1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận động của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 - Từ góc nhìn nhân vật

154 430 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng là một hướng tiếp cận để thấy được sự vận động của văn học Việt Nam ở đề tài này, qua đó cũng hiểu thêm những vấn đề lý thuyết về nhâ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy giáo, cô giáo, người thân trong gia đình cùng bạn bè và đồng nghiệp

Vì vậy, khi hoàn tất luận văn này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới những người thân đã quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập

và hoàn thành công trình nghiên cứu này

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn và kính trọng sâu sắc nhất đối với

PGS.TS Nguyễn Thanh Tú – Người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá

trình hoàn thành luận văn này Thầy đã mở ra cho tôi những vấn đề khoa học rất

lý thú, hướng tôi vào nghiên cứu lĩnh vực khoa học hết sức thiết thực và vô cùng

bổ ích, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu

Tôi đã học hỏi được rất nhiều ở Thầy phong cách làm việc cũng như phương pháp nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo trong tổ Lí luận văn học, khoa Ngữ văn, phòng Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu./

Hà Nội, tháng 12 năm 2011

Tác giả luận văn

Ngô Thị Hải Vân

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Ngô Thị Hải Vân

Trang 4

Nội dung

Chương 1: Nhân vật trong tiểu thuyết sau 1975 về đề tài Chiến tranh

cách mạng- Một cái nhìn toàn cảnh

13

1.2.3 Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh cách mạng

sau năm 2000

19

1.3 Nhân vật trong tiểu thuyết 1945 – 1975 về đề tài chiến tranh 22 1.3.1 Nhân vật trong tiểu thuyết 1945 – 1975 về đề tài chiến tranh 22 1.3.2 Nét đặc thù của việc khám phát thể hiện số phận con người ở tiểu

thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học cách mạng Việt Nam trước

1975

26

1.3.2.2 Né tránh thể hiện những bi kịch số phận 31

1.4 Nhân vật trong tiểu thuyết 1975- 1986 về đề tài chiến tranh 35 1.4.1 Nhân vật trong tiểu thuyết 1975- 1986 về đề tài chiến tranh 35 1.4.2 Những điều kiện đưa đến bước chuyể trong việc khám phá, phể

hiện số phận nhân vật ở tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về đề tài chiến

tranh

41

1.4.2.1 Hiện thực bề bộn của đất nước thời hậu chiến 41

Trang 5

1.4.2.2 Sự trăn trở về thiên chức của nhà văn 44 1.4.2.3 Ảnh hưởng của mảng tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh

trong văn học thế giới

46

Chương 2: Hình tượng người lính – Những nét đổi mới cơ bản từ

phương diện loại hình nội dung

48

2.1 Đưa người lính trở về đời thường

2.1.2 Người lính – nhân vật bi kịch, nhân vật bị chấn thương 56

2.1.4 Người lính – con người tự nhiên, bản năng 66 2.2 Hình tượng nhân vật kẻ thù trong tiểu thuyết 2004 – 2009 về đề tài

3.2.2.2 Rút ngắn thời gian sự kiện, kéo dài thời gian tâm trạng 109

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Chiến tranh nhìn từ góc độ nhân tính tự nhiên là một hiện tượng bất thường Bởi nó đem lại cho cả hai bên tham chiến những mất mát, đau thương,

và sự thù hận Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta đã

đi qua nhiều năm nhưng nỗi đau trong lòng người vẫn âm ỉ không nguôi Vì vậy chiến tranh vẫn luôn là một trong những đề tài thu hút nhiều cây bút trong và ngoài quân đội suy ngẫm, khám phá, tái hiện và sáng tạo

Hoà vào dòng chảy của đề tài hấp dẫn đó, cuộc vận động sáng tác văn học của Bộ Quốc phòng vẫn diễn ra 5 năm một lần và cuộc thi gần đây nhất được tổng kết vào cuối năm 2009 đã thu được nhiều thành tựu đáng mừng Chúng ta

có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu, “Ngày rất dài” (Nam Hà),”Những bức tường lửa”(Khuất Quang Thuỵ),” Thượng Đức” (Nguyễn Bảo),” Rừng thiêng nước trong” (Trần Văn Tuấn),” Bến đò xưa lặng lẽ” (Xuân Đức),” Tiếng khóc của nàng Út”(Nguyễn Trí Trung), “Sóng chìm” (Đình Kính) những tác phẩm

này góp thêm cái nhìn mới, tiếng nói mới về hai cuộc chiến tranh của dân tộc Cũng qua những tác phẩm này chúng ta phần nào thấy được sự vận động của văn học Việt Nam hôm nay nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng 1.2 “Tiểu thuyết là loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhậy bén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực” Nói đến tiểu thuyết là nói đến vấn đề xây dựng nhân vật Nhân vật chính là điều kiện thiết yếu đảm bảo cho sự miêu tả thế giới có chiều sâu và mang tính hình tượng Nó còn là phương tiện khái quát hiện thực, thể hiện tư tưởng quan niệm của nhà văn về con người và thế giới.Tìm hiểu nhân vật trong

Trang 7

các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng là một hướng tiếp cận để thấy được sự vận động của văn học Việt Nam ở đề tài này, qua đó cũng hiểu thêm những vấn đề lý thuyết về nhân vật tiểu thuyết và thể loại tiểu thuyết Thực hiện đề tài “Sự vận động của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975- Từ góc nhìn nhân vật” Người viết muốn có cái nhìn khái quát, hệ thống của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh Việt Nam sau 1975, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu những tiểu thuyết gần đây Tuy nhiên do khuôn khổ của một đề tài nghiên cứu cấp Thạc sĩ, luận văn này không thể giải quyết được mọi vấn đề của một khu vực tiểu thuyết đã phát triển rất sôi nổi ấy Người viết lựa chọn phương diện nhân vật của tiểu thuyết giai đoạn này làm đề tài luận văn với mong muốn

từ một góc độ hẹp, một phương diện cơ bản của nghệ thuật tiểu thuyết nhằm khảo sát một cách hệ thống, kĩ lưỡng để nhận diện và miêu tả thế giới nhân vật tiểu thuyết giai đoạn sau 1975, nhưng cố gắng tìm ra những nét đổi mới cơ bản của tiểu thuyết sử thi 2004-2009 ở phương diện nhân vật

Chiến tranh và người lính vẫn là nguồn đề tài có sức hút mạnh mẽ trong các sáng tác của các nhà văn Trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học đã có nhiều công trình, bài viết trực tiếp hay gián tiếp đề cấp đến nhân vật trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh

Nhưng trên thực tế thì chưa có một bài viết, công trình nghiên cứu nào thể hiện một cái nhìn tổng quát, toàn diện và có hệ thống về việc thể hiện nhân vật trong tiểu thuyết 2004 -2009 về đề tài chiến tranh Vì vậy tác giả xin đi sâu tìm hiểu để có một nghiên cứu cụ thể về một phương diện quan trọng của tiểu thuyết: Nhân vật

Một vài ý kiến đánh giá về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh cách mạng sau 1975

Trang 8

Ngày 30 - 4 - 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng miền nam giành được thắng lợi trọn vẹn, mở ra một thời kỳ mới của đất nước Đã tròn ba mươi năm kể từ ngày ấy, đất nước ta trải qua vô vàn khó khăn, thách thức, vượt qua giai đoạn khủng hoảng trầm trọng của thời hậu chiến, và từ năm 1986 đã bước vào công cuộc đổi mới toàn diện Văn học Việt Nam vốn gắn bó chặt chẽ với đời sống và vận mệnh của dân tộc, nên từ sau 1975 cũng dần chuyển sang một thời kỳ mới, với những đặc điểm

và quy luật vận động khác trước Sau 10 năm chuyển tiếp (1975 - 1985), nền văn học bước vào thời kỳ đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ, hoà nhập vào công cuộc đổi mới mọi mặt trên đất nước ta Ba mươi năm văn học từ 1975 - 2005, đặc biệt là

từ 1986, là một chặng đường chưa dài nhưng vô cùng phong phú, đa dạng tạo nên diện mạo vô cùng mới mẻ của nền văn học Việt Nam đương đại

Chiến tranh tuy đã rời xa hơn 30 năm nay nhưng những vấn đề hậu chiến còn đang rất nóng bỏng Ấy là vấn đề hàn gắn vết thương chiến tranh, việc tìm hài cốt liệt sĩ, vấn đề chất độc màu da cam, công tác tháo gỡ bom mìn, chính sách đối với người có công Bởi vì các nhà văn hôm nay phần đông là những người đã trải qua chiến tranh vốn rất tha thiết với đề tài này

Trong bài viết: Người lính trong văn xuôi viết về chiến tranh của các nhà văn cầm súng (VNQĐ, 4/1995), Tôn Phương Lan đã có sự khái quát lại về hình tượng người lính trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược cũng như đưa ra lý do cần có sự đổi mới

ở thời kỳ sau 1975: “Viết về chiến tranh, về chủ nghĩa anh hùng, hình tượng anh

bộ đội trong các sáng tác văn xuôi của thời kỳ chống mĩ đã hiện ra với vẻ đẹp lộng lẫy mang tính chất sử thi Dĩ nhiên không thể nói rằng hình tượng kia là không chân thực Chúng ta đã tiến hành chống xâm lược của một siêu cường

Trang 9

Nếu không có những phẩm chất tốt đẹp kia thì chúng ta không thể làm nên chiến thắng Song dầu là một cuộc sống trong chiến tranh thì cuộc sống đó vẫn phải tuân thủ theo những quy luật của cuộc đời Những mặt trái của con người, của đời sống chiến tranh chưa được đề cập đã trở thành những hạn chế Đó là lý do khiến cho sau 1975, văn xuôi viết về chiến tranh, cũng vẫn do những nhà văn mặc áo lính đảm nhận, đã nhanh chóng tìm sự hoà nhập chung vào sự đổi mới của văn học và người chiến sĩ viết văn lại bước vào một sự thử thách mới của bản lĩnh, nghề nghiệp” Qua đó ta thấy được đổi mới cách viết về người lính trong chiến tranh là phải có cái nhìn toàn diện hơn về con người, bên cạnh “vẻ đẹp lộng lẫy mang tính sử thi” thì cần có “vẻ đẹp của sự giản dị, đời thường” Quan tâm hơn đến con người, các tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng

có sự mở rộng bình diện khám phá và tìm hiểu nhân vật, mang đến cho người đọc cái nhìn toàn diện hơn về con người trong chiến tranh cũng như về chiến tranh Điều này đã được Đinh Xuân Dũng đề cập đến trong bài viết “Đổi mới văn xuôi chiến tranh” đăng trên tạp chí Văn nghệ số 51/1990: “Nhiều nhà văn trong những năm gần đây đã không bằng lòng với việc miêu tả con người trong chiến tranh như các tác phẩm trước đây đã xuất hiện những loại tính cách hầu như rất mới, mà văn học chiến tranh trong các thời kỳ trước ít có Thế giới tinh thần của con người trong chiến tranh không còn được miêu tả thống nhất trọn vẹn như trước, mà chứa nhiều mâu thuẫn kịch tính Tính cách của mỗi người không phải được định hình ngay từ đầu mà thường xuyên biến đổi, luôn có những bước ngoặt, nhiều khi không thể lường trước được” Vấn đề trên một lần nữa được khẳng định qua các bài viết của Nguyễn Hũu Quý, Nguyễn Thị Xuân Dung

Trang 10

Những ý kiến, luận điểm được các nhà phê bình, nghiên cứu văn học đưa ra phần nào giúp chúng tôi có được cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Việt Nam ở mảng đề tài chiến tranh cách mạng giai đoạn 1945 - 1975 và đặc biệt là giai đoạn sau năm 1975

Một vài ý kiến đánh giá về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh cách mạng 2004 -2009

Nhận ra có sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người ở những tiểu thuyết viết về chiến tranh cách mạng, một số tác giả đi vào tìm hiểu biểu hiện

của sự đổi mới ở từng kiểu nhân vật Về kiểu nhân vật tập thể trong Những bức tường lửa, Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Tú trên VNQĐ 668 7/2008 cho rằng

: “nhân vật tập thể có tính đa chiều, góc cạnh hơn nên sinh động hơn, thật hơn” Nhà phê bình cũng tỏ rõ sự quan tâm của mình đến một số nhân vật anh hùng

“Trong tiểu thuyết này (Thượng Đức) ranh giới giữa nhân vật và đời sống bị rút

ngắn đến mức thấp nhất Nhân vật không chỉ là một ánh hào quang toả chiếu mà

đã có cái lấm láp bụi bặm của đời thường”, còn ở “Những bức tường lửa và Khúc bi tráng cuối cùng cấu trúc hình tượng của kiểu nhân vật này (tức kiểu

nhân vật anh hùng)đã được nhận thức lại, quan niệm mới hơn, phức tạp, đa dạng,

đa diện hơn” Bên cạnh đó Nguyễn Thanh Tú còn đề cập đến kiểu nhân vật kẻ thù “Nhân vật thiếu tá Hồng Nhị trong Ngày rất dài và thiếu tướng Phạm Ngọc Tuấn trong Khúc bi tráng cuối cùng là nhữnh nhân vật kẻ thù được xây dựng khá

công phu với một quan niệm nghệ thuật toàn diện hơn nên hiện ra sống động với một đời sống riêng khó lẫn”(I 60) Bùi Việt Thắng khi đề cập đến kiểu nhân vật này đã chỉ ra : “Nhân vật thiếu tá quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng và nhân vật

tiểu đoàn trưởng Hà Văn Lầu trong Thượng Đức đã được nhà văn”đối xử công

bằng hơn” Cả hai nhân vật này được nhà văn thể hiện cả phần “con người trong

Trang 11

con người”- nghĩa là ngoài bộ mặt của một sĩ quan được xếp vào loại có nợ máu với nhân dân, thì trong mỗi cá nhân đó vẫn không mát đi phần con người như bất

kỳ ai”(II 1)

Các bài nghiên cứu về những tác phẩm thuộc phạm vi tìm hiểu của đề tài đã

có những đánh giá đáng chú ý Nhân vật của các tiểu thuyết được quan tâm một cách riêng rẽ, có đánh giá một cách hệ thống về phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật thì dường như chưa có bài viết nào trực tiếp đề cập và chỉ ra Do vậy, với đề tài này, chúng tôi xin được tiếp tục phát triển theo cách của riêng mình

1.3 Là một giáo viên, với đề tài này người viết có cơ hội hiểu hơn về con người trong chiến tranh, về bản chất cuộc kháng chiến đầy đau thương mất mát nhưng rất hào hùng của dân tộc, sẽ được bổ sung những kiến thức lịch sử văn học và lí luận văn học để phục vụ cho viêc giảng dạy

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Với đề tài: “Sự vận động của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975- Từ góc nhìn nhân vật”, luận văn nhằm:

- Làm rõ sự vận động về mặt thể loại của tiểu thuyết sử thi Việt Nam viết

về đề tài chiến tranh cách mạng từ sau 1975 và nhấn mạnh ở giai đoạn

2004-2009

- Cụ thể hoá một bước những vấn đề lý thuyết về nhân vật tiểu thuyết sử thi

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng: Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam về đề tài chiến tranh sau 1975

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975

Trang 12

- Đặc biệt đi sâu tìm hiểu các tiểu thuyết tham gia giải thưởng Bộ Quốc Phòng 2004 - 2009

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khi thực hiện đề tài này, người viết có sử dụng một số phương pháp sau : Phương pháp hệ thống: hệ thống những chi tiết, nhân vật theo các luận điểm, luận cứ làm sáng tỏ các nhận định được đưa ra Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá để có được cái nhìn bao quát về những vấn đề của tác phẩm, đồng thời đưa ra những ý kiến chủ quan của người viết

Phương pháp so sánh : chúng tôi cũng tiến hành so sánh nhân vật tiểu thuyết với các nhân vật của các thể loại khác trong cùng một thời kỳ, so sánh nhân vật tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng giai đoạn trước đổi mới với giai đoạn sau đổi mới, đối chiếu các nhân vật không chỉ về mặt nội dung mà còn về cách thức thể hiện để từ đó thấy được ý đồ sáng tác cùng tư tưởng của nhà văn

Ngoài ra bài viết còn sử dụng các hướng tiếp cận như: thi pháp học, ngôn ngữ học, phong cách học

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Các bài nghiên cứu về những tác phẩm thuộc phạm vi tìm hiểu của đề tài đã

có những đánh giá đáng chú ý Nhân vật của các tiểu thuyết được quan tâm một cách riêng rẽ, có đánh giá một cách hệ thống về phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật thì dường như chưa có bài viết nào trực tiếp đề cập và chỉ ra Do vậy, với

đề tài này, chúng tôi xin được tiếp tục phát triển theo cách của riêng mình

Làm rõ sự vận động về mặt thể loại của tiểu thuyết sử thi Việt Nam viết về

đề tài chiến tranh cách mạng từ sau 1975 và nhấn mạnh ở giai đoạn 2004-2009

- Cụ thể hoá một bước những vấn đề lý thuyết về nhân vật tiểu thuyết sử thi

Trang 13

CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Tương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai qua 3 chương :

Chương 1 : Nhân vật của tiểu thuyết sau 1975 về đề tài chiến tranh Cách Mạng- Một cái nhìn toàn cảnh

Chương 2 : Hình tượng Người lính - Những nét đổi mới cơ bản từ phương diện loại hình nội dung

Chương 3 : Hình tượng người lính - Những nét đổi mới chủ yếu từ phương diện hình thức

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT SAU 1975 VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG - MỘT CÁI NHÌN TOÀN CẢNH

Trang 14

1.1 Khái niệm nhân vật

Nhân vật là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện văn học Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, là tiền đề để bộc lộ chủ đề và tư tưởng chủ đề, đến lượt nó lại được các yếu tố có tính hệ thống của các tác phẩm tập trung khắc hoạ Nhân vật do đó là nơi tập trung mọi giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học

Mỗi nhân vật là một yếu tố của sự phát triển, làm cho thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học không phải là một cái gì bất biến, chết cứng mà sống động như cuộc sống thực ngoài đời nhưng cô đọng, súc tích và ấn tượng hơn Nói đến nhân vật trong văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học Nó thường có tên gọi, có ngoại hình, tính cách có nội tâm và có quá trình phát triển tâm lý Nó có thể đại diện cho mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội.” Nhân vật là hình thức cơ bản để qua đó nhà văn mô tả thế giới một cách hình tượng”

Tuỳ theo tiêu chí xác định, nhân vật trong văn học thường được chia thành các loại như: nhân vật chính- nhân vật phụ, nhân vật chính diện- nhân vật phản diện, nhân vật chức năng, tính cách, hành động

1.2 Nhân vật trong tiểu thuyết

1.2.1 Nhìn chung về nhân vật trong tiểu thuyết

Trong tiểu thuyết, nhân vật luôn giữ vai trò chủ yếu, có vị trí trung tâm, cho nên khi sáng tác các nhà văn rất chú trọng xây dựng nhân vật Bởi nó không chỉ

có chức năng khái quát các quy luật của cuộc sống con người thông qua quan điểm của các nhân vật mà nó còn khái quát được nhiều tính cách các số phận, những lối sống của cá nhân hay cộng đồng ở một không gian, thời gian nào đó

Trang 15

Nhà văn xây dựng nhân vật là để thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của mình gắn với chủ đề, tư tưởng của tác phẩm

Trong tiểu thuyết lãng mạn Việt Nam, ta thường gặp những nhân vật chán nản, bi quan Đau buồn và cô đơn là tâm trạng chung của những nhân vật lãng mạn thời kỳ đó Qua đó, nhà tiểu thuyết lãng mạn muốn thể hiện một quan niệm

về con người cá nhân cô đơn, cực đoan Con người hoặc là thoát ly, hoặc là phản kháng yếu ớt, hoặc cố gắng đại diện cho chính mình nhằm bộc lộ tối đa cái bản ngã

Cách mạng tháng Tám là một “cuộc tái sinh màu nhiệm” Cách mạng đã hồi sinh dân tộc và hồi sinh văn học Tiểu thuyết mười năm kháng chiến chống Pháp

đã xây dựng những “đám đông nhân vật” Mỗi nhân vật đều được chú ý trước hết ở cấp độ “tập thể”, nghĩa là mỗi nhân vật đều biểu đạt cho cái chung mang ý

nghĩa thời đại, dân tộc, giai cấp Xung kích - (Nguyễn Đình Thi), Vùng mỏ (Vũ Huy Tâm), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc)

đều khắc hoạ được những tập thể anh hùng

Đến thời kỳ tiếp theo (1955-1964) bắt đầu xuất hiện thêm kiểu nhân vật ít nhiều

có số phận riêng, được cá thể hoá: Hoan (Đi bước nữa), Lão Am (Cái sân gạch), Phượng (Vỡ bờ), Nhân (Bão Biển) Những nhân vật này cho thấy quan niệm về

con người trong văn học lúc này đã có lưu tâm đến cái chung và cả cái riêng

Tiểu thuyết những năm kháng chiến chống Mĩ với các nhân vật Lữ, Khuê

(Dấu chân người lính), Đông, Quỳnh, Tú (Vùng Trời), Mẫn, Thêm (Mẫn và tôi) là biểu tượng của sức mạnh cộng đồng, thời đại, những con người mang vẻ

đẹp lý tưởng, trở thành chuẩn mực nhân cách phù hợp với cái nhìn sử thi của văn học thời này

Trang 16

Như vậy nhân vật trong tiểu thuyết liên quan chặt chẽ đến quan niệm về con người của mỗi giai đoạn lịch sử Nó là công cụ, là phương tiện là chìa khoá để

mở ra tư tưởng, quan niệm mà tác giả gửi gắm Và nó cũng chi phối trực tiếp đến việc tổ chức cốt truyện Trong tiểu thuyết nhân vật là đứa con tinh thần, là sản phẩm của vốn sống nhà văn, là nơi thể hiện rõ nhất quan điểm nghệ thuật, quan niệm của nhà văn về cuộc sống

1.2.2 Nhân vật của tiểu thuyết sử thi

Xuyên suốt các sử thi của mọi thời đại là hai kiểu nhân vật chủ yếu : nhân vật anh hùng và nhân vật nhân dân Đây là hai kiểu nhân vật có ý nghĩa loại hình tiêu biểu cho thế giới nghệ thuật sử thi

Nhân vật anh hùng luôn là nhân vật trung tâm của tác phẩm sử thi Các nhân vật khác thường chỉ giữ vai trò quy tụ “làm nền” để sáng tỏ vẻ đẹp của người anh hùng Ở đây những sức mạnh thể chất, tinh thần, tài năng được thể hiện Điều đó dẫn tới một qui luật của sử thi : đã là anh hùng thì nó luôn luôn đẹp trong mọi mối quan hệ với tự nhiên, xã hội, đẹp một vẻ đẹp kỳ vĩ, hào hùng cho cả cộng đồng dân tộc Nhân vật anh hùng sử thi thường có tầm vóc đẹp, có kích thước lớn lao hơn chính bản thân nó

Song, nói đến vẻ đẹp của người anh hùng sử thi thì ta chủ yếu phải nói đến

vẻ đẹp của phẩm chất, của tài năng phi thường Phẩm chất đầu tiên thường gặp ở người anh hùng sử thi là lòng dũng cảm, ý chí và nghị lực phi thường Lòng dũng cảm được coi là phẩm chất đạo đức có tính tuyệt đối của người anh hùng

sử thi Từ những trang viết của Hôme, của Tônxtôi đến tận những trang tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam, bao giờ người anh hùng cũng là những con người có tinh thần chiến đấu dũng cảm và ý chí chiến đấu mãnh liệt Trong những hình tượng nổi bật của tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975, hình

Trang 17

tượng người lính cách mạng được nhiều nhà văn xây dựng hơn cả Nét đẹp của

Lữ (Dấu chân người lính) trước hết là ở phẩm chất dũng cảm Cuộc đời anh

hùng của Lữ phát sáng trên đỉnh cao 475 : “Người chiến sĩ điện thanh ấy trước khi hy sinh còn ngẩng cao đầu lên lần cuối : trên nền trời rất cao, rất xanh, lá cờ

đỏ mỗi lúc một thắm tươi đang bay, lá cờ mỗi lúc còn tiến lên dần trước mặt Rồi anh nhắm mắt hẳn Những món tóc rất xanh rối bù, dính kết máu phủ kín cả vùng trán, lấm tấm mồ hôi đã trắng nhợt Dường như từ trong ngực anh, chiếc đài vẫn đang nói sang sảng” Hành động của Lữ là một sự xả thân vì nghĩa lớn -

sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc chiến đấu vì chân lý “không có gì chiến đấu vì độc lập tự do” sự hy sinh của Lữ - người anh hùng vô danh của lịch sử cũng hiển hách không kém gì sự hy sinh của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi

mà nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi trong bài thơ Hãy nhớ lấy lời tôi :

“Có những phút làm nên lịch sử

Có cái chết hoá thành bất tử

Có con người như chân lý sinh ra”

Kiểu nhân vật anh hùng như Lữ là kiểu nhân vật hư cấu được pha chất mầu huyền thoại (cái chết của Lữ giống như một sự tuẫn tiết)

Người anh hùng còn là người vượt lên được số phận khắc nghiệt để sống và

chiến đấu, trưởng thành như chị Tư Hậu trong tiểu thuyết Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái Chị Tư Hậu đã vượt lên trên hoàn cảnh khốc liệt của

chiến tranh (bản thân bị cưỡng hiếp, chồng chết rồi cha chồng chết, vừa phải nuôi con, vừa phải hoạt động, trở thành cán bộ kháng chiến)

Một phẩm chất lớn khác của người anh hùng sử thi là họ luôn mang một lý tưởng cao cả, khát vọng lớn lao Nếu lý tưởng của các anh hùng sử thi phuơng Tây là khát vọng chiến công giành vinh quang nơi chiến trận thì các anh hùng

Trang 18

của sử thi Ấn Độ lại mang một lý tưởng thuần khiết hơn Họ vướng về điều thiện, về lẽ phải, về đạo đức ở đời Đương nhiên lý tưởng của người anh hùng sử thi thời hiện đại sẽ có những phẩm chất mới mẻ, do nội dung cánh mạng của thời hiện đại mang lại Nhưng dù là anh hùng của thời đại lịch sử nào thì lý tưởng của

họ cũng có một phần phẩm chất cơ bản là dâng hiến tài năng, sức lực, là xả thân cho quyền lợi thiêng liêng của dân tộc, của tổ quốc

Cuối cùng, nhờ có sức mạnh tinh thần kỳ diệu, người anh hùng sử thi luôn lập được những chiến công hiển hách Những chiến sĩ lái máy bay như Đông,

Quỳnh, Tú (Vùng Trời) là những anh hùng trên trận chiến trên không Ngay trận

đầu, Tú đã lập mấy kỷ lục xuất sắc Mic 17 dám đánh nhau với F 105D và lần đầu tiên bắn rơi Thần Sấm khổng lồ, con “át chủ bài” của không lực Hoa Kỳ Đông cũng ngay trong trận đầu đã dũng mãnh truy kích địch, bắn rơi hai con Ma

và lúc hết dầu đã hạ cánh bắt buộc xuống một thung lũng hẹp Lữ (Dấu chân người lính) cùng đồng đội đã có được chiến thắng vẻ vang ở trên đồi 475: “thò

mũi giày vào chỗ nào cũng giẫm phải mũ sắt tiểu liên cực nhanh và xác Mỹ Xác lính Mỹ ngã chồng chất đè lên nhau, đầu thằng nào cũng bị hướng về trận địa phòng ngự, xác chúng đã lấp kín hết tất cả các cửa hầm” (6, 499) Chiến công của người anh hùng sử thi bao giờ cũng mang ý nghĩa lớn lao, đưa lại quyền lợi, danh dự và hạnh phúc cho cả cộng đồng dân tộc

Bên cạnh người anh hùng là nhân vật trung tâm, trong tác phẩm sử thi còn tồn tại một tập thể nhân dân có sức sống bền bỉ, có sức mạnh hoà hợp luôn tiếp sức cho người anh hùng làm nên những chiến công hiển hách Hình tượng nhân dân trong tiểu thuyết sử thi thường được thể hiện thông qua những nhân vật cụ thể : nhân vật người già, nhân vật phụ nữ và nhân vật số đông

Trang 19

Hình ảnh những người già thường giữ vai trò tiếp thêm sức mạnh trí tuệ cho người anh hùng Họ có nhiều kinh nghiệm và hiện diện như một biểu tượng cho sức sống lâu bền, cho trí tuệ kết tinh từ chiều sâu của lịch sử, của cả cộng đồng Trong những tình huống ngặt nghèo, khó xử, chính họ là người đưa ra những lời khuyên khôn ngoan nhất với người anh hùng Về kiểu nhân vật người già này

trong tiểu thuyết sử thi Việt Nam có thể kể đến má Ba, ông Hai Bền (Rừng U Minh), má Sáu, thím Ba Ú (Hòn Đất), ông cụ Lâm, ông Vàng (Cửa Sông)

Hình ảnh của người phụ nữ cũng thường xuyên có mặt trong tác phẩm sử thi Có khi họ trở thành nguyên nhân của cuộc chiến tranh, có lúc lại biểu tượng cho hoà bình, hạnh phúc Song dù lúc nào thì họ cũng toát lên tình cảm nhân ái bao dung, một tinh thần bền bỉ nhẫn nại luôn hướng tới khát vọng tình yêu hạnh phúc Họ đóng vai trò như một điểm tựa, một nền tảng tinh thần cho sức mạnh của người anh hùng nói riêng và sức mạnh cộng đồng nói chung Bằng chính sự cao thượng và những tình cảm nhân bản sâu sắc của mình, họ có khả năng thôi thúc nhiệt tình hành động Đặc biệt, trong sử thi hiện đại, hình ảnh của những nguời phụ nữ bình thường, những người mẹ, người vợ, người chị, người yêu

đã trở thành những biểu tượng đích thực về dân tộc, nhân dân Họ đẹp vì phẩm chất của chính họ và họ còn đẹp hơn bởi những gì họ đã đưa lại cho mọi người với một đức hi sinh đến vô cùng

Đóng vai trò làm nổi bật hình tượng người anh hùng trong tiểu thuyết sử thi chính là hình ảnh nhân vật - đám đông Đó là những ngươì quần chúng có tên hoặc không tên Họ luôn luôn là những tập hợp làm chỗ dựa vững chắc cho người anh hùng Họ luôn là một tập thể thống nhất, không tính toán thiệt hơn mà

chỉ nghĩ tới bổn phận của mình với tập thể Trong tiểu thuyết Hòn Đất (Anh

Đức) ngoài thành công trong xây dựng nhân vật Sứ như một điển hình của người

Trang 20

phụ nữ Việt Nam thời đại cách mạng, tác phẩm còn khắc hoạ rõ nét chân dung

và tâm hồn tập thể Ở đây, tất cả không trừ ai, đều sống và hành động theo một lẽ sống lớn - giết giặc cứu nước Tập thể anh hùng ấy là Quyên, Ngạn, anh Tám Chấn, em Bé

Nhìn chung, nhân dân chính là nguồn cội, là nền tảng, là điểm tựa để người anh hùng có thể thực thi lý tưởng cao cả và lập nên những chiến công hiển hách đem lại vinh quang cho chính những con người số đông ấy

Ngoài ra, trong tiểu thuyết sử thi còn xuất hiện một kiểu nhân vật khác là nhân vật kẻ thù - đối tượng chiến đấu của người anh hùng Chúng thường được xây dựng như một đối cực với nhân vật anh hùng về mọi phương diện

1.2.3 Nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam viết về chiến tranh cách mạng sau năm 2000

Giai đoạn 1945-1975 trong lịch sử văn học Việt Nam được coi là giai đoạn văn học sử thi, trong đó chúng ta có thể loại tiểu thuyết sử thi “Cuộc kháng chiến đã xa chúng ta 30 năm, trong khoảng thời gian ấy thể loại tiểu thuyết sử thi không chịu đứng yên mà nó đồng hành cùng văn học mang theo sứ mệnh đổi mới thể loại, mà những thành tựu đáng khích lệ được biểu hiện cụ thể qua các tác phẩm được giải thưởng Bộ Quốc phòng 5 năm 1999 - 2004

Từ 2004 đến nay đã có rất nhiều cuốn tiểu thuyết sử thi đạt giải thưởng của

Bộ Quốc phòng và Hội nhà văn Tuy nhiên số lượng các bài phê bình không nhiều chủ yếu tập trung ở phương diện hình thức biểu hiện, ít chú ý đến ý nghĩa

xã hội của những tác phẩm này

Trong những tài liệu hiện có, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu rất chú ý đến vấn đề nhân vật, thành công và hạn chế trong cách xây dựng nhân vật của những cuốn tiểu thuyết Nhân vật được xây dựng đa sắc diện là điểm chung

Trang 21

mà các nhà nghiên cứu đã chỉ ra Nhà văn Nguyễn Tiến Hải trong bản thẩm định những tác phẩm được giải tiểu thuyết sử thi của Bộ Quốc phòng đã chỉ ra: “thành công của tác phẩm là bên mỗi trận tuyến, từ người chỉ huy cho đến người lính ở nhân vật nào ngoài cuộc sống trận mạc ra tác giả đều cố gắng đi vào nội tâm, vào đời sống thường nhật của họ”(22) Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra hạn chế của tác phẩm “vì sự đồng đều ở các nhân vật mà tác giả không đầu tư sâu cho một vài

nhân vật chủ yếu.” Bên cạnh đó, với tác phẩm Ngày rất dài - Nam Hà được

Nguyễn Tiến Hải đánh giá cao ở hình tượng nhân vật “công phu và nổi bật nhất”

Nhà văn Khuất Quang Thuỵ nhận xét về Xiêng khoảng mù sương: “Cuốn tiểu

thuyết ngổn ngang, bộn bề sự kiện nhưng vẫn theo dõi được vì có các tuyến nhân

vật rõ ràng”(59) Về tác phẩm Thượng Đức - Nguyễn Bảo được Lê Hùng đánh

giá cao ở phương diện nhân vật: “viết rất khéo, rất chỉn chu thoát khỏi cách

đáng giá con người quy phạm” Nguyễn Thanh Tú trong bài: Đổi mới cấu trúc nhân vật trong sử thi hôm nay, đã khẳng định : “Trong Thượng Đức ranh giới

giữa nhân vật và đời sống bị rút ngắn tới mức thấp nhất Nhân vật không chỉ là một ánh hào quang toả chiếu mà đã có lấm láp của bụi bặm đời thường” (64, 97)

Nhà nghiên cũng cũng đã dành bài viết riêng về nhân vật trong Thượng Đức

“Nhà tiểu thuyết đã đi sâu phân tích tâm lý nhân vật”, bổ sung quan niệm về

người chỉ huy giỏi ,“phẩm chất cao quý nhất của người chỉ huy không phải là chuyện thắng thua mà là tình yêu thương đồng chí của mình”(65, 90), “ nhân vật chỉ huy được kéo trở về đời thường như nó vốn có, nhờ vậy mà thật hơn có ưu điểm và khuyết điểm không tránh khỏi những sai lầm” (65, 90-91) “ Nhà văn có

cái nhìn hiện thực tỉnh táo đối với nhân vật kẻ thù” Tác phẩm Khúc bi tráng cuối cùng - Chu Lai cũng dành được nhiều sự chú ý Nguyễn Tiến Hải cho rằng :

“Tác phẩm đã miêu tả cuộc đấu trí và thế giới nội tâm đầy phức tạp của các nhân

Trang 22

vật phía ta và địch Sự thật lịch sử được phản ánh trong tác phẩm nhằm hướng tới mục đích góp phần khắc hoạ tính cách, số phận nhân vật từ hai phía” (22)

Là người dành nhiều tâm huyết cho nghiên cứu về tiểu thuyết sử thi giai

đoạn này, Nguyễn Thanh Tú đã chú ý đến kiểu nhân vật tập thể trong Những bức tường lửa - Khuất Quang Thụy: “nhân vật tập thể có tính đa chiều, góc cạnh hơn

vì thế mà sinh động hơn, thật hơn” (66, 167) Đặc biệt, xét ở góc độ thi pháp:

“tác phẩm đã có một đóng góp tích cực trong việc góp thêm một cái nhìn mới, làm phong phú thêm cách hiểu về nhân vật này” Tác giả Nguyễn Chí Hoan cũng

bổ sung thêm: “Những bức tường lửa của Khuất Quang Thuỵ là một tác phẩm

hiếm hoi đã đưa người anh hùng vào tâm điểm khảo sát, hơn nữa đã tái hiện một lớp các nhân vật anh hùng”

Về nhân vật Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn các ý kiến tuy có

khác nhau trong cách gọi tên nhưng đều thống nhất chỉ ra tính chất đa dạng, toàn diện, đời thường của các nhân vật Đáng chú ý là các bài viết của Nguyễn Thanh

Tú, Bùi Thanh Minh, Thuần Nguyên Bùi Thanh Minh cho rằng: “tất cả các nhân

vật trong Rừng thiêng nước trong của Bùi Văn Tuấn đều mang tính chất “tưng

tửng” rất Nam Bộ miêu tả các nhân vật ở góc nhìn văn hoá” Theo Thuần Nguyên thì tác phẩm này đã “mang đến cho bạn đọc hôm nay cái nhìn toàn diện hơn về người chiến sĩ cách mạng : những người luôn đấu tranh với kẻ thù, vựợt qua mọi gian lao mà vẫn ngời lên ánh sáng của niềm tin chiến thắng và cả chiến sĩ hèn nhát không vượt qua được hoàn cảnh, đánh mất mình” (48, 47-48) Đặc điểm này đã được nhà nghiên cứu chỉ ra trong các nhân vật: Hai Lù, Khang,

Ba Tánh, giải sử thi ở tên gọi, tính cách nhân vật Lê Dy thì nhận xét “mỗi nhân vật của Trần Văn Tuấn hiện diện là một cảnh ngộ bất hạnh” (48 64), còn Hà Trọng Bảo đánh giá “tuyến nhân vật trong tác phẩm dàn trải, không có nhân vật

Trang 23

chính nhưng không lẫn vào nhau, không ai lấn át ai, tạo nên một tổng thể gắn kết vào nhau” (48, 16)

Tìm hiểu các bài viết hện có, chúng tôi nhận tháy có rất nhiều ý kiến thú vị

về nhân vật trong Bến đò xưa lặng lẽ - Xuân Đức Nguyễn Thanh Tú đã nói về

những ấn tượng đối với tác phẩm, đặc biệt là ấn tượng về nhân vật : “Phạm Đọt - một hậu quả chiến tranh, Ly điển hình cho sự tha hoá chiến tranh, Linh hậu quả của chiến tranh hôm qua và hậu quả của thương trường hôm nay” (48, 152-153) Khúc Hồng Thiện thì khẳng định “Nhà văn có một góc nhìn rộng, đa chiều đối với các nhân vật, điều này khiến các nhân vật hiện lên rất phong phú, hấp dẫn từ nhiều chiều kích khác nhau” “nhà văn đi sâu vào số phận nhân vật, gắn kết nhân vật - sự kiện” - là nhận xét của Bùi Thanh Minh

Trên đây là các ý kiến bàn về nhân vật trong các cuốn tiểu thuyết chiến tranh Nhưng các ý kiến này mới chỉ nghiên cứu ở những tác phẩm cụ thể, chưa

có những khái quát chung về nhân vật trong những cuốn tiểu thuyết này

1.3 Nhân vật trong tiểu thuyết 1945 - 1975 về đề tài chiến tranh

1.3.1 Nhân vật trong tiểu thuyết 1945 - 1975 về đề tài chiến tranh

Trong giai đoạn văn học 1945 - 1954 tiểu thuyết chưa thực sự phát triển và

do vậy tiểu thuyết viết về chiến tranh và hình tượng người lính mới chỉ là sự

manh nha và góp mặt rất khiêm tốn như “Xung kích” của Nguyễn Đình Thi,

“Vùng mỏ” của Võ Huy Tâm, “Con Trâu” của Nguyễn Văn Bổng Nhìn chung

những tiểu thuyết này đã bám sát được những sự kiện trọng đại của cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện” của dân tộc ta lúc bấy giờ Một chiến dịch của bộ đội, một đợt tiếp vận ra chiến trường của một đoàn dân công, một cuộc đấu tranh

du kích ở vùng giáp ranh đều được tiểu thuyết phản ánh rõ nét Nhân vật trong

Trang 24

tiểu thuyết này mang “gương mặt” và sức mạnh của đám đông tập thể quần chúng Tính cách và số phận của từng người lính chưa phải là điều được nhà văn quan tâm và làm nổi bật Nói cách khác, số phận của mỗi người lính đều được thể hiện thống nhất với vận mệnh và con đường đi của cả dân tộc, cả giai cấp Chính vì vậy, tiểu thuyết trong giai đoạn này chưa có được nhiều điển hình sâu sắc mà đa số đang gần gũi với các thể ký, mang đậm chất ký Song điều quan trọng là tiểu thuyết giai đoạn này đã mở ra những hướng tìm tòi mới trong việc tiếp cận và phản ánh đời sống xã hội, lịch sử, nó mở đường cho cái nhìn mới về quan niệm nghệ thuật về con người và việc khắc hoạ thành công hình tượng người lính ở những giai đoạn sau

Có thể nói, công cuộc kháng chiến đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã mở ra cho tiểu thuyết một hướng đi mới, đánh dấu sự phát triển thực sự của thể loại này và đặc biệt là hình tượng người lính bắt đầu được khám phá và được khai thác có chiều sâu Các

tiểu thuyết lần lượt ra đời như : Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Vượt côn đảo (Phùng Quán), Một chuyện chép ở bệnh viện (Bùi Đức Á), Bên kia biên giới, Trước giờ nổ súng (Lê Khâm), Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Cao điểm cuối cùng (Hữu Mai), Đất lửa (Nguyễn Quang Sáng)

Những tiểu thuyết này đã làm sống lại hình ảnh cuộc kháng chiến trường kỳ

và anh dũng của toàn dân ở nhiều địa phương trên nhiều mặt trận, trong những hoàn cảnh khó khăn, thử thách có những chiến công to lớn và cả những hy sinh mất mát Đã có những hình tượng đẹp, những nhân vật điển hình, những tính cách điển hình đặt trong những hoàn cảnh điển hình Chiến tranh đã tôi luyện nên những mẫu anh hùng vẻ vang, hun đúc nên vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu và chiến thắng

Trang 25

Giai đoạn văn học thời kỳ chống Mỹ đã xuật hiện những tiểu thuyết xuất sắc và hình tượng người lính đã được khắc hoạ một cách rõ nét thấm đẫm tính sử thi Người lính được xây dựng là con người lí tưởng của thời đại, là người anh hùng trong tư thế tiến công, chiến đấu và chiến thắng

Các tác phẩm Hòn đất (Anh Đức), Rừng U Minh(Trần Hiếu Minh), Gia Đình Má Bẩy (Phan Tứ), Đất Quảng (Nguyên Ngọc), Mẫn và Tôi (Phan Tứ), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Chiến sĩ (Nguyễn Khải), Vùng trời

(Hữu Mai) Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn quyết liệt, cả nước thành chiến trường, khát vọng độc lập tự do cháy bỏng hơn bao giờ hết Nhân vật trung tâm trong các tác phẩm là nhân vật người lính - là những con người mang lý tưởng của thời đại, là những người anh hùng luôn trong tư thế tiến công để chiến đấu và chiến thắng Những người lính cả thế hệ

già và trẻ trong tiểu thuyết “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Chấu đều ý

thức sâu sắc về cuộc kháng chiến chống mỹ và trách nhiệm cao cả của thế hệ

mình Thiêm trong “Mẫn và tôi” của Phan Tứ hiểu rằng “ Loài người đang đánh

lấn đế quốc từng bụi tre một” Đông, Quỳnh những chiến sĩ lái máy bay đẹp đẽ, trẻ trung đã xông lên bầu trời đối mặt với kẻ thù và chiến đấu như bằng sức mạnh của toàn dân tộc (Vùng Trời - Hữu Mai) Cuộc chiến đấu đã đánh thức ở tất cả mọi người ý thức được khẳng định mình trong hành vi xả thân cống hiến, trong tình yêu đất nước, yêu chế độ Con người lớn thêm lên về kích thước, đẹp thêm lên trong các mối quan hệ Con người tượng trưng cho đất nước, mang dáng vóc đất nước trở thành hình tượng nghệ thuật phổ biến Cùng với tầm cao nhận thức, lý tưởng, hình tượng người lính trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ này là con người của ý chí lớn, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Lý tưởng và nhận thức đã trở thành ý chí và hành động Nhiều tác phẩm đã đặt con người

Trang 26

trước sự lựa chọn nghiệt ngã của sống và chết để khẳng định ý nghĩa cao cả của

sự hy sinh Những con người đại diện cho vùng đất, vùng trời, mang sức mạnh của cội nguồn quê hương Những người lính được hun đúc qua khói lửa chiến tranh, chắt lọc, kết tinh ý chí qua dòng chảy của thời gian, mang truyền thống anh hùng của bốn nghìn năm lịch sử Trong mái tóc dài óng ả của chị Sứ có mùi bông bưởi quen thuộc của sứ Hòn, có ánh trăng mát rượi gợi những kỷ niệm yên bình, có bàn tay dịu dàng của má Sáu vuốt ve dường như quê hương đã hoá thân vào chị - trẻ trung- bất khuất, dịu dàng mà kiêu hãnh khiến kẻ thù khiếp sợ

Mẫn trong (Mẫn và tôi - Phan Tứ) thì lại mang vẻ đẹp của người con gái miền

Trung bền bỉ dẻo dai, chịu thương chịu khó, đằm thắm dịu hiền Tình yêu trong chiến tranh cũng đẹp đẽ hơn lên và dường như gắn chặt với tình yêu lý tưởng, yêu

tổ quốc Đó là mối tình của những người con đang kề vai, sát cánh bên nhau cuàng

chiến đấu giải phóng quê hương : Ngạn - Quyên (Hòn Đất - Anh Đức), là mối tình

thuỷ chung của người con gái xứ Hòn và người con trai ra Bắc tập kết : chị Sứ - Anh Sang Màu sắc sử thi đã khiến cho tiểu thuyết chiến tranh thời kì này lấp lánh vầng hào quang mới Những con người, những tình yêu, những chiến công và cả thiên nhiên nữa, đẹp như trong huyền thoại, bấp chấp khói lửa bom đạn của chiến tranh

Nhìn chung, tiểu thuyết thời kỳ chống Mĩ dã đạt được những thành công nhất định khi khai thác và xây hình tượng người lính Đó là những người anh hùng với những phẩm chất đạo đức của con người xã hội chủ nghĩa, con người mang tầm vóc lớn lao của lịch sử dân tộc Con người luôn mang trong mình hành trình của ý chí chiến đấu và niềm tin bất diệt vào tương lai Tuy nhiên, xét về mặt thể loại “tiểu thuyết mô tả một thực tại đang bước đi” và là “cuốn bách khoa

Trang 27

thư về cuộc sống” thì tiểu thuyết phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài

sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế

Nhận định của Đảng trong thư gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ tư (1968) đã đánh giá chính xác tình hình sáng tác lúc đó và cả với những thời điểm sau của cuộc kháng chiến: “Cuộc sống của nhân dân ta vô cùng anh dũng và phong phú, nhưng việc phản ánh cuộc sống đó vào văn học nghệ thuật của ta còn

sơ lược”

Sau 1975, nhìn nhận lại một cách khách quan, Nguyễn Minh Châu trong bài : Viết về chiến tranh cũng thừa nhận : “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học đôi khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mà mọi người đang hi vọng, đang ước mơ ” Hoàng Ngọc Hiến thì cho rằng “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả” Như vậy, hình tượng người lính ở giai đoạn văn học này còn phản ánh một cách xuôi chiều, phần lớn mang màu sắc sử thi mà chưa đi sâu vào từng số phận con người chưa phản ánh một cách chân thực cả mặt tốt và mặt xấu của hình tượng Chính vì thế đây lại chính là mục tiêu khám phá và phát hiện của các tiểu thuyết viết về chiến tranh và hình tượng người lính sau 1975

1.3.2 Nét đặc thù của việc khám phá thể hiện số phận con người ở tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học cách mạng Việt Nam trước 1975 1.3.2.1 Tô đậm “những lựa chọn cao cả”

Văn học cách mạng Việt Nam 1945-1975 là tiếng nói của Đảng, của quần chúng cách mạng như Hồ Chủ Tịch đã khẳng định “Văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Văn học trong thời kỳ chiến tranh phải là tiếng nói của công lý chính nghĩa, cổ vũ chiến đấu cho lý

Trang 28

tưởng độc lập tự do của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại Vì thế, nền văn học của chúng ta thời kỳ này phải bám rễ sâu trong nguồn lý tưởng cách mạng, đảm nhiệm vai trò tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu

Nền văn học 1945-1975 là sự kết tinh chín muồi của lý tưởng thẩm mỹ, rung cảm nghệ thuật Cuộc kháng chiến trường kỳ khốc liệt, quật cường anh dũng đã tiếp nguồn cảm xúc, tác động đến thế giới quan của người sáng tác Văn học thể hiện khí phách cách mạng với những nét tươi nguyên, sống động, chân thực khoẻ khoắn Trong bối cảnh phải theo sát bước đi của dân tộc, văn học giai đoạn này tất yếu nghiêng về phía các lịch sử sự kiện, của cả sự sống, tâm hồn dân tộc Đối tượng trung tâm mà văn học hướng tới là tầng lớp công nông binh, những chiến sĩ anh hùng đại diện tiêu biểu, kết tinh của lý tưởng cách mạng Những con người hết sức giản dị nhưng quả cảm, dám hy sinh cái tôi cho cái ta,

hy sinh cái vị kỷ vì nghĩa cả Trong họ luôn luôn hun đúc một lý tưởng cách mạng, tất cả cho sự nghiệp chung của cách mạng, của dân tộc

Văn học giai đoạn năm 1945 - 1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng Nhân vật trung tâm là những con người đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại Những con người này kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng, là hình tượng của thời đại Ở họ hiện lên những phẩm chất tốt đẹp, có một sự xác định lựa chọn đúng, cao cả về sự nghiệp chung của cách mạng

Cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đã đem lại cho nhà văn những phát hiện lớn lao Trước hết đó là sức mạnh của dân tộc con người Việt Nam hiện ra với một vẻ đẹp mới lạ thường Và với sự nhạy cảm của mình, người nghệ sĩ đã nhận thức được sức mạnh của “cả dân tộc vươn mình tới ánh sáng”, nhà văn đã

Trang 29

phát hiện ra hình tượng nghệ thuật quan trọng bậc nhất của văn học thời kỳ kháng chiến đó là con người quần chúng

Tô đậm những lựa chọn cao cả trong mỗi cá nhân con người, đó là việc các nhà văn thể hiện, phản ánh chung cái không khí tưng bừng nhiệt huyết vì cách mạng, vì dân tộc của những con người phải sống trong cảnh đất nước có chiến tranh Họ sẵn sàng xả thân, hy sinh, chịu mất mát về quyền lợi cá nhân cho đất nước, dân tộc Họ xác định sự sống còn của đất nước cao hơn những gì thuộc về

cá nhân Dường như cái nhu cầu cá nhân, cái ý thức cá nhân bị lu mờ đi trước cái ý thức cộng đồng tập thể Họ sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân (ước mơ, hoài bão, sự nghiệp, tuổi xuân ) để “nhập cuộc”, và ngay cả hy sinh đến tính mạng thì họ cũng không nuối tiếc

Ta bắt gặp hàng loạt sáng tác của các nhà văn dựng lên những con người

như thế Đó là anh hùng Núp trong tác phẩm Đất nước đứng lên của Nguyên

Ngọc Đây là một minh chứng về người anh hùng của quần chúng cách mạng, mang vẻ đẹp của quần chúng vừa phi thường vừa bình thường Hay như chị Út

Tịch trong truyện ký Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, chị Sứ trong Hòn đất

của Anh Đức

Hòn đất miêu tả về cuộc chiên đấu của nhân dân vùng Hòn thuộc tỉnh Kiên

Giang trong những ngày đầu chống Mỹ cứu nước Bọn Mỹ quyết tâm tiêu diệt đội du kích, thực hiện kế hoạch “tấn công dồn dập” Sứ- một thiếu phụ đẹp người đẹp nết bị bọn chúng bắt, trói chị suốt đêm bên bờ suối Dù đau đớn nhưng Sứ không nghĩ đến bản thân mình, và giữ vững tinh thần chiến đấu Trong tác phẩm ta còn bắt gặp một bà mẹ anh hùng khi bà có một sự lựa chọn cao cả giữa tình cảm cá nhân (mẹ con) và quyền lợi của đất nước Bà Cà Sợi là mẹ của Xăm - một tên ác ôn khét tiếng đã từng “mổ gan lấy mật người gọn nhẹ nhất”

Trang 30

Sau cái chết của Sứ, bà đã như điên dại vì thằng Xăm, con trai bà đã chém chết một người con gái không những được cả xứ Hòn yêu mến mà còn là ân nhân cứu mạng của bà khi bà sinh Cà My Khi chém Sứ xong, Thàng Xăm trở về thăm mẹ

bà Cà Sợi làm cơm rượu mời thăng Xăm để có ý định tự tay mình giết chết nó Cuốn tiểu thuyết đã xây dựng thành công hình tượng những người phụ nữ như :

Má Sáu, Cà My, Út Quyên, Sứ, bà Cà Sợi điển hình cho những phẩm chất cao quý của các mẹ, các chị ở miền Nam những năm chống mỹ cứu nước

Tiếp tục nấng cao tinh thần chiến đấu của những người chiến sĩ cách mạng,

ở Một chuyện chép ở bệnh viện Bùi Đức Ái đã xây dựng thành công hình tượng

chị Tư Hậu vừa chân thực, vừa sinh động với những cuộc đấu tranh quyết liệt của người mẹ giữa tình mẫu tử và nhiệm vụ cách mạng Gạt nỗi buồn đau sang một bên (chồng chị hy sinh) và sau bao nhiêu đấu tranh dằn vặt, chị quyết định gửi con để thoát ly đi hoạt động cách mạng Bọn giặc tìm cách bắt và hành hạ hai đứa con chị để hòng buộc chị phải ra hàng khai báo cơ sở địch hậu để lung lạc tinh thần chị Đã có những lúc chị tưởng tượng như không chịu đựng nổi

Trong sáng tác của các nhà văn giai đoạn này (trước 1975) những người lính xuất hiện trong tác phẩm trên nền phông sử thi và lãng mạn Họ là những con người sử thi, con người đại diện cho sức mạnh, ý chí khát vọng của cộng đồng dân tộc đất nước

Ở Dấu chân người lính những người lính đi vào chiến dịch Khe Sanh

(1968) dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu là những con người mang lý tưởng cách mạng lớn lao và ý chí mãnh liệt, tâm hồn của họ tràn đầy sức sống V à trong tác phẩm, vẻ đẹp của các thế hệ người lính được nhà văn miêu tả khá hoàn chỉnh Chính uỷ Kinh đại diện cho thế hệ cha anh đã từng tham gia dánh Pháp

Là một người chỉ huy có tài, ông suốt một đời hy sinh quyền lợi cá nhân cho

Trang 31

cách mạng, đồng thời ở ông còn nổi bật lên sự chân thành, khiêm tốn và thái độ

ưu ái, nâng đỡ đối với lớp trẻ Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nên cả một thế

hệ người lính anh hùng Lữ kế thừa tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc của thế hệ cha anh đi trước Suy nghĩ của Lữ đại diện cho lớp trẻ “chúng tôi

đã chịu ơn lớp người sinh ra mình và chúng tôi cần xứng đáng với những đứa con” (2/420) Khi giặc tràn đến, Lữ đã có hành động hết sức dũng cảm, anh đã gọi pháo của ta rót xuống bọn địch và cũng chính là ở trên đầu mình nữa, khi biết mình không thoát khỏi tay địch, anh đã nói dối là mình đã rút khỏi chốt để các bạn yên tâm Lữ điển hình cho lớp người mới trong quân đội, người chiến sĩ trẻ ở thời chống Mỹ ở anh “chứa đựng cả niềm vui và nỗi buồn, cả hoài bão và

lý tưởng của cả một thế hệ trẻ” Đó là niềm say mê thực hiện vươn tới lý tưởng,

là độ chín của sự giác ngộ giai cấp, là sự trưởng thành của nhân cách mới, là sự vững vàng về tri thức Bên cạnh nhân vật Lữ, ta còn thấy những gương mặt như Khuê, Lượng, Cận, Đàm Cách sống, sự suy nghĩ của họ giống nhau Tất cả họ đều là những chiến sĩ đầy anh dũng hy sinh : “họ từ giã gia đình, trường học, từ giã tương lai cuộc sống tốt đẹp, hết sức bảo đảm đã bắt đầu xây dựng cho họ, từ

bỏ trái tim đang ửng hồng ở nhà để đi vào chiến đấu đầy vất vả hy sinh khá là vô

tư, lạc quan, tươi trẻ” (2,202/203)

Như vậy Nguyễn Minh Châu trong sáng tác trước 1975, qua tác phẩm tiêu

biểu Dấu chân người lính, đã đi vào khám phá, ca ngợi những người chiến sĩ anh

hùng Đó là mẫu hình lý tưởng trong thời đại vinh quang và oanh liệt Những con người có cùng sự nghiệp chung là xả thân vì nghĩa lớn, vì tập thể Họ xuất hiện trong trang văn như là sự đại diện trọn vẹn cho đất nước, cho lý tưởng cho lương tâm, khí phách của thời đại Nguyễn Minh Châu đã đem đến cho người đọc vẻ đẹp người lính của hai thế hệ cùng ra trận :

Trang 32

“Lớp cha trước, lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành”

(Tố Hữu)

Có thể nói rằng trong các tiểu thuyết trước 1975 viết về chiến tranh, các nhà văn đã hết lời ca ngợi về những gì là cao cả, vĩ đại, đẹp đẽ Họ hiện lên với vẻ đẹp toàn diện, một vẻ đẹp mang tính chất sử thi, mang vẻ đẹp của cộng dồng dân tộc, là “viên ngọc không tỳ vết” Vì vậy mà ý kiến của một số nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá là: viết về những con người như vậy là khiếm khuyết, là công thức, đơn giản và sơ lược Thực ra các nhà văn viết như vậy (tô đậm những lựa chọn cao cả) của những con người trong chiến tranh, cũng xuất phát từ những đặc điểm về nền văn học giai đoạn trước 1975, do cách quan niệm nghệ thuật về con người của các cây bút lúc bấy giờ và đồng thời cũng do thị hiếu của ban đọc thời điểm ấy, thích đọc và tìm hiểu những con người mang ý nghĩa tầm vóc của thời đại, tiêu biểu cho ý chí và cộng đồng

1.3.2.2 Né tránh thể hiện những bi kịch số phận

Có chiến tranh là có chiến thắng và có đau thương mất mát Sau những chiến thắng vĩ đại là sự đổ xuống của bao mất mát, đau thương Những con người mang khí thế tưng bừng ra chiến trường thì trong họ đã chôn vùi bao quyền lợi cá nhân, tuổi trẻ, sự nghiệp, tình yêu hạnh phúc nghĩa là bao số phận con người được biểu hiện và đặt ra Không phải các nhà văn không nhìn thấy những bi kịch số phận cuộc đời của con người, của nhân vật mà trong các tiểu thuyết trước 1975 viết về chiến tranh, do nhiều yếu tố chi phối mà các nhà văn ít thể hiện những cái mất mát đau thương, số phận bi kịch con người

Trở lại những đặc điểm của nền văn học Việt Nam trong những năm chiến tranh (giai đoạn trước 1975), đó là một nền văn học phục vụ cho sự nghiệp cách

Trang 33

mạng, phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường anh dũng của quân và dân ta Một nền văn học dưới sự chỉ đạo của đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Và cảm hứng chung của văn học giai đoạn này là ca ngợi, là lãng mạn, ngợi ca cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, ngợi ca những anh hùng của thời đại Do đòi hỏi của nền văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ chiến đấu, cho nên các nhà văn ở tác phẩm của mình cái được viết ra là cái được, cái chiến thắng nhiều hơn là cái đau, cái mất Và ở giai đoạn lịch sử này, trong không khí đất nước, dân tộc lúc bấy giờ nếu như đi sâu phản ánh, viết nhiều vê bi kịch của con người thì sẽ tạo ra những trang viết có thể ảnh hưởng tiêu cựa đến không khí tưng bừng sục sôi của cách mạng

Vì vậy mà trong các sáng tác viết về đề tài chiến tranh của văn học giai đoạn trước 1975, từ những chuyện nho nhỏ đến những cuốn tiểu thuyết dày mấy

trăm trang như Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Hòn Đất của Anh

Đức có đến bao nhiêu là nhân vật với những cuộc đời khác nhau nhưng các nhà văn ít viết về số phận của họ

Nói tới chiến tranh chúng ta thường nghĩ ngay tới sự mất mát hy sinh đầy đau thương tang tóc Nhưng do yêu cầu bức thiết của hoàn cảnh, văn học phải hướng con người vào tương lai chiến thắng, phải vượt lên hoàn cảnh, xem cái chết nhẹ tựa “lông hồng” Cho nên vấn đề không có lợi cho cách mạng như cái chết, sự mất mát, tang tóc hầu như không được đề cập đến Nếu có thì cũng được các nhà văn phản ánh bằng hào khí, tâm lý của một dân tộc anh hùng Cái chết nếu có được nói đến thì cũng là “những cái chết hoá thành bất tử”, cũng là

sự khẳng định cái chết bất diệt trường tồn của lý tưởng, cách mạng, của lòng quả cảm hy sinh cho đất nước, cho dân tộc

Trang 34

Như vậy, do đặc điểm chi phối của nền văn học mà ta thấy rằng ở các tiểu thuyết trước 1975 trong văn học cách mạng Việt Nam viết về đề tài chiến tranh, các nhà văn thường chú ý để biểu hiện được cái tinh thần cổ vũ chiến đấu cho cách mạng, cái không khí tưng bừng của cách mạng, nên cảm hứng bao trùm là lãng mạn, ngợi ca, viết ra những cái gì là được, là chiến thắng hơn là mất mát, đau thương Vì thế trong tác phẩm của họ bạn đọc ít bắt gặp những bi kịch số phận nhân vật như trong một số tiểu thuyết cùng viết về đề tài này ở giai đoạn sau 1975

Né tránh thể hiện những bi kịch số phận con người cũng có nghĩa là các cây bút tiểu thuyết ở giai đoạn trước 1975 viết về chiến tranh đã đáp ứng đúng yêu cầu mà văn học đặt ra lúc bấy giờ, phù hợp với khuynh hướng thẩm mỹ, thị hiếu độc giả trong giai đoạn này Đồng thời góp nên những trang viết để làm rõ hơn đặc điểm của nền văn học Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử

1.3.2.3 Ưu tiên sự kiện hơn là tâm lý

Đọc các tiểu thuyết trước 1975 viết về đề tài chiến tranh, một đặc điểm mà chúng ta dễ dàng nhận ra là : các nhà văn ưu tiên miêu tả sự kiện hơn là tâm lý

Vì sao lại như vậy? Trở lại đặc điểm của văn học thời kỳ này chúng ta thấy rằng : khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn chi phối rất mạnh sáng tác của các nhà văn Các nhà văn tập trung phản ánh các sự kiện, hiện tượng có ý nghĩa đối với vận mệnh dân tộc, với cuộc sống và sự đấu tranh anh dũng của nhân dân ta

Tác phẩm Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng dựng lại cả một bức

tranh Hà Nội ngổn ngang, xô bồ trong không khí nhiệt huyết cách mạng của ngầy đầu kháng chiến chống Pháp Toàn dân Hà Nội tạo dựng trận địa chống Pháp ngay giữa lòng thủ đô“mỗi phố một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài”

Trang 35

Trong Hòn Đất, Anh Đức miêu tả về cuộc chiến đấu nhân dân vùng Hòn

thuộc tỉnh Kiên Giang trong những ngày đầu kháng chiến chống mỹ cứu nước Tác phẩm miêu tả rất nhiều sự kiện của cuộc chiến đấu giữa đội du kích và bọn địch do thằng Xăm chỉ huy để biểu hiện rõ hơn sự độc ác của giặc và tinh thần chiến đấu dũng cảm của dân và quân ta Địch ném hàng trăm quả lựu đạn vào hang Hòn, thả thuốc độc xuống suối, bắt, tra tấn và chém chết chị Sứ Để làm nổi bật tinh thần chiến đấu anh dũng của quân ta (qua hình tượng chị Sứ), Anh Đức không hướng ngòi bút nhiều vào việc miêu tả tâm lý, tâm trạng nhân vật mà lại chú ý miêu tả những sự kiện có tính chất tiêu biểu, thông qua đó làm rõ hơn tính cách hình tượng nhân vật Như là việc Sư phải dùng đến ca nước cuối cùng dành cho con để nấu cháo cho hai du kích bị thương (Thắm và Bé), rồi việc Sứ đã lợi dụng việc micro kêu gọi anh em đừng uống nước suối và giữ vững tinh thần chiến đấu

Với Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Chấu đã dẫn dắt người đọc đi vào

chiến dịch lớn của quân giải phóng miền Nam với hàng loạt sự kiện: những chiến dịch Đường 9, Khe Sanh, Tà Cơn trong cảnh hành quân ban đêm xuyên rừng, xuyên núi Những trận máy bay B52 ném bom theo toạ độ, một trận tập kích chớp nhoáng rất linh hoạt của các chiến sỹ ta, một trận đổ quân bất thần của địch

Điểm qua một số tiểu thuyết thì chúng ta nhận thấy : do đặc điểm trong

tư duy nghệ thuật, do sự chi phối chung của nền văn học lúc bấy giờ, các tiểu thuyết trước 1975 viết về đê tài chiến tranh chú ý miêu tả sự kiện nhiều hơn là miêu tả tâm lý nhân vật Từng có những ý kiến đánh giá : tiểu thuyết thời kỳ kháng chiến mới chỉ dừng lại ở những mốc, những sự kiện mà chưa có được tầm khái quát cũng như tầm nhận thức chiến lược, bởi “những năm tháng sôi nổi mãnh liệt đó, con người mới đã hiện ra nhưng các đường nét của tính cách vẫn

Trang 36

còn đang phát triển, chưa ổn định Nhà tiểu thuyết bị lôi cuốn bởi những thác người cuồn cuộn đi vào cách mạng nhưng chưa đủ thời gian lắng lại để tìm hiểu sâu vận mệnh và đời sống bên trong của những con người cụ thể.”

Những hạn chế, thiếu hụt này sẽ được khắc phục ở tiểu thuyết giai đoạn sau 1975 - trong điều kiện lịch sử xã hội mới Vì vậy mà trong các tác phẩm sau

1975 cũng viết về mảng đề tài này, các nhà văn chú ý miêu tả nhiều, sâu hơn đến tâm lý của nhân vật, vào cái thế giới bên trong mỗi con người

1.4 Nhân vật trong tiểu thuyết 1975- 1986 về đề tài chiến tranh

1.4.1 Nhân vật trong tiểu thuyết 1975 - 1986 về đề tài chiến tranh

Nhìn chung văn học từ sau 1975 đã phát triển theo 2 chặng : chặng đầu trong khoảng 10 năm từ 1975-1985 được coi là chặng chuyển tiếp, văn học từ chỗ “trượt theo quán tính cũ” đến chỗ dần xác định cho mình con đường đổi mới Chặng tiếp theo từ 1986 đến nay là thời kỳ văn học đổi mới mạnh mẽ và toàn diện “vượt qua những hạn chế của thời kỳ trước cả về phương diện hình

thức lẫn phương pháp tiếp cận hiện thực” (Thành Lê Văn học viết về chiến tranh cách mạng, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, 12-2001)

Nhìn chung ở giai đoạn này tiểu thuyết viết về chiến tranh và người lính

vẫn giữ vị trí trọng yếu Một loạt tiểu thuyết như “Vùng Trời”của Hữu Mai,

“Những tầm cao” của Hồ Phương, “Dòng sông phẳng lặng” của Tô Nhuận Vĩ

Chiến tranh đã kết thúc, trên khắp các mặt trận đều đã im tiếng súng, song tiểu thuyết viết về chiến tranh và người lính vẫn tiếp tục dòng chảy của nó Tất

cả như mới vùa hôm qua, vẫn còn nóng hổi những ký ức, ấn tượng, vẫn vẹn nguyên những cảm xúc, dư âm chiến thắng dường như còn rạo rực và “mang được tính sinh động và kịp thời” Đội ngũ đông đảo các nhà văn đã liên tiếp cho

Trang 37

ra đời những tiểu thuyết khá ấn tượng : Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh Châu), Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Đất miền đông (Nam Hà), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nắng đồng bằng (Chu Lai), Người lính mặc thường phục (Mai Ngữ), Sao đổi ngôi (Chu Văn)

Những cuốn tiểu thuyết này, hiện thực chiến tranh rộng lớn, khốc liệt, gian nan, trường kì qua từng thường điểm cho tới đích cuối cùng là chiến thắng đã được các nhà văn mô tả khá chân thực và sắc nét Mặc dù các tác phẩm này vẫn mang âm hưởng sử thi song nó đã có những dấu hiệu đổi mới rõ rệt Như tiểu

thuyết “Đất Trắng” của nhà văn quân đội Nguyễn Trọng Oánh ra mắt năm 1987,

lần đầu tiên người đọc thấy hiện thực chiến tranh hiện lên khốc liệt với những tổn thất đau thương đến bi thảm Cũng lần đầu tiên trong văn học có sự tha hoá trong hình tượng những người lính vốn in đậm chất lí tưởng Tác giả đã cố gắng tiếp cận chiến tranh bằng cái nhìn trực diện, bằng thái độ dũng cảm trước sự thật, nhấn mạnh cái giá phải trả cho chiến thắng Có lẽ nếu Nguyễn Minh Châu được coi là người “mở đường tinh anh” bằng những bước đột phá trong thể loại truyện ngắn thì Nguyễn Trọng Oánh là người mở đường đổi mới bằng tiểu thuyết Sự

mở rộng bối cảnh hiện thực về phía những thời điểm khốc liệt, gay cấn của cuộc chiến đấu chính là một cố gắng để nắm bắt những diễn biến tâm lý sâu xa trong mỗi người lính, nhìn nhận người lính một cách toàn diện, thấu đáo, triệt để hơn Càng ở những giai đoạn sau, tiểu thuyết viết về chiến tranh và người lính

càng phản ánh chân thực, sâu sắc và mới mẻ hơn Với tiểu thuyết “Sao đổi ngôi”,

Chu Văn đặt ra hàng loạt vấn đề sau chiến tranh Đó là những tệ nạn mới nảy sinh: “tham ô, chè chén, thoái hoá biến chất, quan liêu, những hủ tục, định kiến, thật giả lẫn lộn, những hợp tác xã” “chia quyền chức như chia thịt”, cán bộ

Trang 38

“không có nghề nghiệp nên làm phó phòng tổ chức” và cuộc chiến đấu với số phận, sự đương đầu với hoàn cảnh mới của người lính sau chiến tranh Chu Văn

đã quan tâm tới số phận người nữ chiến sĩ đi qua khói lửa của cuộc chiến tranh, tuổi xuân và nhan sắc đã gửi lại chiến trường, trở về bơ vơ, lạc lõng và kiệt quệ

giữa đời thường Liễu - nhân vật nữ chính trong “Sao đổi ngôi” là một trong

những nhân vật mở đầu cho kiểu nhân vật lạc thời Là một nữ công binh xinh đẹp và anh hùng, Liễu đã trải qua hàng trăm trận đánh ác liệt Chấp nhận hi sinh hạnh phúc cá nhân trong cuộc chiến một cách nhẹ nhàng thanh thản bao nhiêu thì trong thời bình, cô trở nên hoài nghi, chán nản, bất lực bấy nhiêu “Cuộc đời cô, quãng đời đáng sống để làm người với đầy đủ ý nghĩa, là thời cô tung hoành ở Trường Sơn kia ” Phải chăng chiến tranh đã khiến cho người lính sau khi trở về

đã mất khả năng nhập cuộc vào cuộc sống đời thường? Hay cuộc sống thời hậu chiến quá phức tạp?

Nhìn chung, trong khoảng mười năm sau hoà bình, tiểu thuyết viết về chiến tranh và người lính vẫn bộc lộ được ưu thế của mình trên văn đàn và đã có những cố gắng, bứt phá, dịch chuyển dần trên con đường đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của bạn đọc hơn

Chặng 2 : Từ sau 1986, quá trình đổi mới văn học diễn ra thực sự mạnh mẽ

và sâu sắc Đất nước bước sag thời kỳ “mở cửa” và cũng là lúc để mở ra những quan niệm mới Đặc biệt là sau sự thành công của Đại hội Đảng lần thứ VI, văn học như được thoát ra khỏi khuôn khổ gò bó để vươn ra một bầu trời rộng lớn Trong giai đoạn này, các thể loại phát triển vô cùng phong phú và đề tài chiến tranh không còn giữ vị trí độc tôn mặc dù hình tượng nguời lính vẫn là hình tyượng phổ biến trong văn học Có thể nói cảm hứng sử thi trước đây đã được thay thế bằng cảm hứng thế sự và lần đầu tiên vấn đề bi kịch của con người

Trang 39

được lý giải bằng những xung đột cá nhân với cộng đồng, với môi trường xã hội, với cộng đồng

Tiểu thuyết đã thực sự thay đổi về chất Chiến tranh đã được phản ánh từ góc độ mới, sự “nhận thức lại” về hiện thực và sự mở rộng quan niệm nghệ thuật

về con người đã khiến hình tượng người lính được phản ánh đa dạng hơn và cũng chân thực hơn Sự thật về chiến tranh hôm nay và thân phận của người lính

đã được nhìn lại và đó là một sự thật của những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà văn, hơn thế nữa nó còn là những nếm trải của người “chịu trận”, người trong cuộc Chu Lai, tác giả của hàng loạt tiểu thuyết viết về người

lính và chiến tranh như : Nắng đồng bằng, Phố, ăn mày dĩ vẵng, Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần hay Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Nguyễn Trí

Huân, Trần Quang Huy, Trung Trung Đỉnh Đây là những tác giả đã một thời mặc áo lính, đã từng chứng kiến khói lửa bom đạn của chiến tranh vì vậy, chiến tranh hiện diện trong tác phẩm của họ không chỉ là những sự kiện, những biến cố lịch sử mà còn là những số phận con người, những con người với những mối quan hệ phức tạp và nhiều chiều

Tiểu thuyết viết về chiến tranh và người lính giai đoạn này đã dần đi tới một quan niệm trọn vẹn và sâu sắc hơn về con người và hiện thực chiến tranh Ngay trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống mỹ cứu nước, khi

viết”Dấu chân người lính”, Nguyễn Minh Châu đã tự ý thức : “Bây giờ ta phải

chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc, sau này ta phải chiến đấu cho quyền sống của từng con người, sao cho con người ngày càng tốt đẹp Chính cuộc chiến đấu ấy mới là lâu dài” Quả đúng như lời nhận xét của Nguyễn Minh Châu, một

loạt các tiểu thuyết đã ra đời ở giai đoạn này : Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba

Trang 40

lần và một lần, (Chu Lai), Không phải trò đùa (Khuất Quang Thuỵ), Hành lang phía đông (Bùi Bình Thi), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh) Nhìn chung cảm

hứng xuyên suốt ở các tiểu thuyết này là cảm hứng nhân bản Con người vừa là điểm xuất phát, vừa là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học Bởi vậy, hình tượng người lính thời hậu chiến đã được khám phá từ nhiều chiều, từ nhiều góc nhìn và do vậy hình tượng người lính cũng được phản ánh một cách chân thực hơn

Trong tiểu thuyết “Chim én bay” (Nguyễn Trí Huân) được viết năm 1989

là sự hồi tưởng lại quá khứ chiến tranh thông qua cuộc đời và số phận của nhân vật nữ chính- Quy Tuổi trẻ của Quy đầy nước mắt, chứng kiến hành động phản phúc của Giám Tuân gây nên những cái chết thảm khốc của anh, chị và cha, Quy đã không thể quyên “đôi mắt trống rỗng vô hồn” của cha cô với khuôn mặt méo xệch vì đau đớn bất lực “Ngày hôm đó qua đi như một bước ngoặt trong đời chị Một cuộc đời mà bây giờ mà mỗi lần nhớ đến chị cảm thấy vị đắng chát của nó” Năm Quy mười một tuổi chị đến với đội quân diệt ác mang tên “chim én” Đội quân gồm những đứa trẻ có gia đình bị những tên ác ôn hãm hại Quy bị bắt, bị hãm hiếp, đội du kich bị phản bội, người chỉ huy đội bị mất tích buộc Quy phải đổi thay, phải chấp nhận thực tế nghiệt ngã Đau thương khiến chị trưởng thành dần và đứng vững trước mọi khó khăn thử thách Sau chiến tranh chị được phong anh hùng, được bầu làm đại biểu Quốc hội, phụ trách công tác

nữ ở huyện nhà Chị đã thành đạt, nhưng không cảm thấy hạnh phúc Cuộc chiến tranh đã tước đoạt của chị cả tuổi trẻ, cơ hội được làm vợ, làm mẹ Ban ngày, chị lao vào công việc để chạy trốn nỗi cô đơn, nhưng đêm đến nỗi cô đơn lại hành hạ chị Từ cuộc sống của chính bản thân mình chị thường xuyên nghĩ đến những người cô đơn, mồ côi khác, trong đó có cả những đứa trẻ mà cha chúng do chính

Ngày đăng: 23/07/2015, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w