng mới le lói một chút ký ức, và chỉ cần một hạt bụi nhỏ (nhỏ và tầm thường như một "cái búng") cũng đủ khơi dậy day dứt, day dứt trộn lẫn với sự quên, day dứt cũng chính vì đã quên những điều lẽ ra không quên.”[40]

Tìm hiểu truyện ngắn Bảo Ninh không thể không nhớ tới tiểu thuyết Nỗi

buồn chiến tranh, Sự gặp gỡ của truyện ngắn Bảo Ninh và tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh thể hiện ở hai đặc điểm : Thứ nhất, đó là những hồi ức về chiến

tranh; thứ hai đó là việc sử dụng thủ pháp dòng ý thức

PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, trong bài viết Kỹ thuật dòng ý thức qua Nỗi

buồn chiến tranh của Bảo Ninh in trong Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch

sử, Nxb ĐHSP, 2007 đã khẳng định, chỉ đến Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến

tranh, thủ pháp dòng ý thức mới thật sự xuất hiện ở Việt Nam Nhìn lại truyện

ngắn của Bảo Ninh, ta sẽ thấy mối liên hệ về thủ pháp này với tiểu thuyết của nhà văn [59]

Trong bài viết Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu chiến –

Từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp, Phạm Xuân Thạch chủ

yếu khai thác những cách tân của Nỗi buồn chiến tranh, đồng thời đưa ra một so sánh truyện ngắn Bảo Ninh “giống như những mảnh vỡ của tiểu thuyết hoặc

phản chiếu, hoặc soi sáng thế giới của tiểu thuyết”[41]

Trang 5

Trên báo Văn nghệ trẻ, số 39 (2006) trong bài viết Tiểu thuyết Việt Nam

hiện đại phong phú về lượng, khi bàn về tiểu thuyết việt Nam đương đại, tác giả

Nguyễn Tường Lịch cho rằng : tiểu thuyết Việt Nam nằm ngoài dòng chảy tiểu

thuyết thế giới Ông đưa ra một số tác phẩm tiêu biểu, trong đó có cả Nỗi buồn

chiến tranh của Bảo Ninh Tác giả nhận xét Bảo Ninh với độ dài thời gian, có

điểm nhìn mới mẻ về chiến tranh trong quá khứ … Nguyễn Tường Lịch còn phát hiện những mới mẻ ở cuốn tiểu thuyết này là chỗ tác giả lấy trục thời gian chi phối mọi hành động xuyên suốt tính cách nhân vật [38]

Như vậy, chưa có một công trình nào thể hiện cái nhìn tổng quát, toàn diện, có hệ thống , trong việc nghiên cứu truyện ngắn Bảo Ninh nhìn từ thi pháp thể loại Vì thế, nghiên cứu truyện ngắn Bảo Ninh nhìn từ thi pháp thể loại là một việc làm cần thiết

3 Mục đích yêu cầu của đề tài

3.1 Tiếp cận truyện ngắn của Bảo Ninh nhìn từ thi pháp thể loại

3.2 So sánh thi pháp truyện ngắn Bảo Ninh với tác giả khác

3.3 Từ việc giải quyết những vấn đề trên, chúng tôi khẳng định sự đặc sắc trong

cá tính sáng tạo của nhà văn và đóng góp của ông vào xu thế cách tân nghệ thuật

tự sự của văn xuôi Việt Nam đương đại

4 Giới hạn của việc giải quyết đề tài

4.1 Luận văn nghiên cứu truyện ngắn Bảo Ninh nhìn từ thi pháp thể loại được tập hợp trong truyện ngắn Bảo Ninh do Nxb Công an ấn hành năm 2002 Bao

gồm những truyện ngắn : Mây trắng còn bay Trại bảy chú lùn, Bí ẩn của làn

nước, Ngôi sao vô danh, Bên lề cuộc tấn công, Thời tiết của kí ức, Khắc dấu mạn thuyền, Ba lẻ một…

Các truyện ngắn in trong tập truyện Lan man trong lúc kẹt xe, năm 2008

Trang 6

Ngoài ra còn có tập truyện mới nhất của Bảo Ninh: Chuyện xưa kết đi,

được chưa ? được ấn hành năm 2009

4.2 Đối chiếu so sánh với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của cùng tác giả ở

những vấn đề liên quan, đối sánh với truyện ngắn của một số tác giả khác như Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái,…

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp hệ thống

Phương pháp hệ thống giúp cho việc nghiên cứu truyện ngắn Bảo Ninh hiện lên trong tính chỉnh thể chứ không phải là những phân tích đơn lẻ về các tác phẩm đơn lẻ Việc sử dụng phương pháp hệ thống còn giúp ta nhìn thấy sự vận động của ngòi bút Bảo Ninh và sự vận động của truyện ngắn Việt Nam mấy chục năm qua

5.2 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Phương pháp nghiên cứu theo hướng thi pháp học giúp người đọc tìm hiểu tác phẩm của Bảo Ninh từ phương diện hình thức, nhận diện những đóng góp, sáng tạo của nhà văn về mặt quan niệm nghệ thuật, tổ chức cấu trúc tự sự, giọng điệu, ngôn ngữ

5.3 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được vận dụng để so sánh truyện ngắn Bảo Ninh với

tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh ; so sánh truyện ngắn Bảo Ninh với truyện

ngắn của các tác giả khác nhằm thấy được sự độc đáo của truyện ngắn Bảo Ninh

6 Dự kiến đóng góp của đề tài

Luận văn đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu truyện ngắn Bảo Ninh nhìn từ thi pháp thể loại một cách hệ thống trong sự đối chiếu so sánh với tiểu thuyết

Nỗi buồn chiến tranh của cùng tác giả và truyện ngắn của một số tác giả khác

Trang 7

để từ đó khẳng định thành tựu truyện ngắn Bảo Ninh, làm rõ xu thế cách tân nghệ thuật tự sự trong văn học Việt Nam hiện đại

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được triển khai qua 3 chương :

Chương 1: Truyện ngắn Bảo Ninh trong thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại

Chương 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Bảo Ninh

Chương 3: Tổ chức trần thuật trong truyện ngắn của Bảo Ninh

Trang 8

NỘI DUNG Chương 1: Truyện ngắn Bảo Ninh trong thể loại truyện ngắn

việt Nam đương đại

1.1.Giới thuyết chung về truyện ngắn

Ở phương Tây, thể loại truyện ngắn ra đời tương đối muộn so với các thể loại khác, nó xuất hiện trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỷ XIX, phát triển lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào E.T.A Hoffmann và Anton Chekhov, sau đó trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế

kỷ XX Tên gọi truyện ngắn đã thể hiện khá rõ diện mạo của nó : truyện ngắn thì tất nhiên là phải ngắn! Không cần phải dùng lối chiết tự hoặc tìm tra cái ngữ nghĩa xa xưa của thuật ngữ “truyện ngắn” mà nhìn vào phương thức tồn tại và cái hình hài ngắn gọn đến ngạc nhiên của những truyện ngắn kiểu mẫu của các bậc thầy, sẽ có ngay được ý niệm cơ bản khá chính xác về truyện ngắn : đó là một kỳ quan nghệ thuật bé nhỏ nhưng có sức gợi lớn

Đã có rất nhiều định nghĩa về truyện ngắn do các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề xuất Theo các nhà biên soạn sách Lí luận Văn học, là tác phẩm

tự sự cỡ nhỏ, “Truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử

văn học Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ con người hay đời sống tâm hồn con người” [60;397]

Từ điển thuật ngữ văn học thì cho rằng: “Khác với tiểu thuyết, là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng đến việc khắc họa một hình tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người” [32,371]

Trang 9

Các nhà văn từng sáng tác truyện ngắn đã có những suy nghĩ về truyện

ngắn khác nhau Đáng chú ý là lời bàn luận của Konstantin Paustovski: “Truyện

ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường, và cái gì bình thường hiện ra như một cái gì không bình thường” [34,129]

Qua việc tìm hiểu một số quan niệm về truyện ngắn của các nhà văn trong

và ngoài nước, chúng ta nhận thấy truyện ngắn là một thể tài mà hình thức nhỏ

nhưng không có nghĩa là nội dung không lớn lao Được sinh ra từ những câu chuyện kể hằng ngày rất tự nhiên, truyện ngắn hình thành và phát triển vượt bậc với sức mạnh dẻo dai phi thường qua sự sáng tạo của nhiều thế hệ nhà văn Đến nay truyện ngắn đã khẳng định vị trí của mình trong hệ thống thể loại tự sự của văn học thế giới

Ở Việt Nam, truyện ngắn Sống chết mặc bay! của Phạm Duy Tốn được

coi là truyện ngắn đầu tiên theo lối tây phương của văn học Việt Nam Sau truyện ngắn này, Phạm Duy Tốn không viết truyện ngắn nữa nhưng trên văn đàn văn học Việt Nam hiện đại đã xuất hiện nhiều nhà văn có tài và "có duyên” với thể loại văn học mới mẻ này như: Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, v.v…

Sau giai đoạn “buổi đầu” với nhiều thành tựu đáng ghi nhận, truyện ngắn Việt Nam có bước phát triển mới trong giai đoạn 1945 – 1975, phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Sau 1975, cùng sự vận động đổi mới của các thể tài khác, truyện ngắn đã có bước chuyển mình lớn lao Các nhà văn lúc này đã dũng cảm nhìn vào sự thật, viết về sự thật Truyện ngắn từ đó đã

mở rộng biên độ phản ánh, có cái nhìn đa diện về hiện thực và con người nên đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận

Trang 10

1.2 Diện mạo và khuynh hướng truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới

Vào những năm giữa của thập niên 80 thế kỷ trước, sau đại hội VI của Đảng, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Cùng với sự đổi mới về tư duy chính trị, tư duy kinh tế, quan niệm văn chương cũng đã có khác ít nhiều Thời tiết chính trị là tiền đề cho sự xuất hiện một loạt tác phẩm viết theo phong cách “cởi trói” Không đơn điệu, một chiều, dám đối mặt với thực tế đời sống, văn chương thực sự đã phản ánh đúng thực trạng tâm lý phức tạp của con người, qua đó can

dự trực tiếp vào đời sống xã hội

Để thấy rõ được sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung, truyện ngắn nói riêng, việc nhìn lại nền văn học nước nhà trước 1975 là một việc làm cần thiết

Tính từ sau Cách mạng tháng Tám, được sáng tác dưới ánh sáng của lý tưởng cộng sản, trong dung môi của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng

cách mạng, văn học Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận "Về

đặc điểm loại hình, đó là nền văn học theo khuynh hướng sử thi, được thể hiện trong sự thống nhất trên quan điểm sử thi" [40,135] Nền văn học sử thi của ba

mươi năm ấy có những đóng góp riêng cho tiến trình văn học dân tộc Nền văn học 1945-1975 là sự kết tinh chín muồi của lý tưởng thẩm mĩ, rung cảm nghệ thuật về cái cao cả, phi thường Cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ đã tiếp nguồn cảm xúc, tác động mạnh đến thế giới tinh thần của người sáng tác Văn học thể hiện tinh thần, khí phách cách mạng mà ở đó một thế hệ nhà văn "vừa là chiến sĩ, vừa là nghệ sĩ" Tròn 30 năm chiến tranh (1945-1975), hình tượng chiến tranh và người lính đã trở thành hình tượng trung tâm xuyên suốt quá trình vận động của nền văn học ấy Bên cạnh những yếu tố tích cực, yếu tố tiêu cực vẫn tồn tại, chi phối mạnh mẽ bước đi của văn học thời kỳ này Là một nền văn học

Trang 11

với tư duy sử thi, và sau này được đánh giá là văn học minh họa, ở thời kỳ

1945-1975 các cây bút thường quan tâm đến "viết cái gì?" hơn là "viết như thế nào?" Bởi thế, sau 1975 khi chính các nhà văn nhận thức được lối tư duy ấy không còn phù hợp thì việc "viết như thế nào?" trở thành mối quan tâm lớn của họ Lúc này người ta có điều kiện để tái hiện cuộc chiến đấu trên cái nhìn bao quát một chiến trường theo suốt chiều dài thời gian lịch sử, hoặc đưa ra ánh sáng những cuộc chiến đấu thầm lặng trong lòng địch Chiến tranh được nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm của nó đến tính cách và số phận con người, với bao nhiêu nỗi éo le, bi kịch, xót

xa, nỗi buồn dai dẳng

Nguyễn Minh Châu, một nhà văn chiến sĩ từng thành công với nhiều tác phẩm viết về chiến tranh, là người tiên phong trong công cuộc đổi mới lớn lao này Ngay từ những năm tháng trong chiến tranh, nhà văn đã nhận thức ra những

bất cập và hạn chế của văn học cách mạng Ông từng viết: "Hình như cuộc chiến

đấu sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên một lớp men trữ tình hơi dày cho nên ngắm nghía nó thấy mỏng manh, bé bỏng, óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực" [5,127] Đặc biệt là trong bài viết Hãy đọc lời

ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Nguyễn Minh Châu đã gay gắt

chỉ ra những tồn tại của giai đoạn văn học 1945 - 1975, đồng thời ông nói lên

niềm mong ước về một nền văn học mới: "muốn văn học phải có cái gì của văn

học, chứ không muốn văn học chỉ là một sự minh họa" [4,130]

Bên cạnh Nguyễn Minh Châu, nhiều nhà văn và nhà nghiên cứu khác cũng chỉ ra những hạn chế của nền văn học 1945 - 1975 Nguyễn Khải gọi các sáng tác văn học của mình giai đoạn trước 1975 là "cái thời lãng mạn", Hoàng Ngọc Hiến thì gọi đó là "nền văn học phải đạo", Lê Lựu gọi những tác phẩm của mình

Trang 12

trong thời kỳ văn học kháng chiến là "văn học công việc", "văn học sự vụ" và nhà văn tự bảo: "không thể viết như trước được nữa"

Ở những nhà văn lớp trước, nhu cầu đổi mới ngòi bút còn mạnh mẽ như vậy thì sự phản ứng của lớp nhà văn trẻ nhiều khi hơi thái quá là lẽ dĩ nhiên Mỗi nhà văn một hướng đổi mới, có người lặng lẽ, có người ồn ào, song tất cả đều đi đến sự đổi mới sáng tác bằng chính những tác phẩm của mình Sáng tác trước

đây của Lê Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng Ở

Ma Văn Kháng trước đó là Xa phủ, Đồng bạc trắng hoa xòe thì bây giờ là Đám

cưới không có giấy giá thú, Côi cút, Heo may Và Nguyễn Minh Châu thời

trước là Miền cháy thì sau này là Cỏ lau, Phiên chợ Giát

Là thể loại xung kích trong đời sống văn học, truyện ngắn Việt Nam thời

kì đổi mới đã đem đến nhiều mới lạ, đáp ứng nhu cầu phản ánh hiện thực và sự đổi mới văn học nước nhà trong quá trình hội nhập Nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến việc hình thành lối sống đa chiều, nó không còn thuần khiết, giản đơn, trong trẻo, vô tư như thời kỳ trước đây Nó phức tạp, nhiêu khê và rối rắm Phản ánh hiện thực ấy đòi hỏi truyện ngắn cũng như các thể lọai văn học khác phải gồ ghề, góc cạnh, phải bung mở, đa phương Truyện ngắn giai đoạn đổi mới đã làm được điều hợp lý ấy

Đọc truyện ngắn thời đổi mới không khó khăn để nhận ra được một điều: các tác giả đã trung thực trong việc phân tích, mổ xẻ các mối quan hệ phức tạp, những mối quan hệ chằng chịt cùng nhiều vấn đề mới nảy sinh, mang vẻ mới lạ, điều mà trước đây, do nhiều nguyên cớ chưa phản ánh được, hay đúng hơn chưa

có điều kiện suy ngẫm Bởi vậy truyện ngắn thời kỳ này mạnh bạo, nói thật; ý thức cảnh báo, dự báo rõ ràng Đây không gì khác hơn, chính là ý thức phản tỉnh,

Trang 13

thái độ nhận thức lại lịch sử và thái độ sòng phẳng với quá khứ, dám đối mặt với những vấn đề sai trái của thực tại

Truyện ngắn thời kỳ đổi mới được đón đọc bởi trước hết, nó có thái độ sòng phẳng, quyết liệt, rõ ràng với cái ác Thiên hướng vuốt ve, lấy lòng, cầm chừng, nửa vời đang dần dà mất chỗ đứng ở truyện ngắn Đây là xu thế tất yếu trong quá trình nhận thức Truyện ngắn đòi hỏi được phát triển tự nhiên, thay đổi phù hợp với sự thay đổi của đời sống xã hội Không nên rào chắn cản trở sự phát triển hợp quy luật đó Càng không nên có vùng cấm Chủ trương khuyến khích mọi tìm tòi sáng tạo phải được thể hiện bằng hành động trong những trường hợp

cụ thể, và phải được kiểm chứng chứ không phải chỉ là chủ trương chung chung

và hô khẩu hiệu Không ai khác mà thời gian sẽ là người làm vườn mẫn cán và sòng phẳng, biết đốn tỉa, chặt bỏ những gì không cần thiết và giữ lại những gì hữu ích Đó là quy luật tự nhiên

Các nhà văn Việt Nam lúc này đang viết trong xu hướng dân chủ thẩm

mỹ Trong giai đoạn hiện nay có thể thấy vô vàn những quan niệm văn chương Được tự do làm chủ ngòi bút, các nhà văn không ngừng đưa ra những ý kiến cá nhân trong sáng tác văn học Từ xưa tới nay, quan niệm về cái đẹp không tuyệt đối, bất biến mà luôn luôn thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh Tuy nhiên, dù có phong phú đến đâu văn chương luôn có một mẫu số chung, đó là tính nhân bản, lấy việc phục vụ con người và vì con người làm mục đích

Trong xu thế đổi mới của truyện ngắn đương đại, những truyện viết về chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến đã có những thay đổi căn bản Từ vai trò là người cổ vũ cho cuộc chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp, giờ đây khi thắng lợi thuộc

về dân ta, nhà văn trở thành người đào sâu trực tiếp vào hiện thực cuộc chiến để trình bày, phát hiện mọi mặt của nó Nếu như chất giọng sử thi tràn ngập trong

Trang 14

những tác phẩm văn học trước 1975 thì sau 1975 chất giọng ấy đã dần dần trở nên ít hơn Truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến có thêm những giọng

điệu mới : từ giọng điệu thâm trầm, khắc khoải trong Họ đã trở thành đàn ông (Phạm Ngọc Tiến), Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu) đến chất giọng xót xa trong Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo)…Văn học không chỉ tập trung

nói về những niềm vui, sự lạc quan tin tưởng mà còn nói đến cả những mất mát, đau thương

Trong số những nhà văn viết về chiến tranh thời kì hậu chiến cả ở trên lĩnh vực tiểu thuyết và truyện ngắn, Bảo Ninh có thể coi là một cây bút tiêu biểu Bảo Ninh nhìn về chiến tranh không phải ở mặt trước của tấm huân chương mà là một cuộc chiến đầy đau thương và mất mát Trước đây, với tiểu thuyết đầu tay,

Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã cho chúng ta gặp một cuộc chiến đầy đớn

đau, khắc khoải qua những trang hồi ức của người lính mang trong mình vết thương chiến tranh Nay trong truyện ngắn Bảo Ninh hình ảnh cuộc chiến đó một lần nữa lại trở về Trong truyện ngắn của mình, Bảo Ninh xây dựng những con người lớn dậy trong chiến tranh hoặc tha hóa, biến chất trong hoàn cảnh đó Con người mới ở đây là kiểu con người chuyển từ cái ta cộng đồng sang cái tôi riêng biệt, là con người với những trạng thái tâm hồn: khi khổ đau, khi vui sướng, khi hạnh phúc, và cả bất hạnh nữa Bảo Ninh đã dựng lên những đời người không bằng phẳng Những gai góc, gồ ghề của cuộc sống bám chặt vào đời lính, họ đi

ra từ chiến tranh nhưng nặng trĩu nỗi buồn (Lá thư từ Quý Sửu), họ đi ra từ

chiến tranh nhưng không quên nổi những oán thù cá nhân để rồi mang tư tưởng

không đẹp (Hữu khuynh), ở đó còn có những người giữ mãi lời thề mà bắt mình

Trang 15

cứ mãi cô đơn (Trại "bảy chú lùn") Chiến tranh đã "phạt ngang cuộc đời của

họ"

Độ lùi của thời gian là một lợi thế của Bảo Ninh để nhìn lại những gì đã diễn ra trong chiến tranh Thời gian tạo cho nhà văn có cơ hội nhìn chiến tranh như một hiện tượng xã hội tổng thể và nhất là cho phép nhà văn kiểm chứng những hậu quả xã hội của nó Văn học hậu chiến của bất kỳ dân tộc nào cũng có trách nhiệm lớn lao là bằng tư duy nghệ thuật nhận thức lại, đo lại những "chấn động" về mọi mặt xã hội do chiến tranh để lại cho dân tộc mình Xét ở phương diện đó, cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn Bảo Ninh có một ý nghĩa lớn lao Đọc những tác phẩm đó, ta thấy thấm thía hơn sự tàn phá của chiến tranh đối với con người không chỉ trong cuộc chiến mà cả trong hòa bình, bởi chiến tranh đã qua những kí ức về nó, những vết thương nó để lại vẫn đeo đẳng con người

Truyện ngắn Bảo Ninh còn thể hiện những thủ pháp của văn học hiện đại như sự dịch chuyển, gấp bội điểm nhìn, nhân vật của Bảo Ninh đem đến sự độc đáo qua những đặc điểm ngoại hình hay nội tâm được miêu tả đặc sắc Bên cạnh

đó vốn ngôn từ đặc trưng và một giọng điệu trần thuật đặc sắc cũng đem lại sự thành công cho truyện ngắn Bảo Ninh

Như vậy với những tập truyện đã ra đời, Bảo Ninh không chỉ đã cống hiến một cái nhìn mới về chiến tranh mà còn hấp dẫn độc giả bởi những thủ pháp nghệ thuật lôi cuốn Truyện ngắn Bảo Ninh vì vậy chiếm một vị trí quan trọng trong khuynh hướng đổi mới của văn học dân tộc

1.3 Quan niệm nghệ thuật của Bảo Ninh

Tìm hiểu tầm vóc và đóng góp của một nhà văn đối với nền văn học nước nhà không thể không tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của họ, vì quan niệm nghệ thuật thuộc phạm vi ý thức của văn học Nó là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và

Trang 16

con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó Như vậy, nói tới quan niệm nghệ thuật là nói tới sáng tạo về chất trong cảm thụ và miêu tả đời sống

Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người Con

người là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người Mặt khác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu không hiểu biết, cảm nhận

và có các phương tiện, biện pháp nhất định Điều này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó

Quan niệm con người chính là sự khám phá về con người Nó phản ánh cấu trúc của nhân cách con người và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ con người đối với thế giới Quan niệm nghệ thuật về con người tất nhiên cũng mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ Đây

là điều đã được phổ biến công nhận Chẳng hạn, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nam Cao

so với Vũ Trọng Phụng hoặc Ngô Tất Tố

Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố vận động của nghệ thuật, thành bản chất nội tại của hình tượng nghệ thuật Sự vận động của thực tế làm nảy sinh những con người mới, và miêu tả những con người ấy sẽ làm văn học đổi mới Nhưng còn một khía khác là đổi mới cách giải thích và cảm nhận con người cũng làm cho văn học thay đổi căn bản trong lịch sử văn học sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất phổ biến Vẫn là con người

Trang 17

đã biết, nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn sang góc độ mới cũng tạo thành sáng tác văn học mới

Xem xét quan niệm nghệ thuật của Bảo Ninh có thể thấy nhà văn đã thể hiện cách nhìn nhận, khám phá đời sống chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến, qua

đó góp phần khắc họa nỗi cô đơn, bi kịch của con người trong chiến tranh và sau chiến tranh

1.3.1 Chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến

Chiến tranh trong truyện ngắn Bảo Ninh chủ yếu được nhìn từ cái nhìn

hậu chiến Trong Truyện ngắn Bảo Ninh do Nxb Công an Nhân dân ấn hành năm

2002 có tất thảy là 16 truyện ngắn thì có đến 13 truyện viết về đề tài chiến tranh

chống Mỹ: Trại "Bảy chú lùn", Ba lẻ một, Bên lề cuộc tấn công, Lá thư từ Quý

Sửu, Bí ẩn của làn nước, Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Mây trắng còn bay, Khắc dấu mạn thuyền, Thời tiết của ký ức, Hữu khuynh, Hà Nội lúc không giờ, La- mác-xâye

Trong 13 truyện ngắn viết về chiến tranh, chỉ có một truyện đứng ở thời

điểm quá khứ (Bên lề cuộc tấn công) và hai truyện đứng ở thời điểm hiện tại (Mây trắng còn bay, La-mác-xây e) còn lại là truyện đan xen giữa hiện tại và

quá khứ Trong 13 truyện ngắn ấy có 9 nhân vật chính là người lính Đó là các

truyện: Trại "bảy chú lùn", Ba lẻ một, Là thư từ Quí Sửu, Ngôi sao vô danh,

Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền, Bên lề cuộc tấn công, Hữu khuynh,

Hà Nội lúc không giờ (trong đó có 8 nhân vật chính là người lính trở về)

Trong cuốn Lan man trong lúc kẹt xe có 28 truyện ngắn thì có đến 22 truyện viết về chiến tranh và đề tài người lính gồm các truyện: Trại "Bảy chú

lùn", Ba lẻ một, Bên lề cuộc tấn công, Lá thư từ Quý Sửu, Bí ẩn của làn nước, Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Mây trắng còn bay, Khắc dấu mạn thuyền, Thời tiết của ký ức, Hữu khuynh, Hà Nội lúc không giờ, La- mác-xâye, Thách

Trang 18

đấu, Tình thư, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, kì ngộ, Cũ xưa, Giang, Mùa khô cuối cùng, Gọi con, Hỏa điểm cuối cùng Sáu truyện ngắn còn lại viết về đề

tài khác trong cuộc sống hiện tại trong chiến tranh Trong 22 truyện ngắn viết về

chiến tranh đó chỉ có ba truyện được kể ở thời điểm hiện tại: La- mác-xâye, Ngàn

năm mây trắng, Kì ngộ còn lại là truyện xen lẫn giữa quá khứ và hiện tại

Trong tập truyện mới nhất Chuyện xưa kết đi, được chưa ? gồm 14 truyện ngắn, trong đó có 7 truyện ngắn được biết đến trước đó là : Mắc cạn, Bội phản,

Gọi con, Thách đấu, Cũ xưa, Giang, Hữu khuynh Còn lại 7 truyện ngắn mới là: Sách cấm, Cái Búng, Mối ngờ, Bằng chứng, Chuyện xưa kết đi, được chưa? Đêm trừ tịch, Quay lưng thì chỉ có Cái búng là không viết về chiến tranh Tập

truyện mang dáng vẻ giản đơn, là những kí ức nho nhỏ của thời đi học, những câu chuyện gia đình,… thực chất lại là những câu hỏi lớn của người lính hậu chiến, bước ra khỏi cuộc chiến tranh và hòa nhập cùng cộng đồng

Thống kê như thế để thấy rằng Bảo Ninh nhìn nhận cuộc chiến hầu hết là

từ hơn hai mươi sau Tác giả đã cố gắng thoát ra khỏi khuôn khổ sáo mòn của đề tài chiến tranh

Nhìn từ hậu chiến, cuộc sống chiến tranh trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Bảo Ninh hầu hết được hiện lên dưới góc độ của nỗi buồn Toàn bộ tiểu

thuyết Nỗi buồn chiến tranh như chính tên gọi của mình tràn ngập cảm giác

buồn đau Dưới cái nhìn hồi ức của nhân vật Kiên, Bảo Ninh đã viết lên một hiện thực về chiến tranh Chiến tranh qua cách cảm, cách nghĩ của một người lính, chiến tranh qua những mẩu ký ức xé vụn Bằng thứ ngôn ngữ đa thanh, cái nhìn

đa chiều, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đem lại cho người đọc một âm

hưởng mới của chiến tranh, một câu chuyện về chiến tranh với những nốt nhạc trầm buồn ám ảnh Nếu như chiến tranh trước đây được viết trong khói lửa, bom

đạn chiến tranh, viết theo yêu cầu của hoàn cảnh, viết theo quan điểm ta phải

Trang 19

thắng mà chưa phơi bày những mặt trái còn khuất lấp của chiến tranh thì bây giờ

chiến tranh được viết trong thời hậu chiến đã được nhận thức lại

Hiện thực chiến tranh trong tiểu thuyết mà Bảo Ninh mô tả đó là những năm tháng buồn bã của đám trinh sát qua sự hồi tưởng của Kiên Đó là những ngày mưa liên miên, những ngày im tiếng súng- trinh sát dựng lán ở ngay trên bờ

suối, họ đốt nỗi buồn chiến tranh bằng những cuộc vui chơi: "đi săn, đặt bẫy, tổ

chức duốc cá và tối tối chơi bài", còn kỳ quái hơn: "đám trinh sát bọn Kiên ngồi rỗi bày trò phơi sấy, thái nhỏ hoa, lá và rễ hồng ma trộn với sợi thuốc rê" nhờ

khói hồng ma tạo ra ảo giác, tạo ra mộng mị, "có thể nhờ khói hồng ma mà quên

mọi nông nỗi đời lính, quên đói khổ, chết chóc, quên béng ngày mai" Đó là

những ngày: "trong mưa đại bác vang rền nặng nề thúc dội ra ngoài trăm dặm

điềm báo trước một mùa khô hung gở đang áp tới bên trời" Rồi những mùa thu

não nề, đời sống mục ra Theo Kiên: "chiến tranh là cõi không nhà, không cửa,

lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người"

Đó là nỗi buồn kéo từ năm này qua năm khác trong cõi lòng nhà văn Kiên, nỗi buồn bước qua chiến tranh mà dư âm của nó như vết thương lại đau mỗi khi gió

trở mùa Bảo Ninh viết: "đau buồn là một thể nguyên khối suốt cuộc đời, liền

một mạch từ thủa thơ ấu, qua chiến tranh đến bây giờ"[48;192] Nỗi buồn chiến

tranh, nỗi buồn về tình yêu theo năm tháng lớn đầy trong ký ức của Kiên, mà ám

cảnh nhất là nỗi buồn đau về cái chết: "theo dần năm tháng những luồng sinh khí

chết ấy đã đậm lại trong lòng anh, hòa vào trong tiềm thức trở thành bóng tối của tâm hồn anh Dằng dặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết, lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn của chiến tranh" Kiên phải chứng kiến bao nhiêu là cái chết của đồng đội, đó là Can, Hòa,

Trang 20

là Thịnh "con", Thịnh "nhớn" bao con người sống bên anh nhưng phút chốc trở thành những hồn ma bóng quỷ bởi chiến tranh

Cũng vậy, trong các truyện ngắn của mình, Bảo Ninh cũng khơi lên bao nỗi buồn của chiến tranh Mỗi truyện ngắn để lại một dư vị nỗi buồn Truyện

ngắn Trại "bảy chú lùn" là một ví dụ về nỗi buồn cô độc: "Cơ ngơi của Y Nua

lớn dần lên nhưng gian khổ còn lớn mau hơn Nhưng nặng nề nhất, khổ nhất là cảnh cô độc Cô độc kinh người giữa bốn bề rừng già vây bọc", " thật não nề Như bị bỏ quên" Nỗi buồn ấy bàng bạc, lan tỏa cả câu chuyện về một người lính

hậu cần Hay nỗi buồn sầu thảm của ông Phúc trong Thời tiết của ký ức, một nỗi buồn kéo dài đằng đẵng bao nhiêu năm trời Trong Rửa tay gác kiếm, phần lớn

tác giả thể hiện nỗi đau buồn của anh em binh lính khi chiến tranh đã đi qua, nỗi

ám ảnh bi thương về quá khứ Hầu hết các truyện ngắn Bảo Ninh thường đưa ra

những cảm nhận, suy nghĩ về nỗi đau buồn của chiến tranh Nhà văn viết: "Nếu

rồi đây không may phải sống đời bất hạnh thì chúng tôi sẽ tự nhủ lòng rằng không sao cả, bởi có nỗi khổ nào của ngày hôm nay sánh bằng những đau khổ đã trải qua trong chiến tranh"(Rửa tay gác kiếm)

Chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến mang đậm những hoàn cảnh éo le, bi kịch Đó là hình ảnh của một người cha trốn chạy quá khứ, trốn chạy khỏi quê

hương khi cuộc sống đã yên bình (Ba lẻ một), đó là nỗi éo le của người bố cứu con người khác mà không thể cứu được vợ con mình (Bí ẩn của dòng nước), đó

là nỗi nuối tiếc về một lá thư không kịp bóc (Lá thư từ Quý Sửu) Hay nỗi ngậm

ngùi về một ông già mất trí, mãi xót xa vì một chuyến hỏa xa không bao giờ trở

lại (Ngôi sao vô danh) Và nỗi buồn của người lính sau chiến tranh trở về quê hương với cảm giác "lạc loài" (Hữu khuynh) Nỗi buồn chiến tranh còn thể hiện

lớn hơn trong sự đau buồn, thương nhớ của người mẹ già trong lần giỗ thứ ba

Trang 21

mươi của con (Mây trắng còn bay) Rõ ràng hiện thực mất mát của chiến tranh

trong văn học hậu chiến không còn bị né tránh nữa, và bây giờ nếu viết về chiến tranh mà không viết những đổ máu khắc nghiệt thì nói như Simônôp đó là tác phẩm

vô đạo đức Hơn nữa "mô tả chiến tranh mà chỉ giữ lại những cái anh hùng, vứt bỏ

tất cả những cái khác có nghĩa là bỏ rơi rất nhiều bài học chiến tranh Không miêu

tả những chi tiết nặng nề, bi thảm của chiến tranh là xuyên tạc bộ mặt chiến tranh trong ý thức nhân loại" (Dẫn theo 61) Bảo Ninh trong các tác phẩm của mình đã

cho người đọc thấy những tổn thất, hy sinh của chiến tranh, đồng thời thể hiện rõ những số phận bi kịch của người lính trước và sau chiến tranh

1.3.2 Con người dưới cái nhìn cá nhân

Văn học hôm nay đã tiếp cận con người từ phương diện cá nhân Nhìn tổng thể, trong văn học sau 1975, quan niệm nghệ thuật về con người xuyên suốt, nổi bật là quan niệm về con người cá nhân Nhìn nhận con người trong cuộc sống với đầy biến động, Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc con người cá nhân với giọng nói riêng, tính cách riêng Mỗi con người một số phận, mỗi con người với niềm đau hạnh phúc riêng trong một cảm nhận về thực tại Tất cả họ hiện lên trang giấy như là nỗi ám ảnh về một quá khứ đầy đau thương nhưng rất đỗi anh hùng

Con người cá thể bắt đầu xuất hiện ở phương tây từ thời đại Phục hưng, trong những tác phẩm của Sexpia, của Kant , giải phóng cá nhân con người đó

là mục tiêu của chủ nghĩa nhân văn thế kỷ XVI chống lại lễ giáo phong kiến và nhà thờ

Ở nước ta với nghìn năm Bắc thuộc, một thời gian dài dưới ảnh hưởng của

tư tưởng Nho giáo, bên cạnh đó Phật giáo với triết lý "vô ngã" đã phủ nhận sự tồn tại của cá nhân Trong văn học trung đại đã có con người cá nhân xuất hiện ở

Trang 22

mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng chưa hình thành quan niệm về con người cá nhân

Đến đầu thế kỷ XX, do nhu cầu phát triển tự thân của văn học, văn học có

sự biến chuyển theo con đường hiện đại hóa Ý thức con người cá nhân trỗi dậy lớn lao, nếu cá nhân trong văn học trung đại là cá nhân vũ trụ, tự nhiên thì ở đây việc miêu tả con người cá nhân đã được đổi mới về chất và hết sức đa dạng Tự lực văn đoàn đã mở đầu cách miêu tả thế giới nội tâm con người còn Thơ mới đã thể hiện được số phận cá nhân, nói rõ những "điều kín nhiệm u uất", "phát hiện cái tôi thành thực, công khai xem cái tôi cá nhân như một cách thế nhìn đời hợp pháp" Mặc dù Tự Lực Văn Đoàn và Thơ mới đã có những quan niệm nghệ thuật

về con người cá thể nhưng cuối cùng cũng đi đến cực đoan và bế tắc

Sau 1945, do yêu cầu của một giai đoạn văn học trong chiến tranh, con người cá nhân không được đề cập đúng mực Do yêu cầu của đời sống, của lịch

sử "lợi ích cộng đồng trở thành nguyên tắc hàng đầu Hướng tới đại chúng,

phục vụ đại chúng trở thành phương hướng và mục tiêu của nền văn nghệ kháng chiến"[67;53], con người chưa được xem là con người cá nhân, cá thể mà là một

"đám đông", một "tập thể" Các nhân vật được nhận diện trước hết theo lập trường dân tộc và cách mạng, bởi thế dễ dàng xếp họ vào loại chính diện hay phản diện, tích cực hay tiêu cực Cuộc sống cá nhân riêng tư của mỗi người phải thu hẹp lại đến tối thiểu, nhường chỗ cho đời sống chung của tập thể, của cả dân tộc Con người được nhìn nhận, đánh giá trước hết chủ yếu ở tư cách quan hệ với số phận của dân tộc, của nhân dân, của cách mạng Một thời kỳ theo cách nói của Chế Lan Viên: "những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau"

Trang 23

Sau 1975, quan niệm đó đã dần thay đổi Bên cạnh con người "tập thể","cộng đồng", mỗi con người còn có một số phận riêng, thậm chí có sự trái ngược với số phận cộng đồng Sự đổi mới về quan niệm đó được thể hiện trước hết ở hình tượng người lính

Từ sau 1975, nhất là những năm 80 đến nay, người lính dưới góc nhìn con người cá nhân được quan niệm đúng đắn và có chiều sâu hơn, đặc biệt là ở truyện ngắn Bằng nhiều cách khám phá và thể hiện độc đáo, truyện ngắn đã khắc họa chân dung con người cá thể một cách sinh động, sâu sắc và đa chiều ''Cuộc đời vốn đa sự, con người vốn đa đoan'' (Nguyễn Minh Châu) Mỗi nhà văn một quan niệm riêng, biến thái, châu tuần chung quanh quan niệm chung nhất Đó là con người tự ý thức của Nguyễn Minh Châu, con người trần tục của Nguyễn Huy Thiệp, con người bản năng của Dạ Ngân, Phạm Hoa, đều là những dạng thức của con người cá thể Trong truyện ngắn Bảo Ninh, con người cũng được nhìn nhận qua góc nhìn cá nhân với những bi kịch của cuộc sống đời thường Ở đó, không còn những tấm gương anh hùng được khai thác chủ yếu ở mặt công dân – nghĩa vụ với tổ quốc Con người trong truyện ngắn Bảo Ninh hiện lên với tất cả mọi tính cách tốt, xấu, mọi éo le, bi kịch,…thường ngày

Có thể nhìn thấy sự đổi thay này chính là một cách tân của Bảo Ninh trong văn học Việt Nam hiện đại Quan niệm này đã được nhà văn nhiều lần phát biểu

Trong phần hai của bài viết Văn học đổi mới đến từ cuộc kháng chiến, Bảo Ninh đã chỉ trích một số quan niệm ấu trĩ khi xử lí Cánh đồng bất tận của

Nguyễn Ngọc Tư và lý giải về việc thưởng thức văn học của độc giả Đồng thời

đã khen ngợi sự đổi mới đề tài chiến tranh của Thái Bá Lợi (truyện ngắn) và Lê

Lựu (tiểu thuyết) Tác giả viết: "Tôi nghĩ rằng họ, chẳng hạn nhà văn Thái Bá

Lợi của Hai người trở lại trung đoàn, nhà văn Lê Lựu của Thời xa vắng, có ý chí

Trang 24

đổi mới sáng suốt và mãnh liệt đồng thời quả cảm và gan lỳ chẳng kém gì người nông dân gan dạ dám chọn con đường đúng đắn nhưng đầy cay đắng và cô đơn của bí thư Kim Ngọc Tôi tự hỏi rằng nếu không có những người nông dân cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ ấy thì liệu nền kinh tế của đất nước và đời sống của mọi người ngày hôm nay sẽ như thế nào?" [52,3] Bảo Ninh là một

trong những nhà văn góp phần đổi mới văn học viết về đề tài chiến tranh, nên ở đây thể hiện một quan niệm về sự đổi mới cách nhìn nhận chiến tranh Ông viết:

"Nếu không có ý chí và tác phẩm sáng ngời tinh thần đổi mới ngay từ đầu những

năm 1980 của các nhà văn mà hầu hết là cựu chiến binh thì ngày nay các nhà văn và cả độc giả nữa sẽ có kiểu tư duy văn học kiểu gì?" [52,3] Cũng trên báo Văn nghệ trẻ ở bài viết Nói hay làm dở, Bảo Ninh đưa đến một quan niệm mới

về việc viết văn của lớp nhà văn sau chiến tranh Ông dẫn ra một loạt cuộc hội

thảo bàn về nhu cầu đổi mới văn học: "Mỗi thầy mỗi khác, nhưng tựu trung đều

kêu gọi và thôi thúc chúng tôi hãy khác đi, hãy mau mau đổi mới, hãy mạnh dạn cách tân, hãy từ bỏ lối mòn trong suy nghĩ và trong sáng tác" [53,2]

Với quan niệm đó, trong truyện ngắn Bảo Ninh, viết về chiến tranh, không bằng lòng với con người “cộng đồng”, “tập thể” nhà văn quan tâm đến từng số phận con người Trong số phận chung của dân tộc là mất mát, khổ đau vì chiến tranh thì mỗi cá nhân con người trong truyện ngắn Bảo Ninh có những nỗi mất mát, đau khổ riêng, không ai giống ai, mỗi người một cảnh ngộ Chiến tranh tạo

ra ở con người những bi kịch đã đành, trong hòa bình bi kịch vẫn không chừa những con người từng tham gia chiến tranh Quan tâm đến thân phận con người

ở khía cạnh bi kịch, Bảo Ninh góp vào bức tranh chung của cuộc chiến không chỉ có vinh quang mà còn có cả nước mắt do chiến tranh - những dòng nước mắt của cá thể riêng lẻ

Trang 25

Không chỉ dừng lại ở đó, quan tâm đến con người cá thể, Bảo Ninh còn khắc họa những góc khuất ở sâu kín trong tâm hồn nhân vật Thông thường, người lính trong văn học cách mạng thường được khắc họa là những hình mẫu,

lý tưởng, đại diện cho cả cộng đồng, cả dân tộc Nay người lính trong văn Bảo Ninh trở về với con người cá nhân, con người đời thường Bảo Ninh đã mạnh dạn nói những điều mà văn học thời kì trước đó né tránh Đó là hiện tượng người

lính đào ngũ như Nhu, Hành trong Đêm trừ tịch Khi được biên chế ở sư đoàn

bộ binh, Nhu đã sợ “vãi linh hồn” để rồi phải đảo ngũ; còn Hành đã hai lần trốn chạy Mục đích đi lính của Hành chỉ là để em gái không phải xấu hổ vì có người anh đào ngũ

Bên cạnh đó, Bảo Ninh còn dám đề cập đến những cảm xúc chân xác nhất trong tâm hồn mỗi người lính Đó có thể là nỗi sợ hãi, sự bi quan, chán chường, mệt mỏi Đó là sự bi quan khi chững kiến cảnh đồng đội bị thương của “tôi”

trong Đêm trừ tịch Cũng có lúc là những người lính không coi trọng lời hứa của mình trong Mùa khô cuối cùng để nhằm thỏa mãn dục vọng

Miêu tả những mất mát, đau thương của người lính trong và sau chiến tranh cùng việc đi sâu vào tận góc khuất trong tâm hồn của họ, Bảo Ninh đã thể hiện quan niệm về việc xây dựng con người cá nhân, quan tâm đến đời sống cá nhân của con người trong tác phẩm của mình

1.3.1 Sự khẳng định nhân cách người lính

Với Bảo Ninh việc quan tâm tới những nỗi đau trong tâm hồn người lính, tìm hiểu những góc khuất trong tâm hồn họ, thì đằng sau tất cả những điều đó vẫn là xu hướng vươn lên để khẳng định nhân cách của người lính

Văn học 1945 -1975 hướng về con người sử thi, con người của cộng đồng, những con người mang nét đẹp lý tưởng của người anh hùng cách mạng, làm chủ

Trang 26

thời cuộc Trong thời kỳ oanh liệt, với khí thế hào hùng cả nước cùng ra trận, ở bối cảnh trực diện của không khí chiến tranh, con người được miêu tả như là một

lẽ tất yếu của mắt xích trong guồng quay khổng lồ của bánh xe chiến trận Phát hiện lớn nhất trong văn học 1945 - 1975 là con người quần chúng, con người tập thể Mọi mâu thuẫn tập trung trên hai giới tuyến đối đầu địch- ta, chiến trận trở thành trung tâm giải quyết mâu thuẫn Đối với văn học lúc bấy giờ con người -

người lính bao giờ cũng đẹp: "trong mỗi tác phẩm, nhà văn không xem xét con

người ở bình diện cá nhân, mà khám phá thể hiện của con người tập thể, cộng đồng, dân tộc, giai cấp Con người của gia đình, làng xóm đã trở thành con người của cách mạng và kháng chiến, họ hiện ra với vẻ đẹp và sức mạnh trong tập thể ấy Mối quan hệ thế sự và đời tư không nằm trong sự chú ý của nhà văn, và nếu có đưa vào trong tác phẩm thì cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi đời sống cộng đồng

và mang một ý nghĩa khác hẳn"[47,111] Đây là một quan niệm thể hiện tinh thần

khí phách cách mạng của một thế hệ nhà văn "vừa là nghệ sĩ, vừa là chiến sĩ", của một "nền nghệ thuật chân chất, đẹp và khỏe như những chàng trai đang độ lớn"

Bước sang thời hậu chiến, với độ lùi thời gian cần thiết, cho phép nhà văn nhìn nhận lại khách quan cuộc chiến, con người - người lính từ trong chiến tranh trở thành chiến tranh trong cảm nhận người lính Quan niệm con người cộng đồng vẫn được các nhà văn sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật để làm nổi bật nhân cách người lính

Truyện ngắn Bảo Ninh thể hiện nhân cách người lính dưới sự tác động sâu sắc của chiến tranh, những con người cá nhân vẫn sống và chiến đấu vì lý tưởng cộng đồng, họ vẫn là những con người tượng trưng cho lý tưởng dân tộc: chiến đấu vì Tổ Quốc, quê hương Đó là điểm gặp gỡ trong việc mô tả vẻ đẹp người

Trang 27

lính của truyện ngắn và tiểu thuyết hôm nay với truyện ngắn và tiểu thuyết trước

1975 Đó là những nhân cách cao đẹp như Mộc trong truyện ngắn Trại “bảy chú

lùn”, anh không vì hạnh phúc cá nhân mà quên nghĩa vụ của người lính, anh

không bỏ khu rừng già khi tất cả anh em đồng đội đã hy sinh Trong tâm niệm của anh anh sẽ sống mãi ở khu rừng này, mảnh đất này Trong chiến tranh, anh là một người lính bên cạnh những đồng đội quên mình cho Tổ quốc, hòa bình về anh cũng tự nguyện ở lại nơi những anh em chiến sĩ đã nằm xuống Anh gắn bó với khu rừng già - nơi lưu lại bao máu và nước mắt của đồng đội anh Bên cạnh Mộc, trong truyện ngắn Bảo Ninh những phẩm chất anh hùng của nhiều người khác cũng được khai thác Đó là hình ảnh của khẩu đội cao xạ trong truyện ngắn

Bên lề cuộc tấn công, ở đó có những người lính sáng ngời phẩm chất anh bộ đội

Cụ Hồ Họ vẫn sẵn sàng cứu bất cứ ai, họ đã hy sinh khi chưa bước vào cuộc tấn công Những con người mang vẻ đẹp cách mạng của một thời sống dậy trong truyện ngắn Bảo Ninh, dù không miêu tả trực tiếp hành động anh hùng của họ nhưng trong truyện ngắn Ba lẻ một, qua suy nghĩ của cô gái - người đã giữ bức ảnh hơn hai mươi năm, thì những người chiến sĩ Việt cộng hiện lên với những dáng vẻ đáng tự hào

Tựu trung, tất cả những vẻ đẹp đó về người lính đã thể hiện nhân cách con người trong quan niệm cộng đồng Một quan niệm từng được văn học cách mạng thể hiện với những dòng văn tươi ròng sự sống, nay đã được Bảo Ninh kế thừa, phát triển, miêu tả về những người lính trong cảm nhận về chiến tranh

Trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh cũng như trong truyện ngắn của

mình, Bảo Ninh đã sáng tạo một nhân vật riêng nhưng không nằm ngoài kiểu nhân vật chung nhân cách không tách rời cộng đồng, xã hội Đó là kiểu nhân vật mang khí phách, tâm hồn dáng vóc thời đại Hồ Chí Minh Đó cũng chính là kiểu

Trang 28

nhân vật con người hành động Qua hành động, nhân cách con người đã được khẳng định trước chiến tranh cũng như sau chiến tranh

Trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Bảo Ninh thường thể hiện con người hành động trong sự nghiệp cách mạng qua thủ pháp đồng hiện, qua những hồi ức

về quá vãng Tiêu biểu những truyện ngắn như: Rửa tay gác kiếm, Hà Nội lúc

không giờ, Thời tiết của ký ức, Khắc dấu mạn thuyền, Trại “bảy chú lùn”, Bí

ẩn của làn nước

Trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã miêu tả rất nhiều

nhân cách cao đẹp qua hồi ức của Kiên Các nhân vật những tên người, những đồng đội thoáng qua trong đầu Kiên sau bao nhiêu năm hòa bình đều được nhắc đến trước hết ở một hành động nào đó Sự hy sinh của Hòa, Oanh, Từ, Toàn, Thịnh "con", Thịnh "nhớn" là những cái chết của những con người kiên cường, của hành động anh hùng Họ đã khẳng định nhân cách, phẩm chất của người lính không chùn bước trước mọi khó khăn Nhưng nhân vật thể hiện rõ nhất nhân cách của mình trong chiến tranh và sau chiến tranh là Kiên Từ đầu tác phẩm đến cuối tác phẩm hầu như các sự kiện, nhân vật có mặt trong cốt chuyện đều là kết quả của những hồi tưởng trong tâm trí Kiên Nhưng sự kiện anh hùng ấy không cho phép anh lãng quên khi nghĩ về cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc Chính điều này góp một phần trong việc nói rõ bản chất của Kiên, số phận của người lính thời hậu chiến

Qua hồi tưởng chắp nối, đứt đoạn của Kiên, người đọc có thể hình dung về con người anh Kiên là một chàng trai chính gốc Hà Nội, bố là họa sĩ đã ly hôn với mẹ Anh có một mối tình với Phương, người bạn gái cùng học cấp ba Kiên thuộc lớp thanh niên lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh Sau khi cha mất (1965), Kiên nhập ngũ khi tròn 17 tuổi Mang theo lòng nhiệt tình cách mạng

Trang 29

Kiên dấn thân vào cuộc chiến tranh sinh tử, với lý tưởng giải phóng đất nước Lý tưởng đó đã theo Kiên trong quá trình chiến đấu và nó đã cho anh những suy nghĩ tình cảm tốt đẹp chân thành về đồng đội, về những con người đã làm nên

chiến thắng: "nếu không nhờ có Hòa cùng biết bao đồng đội thân yêu ruột thịt,

vô số và vô danh, những người lính thường, những liệt sĩ của lòng dân đã làm sáng danh đất nước này và đã làm nên vẻ đẹp tinh thần cho cuộc kháng chiến thì đối với Kiên, chiến tranh với bộ mặt gớm giếc của nó, với những sự thật trần trụi bất nhân của nó sẽ chỉ đơn thuần có nghĩa là một thời buổi và một quãng đời mà bất

kỳ ai đã trải qua đều mãi bị ám ảnh" [48,227]

Từ lý tưởng tốt đẹp, suy nghĩ sâu sắc về cuộc chiến tranh và tình cảm chân thành với đồng đội, Kiên đã đi đến những hành động Anh không quên ơn những người đã vì mình mà hy sinh Trở về sau chiến tranh, anh mong mỏi được cầm bút để viết về họ, viết để hậu thế không bao giờ quên họ, viết để khẳng định sự bất diệt của đồng đội trong lòng mọi người Nếu trong cuộc chiến Kiên đã hành

động "với khẩu tiểu liên trong tay, anh đã luôn luôn ở hàng đầu quân xung kích,

cùng đồng đội từng bước kiên trì vượt qua ngàn dặm của cuộc kháng chiến lớn lao" [48,211] thì trong hòa bình việc Kiên viết về cuộc chiến tranh đã thể hiện

phẩm chất người chiến sĩ nơi anh

Sự khẳng định nhân cách người lính trong truyện ngắn Bảo Ninh không chỉ thể hiện ở việc xây dựng những con người với những hành động anh hùng, lý tưởng mà còn biểu hiện ở việc xây dựng con người tự sám hối, con người tự thú

Theo Bùi Việt Thắng: "cái phần được của Thân phận của tình yêu chính là ở

chỗ Kiên mới dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào quá khứ, mới dám đối diện với hiện tại, rất công bằng mà phán xét lịch sử Cao hơn nữa là đối diện với chính mình, rồi xám hối, tranh đấu và vượt lên" [63,85] Kiên đã không biết bao lần tự mình

Trang 30

đối diện với chính mình để rồi trong anh có những ân hận, ăn năn về những việc mình đã làm trong chiến tranh và những việc ấy đã gây cho đồng đội anh không

ít mất mát thậm chí cả tính mạng Và trong tâm trí anh luôn ý thức phải viết về

họ, viết về đề tài chiến tranh: "Phải viết thôi! Kiên thường tự nhủ một cách

nghiêm trang và quả quyết, một cách thôi thúc và nôn nóng như thế, như thể thầm hô lên một khẩu hiệu để thúc giục lòng mình" [48,174] Nhân vật ông Phúc

trong truyện ngắn Thời tiết của ký ức cũng là kiểu con người tự thú và sám hối,

sau bốn mươi năm chiến tranh song những đau buồn về quá khứ vẫn đeo bám tâm hồn ông Đó là sự sám hối muộn màng về việc giác ngộ cách mạng, là lời tự thú về một tình yêu

Trong tác phẩm Bảo Ninh, nhà văn không ngần ngại miêu tả cả những người lính “yếu, hèn”, không đao to, búa lớn phê phán hay chỉ trích, nhưng việc thể hiện những lựa chọn khác nhau của người lính trước hiện thực chiến tranh, việc miêu tả số phận của người lính sau những lựa chọn này đã minh chứng cho quan niệm hướng tới khẳng định nhân cách người lính trong tác phẩm của ông

Có thể thấy rõ điều này qua việc so sánh nhân vật Kiên và Can trong tiểu thuyết

Nỗi buồn chiến tranh Chiến tranh có tác động cực kỳ to lớn đối với nhân cách

người lính, có người cho rằng chiến tranh rất vinh quang nhưng có người cho là

sự chịu đựng, là sự nhục nhã: "Tôi không sợ chết, nhưng cứ bắn mãi, giết mãi thế

này thì chết hoại tình người", "cả đời đi đánh nhau, thú thật tôi chả thấy cái trò này chẳng có gì là vinh Nhưng do hy vọng nên vẫn còn chịu đựng" (lời của Can

trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh) Chính vì cảm nhận về chiến tranh như

vậy nên Can đã trốn lính Kiên đã nhìn thấy nơi Can là một con người dị giáo:

"Tâm hồn bấn loạn, ngôn ngữ độc thoại rối mù, họ bị thực cảnh chiến tranh đầy

ải tàn nhẫn, làm cho suy sụp sâu sắc cả thể xác lẫn tinh thần" [48,23] Can sợ

Trang 31

phải chết, sợ mẹ già cô độc Nhưng rồi Can cũng không thoát được, Can chết

không rõ lý do trên đường đào ngũ, thật chua xót: "tên tuổi, hình hài một con

người đã từng vào sinh ra tử không kém cạnh ai và vốn hoàn toàn không phải đồ tồi đã đột ngột chìm nghỉm đi" [48,27] Thể hiện nhân vật này, Bảo Ninh tạo nên

sự khác biệt giữa Kiên và Can Sự khác biệt ở hai con người về lý tưởng chiến đấu, nỗi hèn nhát ở Can đã phải trả giá Can không thể trở về quê khi có người

mẹ đáng thương đang mòn mỏi đợi trông Cái chết của Can không được tôn vinh

dù rằng trước đó anh đã chiến đấu rất kiên cường Ranh giới giữa tốt và xấu trong mỗi con người thời chiến thật quá đỗi mong manh

Các câu chuyện chiến tranh của Bảo Ninh được đặc tả lại dù viết về con người sống trong chiến tranh hay sống sau chiến tranh thì đều nói đến sự tác động đến nhân cách của người lính Số phận của người lính được Bảo Ninh miêu

tả khá đậm nét, mỗi người một kiểu, có nhân cách khác nhau Trong truyện ngắn

Bảo Ninh cũng như trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, ta đều bắt gặp người

lính trong chiến tranh và sau chiến tranh, họ đều là những người lính chịu những mất mát thiệt thòi của số phận Trong chiến tranh họ anh dũng chiến đấu, anh

dũng hy sinh (Phúc trong Bên lề cuộc tấn công và Thịnh "con", Thịnh "nhớn", Hòa trong Nỗi buồn chiến tranh), nhưng cũng có những người không thắng nổi giây phút yếu hèn (Can trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh) Trở về sau

chiến tranh có người phải để lại một phần thân thể trên chiến trường, có người mang trong mình thương tích "bệnh hoạn" về tâm hồn (như Khương, Tú trong

Rửa tay gác kiếm, ông già trong Ngôi sao vô danh hay Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh), có người thì luôn sống trong mặc cảm, cô đơn (Mộc trong Trại bảy chú lùn, Phúc trong Thời tiết của ký ức), có người mãi day dứt trong đời sống

nội tâm Thế nhưng, miêu tả người lính với mong muốn vượt lên những tầm

Trang 32

thường, phần xấu xa, “rắn rết” trong con người để hướng tới một nhân cách người lính cao đẹp là điều mà Bảo Ninh mong muốn thể hiện

Tóm lại, tìm hiểu về quan niệm nghệ thuật về con người của Bảo Ninh sẽ giúp chúng ta có cơ sở đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, tìm hiểu những cách tân, khám phá của Bảo Ninh về mặt thi pháp thể loại

Trang 33

Chương 2 : Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh

2.1 Những vấn đề chung về nhân vật

“Nói đến nhân vật văn học là nói đến con đường miêu tả, thể hiện trong

tác phẩm bằng phương tiện văn học” [43; 277] Nhân vật văn học là đối tượng

để nhà văn khái quát, phân tích đời sống và tái hiện bằng các phương tiện đặc

trưng của văn chương Nói đến nhân vật văn học là nói đến : “khái niệm dùng để

chỉ hiện tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức và tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [60; 73]

Xem xét vai trò của nhân vật đối với hình thức tác phẩm, trong cuốn Văn

chương dẫn luận, G N Pospelov nhấn mạnh:

“Nhân vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó

quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [xem 17]

Nhân vật là yếu tố vừa thuộc về nội dung vừa thuộc về hình thức tác phẩm Nhân vật là điều kiện thiết yếu để sự khám phá, sự đánh giá - lí giải, sự miêu tả mang tính nghệ thuật của tác giả về đời sống đạt đến tính toàn vẹn, có chiều sâu

và có sức hấp dẫn riêng đối với độc giả Có thể nói, yếu tố nhân vật chi phối mạnh mẽ đến sự thành công hay thất bại của tác phẩm

Nhân vật văn học sẽ có nhiều chức năng tương ứng với nhiều vai trò khác nhau trong tác phẩm Nhìn một cách tổng quát, các chức năng đó là:

Thứ nhất: miêu tả và khái quát các loại tính cách trong xã hội

Thứ hai: là công cụ để nhà văn sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của tác

phẩm, là chiếc chìa khóa để nhà văn mở cánh cửa bước vào hiện thực đời sống

vô cùng rộng lớn, đặt ra những vấn đề mới mẻ, sâu sắc

Trang 34

Thứ ba: biểu hiện tư tưởng, quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống

Thứ tư: quyết định hình thức tác phẩm, tạo nên mối liên kết giữa các yếu tố thuộc hình thức tác phẩm

Xét một cách chung nhất nhân vật văn học là thành tố quan trọng trong tác phẩm, là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn xây dựng bằng những yếu tố nghệ thuật độc đáo Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận

về những đóng góp riêng của nhà văn đó

Mỗi nhà văn thường có những nhân vật trung tâm, ở đó thể hiện rất rõ phong cách nhà văn, đồng thời thông qua nhân vật có thể tìm hiểu quan niệm của nhà văn về hiện thực đời sống đã được khái quát Đến với truyện ngắn Bảo Ninh, nhân vật có vai trò vô cùng quan trọng, nhân vật là linh hồn của mỗi tác phẩm, là người phát ngôn cho tư tưởng nhà văn, thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Việc tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh là việc làm vô cùng cần thiết

2.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh

2.2.1 Loại nhân vật người lính

Chiến tranh chống Mỹ chiếm trọn hai mươi năm của thế kỷ Con người Việt Nam phải chịu sự tác động ghê gớm của cuộc chiến tranh trường kỳ ấy Tới nay hòa bình đã trở lại nhưng những dư âm của chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi đối với con người thời hậu chiến Sức tác động của chiến tranh đến nhân cách con người cả trong chiến tranh và trong hòa bình vẫn là một chủ đề của văn học hôm nay Bên cạnh các tác giả văn học khác, Bảo Ninh đã tái hiện lại chân dung của người lính trong và sau chiến tranh một cách độc đáo

Trang 35

Truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu ra đời năm 1976 được coi

là tác phẩm mở đầu cho sự đổi mới lĩnh vực viết về chiến tranh Trong tác phẩm này Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho văn học một cách nhìn mới về con người, hình tượng người lính không còn mang vẻ đẹp của người anh hùng nhất phiến toàn diện nữa mà ở đó người lính trở về cuộc sống thường nhật với bao khó khăn vất vả

Cũng viết về người lính và chiến tranh, truyện ngắn Hai người trở lại

trung đoàn của Thái Bá Lợi khám phá theo lối tư duy mới, những người lính ở

đây không thể hiện phẩm chất anh hùng trong chiến đấu mà chủ yếu được khám phá trong các quan hệ đời thường, đời tư Đó là những con người không còn mang vẻ đẹp lý tưởng của văn học thời chiến mà là con người với lẫn lộn tốt xấu, trắng đen

Người lính trong truyện ngắn Bảo Ninh được nhìn nhận trong cuộc sống với đầy biến động Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc những hình tượng người lính với giọng nói riêng, tính cách riêng Mỗi con người một số phận, mỗi con người với niềm đau hạnh phúc riêng trong một cảm nhận về thực tại Tất cả họ hiện lên trang giấy như là nỗi ám ảnh về một quá khứ đầy đau thương nhưng rất đỗi anh hùng

Người lính trong truyện ngắn Bảo ninh hiện lên với những mất mát, đau thương; những nhân vật tự thú, sám hối và kiểu nhân vật lạc thời

2.2.1.1 Nhân vật người lính chịu nhiều mất mát, thiệt thòi

Đọc truyện ngắn Bảo Ninh, người đọc luôn nhận ra bất hạnh khác nhau của từng nhân vật Trước hết đó là những nỗi đau, mất mát của người lính trong chiến tranh

Trang 36

Mộc trong truyện ngắn Trại “bảy chú lùn” hy sinh cả thời tuổi trẻ của

mình vì nhiệm vụ của người lính hậu cần Bản thân Mộc cũng gánh chịu nhiều bất hạnh: mẹ chết , em trai chết Phải đến 18 năm sau Mộc mới về thăm quê Chiến tranh, những hy sinh mất mát của cá nhân là nhiều vô kể Bên cạnh Mộc,

Y Nua cũng là một người lính được khắc họa với nỗi đau thương mất mát

Trong chiến tranh Mộc không phải là người lính chiến, mới chớm chân qua biên giới anh đã bị sốt rét ác tính, đơn vị gửi anh về lán anh Nua - một trong những cơ sở hậu cần đầu tiên ở chiến trường B3 Cùng với năm đồng chí khác, Mộc đã được anh Nua một mình nuôi dưỡng Thế nhưng như một định mệnh đã được định sẵn, buổi chiều trước hôm Mộc và các đồng chí rời trạm thì anh Nua

chết ngoài nương "chôn Nua xong, không ai bảo ai "họ" đồng lòng ở lại cánh

rừng này tiếp tục vụ rẫy mà anh Nua đang làm dở, cứ hết mùa rẫy này rồi đến mùa rẫy khác, cứ thế, cứ thế mãi ” Miêu tả cái chết của anh Nua, sự thủy chung

tình nguyện ở lại của anh em, Bảo Ninh đã làm sáng lên nhân cách của người lính hậu cần Nhân cách được định hình trong chiến tranh

Bên cạnh Mộc, Y Nua, Trại “bảy chú lùn” còn xây dựng rất nhiều cái

chết đau thương khác, đó là những người đồng đội của Mộc Họ chết không chỉ bởi hòn tên mũi đạn của giặc Mỹ mà chết bởi những cơn sốt rừng, bởi những thân cây lớn đằn ngang người, những cái chết y hệt nhau Lần lượt từng người

một Mộc phải từ giã họ, Mộc nói: "chết vậy khổ lắm, hệt như nhau, các anh ấy

lên cơn sốt lúc đang phát rẫy Cây gẫy, chuyển răng rắc, nhưng mắt hoa, chân tay run giật, đáng lẽ tránh sang trái lại bước sang phải Mà khi chưa tắt thở thì không thể nhấc cây lên được cằm run bần bật, răng cắn nát môi, tóc bết vào trán và máu thì không rỉ một giọt, mắt tím thâm và tỉnh táo, chịu trọn cái đau cho đến lúc chết Mọi người xúm quanh bất lực" Cái đau đớn của người chết và

Trang 37

cái đau đớn của người chứng kiến không có gì khác nhau Tất cả những điều đó tạo thành bi kịch

Xây dựng kiểu người như Mộc, nhà văn còn xoáy sâu vào nỗi đau lẩn khuất trong tâm hồn của mỗi người lính Anh đã yêu mà không dám thổ lộ, anh cay đắng nhìn người mình yêu (Nga) sinh con cho người khác rồi lại thương yêu đứa trẻ như con mình Đây chính là bi kịch tình yêu trong đời của Mộc Anh

là mẫu người chỉ yêu một lần trong đời Bi kịch của Mộc cũng là bi kịch của nhiều người lính, là bi kịch yêu thương mà không được đền đáp, khát khao một mái ấm gia đình nhưng điều đó lại vượt quá tầm tay Người lính đã hy sinh tất cả tất cả cho cuộc sống, hạnh phúc của mọi người nhưng cái mà họ nhận lại có khi

chỉ là những khổ đau, mất mát, những cay đắng, xót xa Và ở truyện ngắn Trại

"bảy chú lùn" không chỉ mình Mộc âm thầm đau đớn vì tình yêu mà còn có

Huy, có Nga Khi miêu tả số phận như Mộc, Bảo Ninh nhằm lý giải một điều: chiến tranh làm cho con người biết hy sinh và bi kịch do chiến tranh đem lại là điều khó tránh khỏi

Cùng có nỗi đau như Mộc nhân vật "tôi" trong truyện Bí ẩn của làn nước

không thể quên được điều bí ẩn của riêng mình Năm tháng trôi qua, thời gian như dòng sông trôi chảy, chiến tranh là nguyên cớ của mọi nỗi đau, và với nhân vật "tôi", đó là nỗi đau không thể nói nên lời, nó ở trong tận cùng tim anh, trong

sự mất mát vô bờ - trong định mệnh oái oăm Bảo Ninh đã chớp lấy một khoảng khắc đau buồn do chiến tranh gây ra, tạo nên một tình huống đầy kịch tính: đó là trong cơn hoạn nạn của "đại hồng thủy", nhân vật "tôi" không thể cứu được vợ con mình mà cứu đứa con của người khác Thật chua xót khi mọi người lầm tưởng đứa con gái anh cứu được là con anh Không ai biết, chỉ có anh và dòng nước biết, sự nhầm lẫn của số phận và nỗi bi kịch âm thầm chảy trong mạch

Trang 38

huyết của anh: "Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử, tất cả đểu

đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói nên lời"

Thể hiện rõ nhất cho những bi kịch của người lính trong chiến tranh phải

kể đến bi kịch của tình yêu Cùng với bi kịch tình yêu của Mộc trong Trại “bảy

chú lùn”, Bảo Ninh cũng chú tâm xây dựng rất nhiều bi kịch tình yêu khác trong

cuộc sống của người lính trong chiến tranh Ít viết về nỗi đau, sự li biệt là đặc trưng của truyện ngắn cách mạng, còn ở truyện ngắn Bảo Ninh, tác giả muốn thể hiện hoàn cảnh của chiến tranh là hoàn cảnh đã khiến cho tình yêu lứa đôi không được vẹn tròn Các truyện ngắn hầu hết viết về nỗi bi thương, đau khổ của tình

yêu trong hoàn cảnh chiến tranh Rửa tay gác kiếm là nỗi xót xa của người chồng bị phụ bạc, Bí ẩn của dòng nước là nỗi chua chát về một định mệnh oái oăm, Thời tiết của ký ức là sự khắc khoải về năm tháng không được sống cùng

nhau của Phúc và Quỳnh Mỗi câu chuyện thể hiện một bi kịch tình yêu khác nhau Thường khi nói đến tình yêu, người ta thường nghĩ đến một vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng Thế nhưng hầu hết truyện ngắn Bảo Ninh chỉ có một nỗi buồn, tất cả bi kịch ấy đều là bi kịch mà chiến tranh gây ra đối với người lính

Có thể thấy rõ bi kịch tình yêu của người lính qua truyện Hà Nội lúc

không giờ Đó là một câu chuyện của người lính thời hậu chiến khi trở về với

căn nhà cũ, anh là: "người bộ hành đang dạo bước canh khuya, lặng lẽ rẽ khỏi

đời thực, âm thầm đi lẫn vào sự vật xưa kia" anh trở về với không gian sinh hoạt

ở căn nhà số bốn, nơi đó ghi dấu ấn của đêm Hà Nội lúc không giờ, nơi có những đứa trẻ nghèo vui chung nhau đón tết, chúng lớn lên và chứng kiến tình yêu của anh Trung, chị Giang và Pét xồm Chiến tranh tất cả mọi người phải lên đường chiến đấu, chiến tranh khiến cho những đứa trẻ nơi căn nhà số bốn phải xa cách nhau Trong ngày lễ tiễn tân binh, lũ trẻ con đã ngậm ngùi trước những giọt nước

Trang 39

mắt của chị Giang khi tiễn anh Trung lên đường nhập ngũ Không gian sinh hoạt

đó khép lại, thời thơ ấu của bọn trẻ vĩnh viễn ra đi Nhưng chính từ nơi đó bao tình yêu đã nảy nở, có tình yêu của anh Trung đối với chị Giang, của Pets xồm

đối với chị Giang và của cả thằng bé mười ba tuổi đối với chị Giang "Gần trọn

đời trai trẻ của tôi không hề được hưởng tình yêu tình cảm dành trọn cho đồng đội" nhưng đằng sau thực tại nhân vật tôi đã nghĩ về chị Giang, tưởng tượng ôm

chị ấy trong vòng tay để chạm vào đôi môi của chị, hít thở hương thơm của làn

da và mái tóc chị Có thể thấy chiến tranh đã biến tình yêu lứa đôi thành bi kịch,

sau này nhân vật tôi đã hiểu ra rằng: "những tội lỗi trong mơ ngày đó chính là

hình bóng của mối tình đầu" Có điều gì đó xót xa trong tâm hồn người lính thời

hậu chiến - phải chăng là sự thấu hiểu về thân phận tình yêu trong chiến tranh:

"qua hết những năm vị thành niên cho đến ngày nhập ngũ, trải sáu năm chiến

trường chẳng từng được gần gũi một người con gái nào"

Khi viết về chiến tranh, Bảo Ninh quan tâm đến những đau thương, mất mát của con người từ những nỗi đau thể xác đến nỗi đau tâm hồn Điều mà những nhân vật của họ mong đợi là hết chiến tranh, nhưng liệu có phải sau chiến tranh họ sẽ trở lại cuộc sỗng bình thường, hòa bình có đồng nghĩa với hạnh phúc Xây dựng nhân vật với những đau thương, mất mát không chỉ ở trong cuộc chiến

mà cả những di chấn ở thời bình, Bảo Ninh đã góp phần lý giải cho câu hỏi đó

Âm thầm với nỗi đau từ hơn hai mươi năm trước, Mộc trong truyện ngắn

Trại "bảy chú lùn" làm bạn với cánh rừng già, quên cuộc sống đã hòa bình từ

lâu Anh không ra khỏi khu rừng gắn với anh một thời bom lửa Với anh cũng như những đồng đội của anh gửi tuổi trẻ cho chiến tranh, chờ đợi hết chiến tranh, nhưng khi chiến tranh kết thúc, bước hòa bình, anh ngỡ ngàng, cô độc, người thân chẳng còn ai, không có gia đình Mọi sự với người đàn ông như Mộc thế là

dở dang Mộc mất thăng bằng trước cuộc sống hòa bình Anh không thích nghi

Trang 40

với cuộc sống ngoài khu rừng già, hết chiến tranh anh vẫn ở lại với cánh rừng bốn bề vắng lặng, một mình cô đơn Theo như lời của Mộc, anh cô đơn bởi chịu

sự trừng phạt của số phận vì anh vào chiến trường mà không biết thằng Mỹ mồm ngang mũi dọc ra sao? anh đã ở nơi đây những hơn hai mươi năm cũng day dứt bởi điều đó

Câu nói của anh với người đưa thư: "họa chăng có ông trời muốn biên thư

cho tôi" là một câu nói đùa nhưng thực sự pha lẫn chua xót Mộc hiểu rõ sự liên

hệ của anh với mọi người là không có, trước đây anh có đồng đội nhưng không

ai sống sót qua nổi chiến tranh Những đau khổ tích tụ lại khiến Mộc không thể rời được chốn ấy, dù trong thời chiến anh đã luôn luôn sống trong hy vọng, trong thấp thỏm: hy vọng một ngày hết chiến tranh

Cũng như Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, Khương trong Rửa tay gác

kiếm không thể nào thoát khỏi những di chấn của chiến tranh Ban ngày khương

hoàn toàn bình thường nhưng cứ đến nửa đêm anh lại “nghiến răng, nói mớ và

rên rỉ” Những đau đớn của Khương là đau đớn của giấc mơ Trong mơ, Khương

thấy lại “cảm giác đau của những lần bị thương trước đây” Vết thương chiến

tranh ấy chỉ xuất hiện ở trong thời bình Không phải chỉ có Khương mới mắc căn bệnh đó mà hầu hết những người lính trong khu nghỉ dưỡng đều ít nhiều mang những di chấn của chiến tranh Bảo Ninh viết: "Tú chẳng hạn, luôn sống lại với

trái bom CBU ném xuống rừng cao su Xuân Lộc Hầm sập và Tú ú ớ ngạt thở, thấy mình bị chôn sống Còn tôi, tôi mơ thấy mưa thuốc độc, mơ thấy những rừng già trên bờ Ngọc Bờ Chiêng bị bọn Mỹ biến thành đại ngàn củi khô" Nỗi

khiếp sợ súng đạn chiến tranh của những người lính đã biến thành những giấc

mơ hãi hùng trong thời hậu chiến

Ngày đăng: 23/07/2015, 18:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Tuấn Anh (1995), "Văn học đổi mới và phát triển", Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học đổi mới và phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
[2] Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
[3] Nguyễn Minh Châu (1987), "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa", Văn nghệ, (49) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[4] Nguyễn Minh Châu (1987), "Người lính chiến tranh và nhà văn", Văn nghệ quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lính chiến tranh và nhà văn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[5] Nguyễn Minh Châu (2002), Trang giấy trước đèn, phê bình và tiểu luận, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
[6] Trần Cương (1986), "Về một vài hướng tiếp cận đề tài chiến tranh", Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một vài hướng tiếp cận đề tài chiến tranh
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1986
[7] Nguyễn Văn Dân (1989), Những vấn đề lý luận văn học so sánh, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1989
[8] Trương Đăng Dung (2001), "Những đặc điểm cả hệ thống lý luận văn học Macxit thế kỷ XX", Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm cả hệ thống lý luận văn học Macxit thế kỷ XX
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2001
[9] Đinh Xuân Dũng (1989), "Vài suy nghĩ về những cuộc tranh luận gần đây", Văn nghệ, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về những cuộc tranh luận gần đây
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 1989
[10] Đinh Xuân Dũng (1990), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1990
[11] Đinh Xuân Dũng (1990), "Đổi mới văn học chiến tranh", Văn nghệ, (51) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học chiến tranh
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 1990
[12] Đoàn Ánh Dương (2009), “Bảo Ninh – nhìn từ thân phận truyện ngắn”, evan.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Ninh – nhìn từ thân phận truyện ngắn
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2009
[13] Trần Thanh Đạm (1989), "Bàn thêm về con người trong văn học", Văn nghệ, (35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về con người trong văn học
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 1989
[14] Phan Cự Đệ, chủ biên (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ, chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[15] Trung Trung Đỉnh (1987), "Suy nghĩ của người trong cuộc", Văn nghệ quân đội, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ của người trong cuộc
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Năm: 1987
[16] Nguyễn Hương Giang (2001), "Người lính sau hòa bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới", Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lính sau hòa bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Hương Giang
Năm: 2001
[17] G.N.Pospelov (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: G.N.Pospelov
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
[18] Đỗ Mai Hà (1987), "Hội thảo về truyện ngắn với đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng", Văn nghệ quân đội, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về truyện ngắn với đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng
Tác giả: Đỗ Mai Hà
Năm: 1987
[19] Nhiều tác giả (1984), "Góp mặt và trao đổi đề tài chiến tranh trong văn học", Văn nghệ Quân đội, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp mặt và trao đổi đề tài chiến tranh trong văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1984
[20] Nhiều tác giả (1998), "Hội thảo về tiểu thuyết", Văn nghệ, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về tiểu thuyết
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm