1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.

93 671 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ Việt nam là một quốc gia của 54 dân tộc cùng chung sống hòa thuận, trong đó dân tộc kinh chiếm 86% dân số; 53 dân

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chinh quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2010 - 2014

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chinh quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2010 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đinh Ngọc Lan Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo PGS TS Đinh Ngọc Lan

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa

hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào

Khóa luận đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Vũ Thị Hà Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, giúp sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường vào thực tế, tạo điều kiện cho sinh viên khi ra trường được trang bị đầy đủ cả kiến thức lý luận

và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Xuất phát từ nguyện vọng bản thân và được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn trường Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài:“Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn”

Có được kết quả này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, cùng tất cả các thầy - cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của cô PGS.TS Đinh Ngọc Lan là người trực tiếp hướng dẫn luận văn tốt nghiệp của em, cô luôn hết mình vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đã dậy dỗ chúng em trưởng thành như ngày hôm nay

Em xin gửi lời cảm ơn tới các cô, các chú, các bác, các anh chị đang làm việc tại Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đồng đã giúp đỡ em nhiệt tình để em hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Cám ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và trong thời gian thực tập

Trong suốt thời gian thực tập và làm đề tài em đã cố gắng hết mình nhưng do trình độ, kinh nghiệm thực tế bản thân chưa có nhiều, kiến thức còn hạn chế vì vậy bản khoá luận này không tránh khỏi những sai sót, khuyết điểm Em rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo, sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên để bản khoá luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Vũ Thị Hà Linh

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng số 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hoàng Đồng năm 2013 39

Bảng số 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính

năm 2013 41

Bảng số 3.3: Lao động xã Hoàng Đồng chia theo giới tính

giai đoạn 2011 - 2013 47

Bảng số 3.4: Cơ cấu dân số theo dân tộc năm 2013 48

Bảng số 3.5: Trình độ của cán bộ hội đoàn thể là phụ nữ dân tộc

năm 2013 50

Bảng số 3.6:Cơ cấu phụ nữ DT tham gia lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể năm 2013 51

Bảng số 3.7: Đánh giá của các hộ điều tra về công việc và vai trò của phụ nữ dân tộc trong công việc của gia đình 53

Bảng số 3.8: Tầm quan trọng của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình 53

Bảng số 3.9: Nhận thức của người dân về việc học hành của con gái 54

Bảng số 3.10: Tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng năm 2013 55

Bảng số 3.11: Tỷ lệ nữ dân tộc làm chủ hộ và tham gia điều hành sản xuất 57

Bảng số 3.12: Phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

năm 2014 60

Bảng số 3.13: Phân công lao động trong các hoạt động khác 61

Bảng số 3.14: Phân công lao động trong hoạt động bán hàng 62

Bảng số 3.15: Tình hình quản lý vốn vay của hộ 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Biểu đồ tỷ lệ nghèo đói của phụ nữ DTTS một số nước

trên thế giới 21

Hình 1.2: Biểu đồ bất bình đẳng thu nhập cá nhân giữa phụ nữ và nam giới DTTS ở một số nước trên thế giới 22

Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất xã Hoàng Đồng năm 2013 39

Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu phụ nữ DTTS tham gia sinh hoạt đoàn thể

năm 2013 49

Hình 3.3: Biểu đồ trình độ văn hóa của phụ nữ trong các nhóm hộ 56

Hình 3.4: Biểu đồ nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ DTTS 64

Hình 3.5: Biểu đồ việc phụ nữ đứng tên trong giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất 65

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa về mặt học tập 3

3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 3

4 Yêu cầu của đề tài 3

5 Bố cục đề tài 3

PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Giới và giới tính 4

1.1.1.1 Khái niệm Giới tính và Giới 4

1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc sự khác biệt về giới 5

1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích và bình đẳng giới 6

1.1.1.4 Vai trò giới 6

1.1.1.5 Quan điểm về giới 7

1.1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ 8

1.1.2.1 Một số khái niệm 8

1.1.2.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ9 1.1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ 11

1.1.3.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về giải phóng phụ nữ 11

1.1.3.2.Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ 13

1.1.4 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới 15

1.1.4.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới 15

1.1.4.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 16

Trang 9

1.1.4.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.2.1 Khái quát thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc ít người ở một số nước trên thế giới 21

1.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay 23

1.2.3 Những chính sách trong phát triển phụ nữ DTTS ở Việt Nam 24

1.2.4 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của DTTS (dân tộc Tày, Nùng) 27

1.2.4.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày 27

1.2.4.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Nùng 30

PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.2 Phạm vi nghiên cứu 33

2.3 Nội dung nghiên cứu 33

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Hoàng Đồng 33

2.3.2.Thực trạng vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Hoàng Đồng 33

2.3.3 Thuận lợi, khó khăn trong việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình 33

2.3.4 Giải pháp đẩy mạnh vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ gia đình 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 33

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.4.2.1 Số liệu thứ cấp 34

2.4.2.2 Số liệu sơ cấp 35

2.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 35

2.4.3.1 Phương pháp xử lý số liệu 35

2.4.3.2 Phương pháp phân tổ thống kê 36

2.4.3.3 Phương pháp thống kê so sánh 36

2.4.3.4 Phương pháp phân tích giới 36

Trang 10

PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37

3.1.1.1 Vị trí địa lý 37

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo 37

3.1.1.3 Khí hậu 38

3.1.1.4 Thủy văn 38

3.1.1.5 Tình hình phân bổ và sử dụng đất năm 2013 38

3.1.2 Tình hình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội 40

3.1 2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp 40

3.1.2.2 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Hoàng Đồng 42

3.1.2.3 Tình hình phát triển xã hội 43

3.1.2.4 Công tác an ninh - quốc phòng quân sự địa phương 46

3.1.2.5 Lực lượng lao động và cơ cấu dân số theo dân tộc của xã Hoàng Đồng năm 2013 47

3.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế trên địa bàn xã Hoàng Đồng 47

3.2.1 Thực trạng, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế xã hội tại xã Hoàng Đồng 48

3.2.1.1 Phụ nữ DTTS tham gia các sinh hoạt đoàn thể năm 2013 48

3.2.1.2 Trình độ của cán bộ các hội, đoàn thể trên địa bàn nghiên cứu 49

3.2.1.3 Phụ nữ DTTS tham gia các công tác xây dựng Đảng và

chính quyền 50

3.2.2 Thực trạng vai trò phụ nữ dân tộc thiểu số của hộ nghiên cứu 52

3.2.2.1 Nhận thức của các hộ điều tra về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế 52

3.2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong tham gia công tác xã hội 55

3.2.2.3 Vai trò của phụ nữ DTTS trong việc quản lý và điều hành sản xuất 57 3.2.2.4 Vai trò của phụ nữ DTTS trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 57

3.2.2.5 Khả năng tiếp cận nguồn thông tin của phụ nữ DTTS ở các hộ

nghiên cứu 63

3.2.2.6 Vai trò của phụ nữ DTTS trong kiểm soát nguồn lực của hộ 65

Trang 11

3.2.3 Những thành tựu và hạn chế trong việc khai thác, phát huy vai trò của

phụ nữ dân tộc thiểu số 67

3.2.3.1 Mặt thành tựu 67

3.2.3.2 Mặt hạn chế 68

3.2.4 Nguyên nhân của sự hạn chế việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế 69

3.2.4.1 Yếu tố tự nhiên 69

3.2.4.2 Yếu tố kinh tế 69

3.2.4.3 Yếu tố văn hóa xã hội 69

3.2.4.4 Bản thân người phụ nữ 70

3.2.4.5 Sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể 71

3.3 Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế hộ tại địa bàn nghiên cứu 71

3.3.1 Phương hướng 71

3.3.2 Giải pháp 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Kiến nghị 75

2.1 Đối với Nhà nước 75

2.2 Đối với chính quyền, đoàn thể địa phương 76

2.3 Đối với người dân 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ ngàn xưa phụ nữ Việt Nam giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Các tấm gương tiêu biểu như Hai Bà Trưng, chị Võ Thị Sáu, , và các mẹ Việt Nam anh hùng Ngày nay phụ nữ Việt Nam vẫn đang tiếp nối truyền thống tốt đẹp ấy, những người phụ

nữ Việt Nam đang cùng tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Các chị vừa là người vợ, người mẹ, người con trong gia đình, các chị đang phải gánh trên vai cả trọng trách đối với gia đình và cả xã hội Vai trò của người phụ nữ đang được xã hội công nhận Tuy nhiên, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nơi còn nhiều khó khăn và phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi, vai trò của họ vẫn chưa được nhìn nhận đúng Nước ta có tới 54 dân tộc mà dân tộc Kinh chiếm đa số, trong đó có tới 53 dân tộc ít người, họ sống trải dài trên mảnh đất hình chữ S Phụ nữ DTTS nước ta là những chủ nhân của đất nước, có tiềm năng lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hương họ Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của người phụ nữ là những vấn đề bức xúc đối với phụ nữ vùng dân tộc thiểu số Bởi vì, đại bộ phận các gia đình ở các dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi Trong bộ phận dân cư ấy, phụ nữ lại là nhóm xã hội cực khổ nhất Họ vừa tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội, cộng đồng, lại vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cường độ lao động và thời gian lao động đối với họ là quá tải trong khi mức thu nhập lại thấp, thậm chí họ lao động vất vả nhưng ít được cộng đồng,

xã hội quan tâm Bên cạnh đó, điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống còn rất nhiều hạn chế, yếu kém: trình độ sản xuất, tư liệu lao động, kết cấu hạ tầng, nguồn vốn Hơn thế nữa, phụ nữ vùng dân tộc thiểu số chính là người trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế, trực tiếp sản xuất nhưng ít có

cơ hội, điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật Trình độ học vấn nói chung là thấp, công việc nội trợ gia đình, sinh đẻ và nuôi dạy con cái cũng làm hạn chế năng lực sản xuất của phụ nữ Do đó cần quan tâm hơn tới họ, tạo điều kiện cho họ phát huy được vai trò của mình trong phát triển kinh tế cũng như vai

Trang 13

trò đối với xã hội Nhằm từng bước đẩy lùi bất bình đẳng giới, thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của người phụ nữ, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh quốc phòng

Hoàng Đồng là một xã có điều kiện tương đối phát triển là một xã trực thuộc thành phố Lạng Sơn, xã có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, nhất là giao thông đường bộ ở một số xã xa trung tâm còn gây khó khăn cho việc đi lại, giao lưu buôn bán với các địa phương khác, là nơi sinh sống của 3 dân tộc anh em bao gồm Tày, Nùng, Kinh Trình độ dân trí của người dân còn thấp, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp [11] Trong đó dân tộc Tày

và Nùng chiếm đại đa số nên sự phát triển của đồng bào các dân tộc gắn liền với sự phát triển của xã Hoàng Đồng Tuy nhiên, một vấn đề hiện nay là bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình còn phổ biến, phụ nữ dân tộc thiểu số trên địa bàn xã chưa được tham gia vào quá trình ra quyết định và các nguồn thông tin mới về kỹ thuật canh tác Trong khi họ lại là người trực tiếp tham gia sản xuất, do đó hiệu quả canh tác không cao, đời sống không được cải thiện Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: Làm sao để nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số cho người dân và cho chính người phụ nữ? Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong việc phát triển kinh tế cho chính gia đình mình? Xuất phát từ vấn đề thực tiễn đó đó nên tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn"

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

- Đánh giá vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn, trong phát triển kinh tế hộ Để đưa ra các giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò cuả phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ

Trang 14

- Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng

- Tìm hiểu mặt được và mặt hạn chế, cơ hội và thách thức trong việc phát huy vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ, xây dựng được giải pháp đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa về mặt học tập

Đề tài là cơ hội cho em được học tập, rèn luyện, đi sâu vào thực tế, được áp dụng kiến thức đã học vào thực tế Tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân nhằm phục vụ cho công tác sau này Ngoài ra, đề tài còn là

cơ hội cho em được nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống của người dân trên địa bàn xã nơi mình đang sinh sống, từ đó hiểu thêm về tình hình tại địa phương

và có những dự định ấp ủ để phát triển quê hương

3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng và vai trò của người phụ nữ nói chung trong phát triển kinh tế gia đình Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế của chính gia đình họ, đóng góp vào sự phát triển của địa phương

4 Yêu cầu của đề tài

-Đề tài phải có số liệu chính xác, khách quan

-Đề tài phải đánh giá đúng được vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại địa phương

-Đề tài phải đưa ra giải pháp phù hợp, khả thi

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận kiến nghị đề tài gồm 3 phần như sau:

Phần mở đầu

Phần 1: Tổng quan tài liệu

Phần 2: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 3: Kết quả nghiên cứu

Phần kết luận và kiến nghị

Trang 15

PHẦN 1:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Giới và giới tính

1.1.1.1 Khái niệm Giới tính và Giới

Giới tính

Là một thuật ngữ được các ngành khoa học xã hội và các nhà sinh học

dung để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới [1]

Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người

và di truyền nòi giống Ví dụ như: sự khác nhau về hình dạng cơ thể bên ngoài (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, ), khác nhau về cấu tạo NST, hormone, khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của giới tính (phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú; nam giới sản xuất ra tinh trùng để thụ thai) Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam

và nữ [1]

Giới

Giới trước hết không phải là phụ nữ Giới liên hệ đến vai trò của nam

và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên Giới có thể khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian [1]

Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến

vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam

và nữ trong một bối cảnh cụ thể [1]

Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể "Giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan

Trang 16

hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội

1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc sự khác biệt về giới

Đặc điểm về giới

- Không tự nhiên mà có

- Học được từ gia đình và xã hội

- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)

- Có thể thay đổi được

Nguồn gốc giới

- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó

là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà,

bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình

- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt

về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện

tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ

Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn

về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ

Trang 17

tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau [16]

1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích và bình đẳng giới

Nhu cầu giới thực tế

Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận

Nhu cầu này nảy sinh trong đời sống hằng ngày, là những thứ nhìn thấy được, thiết thực, cụ thể Có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ gắn với các vai trò truyền thống Khác với nhu cầu giới chiến lược, nhu cầu giới thực

tế được chính người phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Ví dụ: phụ nữ có nhiều nhu cầu giới gắn với vai trò nuôi dưỡng của mình như củi, nước, thực phẩm, thuốc men nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì họ sẽ làm tốt hơn vai trò của mình

Lợi ích giới (nhu cầu giới chiến lược)

Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng [1]

Nhu cầu giới chiến lược được xác định để khắc phục tình trạng thấp kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị

và văn hóa cụ thể

Bình đẳng giới

Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có được địa vị như nhau,

có cơ hội như nhau để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và công bằng những lợi ích của sự phát triển

Bình đẳng giới không có nghĩa là nam giới và phụ nữ phải như nhau,

mà là sự giống và khác nhau giữa nam giới và phụ nữ phải được công nhận và đánh giá một cách bình đẳng [1]

1.1.1.4 Vai trò giới

- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện

để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học, …

Trang 18

- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của người phụ nữ

- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng Những hoạt động tự nguyện mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước sạch, hoạt động từ thiện,…Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: tham gia cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể

Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công lao động khác nhau

Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên thu nhập thấp

và giá trị công việc bị đánh giá thấp

Phân công lao động theo giới truyền thống đã tạo ra bất bình đẳng giới, hạn chế sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ vào quá trình phát triển của đất nước và xây dựng hạnh phúc gia đình

Vì vậy, một trong những yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống

1.1.1.5 Quan điểm về giới

Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ Quan điểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ

và nam giới [2]

Vào những năm 1970 người ta đã tìm cách đưa các vấn đề của phụ nữ vào các chính sách phát triển nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách đã không thấy hết được vai trò kinh tế to lớn của phụ

nữ Nhà kinh tế người Đan Mạch là Ester Boserup với cuốn “Vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) được coi là người đầu tiên đặt

lại vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ Điểm hạn chế của cách

Trang 19

tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù [2]

1.1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ

1.1.2.1 Một số khái niệm

Vai trò

Là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội [2]

Phát triển

là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về

quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [10]

Phát triển kinh tế

Là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó bao gồm

sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống [8]

Xã hội

Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với

các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa [8]

Phát triển xã hội

Là sự biến đổi xã hội về mặt chất lượng bao gồm tăng trưởng kinh tế,

đẩy mạnh giáo dục, y tế về số lượng cũng như chất lượng và các chỉ số về cơ

sở hạ tầng, các dịch vụ và có sự biến đổi theo hướng tiến bộ hơn, đẹp hơn, tốt hơn [11]

Hộ

Là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ cùng sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung [3]

Hộ nông dân

Là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo nghĩa rộng hơn bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn [3]

Trang 20

Kinh tế hộ nông dân

Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [3]

1.1.2.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ

Việt nam là một quốc gia của 54 dân tộc cùng chung sống hòa thuận, trong đó dân tộc kinh chiếm 86% dân số; 53 dân tộc còn lại có số lượng lao động trên dưới một triệu người như: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khmer cho đến vài trăm người như dân tộc Ơ Đu và Brâu Dân tộc kinh sống dải rác trên khắp lãnh thổ, nhưng tập trung nhiều nhất ở đồng bằng và châu thổ các con sông Họ là chủ nhân của nền văn minh lúa nước Đa số các dân tộc còn lại sinh sống ở miền núi và trung du, trải dài từ bắc vào nam; hầu hết trong số họ sống xen kẽ nhau, điển hình là cộng đồng dân tộc thiểu số ở phía bắc và bắc trung bộ Do đó cuộc sống của họ khắc nghiệt hơn và họ còn chịu nhiều thiệt thòi do trình độ phát triển ở những nơi đó chưa cao, thiếu điện, đường, trường, trạm và ít được tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng Do đó nhận thức của người dân còn chưa cao, còn mang nặng lễ giáo phong kiến, trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giới Nguyên nhân xuất phát từ chính những quan niệm của cộng đồng người DTTS và chính bản thân người phụ

xã hội Một số tấm gương tiêu biểu như: Bà Tòng Thị Phóng (Bí thư Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội), bà Hà Thị Khiết (Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương) và còn rất nhiều tấm gương người phụ nữ DTTS nỗ lực vươn lên trong học tập để thoát nghèo và đóng góp cho

sự phát triển của quê hương Như: chị Tráng Thị Mai, với ý chí, nghị lực của

Trang 21

mình, chị đã trở thành người dân tộc Pu Péo đầu tiên học đại học Chị là tấm gương sáng cho đồng bào dân tộc Pu Péo và đồng bào các dân tộc khác nói chung và là tấm gương cho người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng cố gắng vượt lên hoàn cảnh để giúp chính mình và những người khác cùng tiến bộ Có thể nhận thấy rằng nâng cao năng lực cho người phụ nữ DTTS có ý nghĩa rất

to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.Và việc xóa đói giảm nghèo cũng

có tác động tích cực đối với sự phát triển, tiến bộ và bình đẳng của phụ nữ, nhất là phụ nữ DTTS Trong những năm qua, Trung ương Hội Liên Hiệp phụ

nữ Việt Nam đã tập trung nguồn lực, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, nhất là về vùng sâu, vùng xa nơi có đông đảo phụ nữ dân tộc thiểu số sinh sống nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững thông qua các hoạt động như: làm nhà tình thương, hỗ trợ vốn kiến thức và xây dựng các mô hình xóa đói giảm nghèo để phụ nữ DTTS có vốn phát triển sản xuất, Hội LHPN Việt Nam đã và đang quản lý nguồn vốn trên 42 nghìn tỷ đồng, giúp cho gần 17 triệu lượt phụ nữ vay, đã có trên 8 nghìn gia đình phụ nữ DTTS thoát nghèo

Đã có nhiều tấm gương phụ nữ DTTS không chỉ làm tốt công tác xã hội, làm kinh tế giỏi mà còn giúp đỡ các chị em khác vươn lên thoát nghèo Điển hình như chị Mơ Nga, chủ tịch Hội phụ nữ xã Phan Sơn ( Bắc Bình - Bình Thuận), dân tộc Cơ - Ho đã cho chị em nghèo vay vốn không lấy lãi với

số tiền trên 75 triệu đồng, và giúp đỡ nhiều chị em khác Chị Y Nom, dân tộc Vân Kiều (Quảng Trị) đã vươn lên thoát nghèo và hỗ trợ 15 chị khác vốn, cây, con giống để sản xuất; chị Siu Nhép dân tộc Jrai (Gia Lai)hỗ trợ chị em cùng tổ vốn để trồng cà phê; chị Tăng Thị Đi Len (Sóc Trăng) giúp vốn, tương trợ cho 30 phụ nữ nghèo và đã có 25 hộ thoát nghèo; chị Neáng Kim Lương (An Giang) đã đầu tư khôi phục nghề dệt truyền thống của phụ nữ Khmer, giúp 126 chị có thu nhập ổn định những việc làm đó đã tác động sâu sắc đến vùng đồng bào DTTS, giúp nhiều chị em học tập lẫn nhau và vươn lên thoát nghèo Cũng thông qua những hành động giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển kinh tế như trên, người phụ nữ DTTS đã tự khẳng định được vai trò của mình trong phát triển kinh tế [7]

Trang 22

1.1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

Đảng ta về giải phóng phụ nữ

1.1.3.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về giải phóng phụ nữ

V.I Lênin nghiên cứu các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen từ lúc còn trẻ và ông sớm trở thành người Mác xít Sự đóng góp to lớn của ông trong việc bảo vệ các giá trị nền tảng của học thuyết Mác và phát triển sáng tạo học thuyết này khi hoàn cảnh lịch sử đã có nhiều thay đổi đã làm cho học thuyết Mác mang tên học thuyết Mác - Lênin Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, trong lĩnh vực giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới, học thuyết Mác - Lênin xuất phát từ quan niệm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cho rằng: sự phát triển của lịch sử, của xã hội có nguồn gốc từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, của biến đổi phương thức sản xuất của cải vật chất và của sự phân công lao động trong nền sản xuất xã hội Vấn đề giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới được C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin xem xét gắn liền với sự phát triển và biến đổi ấy Trên cơ sở nhất quán phương pháp luận trên, V.I Lênin

đã có những công trình nghiên cứu về tình cảnh của phụ nữ trong nền sản xuất và trong gia đình dưới chế độ tư bản, đặc biệt là về con đường và các biện pháp nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

V.I Lênin không chỉ đứng ở góc độ đạo đức, tình cảm để một chiều tố cáo và lên án tình trạng phụ nữ bị áp bức, bóc lột trong xã hội tư bản, ngược lại ông còn luôn khách quan nhìn thấy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tự

nó tạo ra những tiền đề không thể thiếu cho công cuộc giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam - nữ Trong mọi trường hợp V.I Lênin đều phê phán thái độ bảo thủ cố hữu - muốn giải phóng phụ nữ, đem lại quyền bình đẳng cho họ bằng cách quay lại nền sản xuất tiểu nông thuần phác và gia đình gia trưởng Kể từ khi V.I Lênin trở thành người lãnh đạo, tổ chức và điều hành cao nhất công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam - nữ được V.I Lênin thể hiện trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô

Trang 23

Trước hết V.I Lênin khẳng định một quan điểm chung nói rằng một trong những nét tiêu biểu nhất của xã hội văn minh đó là xác lập địa vị của phụ nữ V.I Lênin nhìn rõ thực trạng bất bình đẳng mà phụ nữ ở nước Cộng hoà Xô Viết non trẻ đang còn phải gánh chịu Đó còn là sự bất bình đẳng trong cuộc sống gia đình, bởi vì: “ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng, thì sự thật phụ nữ vẫn bị trói buộc, vì toàn bộ công việc gia đình đều trút lên vai phụ nữ” Để xoá bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội, nhưng trước hết và quyết định nhất là

sự nỗ lực của chính phụ nữ “Việc giải phóng phụ nữ lao động … phải là việc của bản thân phụ nữ lao động”

V.I Lênin cho rằng bình đẳng nam - nữ trước hết là bình đẳng về kinh

tế, bình đẳng về địa vị của nam và nữ trong hệ thống phân công lao động xã hội Do đó biện pháp cơ bản nhất để xoá bỏ tình trạng bất bình đẳng đối với phụ nữ là xây dựng nền kinh tế mà thích hợp với nó là sự phân công lao động hợp lý để phụ nữ có điều kiện tham gia như nam giới vào công việc sản xuất của xã hội Về vấn đề này V.I Lênin viết: “Muốn để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thật sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của

xã hội, phải để cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung Như thế phụ nữ mới có địa vị bình đẳng với nam giới”

V.I Lênin tỏ ý khuyến khích phụ nữ tham gia những công việc kinh tế có qui mô lớn và ý nghĩa đi đầu, khai phá: “Phụ nữ cần phải tham gia việc xây dựng

và trông nom những công tác kinh tế qui mô lớn có tính chất thí nghiệm, làm cho công việc đó ở nước ta không trở thành một công việc riêng rẽ, cô độc”

Trong lĩnh vực chính trị, V.I Lênin quan tâm trước hết đến việc “làm cho phụ nữ tham gia nhiều hơn nữa vào công cuộc bầu cử vì đó là cơ hội tốt nhất để họ lựa chọn những người đại diện cho quyền lợi của họ, nhất là những người đại diện là phụ nữ Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực công tác xã hội, nhất là những lĩnh vực trước đây họ ít được tham gia bởi những thành kiến lạc hậu của xã hội cản trở Trong lĩnh vực công tác Đảng, công tác Nhà nước cũng cần có sự tham gia của phụ nữ, hơn nữa

“Trong công tác đó, phụ nữ phải giữ một vai trò chủ yếu và chắc chắn là phụ nữ giữ vai trò ấy” [14]

Trang 24

1.1.3.2.Tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ

Giải phóng phụ nữ là vấn đề lớn của nhân loại Tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tự thực tiễn chỉ đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã

có nhiều bài viết, bài nói đề cập đến vấn đề giải phóng phụ nữ nói chung và giải phóng phụ nữ Việt Nam nói riêng Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ ở những luận điểm sau:

Thứ nhất: giải phóng phụ nữ là một mục tiêu tất yếu của cách mạng vô sản Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đi đến kết

luận chế độ thực dân là ăn cướp, hiếp dâm và giết người Chế độ thực dân đối

xử một cách hết sức bỉ ổi đối với người phụ nữ bản xứ nói chung và người phụ nữ “An Nam” mất nước nói riêng Đo đó, mục tiêu của cách mạng vô sản phải bao hàm mục tiêu giải phóng phụ nữ, Bác viết “ nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội Nếu không giả phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” Hồ Chí Minh khẳng định, quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng chính là quá trình thực sự giải phóng phụ nữ và ngược lại “ để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”

Thứ hai: giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội, nhưng dưới chế độ thực dân

phong kiến phụ nữ là đối tượng bị bóc lột, đè nén nặng nề nhất Vì vậy, theo

Hồ Chí Minh giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng,

nó gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Đó là cuộc cách mạng để xóa bỏ mọi định kiến hẹp hòi, mọi hủ tục, tàn dư của tư tưởng coi thường phụ nữ do chế độ cữ để lại Hồ Chí Minh viết:

“Giải phóng đàn bà đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến tư sản trong người đàn ông”; “ Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó Vì trọng trai khinh gái là thói quen mấy nghìn năm để lại Vì nó đã ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”

Thứ ba: giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn thể xã hội Hồ Chí Minh đã sớm xác định trách nhiệm của Đảng và

Nhà nước trong việc giải phóng phụ nữ Trong bản Hiến pháp đầu tiên năm

1946, do Bác chỉ đạo soạn thảo, tại điều 9 đã ghi: “Đàn bà ngang quyền với

Trang 25

đàn ông về mọi phương diện” Có lẽ đây là lần đầu tiên quyền bình đẳng nam

nữ được ghi trong một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ở Việt Nam Tiếp theo đó, Quốc hội khóa I đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình (19 - 12 - 1959), trong đó có nhiều nội dung nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ

Giải phóng phụ nữ theo Hồ Chí Minh, không những là trách nhiệm của Đảng và chính quyền mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Người chủ trương giáo dục tất cả cán bộ, Đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân có nhận thức đúng đắn về vai trò và địa vị của người phụ nữ trong xã hội, xóa bỏ ý thức trọng nam khinh nữ

Thứ tư: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của bản thân người phụ

nữ Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của xã hội là

những điều kiện hết sức quan trọng, song điều quyết định cuối cùng cho công cuộc giải phóng phụ nữ lại chính là chị em Sự tự thân vận động, sự nỗ lực vươn lên trong học tập và công tác của chính chị em mới có thể đưa đến sự thành công của công cuộc giải phóng phụ nữ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở chị em phải có ý thức tự giải phóng, Người viết: “về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà mình phải tự cường, tự đấu tranh”

Thứ năm: xây dựng hội phụ nữ ngày càng vững mạnh Vận dụng

sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệm của nước Nga xã hội chủ nghĩa và kinh nghiệm của Đảng cộng sản các nước khác, ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, Hồ Chí Minh đã xác định các Đảng cộng sản cần phải xây dựng tổ chức riêng của phụ nữ và thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đó vững mạnh để tập hợp, vận dụng phụ nữ hoạt động cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ và đấu tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ Thực tiễn đã chứng minh rằng, hội phụ nữ Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội sớm được thành lập, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và đã có những đóng góp to lớn trong tiến trình cách mạng nước ta

Trang 26

1.1.4 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

Đảng ta về bình đẳng giới

1.1.4.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới

Ngay từ thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăngghen - các lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản toàn thế giới - đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp,

bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công

cụ sinh đẻ đơn thuần”; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội” “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ

có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”

V.I Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX - XX kế thừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng: “Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân” Ông chỉ rõ “Trong nông nghiệp, người lao động phụ nữ, vô sản cũng như nông dân, đều phải cố đem hết sức mình ra, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm đến kiệt sức, hại đến sức khỏe của mình và của con cái để cố đuổi cho kịp người lao động nam giới trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa”; “họ cùng làm ở công xưởng 10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10 - 1,50 mác (nam giới thì được 2,50 - 2,70 mác) và nếu trả công theo sản phẩm thì họ được 1,7 - 2,0 mác” Phụ nữ “không có quyền gì cả vì pháp luật không cho họ

có quyền bình đẳng với nam giới”, còn trong gia đình họ là “nô lệ gia đình”,

bị nghẹt dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ nhất

Trang 27

khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất Ông khẳng định: “Không còn nghi ngờ

gì nữa, công xưởng tư bản chủ nghĩa đã đẩy các loại người lao động đó vào tình cảnh đặc biệt khó khăn… Thế nhưng, xu hướng đòi hoàn toàn cấm chỉ phụ nữ và thiếu niên không được lao động trong công nghiệp, hoặc xu hướng duy trì chế độ gia trưởng về sinh hoạt là chế độ loại bỏ lao động đó, xu hướng

đó thật là phản động, không tưởng”

V.I Lênin chủ trương “Phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt”, “Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, không phân biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”; “…bổ nhiệm nữ thanh tra trong các ngành mà lao động nữ chiếm đa số”; “thành lập chế độ cộng hòa…, thực hiện chế độ nhân dân bầu cử quan chức, nam nữ bình đẳng”; “hủy bỏ tất

cả mọi sự hạn chế, không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới” Người khẳng định: “Giai cấp vô sản

sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ” [12]

1.1.4.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới

Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh

từ lâu đã thấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến Người khẳng định: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn… Ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông” Người nhận thấy vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Người chỉ rõ: “Ông Các Mác nói rằng: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào” Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”; “…Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”; “Vậy nên, muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước” Người chỉ rõ: “Cách mệnh

Trang 28

Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào”

Hơn một tháng sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (02/9/1945), trong Lời kêu gọi chống thất học (tháng 10/1945), Người chỉ ra: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà… Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”

Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân” Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên được Quốc hội thông qua, Người nói: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, gia đình thật sự hạnh phúc”

Người nhấn mạnh vai trò của phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân Cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà gặp nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Do đó, ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Nhân dân ta rất biết

ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta” Người cũng phê bình những thành kiến, hẹp hòi của một

số cán bộ: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy là rất sai… Bác mong rằng các đồng chí hãy thật

sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ…”

Người căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ ta đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ

để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh

Trang 29

đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [12]

1.1.4.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới

Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phương diện xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính trị của Đảng cũng ghi: một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là “nam, nữ bình quyền”

Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị (tháng 10/1930) khi nói về phụ nữ vận động, Đảng ta nhận rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ

là một cái lực lượng rất trọng yếu Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được… Đảng đặt ra yêu cầu đòi “bình quyền” cho phụ nữ: “Đàn bà, đàn ông, thanh niên việc làm ngang nhau thì tiền công cũng phải ngang nhau Công nhân đàn bà trước và sau khi sanh đẻ phải nghỉ tám tuần lễ có lương”; “không được bắt đàn bà và trẻ con làm những việc nặng nề và nguy hiểm” Đảng đề

ra các yêu cầu cho phụ nữ đấu tranh đòi quyền lợi của mình: “Đảng Cộng sản thảo ra cho các chị em công nhân và nông dân những điều yêu cầu bình đẳng với đàn ông… phụ thêm cho chị em những điều yêu cầu sau này: Bỏ hết các pháp luật và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳng với đàn ông

Bỏ cái chế độ áp bức của cha mẹ đối với con gái, của chồng đối với vợ (ép duyên, thóa mạ đàn bà con gái) Cấm tục năm thê bảy thiếp, vợ hầu vợ lẽ Quyền đàn bà được giữ con mình lúc ly dị”

Suốt 80 năm qua, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hay trong những năm tháng khó khăn của thời kỳ bao cấp, Đảng ta luôn quan tâm ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, đề ra đường lối, chủ trương, lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ

nữ (phụ vận), chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, cất nhắc, đề bạt nhiều thế hệ cán

bộ, lãnh đạo nữ Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng tăng về số lượng

và chất lượng, có phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực, trình

độ, bản lĩnh vững vàng, phối hợp cùng với lực lượng nam giới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trang 30

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết lãnh đạo công tác phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới nhấn mạnh: “Xây dựng và sửa đổi, hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội có liên quan đến phụ nữ và lao động nữ… Có chủ trương, chính sách phù hợp đối với phụ nữ dân tộc ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật”…

Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng… Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học - kỹ thuật, kinh

tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước… cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới…”

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện… ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”; “Đối với phụ nữ, xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển vì

sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 Đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ; tăng tỉ lệ cán bộ nữ trong cơ quan lãnh đạo Đảng

và Nhà nước ở các cấp, các ngành… Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến

bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ

ấm của mỗi người… Thực hiện tốt Luật Hôn nhân và gia đình”

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ghi: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ

Trang 31

thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến

bộ, hạnh phúc”

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà

mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”

Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đề ra các quan điểm, mục tiêu và năm nhiệm vụ, giải pháp Cụ thể là: Nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ

Đảng ta khẳng định: Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp

ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực [12]

Trang 32

(Nguồn: Ethnic minority women's poverty and economic well being 09/2010)

Hình 1.1: Biểu đồ tỷ lệ nghèo đói của phụ nữ DTTS một số nước

trên thế giới

Trang 33

Chúng ta có thể thấy rằng, tỷ lệ nghèo đói của phụ nữ DTTS ở các nước như Bangladeshi và Pakistani là rất cao Phụ nữ đất nước Bangladeshi chiếm tỷ lệ nghèo cao nhất (51,9%), tỷ lệ nghèo ở phụ nữ Anh chỉ chiếm 16,7% Một số nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, một số nước Châu phi thì

tỷ lệ nghèo đói của phụ nữ ở các nước này lần lượt là: 20,6%, 23%, 22,7%

Về bất bình đẳng về thu nhập cá nhân giữa phụ nữ và nam giới DTTS ở một số nước được thể hiện ở biểu đồ dưới đây

(Nguồn: Ethnic minority women's poverty and economic well being 09/2010)

Hình 1.2: Biểu đồ bất bình đẳng thu nhập cá nhân giữa phụ nữ và nam

giới DTTS ở một số nước trên thế giới

Biểu đồ cho thấy ở hầu hết các nước được điều tra bất bình đẳng về thu nhập cá nhân giữa phụ nữ và nam giới là khá lớn Sự bất bình đẳng ở phụ nữ cao hơn nam giới Ở nước Anh, sự chênh lệch này không đáng kể, gần như ngang bằng, tỷ lệ bất bình đẳng ở nam là 0,388%, ở nữ là 0,389% Trong khi

ở một số nước khác như Ấn Độ, Pakistani, Bangladeshi, Trung Quốc sự bất bình đẳng về thu nhập giữa phụ nữ và nam giới là khá lớn Pakistani là nước

có sự bất bình đẳng về thu nhập cao nhất

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật thì nhìn chung trình độ chuyên môn

kỹ thuật của lao động nữ nông thôn nói chung và phụ nữ DTTS nói riêng ở các nước đang phát triển còn thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ

Trang 34

thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ [16]

Vấn đề bất bình đẳng đang trở nên bức xúc và cần có những biện pháp khả thi nhằm giảm tình trạng bất bình đẳng trên thế giới hiện nay Vì phụ nữ

là lực lượng tham gia đông đảo vào việc sản xuất tạo ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội, sự xuất hiện của họ trong mỗi gia đình là điều không thể thiếu Cần có các biện pháp cụ thể để phát huy hơn nữa vai trò của họ trong gia đình cũng như ngoài xã hội

1.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh

tế ở nước ta hiện nay

Hiện nay trong xu thế hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã và đang cố gắng giảm thiểu và dần đi đến xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng giới, đặc biệt là

ở vùng đồng bào DTTS Bảo đảm quyền bình đẳng về kinh tế cho phụ nữ là một nội dung cực kỳ quan trọng trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, tạo cơ sở để phụ nữ có các quyền bình đẳng khác nhất

là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Vấn đề này căn bản đã được Nhà nước công bố trong Hiến pháp, luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước đây, cũng như nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Nó được coi là một nội dung cách mạng thực hiện quyền con người - quyền cơ bản, tối thượng và bất khả xâm phạm của mọi người - mà trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới Trong quá trình thực hiện quyền bình đẳng giới giữa nữ và nam từ năm 1945 đến nay, nhìn chung, chúng ta đã đạt được nhiều thành tích quan trọng, giảm bớt sự bất bình đẳng nam nữ do lịch sử trọng nam khinh nữ từ hàng nghìn năm để lại Tuy nhiên,

do bề dày lịch sử của truyền thống, tập tục của các dân tộc, vùng, miền có

Trang 35

những đặc trưng khác nhau, đã từng khắc sâu vào tâm khảm, vào tư duy của từng tộc người, từng giới, đồng thời, do trình độ học vấn, kiến thức, sự hiểu biết về luật, về giới, bình đẳng giới, hòa nhập giới từ cán bộ đến người dân, nhất là trong khoảng 70% dân số gồm các thế hệ nam, nữ nông dân sống khắp các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng núi cao, hải đảo còn hạn chế, nên còn rất nhiều vấn đề bất bình đẳng về giới đang tồn tại Chẳng hạn, nếu tính tất cả lượng hao phí lao động ra thời gian lao động thì nữ nông dân đã làm nhiều hơn nam nông dân, nhưng tính chi dùng cho ăn uống thì họ chỉ bằng 0,7 lần so với nam nông dân Như vậy, số lượng hao phí lao động của phụ nữ nông nghiệp là nhiều nhất, với điều kiện lao động khó khăn, nặng nhọc nhất, nhưng hưởng thụ lại ít nhất [9]

Điều này lại diễn ra như có tính quy luật và chừng nào nền kinh tế của đất nước, của từng vùng, từng tộc người và từng gia đình còn gặp nhiều khó khăn, thì người nữ nông dân ở đó còn phải gánh chịu đói nghèo nhiều nhất

Cùng với sự cố gắng của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền ở địa phương, cùng với sự cố gắng vươn lên của bản thân người phụ nữ Những người phụ nữ dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Tiêu biểu là sự vươn lên của phụ nữ các dân tộc thiểu số ở các tỉnh thành trên

cả nước Các phong trào “ phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”; “ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”; “ giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ” đã khơi dậy được tiềm

năng to lớn, sức sáng tạo và truyền thống nhân ái, ý thức tự nguyện giúp nhau giống, vốn, kinh nghiêm, ngày công sản xuất trong phụ nữ các DTTS Các mô hình lồng ghép dân số, sức khỏe sinh sản với xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, xóa mù chữ đã thu hút nhiều phụ nữ các DTTS tham gia [8]

1.2.3 Những chính sách trong phát triển phụ nữ DTTS ở Việt Nam

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng Sản Việt Nam với Cương lĩnh

chính trị đầu tiên tháng 10/1930 đã khẳng định: “Vấn đề giải phóng phụ nữ

và sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một trong mười nhiệm vụ quan trọng của Đảng” Phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều mặt, phụ nữ

không chỉ là người được hưởng lợi từ nhiều thành quả của đất nước mà còn là nhân tố quan trọng tham gia vào hoạt động sản xuất, công tác quản lý xã hội

Trang 36

Theo Điều 6, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

năm 1946 đã quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang nhau về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” Theo điều 9, Hiến pháp năm 1946

đã khẳng định: “Mọi quyền lực trong nước thuộc về nhân dân Việt Nam, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, giàu, nghèo, giai cấp…” và “phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện”

Hiến pháp năm 1954, Điều 24 có nêu: “Phụ nữ được hưởng quyền bình

đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và

xã hội” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ, phụ nữ là đội quân rất đông Phải giữ gìn sức khỏe cho họ để chị em tham gia lao động sản xuất được tốt”

Hiến pháp được bổ sung và sửa đổi năm 1959, 1980 và 1992 đều thể hiện quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Theo quy định của hiến pháp năm 1992, phụ nữ có quyền và ngang quyền với nam giới trong việc tham gia bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tham gia quản lý Nhà nước và tham gia vào các hoạt động chính trị; công dân nam nữ có quyền ngang nhau về kinh tế Hiến pháp năm 1992 cũng quy định phụ nữ có quyền cơ bản đối với văn hóa, giáo dục, ghi nhận các quyền tự do cá nhân của phụ nữ như tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín…

Năm 1993, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được thành lập (là cơ quan Nhà nước chính thức chịu trách nhiệm trong việc tăng cường bình đẳng giới, đây là ủy ban phối hợp đa lĩnh vực cấp cao được báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Chính phủ) với mạng lưới các ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở tất cả các bộ, ngành và 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kế hoạch hoạt động đến năm 2005 của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được phê duyệt vào tháng 12/2002 Nghị quyết 04/NQ - TW ban hành ngày 12/07/1993 của Bộ Chính trị

Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” đã khẳng định giải phóng phụ nữ là

một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây

Trang 37

dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xác định sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình

Tháng 6/1994, Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội khóa IX thông qua, được sửa đổi và bổ sung một số điều vào năm 2002, đã dành một chương gồm 10 điều quy định riêng đối với lao động nữ như quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng mọi mặt với nam giới, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động

nữ, mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ, nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ Quyết định số 19/2002/QĐ - TTg ngày 21/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam

đến năm 2010 với mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”

Nghị quyết 11/NQ - TW ngày 24/07/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” với mục tiêu là

phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; phụ nữ có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, tham gia ngày càng nhiều công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; phụ nữ đóng góp ngày càng to lớn cho xã hội và gia đình, phấn đấu để nước ta là một quốc gia có thành tựu về bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực

Quyết định số 2531/QĐ - TTg ngày 24/12/2010 phê duyệt Chiến lược

Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát

“Đến năm 2020, về cơ bản, đảm bảo bình đẳng thực chất giũa nam và nữ về

cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa

và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”

Chiến lược xác định 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động - việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa và thông

Trang 38

tin, gia đình và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bình đẳng giới Đây là lần đầu tiên chính phủ ban hành các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, làm

cơ sở cho việc ban hành các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Đó là những Chỉ thị, Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng

về công tác phụ nữ nói chung, giúp cho phụ nữ phát huy được vai trò của mình Về phụ nữ DTTS có:

Quyết định 554/QĐ-TTg ngày 4/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt Đề án “Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và

đồng bào DTTS từ năm 2009 đến năm 2012” Trong đó có Tiểu đề án 4 là:

“Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ DTTS”

Tiểu đề án này có cơ quan chủ trì là Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cơ quan phối hợp là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, các Bộ, ngành, địa phương liên quan Mục tiêu của đề án này là nâng cao hiểu biết của phụ nữ nông dân

và phụ nữ DTTS về những quy định của pháp luật liên quan đến bình đẳng giới, hôn nhân gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ trẻ

em, nuôi con nuôi, khiếu nại, tố cáo, ma túy, mại dâm, phòng, chống tội phạm Qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ DTTS; Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ DTTS

Chính sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò to lớn của phụ nữ trong xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thể hiện trong các văn bản trên đã tạo điều kiện cho phụ nữ nói chung và phụ nữ DTTS nói riêng phát huy được tiềm năng to lớn của mình, đóng góp cho sự phát triển của đất nước

1.2.4 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của DTTS (dân tộc Tày, Nùng)

1.2.4.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày

Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên

kỷ thứ nhất trước Công nguyên,có dân số đông nhất trong các DTTS ở nước

ta, với 1.626.392 người (2009) Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái

Trang 39

Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái Có mối quan hệ thân thuộc và gần gũi với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ như Nùng, Giáy, Bố Y, Cao Lan - Sán Chỉ ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc, có giao lưu ảnh hưởng tiếp thu lẫn nhau về các mặt văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng với các

cư dân khác cùng cư trú trong vùng

mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng ngô, hoa màu, cây ăn quả… Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông vẫn còn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình được chú ý Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng

Tổ chức cộng đồng

Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối, tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Họ thích sống thành bản làng đông đúc, mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột, họ thường chọn những loại gỗ quý để dựng nhà Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hoặc lá

cọ Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt

Hôn nhân và gia đình

Gia đình người Tày thường quý con trai hơn và có quy định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà Vợ chồng yêu thương nhau, ít li hôn Đã từ lâu không còn tục ở rể Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tùy thuộc vào bố mẹ hai bên và

“số mệnh” của họ có hợp nhau hay không Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình

Trang 40

Hôn lễ truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức: Lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu…, thể hiện bản sắc văn hoá của một tộc người Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang thai sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng

Văn hóa

Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ, ca, múa, nhạc… Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, hát ru con Có nhiều điệu lượn như lượn Slương, lượn Then, lượn Nàng Hai Người Tày còn có các điệu hát Then, gọi là Văn ca, được ngâm hát trong đám tang, gọi là hát hội trong các hội Lồng tồng, gọi là Cỏ lẩu trong hát đám cưới Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào Tày Nó như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ Tày Bao đời nay đàn tính như một phương tiện giao tiếp mang đậm bản sắc dân tộc Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và thích nói chuyện Họ rất coi trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi nhau như anh em ruột thịt, bà con thân thích của mình

Ăn uống

Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày Tết, ngày lễ, người Tày thường làm nhiều loại bánh như bánh chưng, bánh dày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo… Đặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hoàng Đồng năm 2013 - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hoàng Đồng năm 2013 (Trang 50)
Bảng số 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính (Trang 52)
Bảng số 3.4: Cơ cấu dân số theo dân tộc năm 2013 - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.4: Cơ cấu dân số theo dân tộc năm 2013 (Trang 59)
Bảng số 3.6:Cơ cấu phụ nữ DT tham gia lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.6:Cơ cấu phụ nữ DT tham gia lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính (Trang 62)
Bảng số 3.8: Tầm quan trọng của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.8: Tầm quan trọng của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế (Trang 64)
Bảng số 3.7: Đánh giá của các hộ điều tra về công việc và vai trò của phụ - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.7: Đánh giá của các hộ điều tra về công việc và vai trò của phụ (Trang 64)
Bảng số 3.9: Nhận thức của người dân về việc học hành của con gái - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.9: Nhận thức của người dân về việc học hành của con gái (Trang 65)
Bảng số 3.10: Tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng năm 2013 - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.10: Tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng năm 2013 (Trang 66)
Hình 3.3: Biểu đồ trình độ văn hóa của phụ nữ dân tộc trong các nhóm hộ - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Hình 3.3 Biểu đồ trình độ văn hóa của phụ nữ dân tộc trong các nhóm hộ (Trang 67)
Bảng số 3.12: Phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp năm 2014 - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.12: Phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp năm 2014 (Trang 71)
Bảng số 3.13: Phân công lao động trong các hoạt động khác - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.13: Phân công lao động trong các hoạt động khác (Trang 72)
Bảng số 3.14: Phân công lao động trong hoạt động bán hàng - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.14: Phân công lao động trong hoạt động bán hàng (Trang 73)
Hình 3.4: Biểu đồ nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ DT - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Hình 3.4 Biểu đồ nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ DT (Trang 75)
Hình 3.5: Biểu đồ việc phụ nữ đứng tên trong giấy chứng nhận - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Hình 3.5 Biểu đồ việc phụ nữ đứng tên trong giấy chứng nhận (Trang 76)
Bảng số 3.15: Tình hình quản lý vốn vay của hộ. - Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hoàng Đồng - thành phố Lạng Sơn - tỉnh Lạng Sơn.
Bảng s ố 3.15: Tình hình quản lý vốn vay của hộ (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w