LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, thầy cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi đã hoàn thành khóa học ở trườn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoá học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Dương Văn Sơn
Thái Nguyên, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, thầy cô giáo khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi
đã hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tại xã Tuấn Mậu -
huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang với đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong sự
phát triển hộ ở xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”
Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp Đại học em đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong
và ngoài trường Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ bảo của các thầy,
cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, xin chân thành cảm ơn Ủy
ban nhân dân xã Tuấn Mậu - huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ em
hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên PGS.TS Dương Văn Sơn
đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập để em hoàn thành tốt luận văn Mặc dù đã rất cố gắng, song trong quá trình viết và hoàn thiện chuyên đề không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong các thầy giáo, cô giáo, chỉnh sửa bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè đã tạo điều kiện và khích lệ em hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Lý Thị Thượng
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo của nhà trường thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của các trường Đại học nói chung và của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn
vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức
đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen dần với thực tế, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm bắt được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, sáng tạo để khi ra trường trở thành một
kĩ sư Phát triển nông thôn có chuyên môn đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản xuất góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển đất nước
Từ những mục tiêu đó, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Kinh tế
và Phát triển Nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn và sự tiếp nhận
của cơ sở tôi đã tiến hành đề tài: “Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển
hộ ở xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên trong quá trình thực hiện đề tài tôi không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, bạn bè để đề tài được thực hiện tốt hơn
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Lý Thị Thượng
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động giai đoạn 2011 - 2013 32
Bảng 4.3: Lao động xã Tuấn Mậu chia theo giới tính giai đoạn 2011 – 2013 34
Bảng 4.4: Tình hình phát triển một số giống cây trồng trên địa bàn xã 35
Bảng 4.5: Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2011 - 2016 41
Bảng 4.6: Tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp Ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể tại xã nghiên cứu 42
Bảng 4.7: Tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng 43
Bảng 4.8: Sự phân công lao động của nông hộ trong khâu sản xuất nông nghiệp 46
Bảng 4.9: Phân công lao động trong các hoạt động khác 49
Bảng 4.10: Tình hình tiếp cận thông tin của phụ nữ xã Tuấn Mậu 51
Bảng 4.11: Tình hình quản lý tài chính của hộ 55
Bảng 4.12: Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới 61
và công cuộc phát triển 61
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 54 Hình 4.2: Trình độ văn hóa của phụ nữ trong các nhóm hộ 57
Trang 7DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành ĐBQH : Đại biểu quốc hội ĐVT : Đơn vị tính
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
KH - KT : Khoa học kỹ thuật
KT - XH : Kinh tế xã hội
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TC - CĐ - ĐH : Trung cấp - Cao đẳng - Đại học
TDTT : Thể dục thể thao
TH & THCS : Trung học và trung học cơ sở
TM - DV : Thương mại - dịch vụ
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 8MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Khái niệm và thuật ngữ liên quan 4
2.1.1 Khái niệm về giới và các thuật ngữ liên quan 4
2.1.2 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế, nông thôn 7
2.1.3 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn 7
2.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 8
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 10
2.4 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 12
2.5 Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 13
2.6 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 17
2.6.1 Về vấn đề sức khoẻ 17
2.6.2 Về chuyên môn kỹ thuật 19
2.6.3 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định 19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 25
Trang 93.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
3.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 26
3.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại địa phương 27
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Tuấn Mậu 31
4.2 Vai trò và đóng góp của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu 40
4.2.1 Thông tin chung về hộ điều tra ở xã 40
4.2.2 Vai trò trong tham gia công tác xã hội và hoạt động xã hội 41
4.2.3 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 45
4.2.4 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận thông tin - truyền thông 51
4.2.5 Vai trò của phụ nữ trong kiểm soát các nguồn lực của hộ 53
4.2.6 Vai trò trong việc giáo dục đào tạo và nâng cao trình độ 56
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn 58
4.3.1 Yếu tố thuận lợi 58
4.3.2 Yếu tố cản trở 59
4.3.3 Nhận xét chung về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở xã Tuấn Mậu - huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang 62
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vài trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn 63
4.4.1 Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ 63
4.4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vài trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn 64
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.2 Khuyến nghị 68
5.2.1 Đối với Nhà nước 68
5.2.2 Đối với chính quyền, đoàn thể địa phương 68
5.2.3 Đối với người dân 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những lao động trong xã hội bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho
xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của
mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động
vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống
con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra
con người để duy trì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần,
phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại Nền văn hoá dân gian của
bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của
đông đảo phụ nữ [26]
Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và càng
ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội Trong suốt chặng
đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt
Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi
mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu
nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên
trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh
vực Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ,
người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ
trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng,… Ở khu vực nông thôn,
cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi
phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện
mạo khu vực nông thôn Việt Nam
Trang 11Tuấn Mậu là một xã miền núi của huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống, và có đến 50,5% dân số là phụ nữ Lực lượng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn xã Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường người phụ nữ phải "nặng gánh hai vai", vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mặt rong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có như mọi người, sức khoẻ lại hạn chế, Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhưng quyền lợi về mọi mặt của họ lại chưa được quan tâm đúng mức
Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ
nữ, nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúng ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay ra sao? Giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn miền núi tại xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang trong việc phát triển kinh tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá như mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã
đề ra
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển của hộ ở xã Tuấn Mậu huyện Sơn
Trang 12nông thôn, đưa ra giải pháp và khuyến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội xã Tuấn Mậu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
có liên quan đến phát triển kinh tế hộ gia đình
- Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò và đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội của hộ gia đình nông thôn tại địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân sinh viên
+ Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa tiếp theo
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
+ Những nghiên cứu và kết luận của đề tài là cơ sở khoa học cho các tổ chức của nhà nước, các tổ chức xã hội và người dân tham khảo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng cũng như phát triển kinh tế xã hội nói chung
+ Thấy được tầm quan trọng của phụ nữ và những mặt hạn chế của phụ
nữ khi tham gia vào xã hội để có giải pháp khắc phục
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm và thuật ngữ liên quan
2.1.1 Khái niệm về giới và các thuật ngữ liên quan
Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ Giới
tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được [19]
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền
Ví dụ: Người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ
giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học nữ giới khác với nam giới
Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa
nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được
Sự khác biệt này được nhìn thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính
Khái niệm về "Giới" được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80
“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ "Giới"
đề cập đến việc phân công lao động các kiểu phân chia: Nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể “Giới” là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể "Giới" là sản phẩm của xã hội, có tính xã
Trang 14hội dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ sở để
nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
* Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới:
Đặc điểm về giới:
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Ða dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
Nguồn gốc giới:
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tùy theo nó
là trai hay gái Ðó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố
mẹ, anh chị dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh
Ví dụ: Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các
ngành cần có thể lực tốt
Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các
ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ
Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và
cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho
phép hộ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng
buộc bởi con cái và gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách
khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức để
khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc để nhận thức, nắm
Trang 15bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,
ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng,
phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau
* Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): Là những nhu cầu xuất phát
từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu
cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [1]
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ
thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân
công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của
con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ
vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới
thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do
phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể
Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): Là những nhu cầu của phụ
nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi
ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo
hướng bình đẳng [1]
Khoảng cách giới: Là những khác biệt về khối lượng công việc, cơ
hội phát triển và về lợi ích mà nam giới và nữ giới được hưởng
Bình đẳng giới: Nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng
được công nhận và có vị thế bình đẳng [1]
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
* Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: Được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi
hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: Bao gồm các hoạt động nhằm duy
Trang 16trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản
xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động
cho hiện tại và tương lai như: Nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên
trong gia đình, làm công việc nội trợ, vai trò này hầu như của người phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng để thực
hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng
2.1.2 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế, nông thôn
*Phát triển: Là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự
tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm
nâng cao chất lượng cuộc sống [10]
* Phát triển kinh tế: Có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về
quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội
Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một Nhà nước
hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên,
hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ
yếu làm nông nghiệp [23]
Theo khái niệm về xây dựng nông thôn mới, nông thôn được định nghĩa
thống nhất như sau: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội
thị của các thành phố, thị xã, thị trấn hay phường, được quản lý bởi cấp quản
lý cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”
2.1.3 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn
* Hộ gia đình: Có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cư trú
- Có cơ sở kinh tế chung [22]
Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng
hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có
chung một ngân quỹ [22]
Trang 17Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những người có quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống Vì vậy khái niệm hộ thường được hiểu đồng nghĩa
với gia đình, nhiều khi được gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình
* Kinh tế hộ nông dân:
Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu
hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong
sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản
được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với
một trình độ không hoàn chỉnh cao [22]
Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác
trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:
* Đất đai: Nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất
tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai
* Lao động: Sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm
nhận Sức lao động của các thành viên trong hộ không được xem là lao động dưới hình thức hàng hoá, hộ không có khái niệm tiền công, tiền lương
* Tiến vốn: Chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu cầu tiêu
dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường
2.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả
năng sản xuất và tái sản xuất Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số
giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2
trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ là
người tạo ra phần lớn thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số hộ gia đình trên thế
giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập
của lao động nữ [3] Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều
Trang 18nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về
mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp
Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì đến
70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các chứng về mang thai,
sinh đẻ,
Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực
lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy
Nhà nước Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Á)
là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới); tỷ lệ
nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% Nghĩa vụ
công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một
trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài
của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế,
khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò
quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội
Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng
sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội
nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực,
thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu
dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu
hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
- Trong sinh hoạt cộng đồng: Phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động
cộng đồng tại xóm, thôn bản
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và
Trang 19những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình,
trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân
loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia
sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á Đông: Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ
công việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế [7]
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin
nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi
Trang 20học thì có tới 70% là trẻ em gái Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63% công nhân kỹ thuật có bằng là
nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình
độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần
so với nữ giới) [12] Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới Phụ nữ bị hạn chế
về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp
* Yếu tố về sức khoẻ: Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa
phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn
* Khả năng tiếp nhận thông tin: Do phụ nữ phải đảm nhận một khối
lượng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác
* Các yếu tố chủ quan: Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó
nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc
về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái,… là việc của phụ nữ Họ tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển của
Trang 21nhân loại Song có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với
nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
2.4 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới:
Tại Châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm
việc nhiều hơn nam giới 12 - 13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu
hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng
một loại công việc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50% - 90% thu nhập
của nam giới [5]
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ l ệ n ữ
tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao Một số tài liệu thống
kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động
so với 82,5% nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ
nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
nhiều nhất ở độ tuổi 30 - 49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25 - 29, 50 - 54 Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60 - 64 vẫn tham gia lực
lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động [7]
Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao
nhất từ 20 - 29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30 - 39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi
cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60 -
64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [7]
Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: Nhìn chung, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được
Trang 22học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai
Ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học
từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của hộ [7]
* Bắt bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở
hầu hết các nước đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và
nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu,… Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ,… Như vậy, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự
2.5 Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Thực trạng phụ nữ Việt Nam: Là một nước có nền công nghiệp chưa
phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí
Trang 23thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp như: Cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo [6]
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau: Do sự gia tăng tự nhiên số
người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90
vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó: Lao động nữ chiếm 55%
Do quá trình chuyển đổi cớ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
Do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90, khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp
Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cảnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
*Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh
tế - xã hội: Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng
phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi trong Điều 36 Hiến pháp Việt Nam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi và bổ sung năm 2002) một lần nữa khẳng định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội" Trên tinh thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động sáng tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng
Phụ nữ trong hệ thống dân cử:
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm của phụ nữ trong xã hội và trong
quản lý Nhà nước Chỉ thị 37 - CT/TW ngày 16/5/1994 khẳng định "nâng cao
tỷ lệ nữ tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế là một yêu cầu quan trọng
Trang 24thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ" [2] Nước ta được đánh giá là số đại biểu nữ cao trong Quốc hội, đứng đầu Châu Á và đứng thứ hai khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương và xếp thứ 9/135 các nước trên thế giới Trong
chặng đường 60 năm, Quốc hội nước ta đã trải qua 12 nhiệm kỳ, đội ngũ cán
bộ nữ trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Số lượng nữ ĐBQH khá cao
từ 24 - 27%, Khóa X là 26,22%, khóa XI là 27,31% Trong Khóa XIII tỷ lệ nữ ĐBQH là 24,4%, đứng thứ 2 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Chất
lượng nữ ĐBQH ngày một nâng lên, các nữ ĐBQH Việt Nam đã và đang tham gia tích cực các hoạt động của Quốc hội và đóng góp quan trọng vào sự
phát triển KT - XH của đất nước [11]
Phụ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng:
Trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, tỷ lệ phụ nữ trong các cấp uỷ tăng lên không đáng kể So với các cấp, số lượng phụ nữ tham gia Ban chấp hành Trung Ương Đảng chiếm tỷ lệ thấp nhất, khoá VII có 12 đồng chí, khoá VIII tăng lên là 18 đồng chí nhưng đến khoá IX lại còn 12 đồng chí, khóa XI có 18
ủy viên nữ trong tổng số 200 ủy viên - chiếm 9% Năm 2012, tỷ lệ nữ Đảng
viên trên cả nước đạt 32%, tăng đáng kể so với năm 2005 chỉ có 20% Đảng viên nữ [11]
Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền:
Trong những năm gắn đây, tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung ương thấp Năm 2008, tỷ lệ phó chủ tịch nước là 25%, bộ trưởng là 4,55%, tế tương đương Bộ trưởng là 11,43%, Thứ trưởng 2,75%, tương đương thứ Trưởng là 9,21%, vụ trưởng và tương đương là 20,74% [11]
Tỷ lệ nữ là chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành nhiệm kỳ 1999 -
2004 chỉ có 1,64%, đến nhiệm kỳ 2004 - 2009 tăng lên là 3,12%, nhưng ở cấp
huyện lại có xu hướng giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% [12].Hiện nay, số cán bộ công chức nữ tham gia công tác quản lý nhà nước trong
hệ thống chính quyền các cấp nhiều hơn so với trước Tuy nhiên, tỷ lệ nữ
tham gia lãnh đạo ở cấp bộ, vụ còn thấp, mới khoảng 8 - 15%, chưa tương
xứng lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ
Trang 25Trong các doanh nghiệp:
Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp,
có 15% phụ nữ đứng đầu hoặc nắm cương vị chủ chốt Tỷ lệ phụ nữ làm quản
lý doanh nghiệp ở một sự ngành dệt, may mặc, giầy dép, thực phẩm,… chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận tải, xây dựng, khai khoáng,… chiếm 20% Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình có 27% phụ nữ điều hành [12]
Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, phụ nữ Việt Nam còn luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ người vợ, người mẹ gánh vác công việc nội trợ Trong hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo cho gia đình đủ cơm ăn, con cái được học hành và khoẻ mạnh Người phụ nữ còn là người giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá nét đẹp của dân tộc ta
từ thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình Việt Nam đến nay vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp là do công lao to lớn của người phụ nữ
* Đường lối, chủ trương của Ðảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ nữ Bác nhấn mạnh: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nửa loài người” Người cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trước hết phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam khinh nữ, ra khỏi
sự bất công trong gia đình mình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của họ trong xã hội Thế nên, Người đã yêu cầu các ngành, các địa phương phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình
Tiếp tục kế thừa và phát huy tư tưởng của người, Đảng và Nhà nước ta ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lược đối với
vấn đề phụ nữ như: Nghị quyết số 04 - NQ/TW, ngày 12/4/1993 của Bộ Chính
trị “Về đổi mới và tăng cường vận động phụ nữ trong tình hình mới ”; Chỉ thị
số 37 - CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII
“Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới ” Năm 1995, Tại Hội nghị lần thứ IV về phụ nữ của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc), các quốc gia đã nhất trí thông qua Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cường quyền lực
Trang 26cho phụ nữ trên toàn thế giới Mỗi quốc gia xây dựng chiến lược của nước mình nhằm thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh Tại Hội nghị này, Chính phủ Việt Nam đã công bố chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 19/2002/QÐ - TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệt chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
với mục tiêu là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội” Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) cũng đã khẳng định: Đối với phụ nữ thực hiện tốt theo pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn;
có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụ của người vợ, người mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc Cùng phụ nữ cả nước, phụ nữ
nông thôn đang đóng góp sức lực, trí tuệ cho phát triển KT - XH của đất nước
Sự ra đời của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp đã giúp đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ thực hiện tốt vai trò, vị trí của mình
2.6 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn
2.6.1 Về vấn đề sức khoẻ
Sức khoẻ là một tài sản hết sức quan trọng đối với con người, đối với phụ nữ thì sức khoẻ lại càng quan trọng, vì nó không chỉ làm tăng khả năng lao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của họ và các thành viên trong gia đình Những bà mẹ khỏe mạnh sẽ sinh ra những đứa con khỏe mạnh Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khoẻ cho phụ nữ là một phương tiện cho phát triển kinh tế và phát triển con người
* Về sức khỏe thể chất: Qua kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt
Nam (2012) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính như sau: 68% (nữ) và 64% (nam) Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới trong nghiên cứu trên đã phản ánh một thực tế: Sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại đặc biệt
Trang 27là sức khoẻ của phụ nữ ở các vùng nông thôn
Theo tôi sức khoẻ của phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau đây:
+ Lao động vất vả: Phụ nữ đảm nhận khối công việc nhiều hơn nam giới Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn thường lao động vất vả trong thời gian mang thai, trong thời gian này họ vẫn lao động bình thường, thậm chí vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi
+ Môi trường ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm càng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam có nhiều hồ, ao tù Đây là nguồn nước chủ yếu của người dân ở nông thôn (tắm, giặt rũ, ) đồng thời cũng tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùng sinh sôi nảy nở
+ Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: Có một điều dễ nhận thấy là ở Việt Nam còn có hiện tượng tảo hôn Những năm gần đây, ở các vùng nông thôn hiện tượng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hướng gia tăng bởi nhiều nguyên
nhân văn hoá - xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để
tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộng
vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm) Lấy chồng sớm dẫn đến hệ quả là bên cạnh việc chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu, làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con, Sự thiếu hiểu biết về dân số - kế hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều
+ Dinh dưỡng không đảm bảo: Năm 1995, một cuộc khảo sát quốc gia
về mức độ thiếu vitamin A và suy dinh dưỡng do thiếu Pprotein đã phát hiện 41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dưỡng: 26% suy dinh dưỡng hạng 1 (chỉ số
về khối lượng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI dưới 17,0) Thiếu máu cũng là hiện tượng phổ biến, một nghiên cứu quy mô nhỏ ở Việt Nam kiểm tra lượng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lượng Hb dưới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới [20] Suy dinh dưỡng ở phụ nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai sản có
Trang 28thể dẫn đến tử vong mẹ mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con cái Hiện nay, 35% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dưỡng
* Sức khoẻ về tinh thần:
- Đời sống văn hoá nghèo nàn: Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu nơi vui chơi giải trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và kinh tế và hiện tượng dễ thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay
- Đời sống văn hoá ở nông thôn nghèo nàn là một lý do thúc đẩy thanh niên rời bỏ nông thôn
Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống ở nông thôn làm điều đó cũng chính là nâng cao nhận thức của người dân nông thôn về pháp luật, lối sống văn hoá Hơn nữa, còn ngăn chặn và loại bỏ những các tật xấu như: Mê tín, cờ bạc, lô đề, bói toán,
2.6.2 Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhưng chưa thực sự giải phóng hộ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện của lao động
2.6.3 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
Đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng
vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Việt Nam - đây
là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên ở Việt Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: Sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng Phụ nữ ít được tham gia trong các lĩnh vực, các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực của đời sống gia đình, xã hội, ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi
ý tế, giáo dục [1]
* Về vấn đề tiếp cận đất đai:
Đối với người dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trị
Trang 29lớn và có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống gia đình Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, điều này là đặc biệt quan trọng, khi mà gắn 80% dân cư sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tư liệu sản xuất chính của hộ
Việc xem xét người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là cần thiết để có thể phân biệt rõ về người tiếp cận và quản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác đi là quyền của mỗi người nam và nữ trong gia đình
Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng
về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan quyền
sở hữu như Luật đất đai (1993, 2003), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn nhân
và gia đình (2000) Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi chưa đảm bảo theo đúng quy định
Ví dụ: Việc thực hiện quyền sử dụng đất đã được quy định trong Luật đất đai; Luật này quy định hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợ
và chồng Nhưng trong thực tế, hầu như các giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ ghi tên một người (chủ yếu là người chồng) Vì thế từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ đã rơi xuống vị trí người thừa hành, không có quyền quyết định Người chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế hơn các thành viên khác trong gia đình Việc không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn khác của người phụ nữ như chuyển nhượng, thừa kế Việc không có quyền
tương đương với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tư liệu
sản xuất quan trọng của hộ gia đình nông thôn, ảnh hưởng rất lớn đến địa vị kinh tế và xã hội của phụ nữ so với nam giới Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế như nhau của con trai và con gái, nhưng theo truyền thống thì chủ yếu người con trai trong gia đình có quyền thừa kế về nhà cửa, đất đai Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông Khi còn nhỏ, người con gái có phần đất được giao trong gia đình
Trang 30bố mẹ đẻ, khi lấy chồng, hầu như không thể mang theo quyền sử dụng đất phần đất, trừ khi họ lấy chồng cùng làng Sau khi kết hôn, người vợ về cư trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể được gia đình bố mẹ chồng chia sẻ một phần đất canh tác Song, nếu như cuộc hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu như khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai của người phụ nữ sau khi li dị
Người phụ nữ goá cũng không gặp không ít rắc rối về việc được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có người con trai lớn thì nhiều khả năng tên của người con trai sẽ được ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải tên của người phụ nữ
* Tiếp cận về vốn: Cung cấp tín dụng không chỉ là một phương tiện
quan trọng để xoá đói giảm nghèo mà là phương tiện để tăng thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn lâu dài Tuy vậy, phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chính thức, và phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so với nam giới 2/3 số người vay vốn là nam giới Đối với phụ nữ chỉ có 18% số vốn vay được cung cấp thông qua khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụng phổ biến nhất là từ họ hàng và các cá nhân khác Việc vay vốn
từ nguồn cá nhân dẫn tới việc chịu lãi suất cao và đối với phụ nữ điều này cũng phản ánh họ thiếu khả năng tiếp cận với những khoản vay thế chấp Trong khi 41% số khoản vay của nam giới dựa trên thế chấp tài sản, thì khoản vay của phụ nữ chỉ chiến 27% [18]
*Vấn để tiếp cận giáo dục, đào tạo: Số liệu Tổng điều tra dân số năm
1999 cho thấy 12% em gái trong độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chưa bao giờ được đi học, trong khi đó tỷ lệ này chỉ 7,5 cho bé trai Trong các gia đình nghèo nhất, các em gái đi học ít hơn các em trai Năm 1998, khoảng cách giữa em trai và
em gái tiếp cận cấp tiểu học lớn hơn 20% đối với các gia đình nghèo nhất so với toàn bộ dân số [18] Mặc dù phụ nữ đóng vai trò then chốt trong sản xuất nông lâm nghiệp nhưng sự tiếp cận của họ với kỹ thuật từ các hoạt động khuyến nông còn thấp và chưa đầy đủ Trong năm 1999 chỉ có hơn 3% trên
tổng số phụ nữ nông thôn trên 13 tuổi có trình độ kỹ thuật chuyên môn [3]
* Về vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ: Năm 2005, lao động nữ
chiếm khoảng 21,14 triệu người trong tổng số lao động của nền kinh tế quốc
Trang 31dân (48,6% so với 43,45 triệu lao động), đến 8/2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu người (49,4% so với tổng số trên 46,11 triệu lao động) Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,33 triệu người, trong đó, lao động nữ là
835 nghìn người [27] Theo đánh giá tổng quan, nếu mức độ ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là thấp, khả năng đến cuối năm 2010, lao động nữ đạt và vượt chỉ tiêu 50% lực lượng lao động của cả nước Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lượng công việc của lao động nữ vì chủ yếu các chị
em vẫn chiếm số đông ở những lĩnh vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh, độ rủi ro cao Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động, nhưng vẫn thể hiện sự bất
bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ lao động nữ trong khu vực nông - lâm -
ngư nghiệp dù có chiều hướng giảm nhưng xét về cơ cấu giới thì vẫn còn rất cao [27] Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò của nam và nữ trong kinh tế thị trường phản ánh thực tế là ở cả 2 khu vực lao động được trả lương và không được trả lương, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới Mặc dù pháp luật quy định “Công việc như nhau, tiền công ngang nhau” nhưng trong khu vực có lương do thường làm lao động giản đơn nên tiền công trung bình trả cho lao động nữ chỉ bằng 72% so với nam Nguyên nhân chủ yếu là do lao động nữ tập trung vào khu vực ngành nghề không đòi hỏi tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lương thấp Trừ khu vực dịch vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác lương của phụ nữ thấp hơn lương của nam giới do không làm quản lý Trong công việc tiền công bình quân của phụ nữ
chỉ bằng 62% tiền lương của nam giới [3]
Trong khu vực không trả lương phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới.Việc phân công lao động trong nội bộ gia đình ở nông thôn đang đặt gánh nặng lên vai người phụ nữ Ngoài công việc sản xuất trên đồng ruộng phụ nữ
còn chăn nuôi và các công việc khác thuộc về gia đình và phục vụ gia đình
*Về vấn đề ra quyết định: Tìm hiểu vấn đề ai là người có tiếng nói
quyết định đối với những vấn đề quan trọng của gia đình như mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia đình ta thấy có nhiều bất cập Phụ nữ được tham gia ý kiến và
Trang 32bàn bạc chung với tư cách là người giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá”
trong những quyết định quan trọng nhưng trên thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu
*Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng: Phụ nữ không có thời gian
giành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ người khác Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số rất ít có cơ hội tham gia các lớp học văn hoá buổi tối thậm chí các lớp học đó đã có sẵn và thích hợp với họ Kết quả là phụ nữ không thể tham dự các buổi họp thôn bản cộng với việc ít
có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu nhập kém, không có tiếng nói trong các quyết định quan trọng của đời sống gia đình dẫn đến địa vị kinh tế, xã hội của phụ nữ thấp hơn so với nam giới Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và
ở cấp quốc gia
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ trong các hộ gia đình tại xã Tuấn Mậu huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Về địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại xã Tuấn Mậu huyện
Sơn Động - tỉnh Bắc Giang
Về thời gian nghiên cứu: Tổng quan về vai trò của phụ nữ được phân
tích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị kinh tế
xã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2012 đến năm 2013 Các số liệu điều tra thực hiện trong năm 2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại địa phương
- Vai trò và đóng góp của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội
của hộ gia đình tại xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
+ Vai trò trong tham gia công tác xã hội và hoạt động xã hội
+ Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập
+ Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận thông tin truyền thông
+ Vai trò của phụ nữ trong kiểm soát các nguồn lực của hộ
+ Vai trò trong việc giáo dục đào tạo và nâng cao trình độ
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
của hộ gia đình nông thôn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vài trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội của hộ gia đình nông thôn
Trang 343.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu phải nằm trong các xã đã được chọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng Số mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên dựa theo danh sách hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: Nghèo, trung bình
Nguồn số liệu: Được thu thập từ số liệu thống kê, báo cáo sơ tổng kết
hàng năm, nhiệm kỳ của:
- Một số ban, ngành có liên quan
- Ban vì tiến bộ của phụ nữ
- Hội phụ nữ xã Tuấn Mậu
- Văn phòng thống kê của UBND xã
Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phương pháp thu thập: Thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần
thiết cho đề tài với các chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
Trang 35- Phương pháp quan sát trực tiếp để ghi nhận con số, sự kiện và những hành vi của bà con nông dân
3.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích thống kê: Là phương pháp dựa vào các số liệu
đã được phân tổ, được chia tách trong những bảng biểu cụ thể để tìm ra những nét nổi bật, những đặc trưng cơ bản từ đó xem thông số trong các bảng biểu nói lên điều gì, phản ánh những vấn đề gì, từ đó cần phải có những thay đổi gì cho phù hợp
- Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh phân tích để
thấy được vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình, so sánh sự phân công lao động của người phụ nữ so với nam giới (người chồng của họ) để thấy được mức độ công bằng trong gia đình
- Phương pháp phân tích SWOT
Để phân tích các yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn địa bàn nghiên cứu
- Số liệu thu thập được từ cuộc điều tra được kiểm tra mã hoá và nhập
vào cơ sở dữ liệu máy tính sử dụng phần mềm Excel
3.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
Dân số hoạt động kinh tế: Là lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc
Dân số không hoạt động kinh tế: Là toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên không tham gia lực lượng lao động nhưng đang đi học, đang làm việc nội trợ gia đình, ốm đau, tàn tật không đủ khả năng lao động, người già
Trang 36PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại địa phương
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Tuấn Mậu là một xã đặc biệt khó khăn nằm ở phía Tây Nam của huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Phía Bắc giáp với xã Tuấn Đạo - Bồng Am,
- Phía Đông giáp với thị trấn Thanh Sơn - xã Thanh Luận,
- Phía Nam giáp với xã Tràng Lương - huyện Đông Triều và xã Thượng Yên Công - thị xã Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh,
- Phía Tây giáp với xã Lục Sơn - huyện Lục Nam,
Cách trung tâm huyện lỵ là thị trấn An Châu 30 km, có đường tỉnh lộ
293 chạy qua Do vậy về giao thông có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa xã hội
Về thôn bản: Có 7 thôn, bản là: Thôn Bài, thôn Thanh Trung, thôn Thanh An, thôn Tân Lập, thôn Đồng Thông, thôn Tân Thanh và bản Mậu
4.1.1.2 Điều kiện địa hình, địa mạo
Xã Tuấn Mậu có địa hình dốc dần từ đông bắc xuống tây nam, độ dốc khá lớn, do xã nằm ven dãy núi Yên Tử Độ cao trung bình của xã là 550m so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Yên Tử (1.068m), thấp nhất là 52m
Trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, thảm thực vật rừng có độ che phủ lớn (68%), chủ yếu là các loài cây bản địa và các loại gỗ quý như lim, lát, pơmu, thông tre, sến, táu, dẻ, Diện tích rừng trồng ngày càng tăng với các Chương trình 327, Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, do đó diện tích rừng ở các vùng dự án ngày càng phát triển, không chỉ góp phần nâng độ che phủ của rừng, giữ gìn môi sinh, bảo tồn nguồn gen và tính đa dang sinh học mà còn phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế từ rừng, cải thiện cuộc sống người dân
Trang 374.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Xã Tuấn Mậu ở cách biển không xa, nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi
Yên Tử nên có đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi Hàng năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hoà; mùa hạ nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 32,90C, nhiệt
độ trung bình thấp nhất là 11,60
C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.564mm, thuộc khu vực có lượng mưa trung bình trong vùng Số ngày mưa trung bình trong năm là 128,5 ngày, những ngày có lượng mưa lớn nhất vào tháng 8, đạt 310,6mm Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên xã Tuấn Mậu ít chịu ảnh hưởng của bão
4.1.1.4 Thủy văn sông ngòi
Trên địa bàn xã không có sông lớn chảy qua, phần lớn chủ yếu là các con suối nhỏ bắt nguồn từ các khe suối, các mạch nước ngầm tạo nên Lưu lượng nước không cao, tuy nhiên do xã có địa hình đồi núi nhiều nên thường xảy ra mưa, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất của xã
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên sinh vật:
Về động vật, trước đây khi diện tích rừng tự nhiên còn lớn, Tuấn Mậu
có rất nhiều loài chim, thú quý hiếm như: hổ, báo, hươu, gấu, lợn rừng, khỉ, Hiện nay, do môi trường sinh sống bị thu hẹp nên chỉ còn lại một số loài như khỉ, hươu, lợn rừng, Đặc biệt ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có loài voọc đen là loài động vật quý hiếm ở Việt Nam cũng như trên thế giới
Tài nguyên nước:
Nguồn nước ngầm tương đối phong phú, ở độ sâu từ 20m - 30m chất lượng nước nói chung là tốt đảm bảo phục vụ sinh hoạt của người dân trong
xã Trong những năm gần đây, do nạn chặt phá rừng, khai thác rất bất hợp lý làm giảm nguồn sinh thuỷ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước về mùa khô và gây lũ lụt vào mùa mưa làm phá huỷ nhiều công trình giao thông thuỷ lợi và phá hoại sản xuất ảnh hưởng tới đời sống của người dân trong xã Biện pháp cấp bách là xây dựng hệ thống đê bao vững chắc trồng rừng và bảo vệ rừng nâng cao ý thức cho người dân
Trang 38Tài nguyên đất:
Bảng 4.1: Cơ cấu đất đai của xã Tuấn Mậu năm 2013
(Nguồn: Ban Địa chính xã Tuấn Mậu)
Cơ cấu đất đai được phân bố như sau:
* Nhóm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp có tổng diện tích là 5851,74 ha, chiếm 95,84% diện tích đất tự nhiên Xã Tuấn Mậu chủ yếu làm nghề nông, đặc biệt nguồn thu ngân sách của xã từ hoạt động nông nghiệp chiếm số lượng lớn Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên hộ và bình quân đất nông nghiệp trên nhân khẩu tương đối lớn so với các xã trong huyện đáp ứng được nhu sản xuất nông nghiệp trong xã Trong đó đất sản xuất nông nghiệp có diện tích là 398,59 ha, chiếm 6,53% so với tổng diện tích đất tự nhiên và chủ yếu phục vụ
Trang 39cho trồng cây hàng năm và lúa là cây được trồng nhiều nhất tuy nhiên nó chỉ chiếm 2,67% so với diện tích đất tự nhiên Diện tích đất phục vụ cho việc trồng cây lâm nghiệp rất lớn, chiếm 89,29% so với tổng diện tích đất tự nhiên
vì xã Tuấn Mậu là xã có địa hình chủ yếu là đồi núi, đây là điều kiện để xã phát triển sản xuất lâm nghiệp Ngoài ra đất rừng đặc dụng và đất rừng sản xuất cũng chiếm tỉ lệ lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã lần lượt là: 60,79% và 28,50%, tại xã có khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, đây là nơi bảo tồn các loài cây gỗ quý, các loài động vật quý hiếm Đất nuôi trồng thuỷ sản có diện tích nhỏ chỉ chiếm 0,02% so với tổng diện tích đất tự nhiên, việc nuôi trồng thuỷ sản ở đây chưa phát triển do địa hình đồi núi phức tạp không thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản
* Đất phi nông nghiệp
Có tổng diện tích là 220,11 ha, chiếm 3,60% so với diện tích đất tự nhiên, diện tích đất phi nông nghiệp được chia làm nhiều loại sau: Đất ở, đất chuyên dùng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông suối, mặt nước trong đó thì hai loại đất chiếm tỉ lệ lớn nhất đó là đất ở và đất chuyên dùng Hạng mục các công trình văn hoá, công cộng phúc lợi cũng như cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế, hầu như là chưa được xây dựng Trong tương lai, ngoài việc quan tâm đầu tư chiều sâu, cần dành một quỹ đất thích hợp cho việc mở rộng, xây dựng mới các công trình
Đất sông suối mặt nước và đất chuyên dùng là 48,30 ha, chiếm 0,79% so với tổng diện tích tự nhiên Đây là các hồ chứa, đập phục vụ cho mục đích cung cấp nước tưới và một số mục đích chuyên dùng khác Có thể nói, diện tích này là thấp, không đáp ứng đủ cho nhu cầu dân sinh, kinh tế Trong những năm tới cần đầu tư xây dựng thêm các hệ thống thuỷ lợi để phục vụ sản xuất
* Đất chưa sử dụng
Có diện tích là 34,11 ha, chiếm 0,56% so với tổng diện tích đất tự nhiên, đất chưa sử dụng đang còn lớn nằm trong hai loại đất đó là: Đất đồi núi chưa sử dụng, đất bằng chưa sử dụng Việc khai thác và sử dụng hai loại này gặp nhiều khó khăn
Trang 404.1.1.6 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của địa bàn xã
+ Xã có diện tích đất nông nghiệp lớn, thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng như lúa, ngô, lạc,
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Tuấn Mậu
4.1.2.1 Tình hình dân số, lao động của xã Tuấn Mậu
Dân số
Tổng dân số là 516 hộ, với 2.238 nhân khẩu, gồm 7 dân tộc anh em chung sống là Dao, Tày, Nùng, Sán Chí, Cao Lan, Kinh, Mường Trong đó nhân khẩu chia ra là: Dân tộc Kinh là 868 khẩu; Tày là 38 khẩu; Nùng là 29