Trang 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN DỰ Tên đề tài: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC MÔNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ QUANG HÁN – HUYỆN TRÀ LĨNH - TỈNH CAO BẰNG KHÓA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2009 - 2013
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3Trong thời gian thực tập tại xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài: “Vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng" Là trung thực và
chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc
Cao Bằng, ngày 27 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Văn Dự
Trang 4Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp Đại học em đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong
và ngoài trường Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ bảo của các thầy,
cô giáo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới Cô giáo Trần Thị Ngọc đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập để em hoàn thành tốt luận văn Mặc dù đã rất cố gắng, song trong quá trình viết và hoàn thiện chuyên đề không thể chánh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong các thầy giáo, cô giáo, chỉnh sửa bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè đã tạo điều kiện và khích lệ em hoàn thành luận văn này
Thái nguyên, ngày 27 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Văn Dự
Trang 5Trang
Bảng 4.1: Tình hình phân bố và sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2013 31
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính 34
giai đoạn 2011 - 2013 34
Bảng 4.3: Tình hình sản xuất chăn nuôi của xã Quang Hán
giai đoạn 2011 - 2013 35
Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động giai đoạn 2011 - 2013 36
Bảng 4.5: Số trường, lớp, học sinh đến trường năm 2013 37
Bảng 4.6: Tỷ lệ nữ dân tộc Mông tham gia hoạt động cộng đồng năm 2013 46 Bảng 4.7: Phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
năm 2013 50
Bảng 4.8: Phân công lao động trong các hoạt động khác 54
Bảng 4.9: Tình hình quản lý vốn vay của hộ 57
Trang 6Trang Hình 4.1: Biểu đồ trình độ văn hóa của phụ nữ dân tộc Mông trong các
nhóm hộ 47 Hình 4.2: Biểu đồ đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 56
Trang 8Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa về mặt học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về giới và giới tính 4
2.1.2 Vai trò của giới 6
2.1.3 Lồng ghép giới trong các chương trình, dự án 8
2.1.4 Nhu cầu, lợi ích và bình đẳng giới và phát triển giới 10
2.1.5 Khái niệm về dân tộc 12
2.1.6 Khái niệm hộ, kinh tế hộ 12
2.1.6.1 Khái niệm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình 12
2.1.6.2 Chức năng của hộ 13
2.1.6.3 Khái niệm và đặc điểm của hộ nông dân 14
2.1.7 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới 15
2.1.7.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới 15
2.1.7.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới 17
2.1.7.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới 19
2.2 Cơ sở thực tiễn 22
2.2.1 Khái quát thực trạng vai trò của phụ nữ một số nước trên thế giới 22
Trang 9nước ta hiện nay 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 28
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 29
3.4.2.1 Số liệu thứ cấp 29
3.4.2.2 Số liệu sơ cấp 29
3.4.3 Phương pháp xử lí số liệu 29
Phần 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 30
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - Tỉnh Cao Bằng 30
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
4.1.1.1 Vị trí điạ lí 30
4.1.1.2 Địa hình, đất đai 30
4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 33
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 33
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế 33
4.1.2.2 Điều kiện xã hội 36
4.2 Thực trạng, vai trò phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ gia đình trên địa bàn xã Quang Hán 40
4.2.1 Khái quát chung về phụ nữ dân tộc Mông trên địa bàn xã Quang Hán 40 4.2.1.1 Trình độ của cán bộ các hội, đoàn thể trên địa bàn nghiên cứu 41
Trang 104.2.2 Thực trạng, vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ
gia đình 42
4.2.2.1 Thông tin chung về hộ điều tra 42
4.2.2.2 Vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong tham gia công tác xã hội 46
4.2.2.3 Vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong quản lý và điều hành
sản xuất 48
4.2.2.4 Vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 48 4.2.2.5 Vai trò trong kiểm soát nguồn lực của hộ 55
4.3 Những yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã
Quang Hán 59
4.3.1 Thuận lợi 59
4.3.2 Cản trở 60
4.3.2.1 Yếu tố tự nhiên 60
4.3.2.2 Yếu tố kinh tế 60
4.3.2.3 Yếu tố văn hóa xã hội 60
4.3.2.4 Bản thân người phụ nữ 61
4.3.2.5 Sự quan tâm của chính quyền, đoàn thể 62
4.3.2.6 Quan niệm bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại 62
4.3.2.7 Trình độ học vấn và chuyên môn của phụ nữ dân tộc Mông
còn thấp 63
4.3.2.8 Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ 64
4.3.2.9 Hệ thống luật và chính sách còn chưa thiết thực với phụ nữ 64
4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình 67
4.4.1 Nâng cao kiến thức về mọi mặt cho phụ nữ 67
4.4.1.1 Hỗ trợ vốn cho phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình 68
Trang 11Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
5.2.1 Đối với Nhà nước 72
5.2.2 Đối với chính quyền, đoàn thể địa phương 72
5.2.3 Đối với người dân 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
I Tài liệu tiếng Việt 74
II Tài liệu từ website 74
III Tình hình sản xuất của chủ hộ 76
Trang 12Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội an ninh quốc phòng
và càng ngày càng thể hiện vị trí vai trò của mình trong xã hội Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Trong công cuộc
đổi mới đất nước của Đảng, họ luôn giữ và phát huy nêu cao tinh thần yêu
nước đoàn kết và lao động sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình
Tuy nhiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nơi còn nhiều khó khăn và phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi, vai trò của họ vẫn chưa được nhìn nhận
đúng Nước ta có tới 54 dân tộc mà dân tộc Kinh chiếm đa số, trong đó có tới
53 dân tộc ít người, họ sống trải dài trên mảnh đất hình chữ S Địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là những nơi có điều kiện địa hình khó khăn, phức tạp, canh tác còn lạc hậu và kém phát triển, những nơi địa đầu của
tổ quốc Họ còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động phát triển sản xuất Đây
là địa bàn có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa
xã hội cũng như an ninh quốc phòng Mà trong gia đình người phụ nữ dân tộc
Trang 13thiểu số lại là người trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế, hoạt động sản xuất, họ ít có cơ hội và điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật, ít có tiếng nói trong gia đình Do đó cần quan tâm hơn tới họ, tạo điều kiện cho họ phát huy
được vai trò của mình trong phát triển kinh tế cũng như vai trò đối với xã hội
Nhằm từng bước đẩy lùi bất bình đẳng giới, thay đổi nhận thức của người dân
về vai trò của người phụ nữ, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh quốc phòng
Xã Quang Hán là một xã thuộc huyện biên giới của Tỉnh Cao Bằng, có
địa phận giáp với Trung Quốc, và một số huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, Bắc
Kạn và Hà Giang là một xã vùng 2 có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, đặc biệt là giao thông đường bộ gây khó khăn cho việc đi lại, giao lưu buôn bán với các địa phương khác, là nơi sinh sống của 4 dân tộc anh em trong đó người dân tộc Mông chiếm chỉ chiếm khoảng (5%) Trình độ dân trí của người dân còn thấp, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Hiện nay bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình cũng như tình trạng phụ nữ dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc Mông nói riêng trên địa bàn xã chưa
được tham gia vào quá trình ra quyết định và các nguồn thông tin mới về kỹ
thuật canh tác còn phổ biến Mặc dù họ lại là người trực tiếp tham gia sản xuất, do đó hiệu quả canh tác không cao, đời sống không được cải thiện Xuất
phát từ những vấn đề đó nên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - tỉnh Cao Bằng"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ dân tộc Mông trên địa bàn
xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng trong phát triển kinh tế nông
Trang 14hộ Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế nông hộ
Kết quả nghiên cứu đề tài giúp đánh giá đúng về vai trò của người phụ
nữ dân tộc Mông nói riêng và vai trò của người phụ nữ nói chung trong phát triển kinh tế hộ gia đình Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ
và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế của chính gia đình họ,
đóng góp vào sự phát triển của địa phương
Trang 15Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới Hay nói cách khác:
Giới Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người
và di truyền nòi giống Ví dụ như: sự khác nhau về hình dạng cơ thể bên ngoài (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, ), khác nhau về cấu tạo NST, hormone, khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của giới tính (phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú; nam giới sản xuất ra tinh trùng để thụ thai ) Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam
và nữ
* Giới
Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới
và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng
và có thể thay đổi được
Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ Giới liên
hệ đến vai trò của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên
Trang 16Giới có thể khác nhau giữa nơi này với nơi khác, giữa nền văn hóa này so với
nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian
Khái niệm giới xuất hiện ban đầu ở các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa
nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể.[2]
* Đặc trưng, nguồn gốc, sự khác biệt về giới
- Đặc trưng cơ bản về giới
+ Do dạy và học mà có
+ Đa dạng
+ Luôn biến đổi
+ Có thể thay đổi được
- Nguồn gốc giới
Trong gia đình, từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử và dạy dỗ khác
nhau tùy theo nó là trai hay gái Đó là sự khác biệt về trang phục, hành vi, cách ứng xử mà cha mẹ, gia đình, nhà trường và xã hội trông chờ ở con trai và con gái Đồng thời họ cũng hướng dẫn, dạy dỗ trẻ em trai và gái theo những quan điểm riêng và cụ thể Đứa trẻ phải học để trở thành con trai hay con gái
và phải luôn điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với khuôn mẫu cụ thể của
mỗi giới đã được quy định
Sau khi đã hình thành các đặc điểm như vậy, nhà trường và các tập quán xã hội lại tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới (ví dụ: nam thì học thêm các môn kỹ thuật, xây dựng; nữ thì học thêm các môn nữ công, may thêu )
Trang 17Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật, cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới (ví dụ: ưu tiên nữ trong các nghề y
tá, thư ký Nam trong nghề lái xe, cảnh sát ) [2]
- Sự khác biệt về giới
Phụ nữ được xem là phái yếu vì một mặt thể lực họ yếu hơn nam giới,
họ sống thiên về tình cảm Vì vậy phân công lao động giữa hai giới cũng có
sự khác biệt Người phụ nữ có thiên chức là làm vợ, làm mẹ, chăm sóc con cái
và gia đình Còn nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ có thể lực tốt hơn phụ nữ, cứng rắn, nhanh nhẹn hơn trong công việc Đặc trưng này khiến nam giới ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình, họ tập trung hơn vào công việc tạo ra của cải vật chất và các công việc xã hội Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội
Hơn nữa do các tác động của định kiến xã hội, hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới khác nhau nên phụ nữ thường ít có cơ hội tiếp cận cái mới, trong học tập và tìm kiếm việc làm Mặt khác, phụ nữ thường bị ràng buộc bởi gia đình và con cái do đó họ ít có cơ hội tham gia các công việc xã hội và cơ hội thăng tiến trong công việc Sự khác biệt về giới tạo nên khoảng cách giữa hai giới trong xã hội
2.1.2 Vai trò của giới
Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người đảm bảo cho việc tái sinh sản con người và tái sản xuất xã hội Sự phân biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và trong cộng đồng Do đó họ có tầm quan trọng khác nhau và họ đảm nhận những khả năng xã hội cũng khác nhau
Vai trò của giới khác với vai trò sinh học của nữ giới và nam giới Vai trò của giới được hình thành mang tính xã hội Kết quả là nữ giới và nam giới không có cùng nguồn lực, không có cùng một nhu cầu và mối quan tâm giống nhau Do đó họ cũng khác nhau trong quyền đưa ra quyết định Để có thể đảm
Trang 18bảo phát triển công bằng và có hiệu quả của các chính sách và kế hoạch phát triển cần phải tìm hiểu sự khác nhau giữa nam và nữ Giới trở thành một phần trong phân tích về sự khác biệt xã hội Đây là cơ sở nghiên cứu sự cân bằng
về giới và nâng cao địa vị của người phụ nữ trong xã hội
Nam giới được coi là phái mạnh, được coi là trụ cột của sức lực, khả năng bảo vệ và che chở Họ có cuộc sống tình cảm cứng rắn hơn, mạnh mẽ hơn và năng động hơn trong công việc Chức năng của họ là người sản xuất
đồng thời là người quản lí, ít nhất là người quản lí gia đình, đặc trưng về giới
cho phép họ có khả năng dồn tâm lực, trí lực cho mọi công việc và mọi thời gian như nhau
Nữ giới được coi là phái yếu, phái đẹp Họ không mạnh mẽ bằng nam giới cả về tình cảm và sức khoẻ cũng như sự mạnh bạo trong công việc nhưng
họ lại là thành viên quan trọng nhất tạo nên sự êm ấm hoà thuận trong gia
đình Họ là người thiên sống về tình cảm, uỷ mị, sống sâu sắc, nhạy cảm và
nhẹ dạ cả tin Do vậy phụ nữ chiếm tỉ lệ cao trong trong số người ra khỏi biên chế vì sức khoẻ, thiếu năng lực Tất cả gánh nặng sinh con, nuôi con, công việc gia đình thường không được coi là hoạt động mang thu nhập và không
được trả công nhưng trên thực tế chúng lại chiếm nhiều thời gian và có tính
lặp đi lặp lại, là nguyên nhân cơ bản loại trừ người phụ nữ ra khỏi nền sản xuất hiện đại (Bùi Thị Minh Hà, 2007)[2]
Để thay đổi đặc trưng về giới và quan niệm cũ tức là cần phải thay đổi
nhận thức, hành vi của mọi người trong xã hội về giới và quan niệm giới tạo
điều kiện cần thiết để thực hiện hành động vì sự bình đẳng và tiến bộ của phụ
nữ trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội Cả nam và nữ đều đóng vai trò trong xã hội và nó cũng được thể hiện trong cuộc sống thường nhật đó là:
- Vai trò tái sinh sản: Thể hiện vai trò của nam và nữ trong việc tái sinh, duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động và sức sản xuất xã hội bao gồm: mang
Trang 19thai, sinh con, chăm sóc con cái, chăm sóc các thành viên khác trong gia đình, các công việc nội trợ, phần lớn các công việc này do phụ nữ đảm nhận
- Vai trò sản xuất: Thể hiện vai trò của nam giới, nữ giới trong quá trình hoạt động đem lại thu nhập, có thể ở dạng tiền hoặc vật chất
- Vai trò cộng đồng: Bao gồm các hoạt động do nam giới và nữ giới thực hiện ở cấp cộng đồng nhằm duy trì, bảo vệ các nguồn lực khan hiếm của cộng đồng, thực hiện các nhu cầu chung của cộng đồng như xây dựng các cơ
sở vật chất, hạ tầng, các hoạt động văn hoá và quản lí cộng đồng Vai trò cộng
đồng được chia làm 2 loại:
+ Vai trò tham gia cộng đồng: Thực hiện các công việc tổ chức ở cộng
đồng, thực hiện các nhu cầu chung như vệ sinh ngõ xóm, chăm sóc sức
khoẻ… Đây là các công việc thường được thực hiện tự nguyện, không được trả tiền và làm vào thời gian rỗi, thông thường do phụ nữ đảm nhận là chính
+ Vai trò lãnh đạo cộng đồng: Các hoạt động quản lí cộng đồng thuộc cấu trúc thể chế chính trị, những công việc này thường do nam giới thực hiện
và thường được trả công trực tiếp bằng tiền hoặc gián tiếp bằng tăng thêm địa
vị quyền lợi (Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng, 2008)[1]
2.1.3 Lồng ghép giới trong các chương trình, dự án
Lồng ghép là tập hợp những ý tưởng, các giá trị, các cách làm, các thể chế và các tổ chức nổi trội có mối quan hệ tương tác lẫn nhau để quyết định
“ai được cái gì” trong xã hội Các ý tưởng và thực tế trong việc lồng ghép phản ánh và củng cố lẫn nhau, qua đó đưa ra luận chứng cho bất kỳ sự phân
bố các nguồn lực và cơ hội nào của xã hội
- Lồng ghép giới được hiểu là
Lồng ghép giới là một quá trình hay chiến lược hướng tới mục đích bình đẳng giới Đây là một quá trình diễn ra liên tục
Trang 20Nó là một phương pháp để quản trị nhằm làm cho các mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình thiết kế, thực hiện kiểm tra và đánh giá các chính sách và chương trình trong tất cả các lĩnh vực của xã hội
Lồng ghép giới liên quan đến việc thay đổi các chính sách và thể chế nhằm thúc đẩy bình đẳng giới một cách tích cực hơn Đó là một quá trình chuyển đổi lâu dài nhằm xem xét lại các giá trị văn hóa – xã hội và các mục tiêu phát triển
- Đối tượng để thực hiện lồng ghép giới
Dòng chảy chủ đạo là một tập hợp mang tính chi phối, bao gồm các ý tưởng, giá trị, quan niệm, thái độ, mối quan hệ và cách thức tiến hành mọi việc trong xã hội Dòng chảy chủ dạo bao trùm các thể chế chính của xã hội (gia đình, nhà trường, chính quyền, tổ chức xã hội…) quyết định ai được coi trọng và cách thức phân bổ nguồn lực, quyết định ai được làm gì và ai nhận
được gì trong xã hội, và cuối cùng quyết định chất lượng cuộc sống của mọi
thành viên trong xã hội
- Tại sao lồng ghép giới lại quan trọng?
Lồng ghép giới là một khía cạnh quan trọng trong quản trị hữu hiệu Nó
đảm bảo rằng các thể chế, chính sách và chương trình đều đáp ứng các nhu
cầu và mối quan tâm của phụ nữ cũng như nam giới và phân bố các lợi ích một cách công bằng giữa phụ nữ và nam giới Lồng ghép giới sẽ góp phần vào sự tiến bộ xã hội, kinh tế, văn hóa, mang lại sự công bằng hơn cho phụ nữ
và nam giới, qua đó nâng cao trách nhiệm của chính quyền nhằm mang lại thành tựu cho mọi công dân
Trang 212.1.4 Nhu cầu, lợi ích và bình đẳng giới và phát triển giới
+ Nhu cấu giới thực tế
Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận
Nhu cầu này nảy sinh trong đời sống hằng ngày, là những thứ nhìn thấy
được, thiết thực, cụ thể Có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ gắn với
các vai trò truyền thống Khác với nhu cầu giới chiến lược, nhu cầu giới thực
tế được chính người phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Ví dụ: phụ nữ có nhiều nhu cầu giới gắn với vai trò nuôi dưỡng của mình như củi, nước, thực phẩm, thuốc men nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì họ sẽ làm tốt hơn vai trò của mình
+ Lợi ích giới (nhu cầu giới chiến lược)
Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch
về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng
Nhu cầu giới chiến lược được xác định để khắc phục tình trạng thấp kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị
Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch
về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng
Trang 22Nhu cầu giới chiến lược được xác định để khắc phục tình trạng thấp kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị
“Ra ngõ gặp gái” Họ bị coi là ngu dốt, thiếu kiến thức, suy nghi nông cạn:” Và
họ được coi là những người có giá trị thấp: “một trăm con gái không bằng cái con trai,” “Đan ông rồng miệng thì sang Đàn bà rồng miệng thì tan hoang của nhà.” Trong hoàn cảnh như vậy thì người phụ nữ sẽ không đủ tự tin và diều kiện
để vươn lên như nam giới và sự cam chịu của nhiều phụ nữ khác
+ Giới và phát triển giới
Là xã hội loài người tồn tại và phát triển nhờ sự chiến đấu, lao động và hợp tác hai giống người: nam và nữ Từ thé hệ này sang thé hệ khác, phụ nữ
đã sát cánh cùng với nam giới để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần xã
hội Về mặt sinh học (giới tính) hai giống người này không giống nhau trên nhiều phương diện như hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản, còn về mặt xã hội, (giới) thật khó có thể so sánh ai hơn ai vì nam và nữ đều đóng vai trò quan trọng không thể thiếu được trong gia đinh và xã hội không thể nói rằng giới tính này là quan trọng giới tính kia là không quan trọng cũng không thể nói rằng giới tính này sinh để thống tri giới tính kia là bị trị Tuy nhiên,
Trang 23lịch sử đã không công bằng khi ghi chép vè nam giới như là người sang tạo ra tất cả còn phụ nữ chỉ đóng vai trò phụ giúp không đang kể
Phụ nữ là người đảm nhiệm các vai trò sản xuất và đóng vai trò chính
trong tái sản xuất: tái sản xuất sinh học, tái sản xuất ra sức lao động và tái
sản xuất ra cơ cấu cộng đồng Trong gia đinh, họ là người sinh để, nuôi dạy
con cái, giữ gìn gia đạo, gia phong còn đối với dân tộc, phụ nữ đã đống góp phần bảo lưu truyền thống văn hóa và hình ảnh của người mẹ luôn là biểu tượng của hòa bình, hòa bình, hạnh phúc Mặc dù ở vị thế thấp nhưng trong lịch sử thế giới và Việt Nam Thời kỳ nào cũng có phụ nữ kiệt xuất trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao, du hành vũ trụ
2.1.5 Khái niệm về dân tộc
Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong đời sống xã hội có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý đoàn kết dân tộc Dân tộc thiểu số được hiểu là những người thiểu số sống trong một quốc gia [12]
2.1.6 Khái niệm hộ, kinh tế hộ
2.1.6.1 Khái niệm về hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình
Có rất nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa thế nào là hộ:
- "Hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, gồm những
người cùng chung huyết tộc và những người làm công “(Nguyễn Văn Hải
2005)[3]
- "Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn
chung và có chung một ngân quỹ" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3]
- "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan tới sản xuất, tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3]
Trang 24- "Hộ là một nhóm người chung một huyết tộc, hay không cùng chung
huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3]
- "Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động"(Nguyễn Văn Hải,
2005)[3]
- "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động
thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3]
- “Hộ là những người cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với
nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng" (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3]
- “Kinh tế hộ gia đình là khả năng tài chính của một gia đình, được hình thành từ các nguồn thu thập của gia đình”
Như vậy có thể nêu một số điểm cần quan tâm khi nhận định hộ
- Một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc
- Họ cùng sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung
- Cùng tiến hành sản xuất chung
2.1.6.2 Chức năng của hộ
+ Chức năng kinh tế
Đây là chức năng nổi bật của hộ và bản thân hộ cần sản xuất, kinh
doanh để đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết, trước hết là cho hộ, sau đó là cho xã hội Thực hiên chức năng kinh tế, hộ phải hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và đầu tư
+ Chức năng tiêu dùng chức năng này liên quan chặt chẽ với chức năng kinh tế, làm tiền đề cơ sở cho nhau
+ Chức năng tái sinh nguồn nhân lực
+ Chức năng giáo dục đào tạo
Trang 252.1.6.3 Khái niệm và đặc điểm của hộ nông dân
Khái niệm: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Sự phân định hoạt động liên quan và không liên quan đến nông nghiệp trong các hoạt động phi nông nghiệp là khó do vậy nảy sinh khái
niệm “ hộ nông dân ”
Theo Ellis-1988 thì hộ nông dân là các hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, năm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao
Như vậy, hộ nông dân khác với các hộ khác và khác với doanh nghiệp nông nghiệp ở quy mô sản xuất, nguồn lao động và mục tiêu sản xuất
* Đặc điểm của hộ nông dân
- Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn Trình độ này quyết
định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia hoạt
động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau làm cho khó giới hạn thế nào
là một hộ nông dân (Nguyễn Văn Hải, 2005)[3].\
* Kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hóa để bán)
Trang 26Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế
Vậy thế nào là lao động gia đình của nông hộ?
Lao động gia đình của nông hộ được xác định là tất cả những người trong gia đình có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động sản xuất sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để cung cấp cho gia đình và xã hội Lao động gia đình của nông hộ bao gồm những người trong độ tuổi lao động và cả những người ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia lao động khi cần thiết Lao động của gia đình không loại trừ lao động đổi công, lao động thuê mướn hoặc đi làm thuê vào thời vụ lao động như: thời điểm làm đất, thu hoạch Lao động gia đình là nguồn lực cơ sở của các hộ gia đình, là yếu tố cơ bản nhằm phân biệt kinh tế hộ gia đình với các doanh nghiệp, công ty
2.1.7 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới
2.1.7.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới
Ngay từ thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăngghen – các lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản toàn thế giới – đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp,
bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công
cụ sinh đẻ đơn thuần”; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội” “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ
có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối
Trang 27với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”
V.I Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX – XX kế thừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng: “Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói đúng hơn
đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng
từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân” Ông chỉ rõ “Trong nông nghiệp, người lao động phụ nữ, vô sản cũng như nông dân, đều phải cố đem hết sức mình ra, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm đến kiệt sức, hại đến sức khỏe của mình và của con cái để cố đuổi cho kịp người lao động nam giới trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa”; “họ cùng làm ở công xưởng 10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10 – 1,50 mác (nam giới thì được 2,50 – 2,70 mác) và nếu trả công theo sản phẩm thì họ
được 1,7 – 2,0 mác” Phụ nữ “không có quyền gì cả vì pháp luật không cho
họ có quyền bình đẳng với nam giới”, còn trong gia đình họ là “nô lệ gia
đình”, bị nghẹt dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ
nhất khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất Ông khẳng định: “Không còn nghi ngờ gì nữa, công xưởng tư bản chủ nghĩa đã đẩy các loại người lao động đó vào tình cảnh đặc biệt khó khăn… Thế nhưng, xu hướng đòi hoàn toàn cấm chỉ phụ nữ và thiếu niên không được lao động trong công nghiệp, hoặc xu hướng duy trì chế độ gia trưởng về sinh hoạt là chế độ loại bỏ lao động đó, xu hướng đó thật là phản động, không tưởng”
V.I Lênin chủ trương “Phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt”, “Thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, không phân biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc”; “…bổ nhiệm nữ thanh tra
Trang 28trong các ngành mà lao động nữ chiếm đa số”; “thành lập chế độ cộng hòa…, thực hiện chế độ nhân dân bầu cử quan chức, nam nữ bình đẳng”; “hủy bỏ tất
cả mọi sự hạn chế, không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới” Người khẳng định: “Giai cấp vô sản
sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ”[ 4]
2.1.7.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới
Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã thấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến Người khẳng định: “Dưới chế độ thực dân
và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn… Ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông” Người nhận thấy vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Người chỉ rõ: “Ông Các Mác nói rằng: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào” Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho
đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành
công”; “…Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”; “Vậy nên, muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước” Người chỉ rõ: “Cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào”
Hơn một tháng sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (02/9/1945), trong Lời kêu gọi chống thất học (tháng 10/1945), Người chỉ ra: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết
Trang 29quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà… Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”
Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”
Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên được Quốc hội thông qua, Người nói: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, gia đình thật sự hạnh phúc”
Người nhấn mạnh vai trò của phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân Cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà gặp nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Do đó, ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Nhân dân ta rất biết
ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh
hùng của nước ta” Người cũng phê bình những thành kiến, hẹp hòi của một
số cán bộ: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy là rất sai… Bác mong rằng các đồng chí hãy thật
sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ…”
Người căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ ta đảm
đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và
Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ
để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh
Trang 30đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [ 4]
2.1.7.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới
Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phương diện xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính
trị của Đảng cũng ghi: một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt
Nam lúc này là “nam, nữ bình quyền”
Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị (tháng 10/1930) khi
nói về phụ nữ vận động, Đảng ta nhận rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ
là một cái lực lượng rất trọng yếu Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi
được… Đảng đặt ra yêu cầu đòi “bình quyền” cho phụ nữ: “Đàn bà, đàn ông,
thanh niên việc làm ngang nhau thì tiền công cũng phải ngang nhau Công nhân đàn bà trước và sau khi sanh đẻ phải nghỉ tám tuần lễ có lương”; “không
được bắt đàn bà và trẻ con làm những việc nặng nề và nguy hiểm” Đảng đề
ra các yêu cầu cho phụ nữ đấu tranh đòi quyền lợi của mình: “Đảng Cộng sản thảo ra cho các chị em công nhân và nông dân những điều yêu cầu bình đẳng với đàn ông… phụ thêm cho chị em những điều yêu cầu sau này: Bỏ hết các pháp luật và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳng với đàn ông
Bỏ cái chế độ áp bức của cha mẹ đối với con gái, của chồng đối với vợ (ép duyên, thóa mạ đàn bà con gái) Cấm tục năm thê bảy thiếp, vợ hầu vợ lẽ Quyền đàn bà được giữ con mình lúc ly dị”
Suốt 80 năm qua, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hay trong những năm tháng khó khăn của thời kỳ bao cấp, Đảng ta luôn quan tâm ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, đề ra đường lối, chủ trương, lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ
nữ (phụ vận), chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, cất nhắc, đề bạt nhiều thế hệ cán
Trang 31bộ, lãnh đạo nữ Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng tăng về số lượng
và chất lượng, có phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực, trình
độ, bản lĩnh vững vàng, phối hợp cùng với lực lượng nam giới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết lãnh đạo công tác phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới nhấn mạnh: “Xây dựng và sửa đổi, hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội
có liên quan đến phụ nữ và lao động nữ… Có chủ trương, chính sách phù hợp đối với phụ nữ dân tộc ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ
đơn thân, phụ nữ tàn tật”…
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựng chiến lược
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng…
Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học – kỹ thuật, kinh
tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước… cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có quy định tỷ lệ nữ một cách thoả
đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới…”
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ:
“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện… ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”; “Đối với phụ nữ, xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 Đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế
Trang 32gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ; tăng tỉ lệ cán bộ nữ trong cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành… Xây dựng gia đình
no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người… Thực hiện tốt Luật Hôn nhân và gia đình”
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ghi: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng,
đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham
gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc”
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà
mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đề ra các quan điểm, mục tiêu và năm nhiệm vụ, giải pháp Cụ thể là: Nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện
Trang 33tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ
Đảng ta khẳng định: Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp
ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân
dân các cấp từ 35% đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình
đẳng giới Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực [ 4]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Khái quát thực trạng vai trò của phụ nữ một số nước trên thế giới
Địa vị của phụ nữ ở các nước đang phát triển trên tất cả các khía cạnh
đã được cải thiện đáng kể trong những năm trở lại đây Do có sự đầu tư mạnh
hơn vào phụ nữ và các bé gái, cải thiện mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế chăm sóc sức khoẻ, phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động và do đó đã thu hẹp lại khoảng cách về giới trong vấn đề việc làm và khoảng cách giới trong tiền lương cũng được thu hẹp lại Trình độ học vấn của phụ nữ cũng đã
có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ đi học của bé gái đã được tăng lên nhiều Điều
đó đã thu hẹp khoảng cách về giới trong giáo dục Tuy đã có tiến bộ rõ rệt
như vậy nhưng sự bất bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói vẫn tồn tại đáng kể trong các nước đang phát triển Theo đánh giá của Liên
Trang 34hiệp quốc phụ nữ làm 70% công việc nhưng chỉ hưởng 30% thu nhập của thế giới (40% công việc của họ không được trả lương), sở hữu 1% tài sản của thế giới, chiếm 70% người nghèo trên thế giới và 10% ghế quốc hội
Châu Á được xác định là trung tâm kinh tế lớn trong tương lai, nhưng vẫn còn nhiều nước trong tình trạng bị nghèo đói đe dọa ở Băngladesh 80% phụ nữ bị mù chữ, ở một số nước Đông Nam á như Indonesia, Philippin, Thái Lan mỗi năm có tới trên 600.000 người đi lao động nước ngoài, 1,46 triệu lao động đi di cư thì 70% là giúp việc gia đình Đội lốt các trung tâm giới thiệu việc làm cho phụ nữ ra nước ngoài làm việc có nhiều kẻ lợi dụng lừa lấy tiền hoặc buôn bán phụ nữ Do không có việc làm nhiều trẻ em gái
và phụ nữ có thể do chủ quan hoặc khách quan đưa đẩy trở thành gái mại dâm, họ là nguyên nhân để các dịch bệnh lan rộng đồng thời cũng là nạn nhân của sự nghèo đói, thiếu hiểu biết, thiếu việc làm, tiếp cận các nguồn lực bị hạn chế, quyền hạn không bình đẳng, địa vị kinh tế xã hội thấp hơn so với nam giới, Do đó đã làm hạn chế khả năng tác động đến các quyết định trong cộng đồng cũng như ở cấp quốc gia Phụ nữ rất ít có mặt trong quốc hội và hội đồng nhân dân địa phương và hầu như chưa có sự tiến bộ gì đáng
kể trong lĩnh vực này
Một vấn đề nóng bỏng trong xã hội hiện nay là nạn bạo lực gia đình ở Châu Mỹ La tinh, nạn nhân của bạo lực gia đình và tình dục đối với phụ nữ chiếm nhiều hơn bạo lực chính trị Tại Mỹ cứ 15 giây lại có một phụ nữ bị
đánh đập, ở Ai Cập phụ nữ bị thương tích được đưa đến các cơ quan cơ sở
chữa trị chấn thương chủ yếu nguyên nhân do chồng hành hung Tại Băngladesh, số phụ nữ bị chồng giết chiếm một nửa số vụ giết người trong cả
nước Thực tế cho thấy chúng ta phải nỗ lực hành động mạnh hơn nữa “Vì sự
tiến bộ của phụ nữ” trên phạm vi toàn cầu vì hòa bình ổn định và phát triển
của nhân loại (http://www.sggp.org.vn)[9]
Trang 352.2.2 Vai trò, vị trí dân tộc Mông trong phát triển kinh tế
Có thể nói người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay trở thành một chủ thể quan trọng trong đời sống các gia đình Theo số liệu thống kê của Bộ lao động, Thương binh và Xã hội thì hiện nay phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước
và hơn 49% lực lượng lao động So với thế giới, Việt Nam có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế cao 83% trên tổng số nữ trong độ tuổi lao động [11]
Họ cũng là người lao động trong lĩnh vực buôn bán dịch vụ góp phần tạo nên nguồn thu tiền mặt cho gia đình Cùng với chồng, người vợ cũng trở thành người tạo ra nguồn thu nhập chính ở nông thôn khi mà người chồng đi làm thuê xa kiếm tiền cho gia đình thì người vợ trở thành người lao động chính, họ là chủ thể chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn ở thành phố, phụ nữ là lực lượng chính phát triển buôn bán - dịch vụ Và khi người làm trong các công sở thì lương tháng của họ cũng như lương của đồng nghiệp nam Hiện nay thật khó khẳng định một cách chung chung rằng người
đóng vai trò quan trọng nhất trong gia đình là người chồng hay người vợ
Công việc ở đây là công việc nội trợ nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên trong gia đình Nhiều quan niệm cho rằng đây là những việc vặt và không quan trọng Đây cũng chính là lí do mà vai trò và địa vị của người phụ
nữ bị hạ thấp, là cơ sở căn bản tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ Trong nền văn minh nông nghiệp, với sự phát triển của đại gia đình, tính gia trưởng của
đàn ông được đề cao Người phụ nữ trong các đại gia đình chỉ là những nhân
vật phụ thuộc và vai trò của họ hết sức mờ nhạt Gánh nặng công việc nội trợ vẫn đè lên vai người phụ nữ và hầu như chưa có sự chia sẻ của người chồng, người nam giới
Theo kết quả nghiên cứu của giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết (năm 2008), phụ nữ nông thôn phải làm việc 8-16 h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình
và chăm sóc con cái, họ không có thời gian đọc báo, nghe đài, xem văn nghệ
Trang 36trong khi nam giới chỉ làm 7 h/ngày Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có những dịch vụ và trang thiết bị gia đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình vẫn gấp 1,5 lần so với nam giới (G.s.Lê Thị Nhâm Tuyết, 2008).[6]
Trong việc nuôi dạy con cái, phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn Phần lớn các công việc cho ăn, chăm sóc, dạy học thường do người mẹ đảm nhận, nhất là thời kỳ em bé còn nhỏ Sức khoẻ và trình độ cũng như kiến thức của người
mẹ giúp cho việc nuôi dạy con cái tốt hơn Phụ nữ cũng được giao trách nhiệm chăm sóc người già, người bệnh, người tàn tật Họ phải làm việc vất
vả, thời gian dài nhưng lại không tạo thu nhập ở hoạt động này so với chồng,
họ phải chịu thiệt thòi nhiều hơn, thậm chí còn bị hiểu lầm bởi sự khó tính của người già, người bệnh
Rõ ràng vai trò của phụ nữ trở nên hết sức quan trọng trong việc thực hiện những công việc nhằm nuôi dưỡng và tái sản xuất lao động của các thành viên trong gia đình Nhưng việc đồng thời phải thực hiện hai vai trò quan trọng
là làm kinh tế và nội trợ gia đình đã làm cho họ tốn rất nhiều thời gian và trí lực Hiện nay dù các quan hệ kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng quan
hệ giới hầu như chưa có những chuyển biến kịp thời Do vậy phụ nữ thay vì
được giải phóng, được chia sẻ trong xã hội hiện đại thì vô hình chung họ trở
thành người gánh chịu nhiều trách nhiệm và chịu nhiều thiệt thòi
2.2.3 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế
ở nước ta hiện nay
Hiện nay trong xu thế hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã và đang cố gắng giảm thiểu và dần đi đến xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng giới, đặc biệt là
ở vùng đồng bào dân tộc Mông Bảo đảm quyền bình đẳng về kinh tế cho phụ
nữ là một nội dung cực kỳ quan trọng trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2013-2020, tạo cơ sở để phụ nữ có các quyền bình đẳng khác
Trang 37nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay
Không những giỏi việc nước mà họ còn đảm việc nhà Trong hoàn cảnh sống còn nhiều khó khăn họ phải lo lắng cho gia đình đủ cơm ăn áo mặc, con cái được học hành và khỏe mạnh Và khi người chồng đi vắng thì việc họ việc làng người phụ nữ cũng là người lo toan hết Thiên nhiên đã ban tặng cho phụ
nữ chức năng sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái, chăm sóc vun trồng mầm non của đất nước, bảo tồn và phát triển nòi giống Để đảm đương trọng trách này người phụ nữ đã phải chịu bao nỗi cực nhọc nhưng họ cũng tìm thấy nguồn vui của mình Mặt khác họ cũng là người giữ gìn truyền thống, những giá trị tốt đẹp của thế hệ này qua thế hệ khác, gia đình Việt Nam hiện nay còn lưu giữ những phẩm chất tốt đẹp như tình nghĩa vợ chồng, lòng hiếu thảo của con
đối với cha mẹ, lòng kính trọng biết ơn người già, sự giúp đỡ lẫn nhau trong
họ hàng làng xóm
Trong sản xuất, người phụ nữ dân tộc Mông cũng là người tạo ra phần lớn lương thực cho gia đình Mọi việc đồng áng gần như dồn hết lên đôi vai gầy của họ, nhất là ngày nay tình trạng nam giới đi kiếm việc làm xa nhà càng nhiều Các công việc như cày bừa ngày xưa dành cho nam giới khỏe mạnh thì bây giờ phụ nữ mông đảm nhận không còn là chuyện lạ Bên cạnh việc trồng trọt họ còn làm thuê nhiều công việc phụ để tăng thu nhập cho gia đình như thêu,may va một số công việc khác…, Người phụ nữ mông góp phần xây dựng nền văn minh dân tộc bằng lao động sáng tạo và trí tuệ thông minh, bằng tình thương và đạo đức trong sáng của họ Tuy nhiên đến nay vị trí, vai trò của chị em dân tộc Mông trong gia đình và trong xã hội chưa tương xứng với công lao mà họ bỏ ra Do vậy cần phải bù đắp xứng đáng cho người phụ
nữ dân tộc Mông và giúp đỡ để họ được khẳng định mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội.[10]
Trang 38Vai trò của phụ nữ dân tộc Mông tại vùng cao đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Một số gương mặt tiêu biểu như:
Chị Hoàng Thị Nu, dân tộc Mông,ở xã vùng cao hòng sĩ, huyện Hà
Quảng, tỉnh Cao Bằng, sinh năm 1978, đã cố gắng nỗ lực vượt lên hoàn cảnh
khó khăn để trở thành một người phụ nữ có kiến thức và biết làm giàu ngay trên chính miền quê nghèo khó của mình
Chị Dương Thị Súng, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn từ
cuộc sống nghèo khó chị đã vượt lên có cuộc sống khá giả có của ăn của để
Trang 39Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ dân tộc Mông trong các hộ gia đình trên địa bàn xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - Tỉnh Cao Bằng
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Nghiên cứu xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh - Tỉnh Cao Bằng
- Thời gian nghiên cứu: Được triển khai từ 31/12/2013 đến 13/4/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Quang Hán - huyện Trà Lĩnh -
Tỉnh Cao Bằng
- Thực trạng vai trò phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ gia
đình trên địa bàn xã Quang Hán
- Những yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã Quang hán
- Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc Mông trong phát triển kinh tế hộ gia đình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu phải là các hộ thuộc xã Quang Hán, mẫu nghiên cứu
được chọn theo phương pháp phân tầng: dựa theo danh sách hộ, tiến hành
phân tổ theo tiêu thức là người dân tộc Mông, sau đó chọn ngẫu nhiên theo
Trang 40danh sách phân tổ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: khá, trung bình, nghèo Kết quả chọn mẫu:
Tên xã Tổng số hộ điều
tra
Phân theo mức sống Khá Trung bình Nghèo
Điều tra trình độ nhận thức của người dân trên địa bàn xã Quang Hán
về vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế, mẫu nghiên cứu là 40 người, sử dụng phương pháp phân tầng theo các tiêu chí:
+ Là người dân tộc Mông, có hộ khẩu trên địa bàn xã Quang Hán
+ Nam giới thuộc nhóm tuổi từ 20 đến dưới 50 tuổi và trên 50 tuổi + Nữ giới thuộc nhóm tuổi từ 20 đến dưới 50 tuổi và trên 50 tuổi
Sau đó lựa chọn ngẫu nhiên 10 nam, 10 nữ thuộc nhóm tuổi từ 20 đến dưới 50 tuổi; 10 nam, 10 nữ thuộc nhóm tuổi trên 50 tuổi
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu được thu thập qua các số liệu thống kê, báo cáo của UBND xã
Quang Hán dựa vào các chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
3.4.2.2 Số liệu sơ cấp
Điều tra nông hộ bằng phiếu điều tra và tiến hành phỏng vấn trực tiếp
3.4.3 Phương pháp xử lí số liệu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: số liệu được tổng hợp và
xử lí trên bảng tính Excel, sau đó được thống kê và phân tích theo phương pháp so sánh
- Phương pháp so sánh: các số liệu được so sánh qua các năm, các nhóm hộ giàu, khá, trung bình, nghèo để thấy được sự khác nhau về thực trạng vai trò của người phụ nữ qua các năm cũng như trong từng nhóm hộ Từ
đó có thể đưa ra những nhận xét