Trang 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––– LƯƠNG THỊ PHƯƠNG QUỲNH Tên đề tài: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ BẾ TRI
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –––––––––––––––––––––
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG QUỲNH
Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ BẾ TRIỀU, HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Phát Triển Nông Thôn
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Cù Ngọc Bắc
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp “Vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”, chuyên ngành
Phát Triển Nông Thôn là công trình nghiên cứu của riêng tôi đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tô xin cam, đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện
đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, tháng 05 năm 2014
Tác giả đề tài
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Bế Tiều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng với đề tài: “Vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Cù Ngọc Bắc giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp
đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Bế Triều, các ban ngành cùng nhân dân trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Lương Thị Phương Quỳnh
Trang 4PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể Để đạt được những thành tựu đó, các thành phần kinh tế đã không ngừng vươn lên và có nhiều đóng góp to lớn Kinh tế hộ gia đình là một bộ phận không thể thiếu được trong các thành phần kinh tế đó
Từ những trang sử xa xưa của dân tộc, phụ nữ Việt nam đã đã giữ vị trí
và vai trò quan trọng trong việc dựng nước và giữ nước Những tấm gương, hình ảnh của Hai Bà Trưng, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, các mẹ Việt nam anh hùng, đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và tinh thần bất khuất Ngày nay, phụ nữ việt Nam đang tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp ấy và ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình trong xã hội Ở nông thôn nước ta, phụ nữ chiếm gần 50% dân số Người phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc.Tuy nhiên, phụ nữ nông thôn còn chịu nhiều thiệt thòi,
họ tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhưng vai trò của họ vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn
Phụ nữ có tác động trực tiếp đến sự phát triển mọi mặt của địa phương,
có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của gia đình và xã hội Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của người phụ nữ dân tộc thiểu số là vấn đề bức xúc Do vậy, việc giúp đỡ, tạo điều kiện để người phụ nữ phát huy vai trò của mình là trách nhiệm của các cấp, các ngành và địa phương
Bế Triều là 1 xã giàu truyền thống cách mạng, với nghề nghiệp chủ yếu
là sản xuất nông nghiệp Trong xã có 3 dân tộc Tày, Nùng, Kinh cùng sinh sống Những năm gần đây, nhờ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, xã đã đạt được những thành tựu nhất định , tăng thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của người dân thực sự được nâng cao Người phụ nữ dân tộc thiểu số đã
có nhiều đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế hộ gia đình và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Để cố gắng làm tốt họ phải nỗ lực và
hi sinh, những quyền lợi về mọi mặt của họ chưa đựơc quan tâm đúng mức
Trang 5Vậy, người phụ nữ xã Bế Triều đã có những đóng góp gì cho sự phát triển của kinh tế hộ gia đình? Làm thế nào để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người phụ nữ? Làm thế nào để có thể nâng cao vai trò của người phụ nữ trên địa bàn?
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân sinh viên
+ Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa tiếp theo
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế của chính gia đình
họ, đóng góp vào sự phát triển của địa phương
Trang 6Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm giới, giới tính
* Khái niệm về giới
Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, các đặc điểm khác nhau do xã hội quyết định, các mối quan hệ giữa nam và nữ do xã hội lập nên Các vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó Do đó vai trò của giới có sự biến động và thay đổi qua thời gian và không gian (Trần Thị Quế,
1999 và Nancy J Hafkin, 2002)
Giới là các mối quan hệ và tương quan về vai trò, trách nhiệm, quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân công lao động, các kiểu phân chia các nguồn lợi ích, khả năng tiếp cận tới nguồn lực Giới được quy định bởi các đặc điểm và điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội của từng địa phương, từng dân tộc và quốc gia
* Khái niệm về giới tính
Giới tính là những sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa phụ nữ và nam giới Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất nòi giống Vai trò sinh học đó là đồng nhất, phổ biến và không thay đổi
* Phân biệt giữa giới và giới tính
Bảng 2.1 Phân biệt giữa giới và giới tính
Nguồn hình thành Do dạy và học mà có Bẩm sinh
Tính thay đổi Có thể thay đổi Không thể thay đổi
Ví dụ
Phụ nữ có thể trở thành Thủ Tướng, nam giới có thể ở nhà nội trợ…
Phụ nữ mang thai và sinh con, nam giới có yết hầu ở cổ
2.1.1.2 Khái niệm hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình
* Khái niệm hộ
Theo Weberster – từ điển kinh tế (1990), Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng có chung một ngân quỹ
Trang 7Theo Martin (1988), Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác
Theo Raul (1989), Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc,có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân mình và cộng đồng
Theo Mege (1989), Hộ là những người có chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
Theo các tác giả nhóm nhân chủng học từ năm 1982 – 1985, Hộ là đơn
vị đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất
Như vậy, các các nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về
hộ không giống nhau Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân biệt về hộ đó là:
- Chung hay không chung huyết tộc
- Cùng sống chung dưới một mái nhà
- Cùng chung nguồn thu nhập(ngân quỹ)
- Cùng ăn chung
- Cùng tiến hành sản xuất chung
(Đỗ Văn Viện – Đặng Văn Tiến, 2006, Bài giảng Kinh tế hộ nông dân, Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp)
* Khái niệm gia đình
Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (http://phunudanang.org.vn)
* Khái niệm hộ gia đình
Hộ gia đình được dùng để biểu thị các thành viên của nó có chung huyết tộc, quan hệ hôn nhân và có chung một cơ sở kinh tế Các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định; là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó (Điều 107
Dự thảo luật dân sự)
* Khái niệm khái niệm kinh tế hộ gia đình
Theo Frank Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là “các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình trong sản xuất nông
Trang 8trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần thị trường hoạt động với một tốc độ không hoàn chỉnh”
Theo TS Đỗ Văn Viện, “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế
cơ sở của nền sản xuất xã hội trong đó có các nguồn lực như: đất đai, lao động, tiền vốn, và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển” (Đỗ Văn Viện – Đặng Văn Tiến, 2006, Bài giảng Kinh tế hộ nông dân, Đại học Nông nghiệp I, NXB Nông nghiệp)
2.1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế hộ gia đình
* Khái niệm phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ)
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh
tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn
* Phát triển kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình tập trung chủ yếu ở khu vực sản xuất nông nghiệp và chiếm tới 2/3 lực lượng lao động toàn xã hội Vì vậy, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nước ta thực chất là việc thực hiện phát triển một cách hợp lý các hình thức sản xuất và kinh doanh trong nông nghiệp Đây là loại hình kinh tế phổ biến nhất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo
cơ chế thị trường dựa trên nền tảng gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn
và điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Do đó mà kinh tế hộ gia đình có ý nghĩa quan trọng Phát triển kinh tế hộ gia đình là một phần tất yếu để tạo nền tảng phát triển kinh tế đất nước
2.1.2 Vai trò giới và những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới
2.1.2.1 Vai trò giới
Vai trò giới là những công việc và những hoạt động cụ thể mà phụ nữ
và nam giới thực tế đang làm Thông thường đây cũng là công việc mà xã hội trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hay đàn bà (Nguyễn Thị Minh
Trang 9Hiền, Bài giảng “Giới trong phát triển nông thôn”, Khoa Kinh tế và PTNT, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội)
Trên thực tế thì phụ nữ và nam giới đóng vai trò khác nhau trên 3 mặt:
* Vai trò sản xuất
Vai trò sản xuất bao gồm những công việc do cả nam giới và nữ giới làm để tạo ra thu nhập hoặc lấy công (tiền công hoặc bằng hiện vật) Nó còn bao gồm cả sản xuất hàng hóa có giá trị trao đổi và sản xuất vừa có ý nghĩa tiêu dùng tại gia đình, vừa có tính sử dụng, nhưng cũng có giá trị trao đổi tiềm tàng Đối với phụ nữ trong nông nghiệp, vai trò đó bao gồm công việc của những người nông dân độc lập
Vai trò sản xuất của giới trong nông nghiệp và nông thôn liên quan đến việc ra quyết định sản xuất kinh doanh (sản xuất sản phẩm và dịch vụ gì và bao nhiêu, dùng công nghệ nào và như thế nào?), quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh (ai điều hành, lúc nào và như thế nào?), quản lý rủi ro và tận dụng
cơ hội trong kinh doanh (ai quyết định điều gì? và quyết định như thế nào khi xảy ra rủi ro hay có cơ hội), quá trình quản lý thành quả sản xuất kinh doanh
* Vai trò tái sản xuất
Vai trò tái sản xuất thể hiện vai trò của nam và nữ trong việc tái sinh, duy trì nòi giống, tái sản xuất sức lao động, bao gồm trách nhiệm mang thai, sinh đẻ hoặc nuôi con, chăm sóc các thành viên khác trong nhà, công việc nhà như dọn dẹp nhà cửa và nội trợ Vai trò đó không chỉ bao gồm sự tái sản xuất sinh học mà còn có cả chăm lo và duy trì lực lượng lao động sau này Các công việc tái sản xuất có khuynh hướng, dường như là công việc được dành riêng cho phụ nữ
* Vai trò cộng đồng
Vai trò cộng đồng bao gồm các hoạt động do nam giới và nữ giới thực hiện ở cấp cộng đồng nhằm bảo vệ và duy trì các nguồn lực khan hiếm của cộng đồng, thực hiện các nhu cầu chung của cộng đồng, quản lý sự thay đổi
và làm cho cộng đồng phát triển
Vai trò cộng đồng chia làm 2 loại:
- Vai trò tham gia cộng đồng
Thể hiện ở sự tham gia của nam và nữ trong các hoạt động cộng đồng Hoạt động cộng đồng rất đa dạng, tùy theo bản sắc riêng có của từng cộng đồng như các hoạt động chung của cộng đồng: xây dựng cơ sở hạ tầng, quản
lý tài sản công, tham gia vào lễ hội, văn hóa, giáo dục, y tế, quản lý nguồn nước, quản lý và bảo vệ rừng, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường ở cộng
Trang 10đồng Thường thì phụ nữ tham gia vào các hoạt động như lễ hội, giáo dục mầm non, y tế cơ sở, kiếm củi, lấy nước, quản lý tài nguyên thiên nhiên Trừ các hoạt động y tế, giáo dục, y tế cơ sở, các hoạt động còn lại là những công việc
“không được trả công” và là việc làm có tính “tự nguyện và tự nguyện” Đối với phụ nữ, công việc này như là một sự mở rộng vai trò tái sản xuất của họ
- Vai trò lãnh đạo cộng đồng
Nam và nữ có vai trò khác nhau trong tham gia các hoạt động lãnh đạo quản lý cộng đồng Lãnh đạo cộng đồng là lãnh đạo các tổ chức của cộng đồng (các tổ chức chính trị - xã hội khác nhau) như Chủ tịch UBND xã, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh… Lãnh đạo cộng đồng trong một
xã hội chính trị - dân sự phát triển được chia ra thành hai nhóm: Nhóm thuộc
hệ thống quản lý nhà nước (Chủ tịch UBND từ tỉnh trở xuống trưởng thôn, trưởng xóm) và được ngân sách Nhà nước chi trả; Nhóm thuộc xã hội dân sự (các hiệp hội, các tổ chức tự nguyện của cộng đồng) và được kinh phí tự tạo của các tổ chức đó chi trả Dù là ở nhóm nào thì phần lớn việc lãnh đạo cộng đồng đều được trả tiền trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng tiền công hoặc tăng thêm
vị thế và quyền lực Thông thường, các công việc này do nam giới thực hiện Một số ít các vai trò lãnh đạo do nữ giới đảm nhiệm
2.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới
* Quan điểm truyền thống từ xa xưa để lại
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á với nhiều năm dưới ách thống trị của chế độ phong kiến, bị ảnh hưởng rất lớn của tư tưởng Nho giáo, nên còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán, kể cả những phong tục cổ hủ
Trang 11* Yếu tố về sức khỏe
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người Do đặc điểm sinh lý tự nhiên, phụ nữ thường có sức khỏe kém hơn nam giới Do vậy mà người phụ nữ thường được coi là đại diện cho phái yếu, phái đẹp Sức khỏe của con người nói chung và phụ nữ nói riêng chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: điều kiện dinh dưỡng, môi trường lao động, thời gian lao động, đặc thù của giới nữ… Sức khỏe của phụ nữ yếu hơn nam giới, do đó mà khả năng lao động của họ bị hạn chế và ảnh hưởng đến sự đóng góp của họ cho gia đình và xã hội, từ đó cũng ảnh hưởng đến vai trò và vị thế của họ
* Hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật
Theo đánh giá của hầu hết các nghiên cứu về phụ nữ thì trình độ học vấn của phụ nữ nhìn chung đều thấp hơn nam giới Kết quả của điều tra dân số kế hoạch hóa gia đình 1/4/2011 của Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ biết chữ của nữ giới là 92,2% (từ 15 tuổi trở lên) Tỷ lệ học sinh nữ tiểu học là 49,5%, THCS: 48,5%, THPT: 52,6% và ở bậc ĐH là 48,5% (niên học 2008 - 2009).Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo là 80,9%, khu vực nông thôn gần 90%, chỉ có 3,65% lao động nữ ở nông thôn có chứng chỉ nghề Phụ nữ bị hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn nên khả năng tiếp thu và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật còn khó khăn, làm cho hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp, do
đó mà đóng góp của phụ nữ đối với kinh tế hộ gia đình còn hạn chế
* Hạn chế trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực sản xuất
Mặc dù đã có những tiến bộ về cải thiện địa vị của phụ nữ, nhưng vẫn còn những chênh lệch trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu như đất đai, nguồn vốn… giữa nam và nữ trong gia đình
Nâng cao khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực cho phụ nữ không chỉ tạo điều kiện phát triển mà còn là cơ hội để nâng cao vai trò và vị thế của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
* Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ
Ngoài thời gian làm việc để tạo ra thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn bận rộn với công việc nội trợ, chăm sóc con cái Do đó mà việc tiếp cận các nguồn thông tin mới của phụ nữ bị hạn chế, họ ít có thời gian để xem ti vi, đọc sách báo, tìm hiểu thông tin thị trường… Điều này dẫn đến người phụ nữ không nắm bắt được thông tin, thiếu hụt thông tin, làm cho khả năng tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những đổi mới trong ngành nông nghiệp còn
Trang 12bị hạn chế, không nâng cao được năng suất, chất lượng sản phẩm Từ đó làm hạn chế sự đóng góp của phụ nữ vào kinh tế của gia đình nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung
* Những yếu tố chủ quan
Những yếu tố bên ngoài đã có tác động không nhỏ đến việc nâng cao vai trò của người phụ nữ Bên cạnh đó, ý thức của người phụ nữ về vai trò của bản thân mình cũng làm cho vị thế của họ không được nâng cao Cùng với những quan niệm từ thời phong kiến, họ đã chấp nhận rằng thiên chức của mình là chăm sóc chồng con, là người nội trợ khéo léo, cam chịu hi sinh bản thân mình cho chồng con, cho gia đình Vì thế mà họ tự trói buộc mình vào các công việc gia đình, để rồi họ tự đánh mất vai trò và vị trí của mình trong gia đình và xã hội
2.1.3.Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ
2.1.3.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về giải phóng phụ nữ
Phụ nữ là phần nửa dân số không thể thiếu được trong đời sống xã hội Phụ nữ là một bộ phận cấu thành quan trọng có ý nghĩa quyết định việc tái sản xuất lực lượng sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội bề vững V.I Lênin nghiên cứu các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen từ lúc còn trẻ và ông sớm trở thành người Mác xít Sự đóng góp to lớn của ông trong việc bảo vệ các giá trị nền tảng của học thuyết Mác và phát triển sáng tạo học thuyết này khi hoàn cảnh lịch sử đã có nhiều thay đổi đã làm cho học thuyết Mác mang tên học thuyết Mác - Lênin Theo ông: “ Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức”, chính vì vậy mà họ chưa bao giờ và không bao giờ đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng.V.I Lênin nhìn rõ thực trạng bất bình đẳng mà phụ nữ phải gánh chịu đó còn là sự bất bình đẳng trong cuộc sống gia đình, bởi vì ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng, thì sự thật phụ nữ vẫn bị trói buộc, vì toàn bộ công việc gia đình đều trút lên vai phụ nữ Để xoá bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội, nhưng trước hết và quyết định nhất là sự nỗ lực của chính phụ nữ “Việc giải phóng phụ nữ lao động … phải
là việc của bản thân phụ nữ lao động”
Trang 13Trong lĩnh vực chính trị, V.I Lênin quan tâm trước hết đến việc “làm cho phụ nữ tham gia nhiều hơn nữa vào công cuộc bầu cử vì đó là cơ hội tốt nhất để
họ lựa chọn những người đại diện cho quyền lợi của họ, nhất là những người đại diện là phụ nữ Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực công tác xã hội, nhất là những lĩnh vực trước đây họ ít được tham gia bởi những thành kiến lạc hậu của xã hội cản trở Trong lĩnh vực công tác Đảng, công tác Nhà nước cũng cần có sự tham gia của phụ nữ, hơn nữa trong công tác đó, phụ
nữ phải giữ một vai trò chủ yếu và chắc chắn là phụ nữ giữ vai trò ấy
2.1.3.2.Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ
Kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến tiềm năng, vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nói chung và sự nghiệp cách mạng của Việt nam nói riêng.Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ ở những luận điểm sau:
Thứ nhất: Giải phóng phụ nữ là một mục tiêu tất yếu của cách mạng
vô sản Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đi đến kết luận chế
độ thực dân là ăn cướp, hiếp dâm và giết người Chế độ thực dân đối xử một cách hết sức bỉ ổi đối với người phụ nữ bản xứ nói chung và người phụ nữ “An Nam” mất nước nói riêng Do đó, mục tiêu của cách mạng vô sản phải bao hàm mục tiêu giải phóng phụ nữ, Bác viết “nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” Hồ Chí Minh khẳng định, quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng chính là quá trình thực sự giải phóng phụ nữ và ngược lại để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ
Thứ hai: Giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội, nhưng dưới chế độ thực dân
phong kiến phụ nữ là đối tượng bị bóc lột, đè nén nặng nề nhất Vì vậy, theo
Hồ Chí Minh giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng,
nó gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Đó là cuộc cách mạng để xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi, mọi hủ tục, tàn dư của tư tưởng coi thường phụ nữ do chế độ cũ để lại Hồ Chí Minh viết:
“Giải phóng đàn bà đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến tư sản trong người đàn ông”; “Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó Vì trọng trai khinh gái là thói quen mấy nghìn năm để lại Vì nó đã ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”
Trang 14Thứ ba: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn thể xã hội Hồ Chí Minh đã sớm xác định trách nhiệm của Đảng và
Nhà nước trong việc giải phóng phụ nữ Có thể nói: “Từ ngày nước ta được giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Nhưng một trong những tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia chính quyền ngày càng nhiều mà thời kỳ thuộc Pháp, phụ nữ ta làm
gì được tham gia chính quyền” Điều đó thể hiện bản chất ưu việt của chế độ
xã hội chủ nghĩa, chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, chứng tỏ tư tưởng giải phóng phụ nữ của Hồ Chí Minh đang từng bước trở thành hiện thực trong cuộc sống
Giải phóng phụ nữ theo Hồ Chí Minh, không những là trách nhiệm của Đảng và chính quyền mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Người chủ trương giáo dục tất cả cán bộ, Đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân có nhận thức đúng đắn về vai trò và địa vị của người phụ nữ trong xã hội, xóa bỏ ý
thức trọng nam khinh nữ
Thứ tư: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của bản thân người phụ
nữ Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của xã hội là
những điều kiện hết sức quan trọng, song điều quyết định cuối cùng cho công cuộc giải phóng phụ nữ lại chính là chị em Sự tự thân vận động, sự nỗ lực vươn lên trong học tập và công tác của chính chị em mới có thể đưa đến sự thành công của công cuộc giải phóng phụ nữ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở chị em phải có ý thức tự giải phóng, Người viết: “về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà mình phải tự cường, tự đấu tranh”
Thứ năm: Xây dựng hội phụ nữ ngày càng vững mạnh Vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, học tập kinh nghiệm của nước Nga xã hội chủ nghĩa và kinh nghiệm của Đảng cộng sản các nước khác, ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, Hồ Chí Minh đã xác định các Đảng cộng sản cần phải xây dựng tổ chức riêng của phụ nữ và thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đó vững mạnh để tập hợp, vận dụng phụ nữ hoạt động cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ và đấu tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ Thực tiễn đã chứng minh rằng, hội phụ nữ Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội sớm được thành lập, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và đã có những đóng góp to lớn trong tiến trình cách mạng nước ta
Trang 152.1.4 Quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ
Lịch sử phát triển của khoa học về giới đã trải qua nhiều nhiều bước hoàn thiện về các quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ như “Phụ nữ trong phát triển – Women in Development – WID”, “Phụ nữ và phát triển – Women and Development – WAD” và “Giới và phát triển – Gender and Development – GAD”
* Quan điểm “Phụ nữ trong phát triển” (WID)
Quan điểm này ra đời vào những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ 20 tại
Ủy ban phụ nữ thuộc tiểu ban xã hội Washington Quan điểm này đặt trọng tâm vào phụ nữ, trên cơ sở giải quyết các vấn đề của phụ nữ nảy sinh trong quá trình phát triển Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã hội và quyền lợi cho phụ nữ
Các quan niệm trước đây chỉ nhìn nhận phụ nữ trong vai trò người vợ, người mẹ nên chính sách đối với phụ nữ chỉ giới hạn ở phúc lợi xã hội và sinh
đẻ Quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có việc làm trong sản xuất và tham gia công tác xã hội là biện pháp nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ
Tuy nhiên, WID cũng bộc lộ những thiếu sót như sau (Kabeer 1994):
- WID được xây dựng trên cơ sở lý thuyết cổ điển với giả định rằng, phụ nữ không có cơ hội tham gia vào các chương trình phát triển ở hầu hết các nước đang phát triển
- WID chỉ ra rằng, phụ nữ bị đối xử bất công bằng trong xã hội nhưng không chỉ rõ được nguồn gốc của sự bất bình đẳng đó
- Mặc dù mục tiêu chính của WID là đưa phụ nữ vào các chương trình phát triển song nó không hề đặt câu hỏi rằng, tại sao phụ nữ hầu như không được hưởng lợi từ các chương trình chiến lược đó
- WID hầu như chỉ tập trung giải quyết sự bất bình đẳng giới trong khía cạnh sản xuất mà quên đi các vai trò quan trọng khác của phụ nữ như tái sản xuất và sinh hoạt cộng đồng
- WID đề xuất giải pháp giải phóng phụ nữ nhưng chỉ tập trung vào đối tượng nữ mà bỏ qua mối quan hệ giới vô cùng phức tạp trong xã hội, đặc biệt
là xã hội phụ quyền
Trang 16* Quan điểm “Phụ nữ và phát triển” (WAD)
WAD ra đời vào nửa sau những năm 1970, với mục đích khắc phục những nhược điểm của WID Quan điểm này đã thừa nhận phụ nữ là chủ thể quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, vì thế phụ nữ đương nhiên là một bộ phận cốt yếu của quá trình phát triển Mục tiêu chính của WAD là giải quyết mối quan hệ giữa phụ nữ và phát triển Mặc dù vậy, WAD giống WID
ở chỗ là vẫn chỉ tập trung vào phụ nữ mà không đề cập đến các mối quan hệ giới và vai trò giới, vẫn coi phụ nữ là chủ thể riêng, đối tượng riêng biệt khi thực hiện các chiến lược phát triển phụ nữ (Kabeer 1994)
*Quan điểm “Giới và phát triển” (GAD)
Quan điểm này ra đời vào những năm 1980 Khắc phục nhược điểm của 2 quan điểm trên, GAD tập trung vào mối quan hệ giới chứ không chỉ riêng phụ nữ, quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng giới và các chương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của cả nam và nữ
Theo quan điểm này, phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá như là những nhân tố tích cực chứ không phải là những người thừa hưởng thành quả của sự phát triển Mục tiêu phát triển theo phương pháp này là sự tự lực, sức mạnh của bản thân phụ nữ, tức là phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình
và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với nam giới Sự tham gia của phụ nữ và phát huy hết tiềm năng, kinh nghiệm của họ trong hoạt động kinh tế, xã hội hay quản lý cộng đồng có ý nghĩa chính trị -
xã hội tích cực, vừa tăng cường năng lực cá nhân, vừa tạo quyền cho chính
họ, vừa thúc đẩy tốc độ phát triển chung của xã hội
Quan điểm này còn cho rằng, mỗi nam và nữ giới sẽ thường đảm nhận các vai trò quyền lực khác nhau, nên họ có nhu cầu thực tế khác nhau Chính
vì vậy, phân tích theo quan điểm GAD đã đề xuất được các hướng giải quyết không chỉ nhằm giải quyết các vấn đề trước mắt mà cả những nguyên nhân sâu xa của vấn đề nghiên cứu
Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng xã hội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau Cần đánh giá những đóng góp của phụ nữ đối với cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy được năng lực của mình, chủ động cùng nam giới tham gia các hoạt động phát triển kinh tế gia đình và cộng đồng, các hoạt
Trang 17động văn hóa, chính trị, chăm sóc sức khỏe sinh sản… Quan trọng là hình thành được thói quen, các chuẩn mực và giá trị mới về vai trò phụ nữ trong cộng đồng ở trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập và phát triển
2.2.Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, cùng với dân tộc Kinh còn có 53 dân tộc thiểu số Tuy chỉ chiếm 14% dân số cả nước nhưng địa bàn cư trú của các dân tộc là 3/4 diện tích đất nước Phụ nữ chiếm hơn 1/2 dân số, là nguồn lực có vai trò, vị trí đặc biệt, tác động rất lớn tới phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở từng địa phương
Phụ nữ nước ta là những chủ nhân của đất nước, có tiềm năng lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hương họ Người phụ nữ không chỉ cùng chồng tham gia sản xuất kinh doanh tạo thu nhập mà còn bận rộn với các công việc gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái… Do đó mà thời gian nghỉ ngơi của họ là rất ít
Ở những vùng dân tộc sinh sống hầu như còn sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, người phụ nữ tham gia vào hầu hết các khâu của quá trình trồng trọt như gieo hạt, bón phân, làm cỏ, thu hoạch, bảo quản, phòng trừ sâu bệnh Còn chăn nuôi thì họ chủ yếu là chăm sóc, cho ăn, vệ sinh chuồng trại
Người phụ nữ có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế hộ gia đình Đặc biệt, những năm gần đây, phụ nữ đã được quan tâm nhiều hơn, họ được tiếp cận với các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ… Vì thế mà vị thế của họ ngày càng được cải thiện hơn, đời sống vật chất
và tinh thần được nâng cao
2.2.2 Kinh nghiệm trong phát huy vai trò của phụ nữ DT ở Việt Nam
Nước ta đã có nhiều chính sách nhằm phát huy vai trò của phụ nữ DT Thông qua đó mà đã có nhiều chị em phụ nữ DT được nâng cao trình độ, được tiếp cận và quản lý những nguồn lực, do đó mà họ vươn lên và có nhiều đóng góp cho kinh tế gia đình cũng như xã hội
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng như Hội Liên hiệp Phụ nữ ở các tỉnh thành cũng đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi để chị em phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Hội triển khai đồng thời nhiều hoạt động hỗ trợ tích cựcnhư: cho vay vốn ưu đãi để phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, làm chủ cuộc sống, tặng nhà tình thương cho phụ nữ neo đơn khó khăn
về chỗ ở, hỗ trợ cho học sinh nữ để các em tiếp tục được đến trường… Những
Trang 18hoạt động này đã tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động khá rõ nét và
cụ thể Bên cạnh Hội Liên hiệp phụ nữ còn có nhiều tổ chức quốc tế đã có những chương trình thiết thực giúp cho phụ nữ DTTS được nâng cao trình độ
về mọi mặt, nâng cao vị thế xã hội Cụ thể:
Dự án LICEEM (Lớp học chữ nâng cao năng lực phụ nữ dân tộc thiểu số)
là dự án 3 năm nhằm cải thiện và nâng cao vị thế kinh tế xã hội nói chung cho phụ nữ dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng thông qua các hoạt động giáo dục và nâng cao nhận thức Dự án LICEEM phối hợp với Hội Liên Hiệp Phụ Nữ địa phương
tổ chức các lớp học chữ và học toán theo phương pháp người học cùng tham gia Thời gian thực hiện: 03 năm (2009 – 2012)
- Các nhà tài trợ: tổ chức ADRA Úc
- Nơi thực hiện: tỉnh Cao Bằng (huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hà Quảng)
- Lĩnh vực: giáo dục
- Đối tượng hưởng lợi: phụ nữ dân tộc thiểu số tuổi từ 25 trở lên
- Các đối tác chính: Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Cao Bằng, Sở Giáo dục
Trang 19- 40 câu lạc bộ xoá mù cấp xã được thành lập và duy trì thành một mạng lưới để tiếp tục việc học chữ, theo dõi phản hồi đối với các vấn đề của địa phương bao gồm các vấn đề được thảo luận tại các câu lạc bộ xoá mù, đồng thời chia sẻ các kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề (adravietnam.org)
Thông qua những chính sách, những chương trình của Nhà nước, các tổ chức quốc tế mà người phụ nữ DT đã có những kiến thức nhất định phục vụ cho đời sống và sản xuất, nâng cao được vị thế của họ trong gia đình cũng như ngoài xã hội
2.2.3 Những chính sách trong phát triển phụ nữ DT ở Việt Nam
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng Sản Việt Nam với Cương lĩnh
chính trị đầu tiên tháng 10/1930 đã khẳng định: “Vấn đề giải phóng phụ nữ
và sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một trong mười nhiệm vụ quan trọng của Đảng” Phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều mặt, phụ nữ
không chỉ là người được hưởng lợi từ nhiều thành quả của đất nước mà còn là nhân tố quan trọng tham gia vào hoạt động sản xuất, công tác quản lý xã hội
Theo Điều 6, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
năm 1946 đã quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang nhau về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” Theo điều 9, Hiến pháp năm 1946
đã khẳng định: “Mọi quyền lực trong nước thuộc về nhân dân Việt Nam, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, giàu, nghèo, giai cấp…” và “phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện”
Hiến pháp năm 1954, Điều 24 có nêu: “Phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và
xã hội” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ, phụ nữ là đội quân rất đông Phải giữ gìn sức khỏe cho họ để chị em tham gia lao động sản xuất được tốt”
Hiến pháp được bổ sung và sửa đổi năm 1959, 1980 và 1992 đều thể hiện quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Theo quy định của hiến pháp năm 1992, phụ nữ có quyền và ngang quyền với nam giới trong việc tham gia bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tham gia quản lý Nhà nước và tham gia vào các hoạt động chính trị; công dân nam nữ có quyền ngang nhau về kinh tế Hiến pháp năm 1992 cũng quy định phụ nữ có quyền cơ bản đối với văn hóa, giáo dục, ghi nhận các quyền tự do cá nhân của phụ nữ như tự do tín ngưỡng, quyền bất
Trang 20khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín…
Năm 1993, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được thành lập (là cơ quan Nhà nước chính thức chịu trách nhiệm trong việc tăng cường bình đẳng giới, đây là ủy ban phối hợp đa lĩnh vực cấp cao được báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Chính phủ) với mạng lưới các ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở tất cả các bộ, ngành và 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kế hoạch hoạt động đến năm 2005 của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được phê duyệt vào tháng 12/2002 Nghị quyết 04/NQ – TW ban hành ngày 12/07/1993 của Bộ Chính
trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” đã khẳng định giải phóng phụ
nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xác định sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình
Tháng 6/1994, Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội khóa IX thông qua, được sửa đổi và bổ sung một số điều vào năm 2002, đã dành một chương gồm 10 điều q uy định riêng đối với lao động nữ như quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng mọi mặt với nam giới, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động
nữ, mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ, nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ
Quyết định số 19/2002/QĐ – TTg ngày 21/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
đến năm 2010 với mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”
Nghị quyết 11/NQ – TW ngày 24/07/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” với mục tiêu là
phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; phụ nữ có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, tham gia ngày càng nhiều công việc xã
Trang 21hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; phụ nữ đóng góp ngày càng to lớn cho xã hội và gia đình, phấn đấu để nước ta là một quốc gia có thành tựu về bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực
Quyết định số 2531/QĐ – TTg ngày 24/12/2010 phê duyệt Chiến lược
Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 với mục tiêu tổng quát
“Đến năm 2020, về cơ bản, đảm bảo bình đẳng thực chất giũa nam và nữ về
cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”
Chiến lược xác định 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động – việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa và thông tin, gia đình và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bình đẳng giới Đây
là lần đầu tiên chính phủ ban hành các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, làm cơ sở cho việc ban hành các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới
Đó là những Chỉ thị, Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng
về công tác phụ nữ nói chung, giúp cho phụ nữ phát huy được vai trò của mình Chính sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò to lớn của phụ
nữ trong xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóađược thể hiện trong các văn bản trên đã tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy được tiềm năng to lớn của mình, đóng góp cho sự phát triển của đất nước
2.2.4 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày, Nùng
2.2.4.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày
Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên
kỷ thứ nhất trước Công nguyên,có dân số đông nhất trong các DTTS ở nước
ta, với 1.626.392 người (2009) Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái Có mối quan hệ thân thuộc và gần gũi với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ như Nùng, Giáy, Bố Y, Cao Lan - Sán Chỉ ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc, có giao lưu ảnh hưởng tiếp thu lẫn nhau về các mặt văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng với các
cư dân khác cùng cư trú trong vùng
Trang 22lấy nước tưới ruộng Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ
mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng ngô, hoa màu, cây ăn quả… Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông vẫn còn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình được chú ý Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng
* Tổ chức cộng đồng
Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối, tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Họ thích sống thành bản làng đông đúc, mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột, họ thường chọn những loại gỗ quý để dựng nhà Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hoặc lá
cọ Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt
* Hôn nhân và gia đình
Gia đình người Tày thường quý con trai hơn và có quy định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà Vợ chồng yêu thương nhau, ít li hôn Đã từ lâu không còn tục ở rể Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tùy thuộc vào bố mẹ hai bên và
“số mệnh” của họ có hợp nhau hay không Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình Hôn lễ truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức: Lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu…, thể hiện bản sắc văn hoá của một tộc người Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng
* Văn hóa
Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ,
ca, múa, nhạc… Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể Các điệu dân
ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, hát ru con Có nhiều điệu lượn như lượn Slương, lượn Then, lượn Nàng Hai Người Tày còn có các điệu hát Then, gọi là Văn ca, được ngâm hát trong đám tang, gọi là hát hội trong các hội Lồng tồng, gọi là Cỏ lẩu trong hát đám cưới.Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất
cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào Tày Nó như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ Tày Bao đời nay đàn tính như một phương tiện giao
Trang 23tiếp mang đậm bản sắc dân tộc Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và thích nói chuyện Họ rất coi trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi nhau như anh em ruột thịt, bà con thân thích của mình
*Ăn uống
Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày Tết, ngày lễ, người Tày thường làm nhiều loại bánh như bánh chưng, bánh dày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo… Đặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã
có vòng cổ, vòng tay, vòng chân và dây xà tích bằng bạc.Trang phục của nam giới có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa, áo ngắn cũng may năm thân, cổ đứng Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối
* Thờ cúng
Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ
2.2.4.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Nùng
Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200 – 300 năm Đến năm 2009, người Nùng có khoảng 968.800 người.Người Nùng tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tày và người Choang sống dọc biên giới với Trung Quốc
* Đặc điểm kinh tế
Nguồn sống chính của người Nùng là cây lúa và cây ngô Họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có
Trang 24điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính Ngoài ngô, lúa, họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh…
Đồng bào Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng… Hồi là cây quý nhất của đồng bào, hàng năm mang lại nguồn lợi đáng kể Các ngành nghề thủ công đã phát triển, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương… Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn
là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề được duy trì và phát triển (rèn)
Chợ ở vùng người Nùng phát triển, người ta đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm
* Tổ chức cộng đồng
Đồng bào Nùng sống thành từng bản trên các sườn đồi, thông thường trước bản là ruộng nước, sau bản là nương và vườn cây ăn quả Người Nùng thường sống xen kẽ với người Tày, phần lớn là nhà sàn, một số ở nhà đất Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng, vì thế họ rất chú ý tới xem hướng, chọn đất, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt
* Hôn nhân và gia đình
Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng một số kỷ vật Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng bong và giỏ đựng con sợi Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái hợp nhau hay không Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con giá càng cao Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lế đưa dâu về nhà chồng Sau ngày cưới, cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng
Trong gia đình, quan hệ giữa bố chồng, anh chồng với nàng dâu có sự cách biệt nghiêm ngặt Theo phong tục Nùng, dù là con anh, con em, con chị ai nhiều tuổi hơn được gọi là anh, là chị Người Nùng có thói quen ít khi gọi thẳng tên người ông, người bố mà thường gọi theo tên của đứa cháu đầu, con đầu của họ Khi đặt tên con phải tuân theo hệ thống tên đệm của dòng họ
Trang 25* Văn hóa
Đồng bào Nùng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc Lễ hội nổi tiếng thu hút được nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau là hội "Lùng tùng" (còn có nghĩa là hội xuống đồng) được tổ chức vào tháng giêng hàng năm
Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai
bè Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, lễ, chợ phiên Người Nùng ăn Tết giống như người Kinh và người Tày
* Ăn uống
Ở nhiều vùng, người Nùng ăn ngô là chính Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, thịt bò, thịt chó Người Nùng thích ăn các món xào mỡ lợn Món ăn độc đáo và được coi trọng là
“Khau nhục” Tục mới nhau uống rượu chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay đã thành tập quán của đồng bào
* Trang phục
Nam, nữ đến tuổi trưởng thành đều bịt một chiếc răng bằng vàng ở hàm trên và như thế được xem là làm đẹp, là người sang trọng Phụ nữ mặc áo năm thân và cài một hàng cúc bằng nút vải phía bên nách phải Tùy từng nhóm Nùng địa phương mà áo dài, ngắn, rộng, hẹp khác nhau, nhưng ở đoạn cổ tay và lá sen bao giờ cũng đắp một miếng vải và bốn túi áo không có nắp Nam, nữ đều mặc một loại quần nhuộm màu chàm, cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân Phụ
nữ Nùng thường đeo tạp dề trước bụng, khi gồng gánh còn mang thêm miếng nệm vai Điểm khác nhau giữa các nhóm, một trong những biểu hiện là cách đội khăn và các loại khăn trang trí khác nhau đôi chút Người Nùng có 13 nhánh và mỗi nhánh lại có ngôn ngữ cũng như trang phục khác nhau
* Thờ cúng
Người Nùng thờ cúng tổ tiên là chính Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan
âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn) và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế
3.3.Nội dung nghiên cứu
3.3.1.Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế xã hội
3.3.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình 3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình
3.3.4 Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ
DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp tiếp cận
Trang 27- Tiếp cận giới: Thông qua nghiên cứu những đặc tính của giới, những thông tin về sự tham gia của cả nam giới và phụ nữ trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình, từ đó phân tích, so sánh và đưa ra những biện pháp
cụ thể để nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Tiếp cận dân tộc: Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm của các dân tộc (cụ thể là dân tộc Tày, Nùng) để phân tích, đánh giá và so sánh giữa các dân tộc Tày, Nùng, để thấy được vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của họ
- Tiếp cận nhóm hộ: Thông qua việc nghiên cứu vai trò của phụ nữ và nam giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình của các nhóm hộ DT trên địa bàn
để phân tích (chia các nhóm hộ theo loại hình sản xuất, quy mô, theo kết quả kinh tế…), so sánh và đề ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ DT trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Tiếp cận xã: Thông qua nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ DTTS trong các hoạt động cộng đồng, các lĩnh vực kinh tế xã hội ở xã để phân tích và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của họ trong các hoạt động cộng đồng
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
Bảng 3.1 Số liệu cần thu thập và nguồn cung cấp số liệu
Số liệu cần thu thập Nguồn cung cấp Phương pháp thu thập
Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn
của đề tài
Các nghiên cứu, bài báo, giáo trình, internet…
Tra cứu tài liệu, chọn lọc thông tin
- Thông tin sơ cấp
+ Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu
Xã Bế Triều có 3 dân tộc là Tày, Nùng, Kinh cùng sinh sống Tôi sẽ tiến hành điều tra dân tộc Tày 25 hộ, dân tộc Nùng 25 hộ
+ Phỏng vấn phụ nữ trong hộ qua bảng hỏi
Trang 28Sử dụng phương pháp phỏng vấn phụ nữ trong hộ, tôi tìm hiểu về những công việc của phụ nữ DT trong gia đình, quyền quyết định những việc quan trọng trong gia đình do ai đảm nhiệm, những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của họ và họ có những ý kiến đề xuất gì để nâng cao vai trò của mình trong phát triển kinh tế hộ gia đình
+ Phỏng vấn KIP: Phỏng vấn cán bộ Hội phụ nữ của xã
Phỏng vấn cán bộ Hội phụ nữ xã để biết được Hội phụ nữ của xã đã có những hoạt động gì để tạo điều kiện cho phụ nữ DT trong xã tham gia một cách tốt nhất vào phát triển kinh tế hộ gia đình
3.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng hệ thống máy tính và chương trình Excel để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phân tích số liệu
+ Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này mô tả toàn bộ thực trạng về phụ nữ DT, vai trò của
họ trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình và tập hợp số liệu, phân
tổ theo từng nhóm hộ Thông qua đó có thể đánh giá, phân tích và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ DT trong phát triển kinh tế
hộ gia đình
+ Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp này so sánh vai trò của nam và nữ trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình Đồng thời cũng so sánh vai trò của phụ nữ dân tộc Tày, Nùng nhằm đánh giá mức độ tham gia của phụ nữ DT để khẳng định vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
3.4.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh vai trò sản xuất của phụ nữ DT
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh vai trò tái sản xuất của phụ nữ DT
+ Số lượng, tỷ lệ phụ nữ DT tham gia quyết định vấn đề sinh con, định hướng cho con cái
Trang 29+ Số lượng, tỷ lệ phụ nữ DT được chồng giúp đỡ trong các công việc gia đình
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Phía Đông giáp xã Ngũ Lão và xã Vĩnh Quang
- Phía Tây giáp xã Bình Long, Thị trấn Nước Hai và xã Hồng Việt
- Phía Nam giáp xã Hưng Đạo và xã Hoàng Tung
- Phía Bắc giáp xã Đại Tiến và xã Nam Tuấn
* Địa hình, địa mạo
Địa hình của xã được chia làm hai vùng khá rõ rệt:
- Phía Bắc là đồi núi, có độ cao trung bình 450m (điểm cao nhất 460,7m được xác định ở Khuổi Chủ) Đây là vùng núi nằm xem kẽ với các thung lũng nhỏ được hình thành trên nền đá gốc sa thạch và phiến thạch sét
- Phía Nam là vùng có địa hình thấp, tương đối bằng phẳng, nằm dọc theo sông Bằng Giang, có độ cao trung bình 300m (điểm thấp nhất 191,4 m được xác định ở xóm An Phú)
4.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết, thủy văn
* Khí hậu, thời tiết
Xã Bế Triều nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, mưa ít; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; có gió Đông Nam thổi mạnh từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm với tốc
Trang 31- Lượng mưa: Tổng lượng mưa khá lớn, bình quân 1.400 mm/năm và tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9, chiếm tới 70 – 80% lượng mưa cả năm Mưa tập trung theo mùa và phân bố đều giữa các tháng trong năm đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân
- Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 83 – 85%
- Gió bão: Bế Triều so với các khu vực khác ít chịu ảnh hưởng của bão, lốc, mưa đá…
- Suối Tả Sẩy chảy từ phía Bắc xuống đến sông Bằng Giang có chiều dài hơn 5 km, chiều rộng 15 – 20m
- Suối cầu Khanh nằm trên địa bàn xã, có chiều dài 3 km, chiều rộng 4 – 6m Đây là 3 nguồn cung cấp nước chủ yếu cho xã Ngoài những con sông, suối chính, xã còn có hồ Nà Tấu cùng mạng lưới các khe suối nhỏ là nguồn
bổ sung và dự trữ nước ngọt rất quan trọng khi mực nước các sông, suối chính xuống thấp, đặc biệt vào mùa khô hạn
Nhìn chung mật độ sông, suối của xã khá hợp lý, đều chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc Do địa hình được chia làm hai miền rõ rệt, độ dốc của các sông, suối lớn nên vào mùa lũ, mực nước các sông, suối chính lên cao cùng với mưa lớn thường gây sạt lở, sói mòn mạnh, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
4.1.1.3 Đặc điểm đất đai và tình hình sử dụng đất đai
Bế Triều là xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu với tổng diện tích tự nhiên 2.491,00 ha, trong đó đất nông nghiệp 632,18 ha (năm 2013), chiếm 25,37% tổng diện tích tự nhiên Cụ thể tình hình sử dụng đất của xã qua các năm như sau:
Trang 32Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của xã Bế Triều qua các năm
SL (ha) CC(%) SL (ha) CC(%) SL (ha) CC(%) 12/11 13/12 BQ 3 năm
4.Đất sông suối và mặt nước
II.Bình quân đất nông nghiệp /lao
động nông nghiệp (ha/LĐ)
(Nguồn: Địa chính xã Bế Triều, 2013)
Trang 33Đất đai của xã chủ yếu là đất đỏ nâu trên đá mác ma trung tính và đất đỏ vàng Ngoài ra còn có đất nâu vàng trên phù sa cổ và đất phù sa ngòi suối Xã có diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 632,18 ha, chủ yếu trồng các cây hàng năm như lúa, ngô, hoa màu, thuốc lá Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm do lấy đất làm đường giao thông hoặc nhà ở Bình quân đất nông nghiệp/hộ giảm từ 1,67 ha/hộ (năm 2011) xuống còn 1,47 ha/hộ (năm 2013) Bình quân đất nông nghiệp/lao động giảm qua các năm, cụ thể giảm từ 1,02 ha/LĐ (năm 2011) xuống còn 0,86 ha/LĐ (năm 2013) Do đó mà xã cần khai thác tốt hơn diện tích đất nông nghiệp hiện có để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Xã có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn (1.504,19 ha, chiếm 60,38%), trong đó đất rừng tự nhiên là 1.262,54 ha (83,94%) và đất rừng trồng là 241,65 ha (16,06%)
Diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên, do đất ở, đất giao thông, đất chuyên dùng tăng Diện tích đất chưa sử dụng đất còn ít (chủ yếu là đất đồi núi và đầm lầy khó sử dụng) Nhìn chung, xã có cơ cấu sử dụng đất tương đối hợp lý Trong những năm tới cần khai thác có hiệu quả nguồn lực này một cách tối đa phục vụ cho sản xuất và đời sống
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
4.1.2.1 Tình hình kinh tế
Bằng những nỗ lực trong quản lý điều hành hoạt động kinh tế thị trường cộng với các ưu thế về vị trí địa lý, đất đai đã thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng tổng giá trị sản xuất hàng năm, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt khoảng 13,5 triệu đồng, bình quân lương thực đầu người đạt khoảng 596 kg
Năm 2013, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 3.441,7 tấn, đạt 98,5%
so với kế hoạch đề ra
* Thực trạng phát triển kinh tế
- Về trồng trọt
Trong toàn xã thì đóng góp của nền sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn cho kinh tế của địa phương Với những loại cây trồng phong phú cùng với sự chăm sóc của bà con nhân dân mà năng suất không ngừng được nâng cao
Có thể nhận thấy sự biến đổi của sản lượng cây trồng trong giai đoạn từ năm
2011 - 2013 của xã Bế Triều được thể hiện trong bảng sau:
Trang 34Bảng 4.2 Tình hình phát triển một số giống cây trồng trên địa bàn xã
Trang 35Tổng sản lượng cây lương thực có hạt cả năm 2013 là 3.441,7 tấn, đạt 98,5% kế hoạch giao.Nguyên nhân sản lượng lương thực không đạt kế hoạch
là do một số diện tích đất bị thu hồi do giải phóng mặt bằng đường Hồ Chí Minh
Qua bảng 4.2 ta có thể thấy giai đoạn 2011 - 2013 lúa vẫn là cây trồng phổ biến nhất và đây cũng là nguồn thu nhập nhập chính của người dân xã Bế Triều, ngoài ra còn trồng thêm ngô, thuốc lá và một số loại cây trồng khác để phục vụ cho chăn nuôi cũng như tăng thêm thu nhập Chiếm phần lớn diện tích cho hoạt động sản xuất là trồng lúa Ngô cũng là cây trồng chủ yếu của người dân địa phương Diện tích gieo trồng ngô qua các năm cũng có sự thay đổi, đặc biệt năm 2013 diện tích trồng ngô giảm mạnh do diện tích ngô được chuyển một phần sang trồng lúa và các cây màu như: mướp đắng, ớt, bí đỏ
có giá trị kinh tế cao hơn Thuốc lá cũng là cây trồng phát triển do năng suất
và giá trị kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người dân
- Lâm nghiệp: Xã có 1.504,19 ha đất rừng, chiếm 60,38% Nhân dân trong xã đã làm tốt công tác chăm sóc, tu bổ rừng trồng và rừng khoanh nuôi.Từ đầu năm, UBND xã đã kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng
và xây dựng kế hoạch phòng chống cháy rừng Đầu năm xảy ra một vụ cháy rừng tại đồi Khau Khỉ xóm Pác Gà, do được phát hiện và huy động dập lửa kịp thời nên thiệt hại không đáng kể
- Chăn nuôi: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tập trung hình thành vùng chuyên canh, tích cực áp dụng các biện pháp KHKT vào sản xuất cây trồng và vật nuôi cho năng suất cao, tập trung chăn nuôi theo hướng công nghiệp, cung cấp sản phẩm cho thị trường và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bà con… được xem như một giải pháp thích hợp và hiệu quả, góp phần tích cực phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân nơi đây
Bảng 4.3: Tình hình sản xuất chăn nuôi giai đoạn 2011 - 2013
TT Loại vật
nuôi ĐVT Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
So sánh (%) 12/11 13/12 BQ
Trang 36Bảng 4.3 cho thấy xã Bế Triều có số trâu giảm dần qua các năm, đó là
do việc cơ giới hóa trong nông nghiệp phát triển mạnh trong những năm gần đây, hầu hết các hộ sản xuất nông nghiệp đều sử dụng máy cày bừa nhỏ Việc làm đất bằng máy nhanh hơn và tiết kiệm được lao động, một số ít hộ không
có máy thì thuê dịch vụ làm đất khi mùa vụ đến Đàn gia cầm giảm mạnh vào
ăm 2012 do có dịch cúm gia cầm, tuy nhiên đã tăng trở lại vào năm 2013 Đàn lợn có tốc độ phát triển bình quân qua các năm đạt 150,54 % Đàn lợn vẫn được bà con đầu tư, duy trì thường xuyên tăng thu nhập cho kinh tế hộ
4.1.2.2 Dân số, lao động
Tình hình dân số và lao động của xã Bế Triều qua các năm thể hiện ở bảng 4.4:
Trang 37Bảng 4.4 Dân số và lao động của xã Bế Triều qua các năm
BQ 3 năm
A Tổng số nhân khẩu Người 5.587 100,00 5.794 100,00 5.776 100,00 103,71 99,69 101,70
Trang 38Tổng số lao động trong toàn xã năm 2013 là 3.137 người, chiếm 54,3% dân số.Trong đó lao động nông nghiệp là 2.508 người, chiếm 79,95% lao động của xã; Lao động phi nông nghiệp là 629 người, chiếm 20,05% lao động của xã
Xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên các hộ kinh doanh thương mại dịch vụ, hộ kiêm chiếm tỷ lệ nhỏ, qua các năm có tăng về số lượng nhưng vẫn còn ít Số hộ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên lao động nông nghiệp chiếm đa số trong tổng số lao động trong xã
Bình quân nhân khẩu/hộ là 4 người, bình quân lao động/hộ tăng lên từ 2,07 LĐ (năm 2011) lên 2,17 LĐ (năm 2013) Đây được xem như là một nguồn nhân lực dồi dào để phát triển kinh tế xã hội, đồng thời là sức ép đối với chính quyền xã trong vấn đề việc làm cũng như đào tạo kỹ năng lao động
Hộ nghèo trong toàn xã là 17 hộ, chiếm 1,17% Trong đó hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ là 5 hộ, chiếm 0,35%
Toàn bộ dân cư trong xã đa số sống bằng nghề nông, còn rất ít bộ phận khác sống bằng nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Do sản xuất nông nghiệp mang tính chất thời vụ nên có hiện tượng dư thừa lao động theo thời
vụ Do đó chủ trương của xã đang khuyến khích phát triển ngành nghề tại xã, tạo công ăn việc làm cho lao động tại địa phương, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của bà con nhân dân trong xã
Số liệu thống kê dân số của xã Bế Triều năm 2013 được thể hiện qua bảng 4.5:
Bảng 4.5 Dân số và cơ cấu dân tộc của xã Bế Triều năm 2013
(Nguồn: UBND xã Bế Triều năm 2013)
Xã Bế Triều có 21 xóm với 1.444 hộ, có 5.776 nhân khẩu, với 3 dân tộc: Tày, Nùng, Kinh cùng sinh sống Trong đó dân tộc Tày chiếm đa số với 4.746 người (chiếm 82,16%), tiếp đó là dân tộc Nùng với 934 người (chiếm 16,17%), còn lại là dân tộc Kinh với 96 người (chiếm 1,66%) Qua bảng 4.5
Trang 39ta có thể thấy, ở cả 3 dân tộc số lượng nữ giới luôn nhiều hơn số lượng nam giới tuy nhiên vai trò của phụ nữ vẫn chưa được công nhận hết
4.1.2.3 Phụ nữ tham gia các công tác xây dựng Đảng và chính quyền
Bảng 4.6: Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn
thể năm 2013
(người)
Số lượng
nữ (người)
Số lượng
nữ dân tộc (người)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Hội liên hiệp Phụ nữ xã Bế Triều)
Hiện nay, người phụ nữ ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong xã hội, ở các cấp, các ngành lực lượng cán bộ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo đã không còn là điều gì xa lạ Tuy nhiên tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo ở các cấp, các ngành còn chưa cao, chưa tương xứng với năng lực và
sự phát triển của lực lượng lao động nữ
Trong năm 2013, tại xã Bế Triều số phụ nữ tham gia sinh hoạt Hội liên hiệp phụ nữ xã là 787 Có thể thấy cán bộ nữ tham gia lãnh đạo chiếm tỷ lệ rất nhỏ Trong tổng số 46 cương vị lãnh đạo, chỉ có 10 lãnh đạo nữ là người dân tộc bao gồm cả ở cấp Uỷ Đảng, chính quyền và đoàn thể, chỉ chiếm 21,74%
Sự tham gia lãnh đạo của nữ giới ở các đoàn thể còn mờ nhạt, xã Bế Triều có
21 thôn thì chỉ có 4 trưởng thôn là nữ và chỉ có 2 trưởng thôn là người dân tộc chiếm 9,52%; trong khi nam giới làm trưởng thôn chiếm tới 80,95% Có thể thấy sự chênh lệch về sự tham gia của nam và nữ trong đoàn thể, chính quyền
là rất cao Tuy tham gia vào cấp ủy Đảng, Chính quyền và đoàn thể giúp người phụ nữ tăng thu nhập cho gia đình nhưng lại có thể khiến họ không có
đủ thời gian lo chu toàn cho công việc gia đình Nguyên nhân của tình trạng này có thể do nhiều yếu tố mang lại như: Nhận thức của các cấp ủy, chính quyền về bình đẳng giới, về vai trò, năng lực của phụ nữ còn hạn chế; do trở ngại về phong tục tập quán, và nhận thức của một bộ phận phụ nữ còn hạn
Trang 40chế; hoặc do áp lực công việc gia đình khiến người phụ nữ không làm tốt nhất công việc của mình, do đó bị đánh giá sai năng lực
Để tăng tỷ lệ nữ tham gia vào hoạt động lãnh đạo ở các cấp, chính quyền các cấp cần quan tâm hơn nữa tới công tác bồi dưỡng cán bộ nữ, nhận thức đầy đủ hơn về năng lực và vai trò của cán bộ nữ; gia đình cần động viên, ủng hộ họ tham gia vào công tác lãnh đạo và hơn hết, người phụ nữ phải nâng cao trình độ bản thân và nhận thức đúng về vị thế của mình trong hoạt động
đóng góp cho sự phát triển của xã hội
4.1.2.4 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Hệ thống giao thông được đầu tư nâng cấp, cải tạo, làm mới phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của xã Toàn xã có khoảng 42,18 ha đất giành cho giao thông
Xã có tỉnh lộ 203 chạy qua, dài 5 km, rộng 6 m, mặt đường nhựa Ngoài ra, xã còn các trục đường chính như: Tuyến Thị trấn Nước Hai – Bế Triều, Đại Tiến (dài 4 km, rộng 3,5 m), tuyến Bế Triều đi Hồng Việt (dài 0,3
km, rộng 4m), tuyến Bản Sẩy đi Chung Mu (dài 2 km, rộng 3 m), tuyến Bản Sẩy đi Lăng Phia (dài 2 km, rộng 3m), tuyến từ Tỉnh lộ 203 đi Khuổi Vạ (dài
Hiện nay, gần như toàn bộ hệ thống kênh mương chính của xã đã được kiên cố hóa Ngoài ra, do điều kiện thiên nhiên ưu đãi, xã có hơn 14 km sông suối chảy qua và 1 đập thủy lợi, đảm bảo nguồn nước ngọt phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân nơi đây
* Năng lượng
Điện là nguồn năng lượng chính của xã, mặc dù đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân nhưng hiện nay hoạt động của HTX điện còn gặp nhiều khó khăn Do đó trong tương lai cần được quan tâm và nâng cấp mạng lưới điện trên toàn xã