1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

80 435 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 590,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm hộ nông dân Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của

Trang 1

……….………

LƯU THỊ TRANG

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TẠI XÃ TRUNG HỘI – HUYỆN ĐỊNH HểA

– TỈNH THÁI NGUYấN Khóa luận tốt nghiệp đại học

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nụng nghiệp

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Thị Ngọc

Thái Nguyên, 2014

Trang 2

cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn và các thầy cô giáo giảng dạy trong Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo

Th.S Trần Thị Ngọc đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn

thành khóa luận tốt nghiệp này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các hộ gia đình trong xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công việc trong thời gian thực tập tại địa phương

Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân

đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như hạn chế về mặt thời gian, cho nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014

Lưu Thị Trang

Trang 3

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Trung Hội giai đoạn năm

2011- 2013 29

Bảng 3.2 Tình hình lao động của xã Trung Hội giai đoạn 2011-2013 31

Bảng 3.3 Phân loại kinh tế hộ của xã giai đoạn 2011-2013 34

Bảng 3.4 Thu nhập bình quân của xã trung Hội giai đoạn 2011-2013 35

Bảng 3.5 Giá trị sản xuất nông nghiệp của xã giai đoạn 2011-2013 37

Bảng 3.6 Diện tích một số cây trồng chính của xã năm 2013 38

Bảng 3.7 Thu nhập từ ngành trồng trọt của xã Trung Hội giai đoạn 2011-2013 39

Bảng 3.8 Tình hình chăn nuôi của xã Trung Hội giai đoạn 2011-2013 40

Bảng 3.9 Diện tích đất lâm nghiệp của xã Trung Hội giai đoạn năm 2011-2013 43

Bảng 3.10 Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra năm 2013 45

Bảng 3.11 Tình hình về nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ năm 2013 47

Bảng 3.12 Tình hình sử dụng đất đai của các nhóm hộ gia đình trong xã năm 2013 48

Bảng 3.13 Chi phí bình quân về trồng trọt của các nhóm hộ năm 2013 50

Bảng 3.14 Tình hình chăn nuôi của các hộ gia đình năm 2013 52

Bảng 3.15 Chi phí bình quân của các nhóm hộ về ngành chăn nuôi 53

Bảng 3.16 Chi phí sản xuất ngành nghề và dịch vụ của các nhóm hộ năm 2013 54

Bảng 3.17 Thu nhập từ trồng trọt của các nhóm hộ năm 2013 55

Bảng 3.18 Thu nhập từ chăn nuôi của các nhóm hộ năm 2013 57

Bảng 3.19 Thu nhập từ cây lâm nghiệp của các nhóm hộ năm 2013 59

Bảng 3.20 Thu nhập từ nghề phụ của các nhóm hộ năm 2013 59

Bảng 3.21 Tổng thu nhập của các nhóm hộ năm 2013 60

Bảng 3.22 Tình hình sử dụng tư liệu sản xuất bình quân của các nhóm hộ năm 2013 62

Bảng 3.23 Tình hình sử dụng vốn của các nhóm hộ năm 2013 63

Trang 4

Hình 3.1 Cơ cấu thu nhập của ngành chăn nuôi năm 2013 41

Trang 5

Chữ viết tắt Diễn giải

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

Tính cấp thiết của đề tài 1

Mục đích nghiên cứu 2

Mục tiêu nghiên cứu 3

Ý nghĩa của đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Khái quát chung về kinh tế hộ 5

1.1.2 vai trò của kinh tế hộ trong nông nghiệp và nông thôn 7

1.1.3 Phân loại nông hộ 8

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế hộ 10

1.1.5 Một số mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ tại một số nước trên thế giới 15

1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế hộ tại Việt Nam 16

1.2.3 Một số mô hình kinh tế hộ tiêu biểu 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 25

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 26

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu và sử lý thông tin 26

Trang 7

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Trung Hội 28

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30

3.1.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng 32

3.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ của xã Trung Hội giai đoạn năm 2011-2013 34

3.2.1 Thực trạng phát triển chung 34

3.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế tai địa phương 37

3.3 Một số chính sách của Đảng và Nhà nước có ảnh hưởng tới phát triển kinh tế hộ tại địa phương 44

3.3.1 Chương trình 135 44

3.3.2 Chương trình nông thôn mới 44

3.3.3 Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo 44

3.4 kết quả đánh giá tình hình phát triển kinh tế hộ gia đình của các hộ trong xã 45

3.4.1 Khái quát chung về nhóm hộ điều tra 45

3.4.2 Tình hình về nhân khẩu và lao động của hộ gia đình 46

3.4.3 Hiện trạng sử dụng đất đai của các hộ trong xã 48

3.4.4 Tình hình về chi phí sản xuất của các nhóm hộ 49

3.4.5 Tình hình chăn nuôi của các hộ gia đình 52

3.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của các nhóm hộ điều tra 55

3.5.1 Trồng trọt 55

3.5.2 Chăn nuôi 57

3.5.3 Thu nhập từ lâm nghiệp 58

3.5.4 Thu nhập từ nghề phụ khác 59

3.5.5 Tổng hợp thu nhập của các nhóm hộ 60

Trang 8

CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ 65

4.1 Nhóm giải pháp chung 65

4.1.1 Về chính sách 65

4.1.2 Nâng cao năng lực cho cán bộ và người dân 66

4.1.3.Đối với ngành nông nghiệp 67

4.1.4 Đối với ngành lâm nghiệp 67

4.2 Nhóm giải pháp riêng 67

4.2.1 Đối với nhóm hộ khá 67

4.2.2 Đối với nhóm hộ trung bình và nhóm hộ cận nghèo 68

4.2.3 Đối với nhóm hộ nghèo 68

4.3 Kiến nghị 69

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 9

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Đối với một nước có xuất phát điểm là nông nghiệp như Việt Nam dân

số sống ở nông thôn chiếm khoảng 70% thì kinh tế nông nghiệp góp phần không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên hiện nay kinh tế nông nghiệp vẫn còn tình trạng sản xuất theo hướng tự cung tự cấp mà chủ yếu là các hộ gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số dẫn tới tình trạng nghèo đói

Sau những năm đổi mới nền nông nghiệp của nước ta đã có sự đổi đáng

kể Các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã chú trọng hơn vào nông nghiệp do đó mà từ một nước thiếu ăn mà nước ta đã trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới Để đạt được những thành quả ấy thì không thể không nói đến vai trò của kinh tế hộ gia đình, kinh tế hộ góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị của một quốc gia

Kinh tế hộ phát triển giúp nâng cao đời sống người dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước Các hộ gia đình vừa là một

đơn vị sản xuất, vừa là một đợn vị tiêu dùng, vừa là đơn vị kinh doanh, vừa là

một đơn vị xã hội vì vậy mà phát triển kinh tế hộ là một điều kiện tất yếu phải thực hiện

Đặc biệt khi đất nước ta bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, một nhu cầu tất yếu đặt ra cho kinh tế nông nghiệp là xóa bỏ việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân tán Kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải có các mô hình sản xuất mới hợp lý hơn để đáp ứng yêu cầu của sản xuất hàng hóa Trước yêu cầu đó kinh tế hộ nông dân đã và đang tồn tại, phát triển ngày càng nhanh trên mọi vùng, mọi khu vực trên cả nước Kinh tế hộ nông dân của nước ta ngày càng khẳng định rõ vai trò tự chủ của mình trong đời sống kinh tế xã hội nói chung và ở vùng nông thôn nói riêng Sự phát triển kinh tế hộ nông dân đã thực sự làm cho nền nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn khiến bộ mặt nông nghiệp, nông thôn và đời sống của người dân có những bước thay đổi đáng kể

Trong một số khu vực nông thôn thì sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa chưa thật sự phát triển dẫn tới có sự chênh lệch giàu nghèo giữa khu

Trang 10

vực nông thôn và đô thị ngày càng lớn (9,2 lần năm 2010 lên 9,4 lần năm 2012) Với mức thu nhập thấp, đời sống người dân ở khu vực nông thôn còn gặp nhiều khó khăn thì cũng đã có hiện tượng một bộ phận không nhỏ người dân ở khu vực nông thôn đi ra thành phố để kiếm việc làm dẫn tới tình trạng mất cân bằng ở khu vực nông thôn và đô thị Bộ phận di cư ra đô thị chủ yếu

là tầng lớp thanh niên và những người có khả năng lao động ở các khu công nghiệp vì vậy mà dẫn tới tình trạng già hóa ở nông thôn do bộ phận lao động trẻ đã tìm kiếm việc làm ở đô thị

Ngày nay thì kinh tế hộ không còn gì xa lạ đối với các nước trên thế giới và việc phát triển kinh tế hộ thì ngày càng được chú trọng, đầu tư Với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng nhanh như hiện nay thì đòi hỏi người lao

động phải có trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến, cập nhật thông

tin về thị trường nhanh chóng

Cùng với sự phát triển chung của đất nước thì người dân trong xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái nguyên cũng đã hòa chung trong sự phát triển đó và có các điều kiện, cơ sở cho sự phát triển đó là sự phát triển của kinh tế hộ Tuy nhiên xã Trung Hội là một xã miền núi, địa hình chủ yếu

là đồi núi và có nhiều dân tộc cùng sinh sống, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn Tại xã thì người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất chưa theo hướng tập chung mà còn nhỏ lẻ, manh mún vì vậy mà chưa chuyên môn hóa, chưa tập chung được sản xuất, các ngành nghề dịch vụ chưa thật sự phát triển nên thu nhập của người dân chưa cao, thu nhập chủ yếu vẫn từ nông nghiệp, trình độ dân trí của người dân không đồng đều Xuất

phát từ những vấn đề đó chúng tôi đề xuất đề tài “ Thực trạng và một số giải

pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình, từ đó đề xuất một

số giải pháp phát triển kinh tế hộ, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân cho xã Trung Hội

Trang 11

Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội giai đoạn

- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ, nâng cao đời

sống cho người dân xã Trung Hội

Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa trong học tập và trong khoa học

- Đề tài giúp cho bản thân vận dụng được những kiến thức đã học vào trong thực tế

- Tạo cho sinh viên tác phong làm việc tự lập trước khi ra trường

- Nâng cao năng lực chuyên môn, tích lũy được kinh nghiệm cho bản thân sau khi tốt nghiệp ra trường

- Đề tài cũng được coi là tài liệu tham khảo cho trường, khoa, lớp trong cùng nghành và các sinh viên của các khóa học sau

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho các nhà quản lý, các ban nghành lãnh đạo nhận thấy rõ thế mạnh, cơ hội của địa phương từ đó khắc phục những khó khăn, thách thức nhằm phát triển kinh tế hộ

Trang 12

Đối với Việt Nam là một nước nông nghiệp với xuất phát điểm thấp thì

hộ gia đình là một đơn vị sản xuất rất phổ biến Đây là một mô hình sản xuất kinh tế giữ vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, nhằm tiến tới quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa hòa nhập với sự phát triển chung

Việc phát triển kinh tế hộ giữ vị trí rất quan trọng vì: [3]

- Kinh tế hộ là thành phần cơ bản cho sự thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế, hộ gia đình giữ vị trí rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế chung của đất nước Kinh tế hộ trong nông thôn giữ vai trò chính tạo ra lượng hàng hóa lớn để phục vụ tiêu dùng cũng như xuất khẩu Đối với nước ta là một nước nông nghiệp thì kinh tế hộ cũng góp phần không nhỏ trong việc sản xuất hàng hóa đặc biệt là nông sản với trữ lượng xuất khẩu gạo, điều, hạt tiêu đứng đầu thế giới, đứng thứ 2 về xuất khẩu cà phê và là 1 trong 10 nước đứng đầu về xuất khẩu thủy sản thì không thể phủ nhận được tầm quan trọng của kinh tế hộ

- Nông dân là tầng lớp xã hội đông nhất, luôn đi đầu trong các cuộc các mạng, hy sinh nhiều cho đất nước, cho chế độ, thực hiện công bằng xã hội Vì vậy mà phải làm thế nào cho khu vực nông thôn phát triển được một các ổn

định, tăng trưởng kinh tế nhanh, làm cho người dân có một cuộc sống ấm no

hơn, sung túc hơn thì phải đòi hỏi Đảng và Nhà Nước phải có sự quan tâm hơn nữa trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn giúp cho người dân khu vực nông thôn có mức sống cao hơn

- Kinh tế hộ là nền tảng kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực.Từ một nước nghèo, thiếu ăn và để trở thành một đất nước có trữ lượng xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới như Việt Nam hiện nay thì phải kể đến vai trò

Trang 13

không nhỏ của các hộ gia đình, hộ nông dân sản xuất nông nghiệp Đảm bảo

an ninh lương thực có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đảm bảo sự ổn định chính trị của quốc gia

- Kinh tế hộ có vai trò quan trọng trong việc trực tiếp sử dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật và góp phần đổi mới công nghệ sản xuất Khi sản xuất phát triển các khoa học kỹ thuật mới được đưa vào sản xuất, để nhằm tăng năng xuất cũng như chất lượng sản phẩm mà việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật này là do người dân thực hiện Người nông dân cũng là những người tiên phong trong việc đổi mới cũng như việc tạo ra những sản phẩm mới, công nghệ mới sao cho phù hợp với việc sản xuất của họ

1.1.1 Khái quát chung về kinh tế hộ

Khái niệm hộ:

Trong một số từ điển chuyên ngành kinh tế cũng như từ điển ngôn ngữ thì hộ là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà - nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công

Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”

Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan năm

1980 các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan

đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”

Giáo sư T.G.Mc Gee (1989) Giám đốc Viện nghiên cứu Châu á thuộc trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, khi khảo sát “kinh tế hộ trong quá trình phát triển” ở một số nước Châu á đã nêu lên rằng: “Ở các nước Châu á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”

Raul Iturna, Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước Châu á đã chứng minh: “Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân

họ và cộng đồng”

Trang 14

Khái niệm hộ nông dân

Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao"

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo

nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế

xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những

hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

Khái niệm về kinh tế hộ

Kinh tế hộ là loại hình sản xuất kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình (là những người trong gia đình có khả năng lao động và sẵn sàng tham gia lao động để sản xuất hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của gia đình và xã hội) Tuy nhiên các hộ gia

đình có thể tự sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế [7]

Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế hộ

Phát triển được coi như một quá trình biến chuyển của xã hội, là chuỗi những biến chuyển có mối liên hệ qua lại với nhau Sự phát triển và tồn tại của xã hội hôm nay là sự kế thừa những di sản đã diễn ra trong quá khứ

Phát triển theo khái niệm chung nhất là việc nâng cao hạnh phúc của người dân bao hàm nâng cao các chuẩn mực sống, cải thiện điều kiện giáo dục, sức khỏe sự bình đẳng về các cơ hội Ngoài ra việc đảm bảo về các quyền chính trị và công dân là những mục tiêu rộng lớn của phát triển Có thể

Trang 15

hiểu phát triển là việc tạo điều kiện cho con người sinh sống ở bất kỳ nơi nào

đều được thỏa mãn các nhu cầu sống của mình, có mức tiêu thụ hàng hóa và

dịch vụ tốt, đảm bảo chất lượng cho cuộc sống, có trình độ học vấn cao, được hưởng các thành tựu về văn hóa và tinh thần, có đủ điều kiện cho một môi trường sống lành mạnh, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được

đảm bảo an ninh, an toàn không có bạo lực

Qua các khái niệm trên có thể thấy phát triển kinh tế hộ là việc ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ và các mô hình cach tác thích hợp với khả năng lao

động của gia đình và điều kiện đất đai, tự nhiên để sản xuất kinh doanh tăng

thu nhập cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân góp phần xây dựng và phát triển đất nước

1.1.2 vai trò của kinh tế hộ trong nông nghiệp và nông thôn

Khái niệm về nông nghiệp

Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc và các sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, các nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi [3]

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân vì

nó là ngành duy nhất tạo ra lương thực, thực phẩm

Nông nghiệp bao gồm các phân nghành là trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch

Khái niệm về nông thôn

Theo nhà xã hội học người Nga V.Staroverov cho rằng: “Nông thôn với

tư cách là một khách thể nghiên cứu xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã được hình thành từ lâu trong lịch sử Đặc trưng của phân hệ

xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với điều kiện địa

lý, tự nhiên ưu trội với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian” Cũng theo nhà xã hội học này thì “Nông thôn phân biệt với đô thị bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp kém hơn, bởi thua kém hơn về mức độ phúc lợi

xã hội, sinh hoạt”

Trang 16

Vai trò của kinh tế hộ trong nông nghiệp, nông thôn và trong sự phát triển chung của đất nước

• Kinh tế nông hộ góp phần tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội như lương thực, thực phẩm, sản phẩm cây công nghiệp, nông sản xuất khẩu

Mỹ là một nước có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao với 1,94 triệu nông trại và đã cung cấp cho xã hội lượng nông sản hàng hóa chiếm tới 50,2% so với tổng số nông sản cung cấp cho xã hội

Hunggai: Sản phẩm hàng hóa của nông trại gia đình chiếm 60% tổng số sản phẩm hàng hóa trên thị trường nông thôn

• Góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất

đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất

Kinh tế hộ trong nông nghiệp sử dụng chủ yếu các yếu tố trên để sản xuất, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu mà quỹ đất lại hạn hẹp, kinh tế hộ sử dụng được quỹ đất một các hợp lý do quỹ đất của mỗi hộ nhỏ lẻ, nguồn lao động chủ yếu là lao động trong gia đình chỉ hạn hẹp trong một điều kiện nhất định nên được các hộ tận dụng một cách có hiệu quả nhất Các nguồn vốn và tư liệu sản xuất của hộ cũng bị hạn hẹp hơn so với trang trại hoặc hợp tác xã vì vậy mà các hộ có các biện pháp khác nhau cũng như có các phương thức sản xuất khác nhau để tận dụng nguồn vốn cũng như các tư liệu sản xuất đó của hộ

• Tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn Việc phát triển kinh tế hộ tăng thêm thu nhập cho người dân, người dân sản xuất hàng hóa, dịch vụ sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động ở trong chính gia đình mình và sẽ có thu nhập từ việc phát triển kinh tế hộ của họ [11]

1.1.3 Phân loại nông hộ

1.1.3.1 Phân loại theo tính chất ngành nghề sản xuất

Tùy theo điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất và đặc điểm thị trường của từng vùng, nông hộ được chia ra:

- Nông hộ kinh doanh tổng hợp: Là loại hình kết hợp với nông nghiệp

và tiểu thủ công nghiệp

- Nông hộ chuyên môn hóa: Chuyên nuôi gà, vỗ béo lợn, nuôi bò thịt hoặc lấy sữa, trồng cây ăn quả, hoa, cây cảnh…Hoặc chuyên sản xuất nông lâm sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

Trang 17

1.1.3.2 Phân loại theo hình thức quản lý

- Nông hộ gia đình: Là loại hình phổ biến nhất ở các nước Đó là kiểu nông hộ độc lập sản xuất kinh doanh do người chủ hộ hay một người thay mặt gia đình đứng ra quả lý Thông thường mỗi nông hộ là một gia đình, nhưng có nơi quan hệ huyết thống còn đậm nét thì vài gia đình cùng kinh doanh quản lý cùng một cơ sở

- Nông hộ liên doanh: Do 2-3 nông hộ gia đình hợp thành một nông hộ lớn, tuy nhiên mỗi nông hộ thành viên vẫn có quyền tự chủ, điều hành sản xuất Đối tượng liên doanh thường là anh em, họ hàng hoặc bạn bè thân thiết

- Nông hộ hợp doanh: Tổ chức theo nguyên tắc công ty cổ phần hoạt

động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Loại nông hộ

này thường có quy mô lớn, thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, sử dụng lao

động làm thuê là chủ yếu Bao gồm 2 loại là: Nông hộ hợp doanh gia đình và

nông hộ hợp doanh phi gia đình

1.1.3.3 Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất

- Chủ nông hộ sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, máy móc, công cụ đến chuồng trại, kho bãi…

- Chủ nông hộ sở hữu một phần tư liệu sản xuất còn một phần là đi thuê của người khác

- Chủ nông hộ hoàn toàn đi thuê tư liệu lao động của người khác hoặc của nhà nước để sản xuất

1.1.3.4 Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất

- Chủ nông hộ sống cùng gia đình ở nông thôn, trực tiếp điều hành sản xuất và trực tiếp lao động

- Chủ nông hộ ủy thác, ủy nhiệm ruộng đất và tư liệu sản xuất của mình cho anh em, họ hàng còn lại ở quê để tiếp tục canh tác

1.1.3.5 Phân loại theo mức thu nhập của hộ

- Nông hộ thuần nông: Ở những nước nông nghiệp kém phát triển, nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp thì đương nhiên cơ cấu thu nhập của các nông hộ dựa hoàn toàn hay phần lớn vào nông nghiệp, những nông hộ này

Trang 18

thường có quy mô vừa và lớn và thu nhập từ nông nghiệp đủ sức trang trải các nhu cầu tái sản xuất và sinh hoạt

- Nông hộ có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp: Các hộ này tường là các nông hộ có quy mô nhỏ, thu nhập từ nông nghiệp không đáp ứng đủ nhu cầu nên phải đi lamg thêm ngoài nông hộ trên địa bàn nông thôn, có khi vào

đất đai có thể coi như một dạng của vốn nhưng lại được xem như một nguồn

lực riêng biệt Sẽ không có hoạt động sản xuất nông nghiệp nếu như không có

đất đai, số lượng và chất lượng đất đai sẽ quy định lợi thế so sánh của mỗi

vùng trong sản xuất nông nghiệp Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác, chất lượng đất cao hay thấp lại ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, vật nuôi Vì vậy đất đai ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển kinh tế nông hộ Chính vì vậy với một diện tích đất có hạn mỗi hộ cần có kế hoạch sử dụng sao cho phù hợp để có hiệu quả cao nhất

- Vốn đầu tư: Là giá trị của toàn bộ đầu vào, bao gồm những tài sản, vật chất trong sản xuất kinh doanh cũng như các ngành sản xuất khác Trong nông nghiệp vốn là yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Nó quyết định đến quy mô sản xuất từ đó ảnh hưởng đến chất lượng sản

Trang 19

phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới khả năng khai thác các nguồn lực sản xuất Vốn được xếp vào yếu tố chủ quan vì chủ hộ có quyền huy động vốn hoặc quyết định phân bổ vốn theo chu kỳ sản xuất Vốn được tạo ra từ hai nguồn cơ bản là vốn đi vay và vốn tự có Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không nó quyết định đến sự phát triển của kinh tế hộ Nếu ta cố

định các yếu tố khác, chỉ xét riêng ảnh hưởng của vốn đến thu nhập của hộ thì

vốn đầu tư cho sản xuất và thu nhập của hộ là hai đại lượng đồng biến

- Lao động: Lao động là yếu tố cần thiết trong mọi quá trình sản xuất, không có lao động thì sẽ không có thể có hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, nó tác động lên hai mặt đó là:

+ Mặt lượng: Thể hiện ở mức độ đầu tư lao động vào công việc cụ thể như, hộ nào có càng nhiều lao động thì thu nhập của hộ càng cao

+ Mặt chất: Thể hiện sự hiểu biết của người lao động trong công việc sản xuất kinh doanh, nắm được quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi, từ đó có các biện pháp tác động, chăm sóc khoa học và mang lại hiệu quả cao Chất lượng lao động thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học

kỹ thuật, am hiểu thị trường và các chính sách của Nhà Nước, thể hiện ở kinh nghiệm trong sản xuất

Nhóm yếu tố khác quan

- Điều kiện tự nhiên: Do đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật sống, quá trình sinh trưởng và phát triển phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, môi trường…Nếu gặp điều kiện thuận lợi, phù hợp với giai đoạn phát triển cây trồng, vật nuôi thì sẽ cho năng suất cao và ngược lại Như vậy trong sản xuất nông nghiệp điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định

- Thị trường: Là nơi diễn ra trao đổi hàng hóa, có tác động lớn đến kết quả sản xuất, kinh doanh thông qua cơ chế thay đổi giá cả và phụ thuộc vào quy luật cung cầu trên thị trường

Đối với thị trường đầu ra ( tiêu thụ sản phẩm), nó phả ánh tổng cung

nông nghiệp, hơn nữa các sản phẩm trong nông nghiệp thường khó bảo quản,

vì vậy rủi ro do thị trường đem lại trong sản xuất nông nghiệp là rất lớn Bên

Trang 20

cạnh đó thị trường các sản phẩm trong nông nghiệp là thị trường cạnh tranh, nên người nông dân không thể kiểm soát được, vì vậy sự tác động của thị trường làm cho thu nhập của các hộ không ổn định

Đối với thị trường các yếu tố đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí

sản xuất, vì thế nó tác động rất lớn đến mức độ đầu tư của nông dân Nếu giá

đầu vào tăng làm chi phí đầu tư tăng lên dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm

- Chính sách của nhà nước: Là công cụ đắc lực của Chính Phủ Trong quả lý kinh tế mỗi chính sách ban hành đều có tác động rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh dù lớn hay nhỏ Nếu chính sách đúng đắn sẽ kích thích

được sản xuất và ngược lại Vì vậy mà chính sách của Nhà Nước có ảnh

hưởng rất lớn tới thu nhập của hộ hay đến sự phát triển của kinh tế nông hộ Trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam, Nhà Nước đã chứng tỏ được vai trò của mình trong quản lý kinh tế Nó được thể hiện rõ nhất ở chính sách ruộng đất trong công cuộc đổi mới Chính sách này đã làm thay đổi thu nhập của toàn bộ dân cư trong nông thôn Ngoài ra còn có sự

đóng góp của hàng loạt chính sách khác như giá trần, giá sàn nhằm bảo vệ

người sản xuất và người tiêu dùng

Ngoài các yếu tố trên thì kinh tế hộ còn chịu ảnh hưởng của các phong tục tập quán, truyền thống văn hóa…

1.1.5 Một số mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình

Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng mà có thể vận dụng các mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao năng lực sản xuất và đời sống của các hộ gia đình

Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp

Chuyên chăn nuôi: Bò sữa, cá, tôm, hươu, trăn, rắn…Các mô hình này

đang phát triển mạnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đồng Bằng Sông Hồng,

ven biển Miền Trung

Chuyên trồng trọt: Chè, cà phê, cao su…Mô hình này chủ yếu ở Trung

Du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ Đây là mô hình các hộ kinh tế mà sản phẩm của họ làm ra là nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến Mô hình hộ gia đình chuyên canh nông nghiệp phù hợp và phổ biến ở

Trang 21

gần các đô thị, doanh nghiệp ( Cao su, chè, cà phê, bông, mía đường hoặc xí nghiệp sản xuất giấy) Mô hình này thường có quy mô lớn, khối lượng hàng hóa nhiều, cho thu nhập được ổn định, đời sống người dân được cải thiện Tuy nhiên dễ gặp rủi ro do giá cả biến động theo thị trường, ảnh hưởng bởi thời tiết, khí hậu

Mô hình sản xuất lúa nước – nuôi cá nước ngọt – chăn nuôi gia cầm Phát triển chủ yếu ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, các tỉnh vùng trũng Mô này thực sự có hiệu quả, doanh thu nhiều hộ hàng trăm triệu đồng

Đây là những nông hộ cung cấp lượng nông sản hàng hóa lớn cho xuất khẩu

Tuy nhiên những vấn đề như dịch bệnh, giá cả bấp bênh và thiếu thông tin thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của mô hình

Mô hình liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công nghiệp thâm canh lúa, màu

Mô hình này đã và đang phát triển có hiệu quả ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Loại mô hình này có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ, giữa hộ với các chủ thể thu gom, chế biến, xuất khẩu Để mô hình phát triển cần đảm bảo quy trình kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, chuồng trại hiện đại, có giống lợn và giống lúa tốt Bên cạnh đó các chủ hộ cũng cần phải xác định quy mô hợp lý, chủ động nguồn thức ăn và nắm bắt thông tin thị trường tiêu thụ

Mô hình sản xuất cây giống – vật nuôi

Đây là mô hình phát triển sản xuất giống cây trồng ở trung du, miền núi

( giống cà phê, cao su, chè, cây ăn quả các loại) Giống vật nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đồng Bằng Sông Hồng, ven biển ( giống tôm, cua, cá, ba ba) Mô hình này rất hấp dẫn về các giống mới, đặc sản, giống sạch, có chất lượng và sản lượng cao, có giá trị trên thị trường và xuất khẩu Mô hình này cho lãi cao nhưng chủ thể phải có vốn lớn, nắm vững KHKT, việc nhân rộng không dễ

Mô hình nuôi bò sữa – chế biến – tiêu thụ tại chỗ

Mô hình này được phát triển ở ngoại thành Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hoặc các vùng có điều kiện thuận lợi như Mộc Châu ( Sơn La), Vĩnh Phúc, Lâm Đồng Nếu chế biến và Marketing tốt, có trang bị thiết bị hiện đại, tổ

Trang 22

chức quản lý tốt, bảo đảm vệ sinh an toàn thì mô hình này sẽ đạt hiệu quả và phát triển bền vững Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đang gặp khó khăn do giá cả biến động theo chiều hướng không thuận lợi cho nông dân

Mô hình chuyên canh rau, hoa, quả xuất khẩu dịch vụ thương mại tại nhà

Mô hình này hiện đang phát triển mạnh tại vùng ven Đà Lạt ( Lâm

Đồng), vùng có khí hậu á nhiệt đới như: Sa pa ( Lao Cai), Lạng Sơn, Cao

Bằng, Tam Đảo ( Vĩnh Phúc), Lục Ngạn ( Bắc Giang) Để mô hình này phát triển các hộ phải nâng cao chất lượng, hình thức, khả năng bảo quản và uy tín trên thị trường

Mô hình Nông – Lâm kết hợp

Loại mô hình này được phát triển rộng rãi ở vùng trung du và miền núi Cây trồng gồm: Cây rừng, cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp, cây

đặc sản Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim…Hoạt động lâm

nghiệp như bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế, chăm sóc, cải tạo rừng…Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc

Hiện nay một số nơi đã xuất hiện các ngành nghề như dịch vụ du lịch sinh thái, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu Mô hình này còn khó khăn về vốn, khả năng ứng dụng KHKT, hạ tầng cơ sở…

Mô hình sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

Mô hình này thường hoạt động thành làng, gần đây có nơi đã phát triển thành quy mô nhiều làng, xã Dù hoạt động tiểu thủ công nghiệp có phát triển nhưng đa phần các hộ gia đình đều không quyên giữ đất để sản xuất và chăn nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm Mô hình này đang có những tồn tại

về mặt bằng sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, rất cần có quy hoạch lại

Mô hình sản xuất – kinh doanh tổng hợp

Mô hình này hình thành ở các thị trấn thị xã hoặc các trung tâm cụm xã theo đầu mối giao thông Sản xuất nông lâm nghiệp – kinh doanh tổng hợp là

mô hình kinh tế hộ ngày càng có hiệu quả ở nhiều địa phương nhất là các tỉnh Trung Du, miền núi

Xu hướng phát triển kinh tế hộ gia đình này sẽ thành các trang trại gia

đình hoặc DN tư nhân Đồng thời có quy mô và có vốn lớn, các hộ này còn

kinh doanh phân bón, vật liệu xây dựng hoặc thu gom, chế biến sản phẩm.[8]

Trang 23

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ tại một số nước trên thế giới

Kinh tế nông hộ xuất hiện lần đầu tiên ở một số nước Tây Âu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và đã đem lại hiệu quả về kinh tế -

xã hội rõ rệt Sau đó kinh tế nông hộ phát triển ở tất cả các nước công nghiệp hoá Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Đại Dương cho đến nay Ở Châu Á, kinh tế nông hộ được hình thành và phát triển ở một số nước công nghiệp hoá đầu tiên của châu lục này từ những năm 50 và đến nay cũng đang xuất hiện ở nhiều nước đang phát triển trên con đường đi lên công nghiệp hoá

Ở Châu Á, vùng Đông Bắc Á bao gồm: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là

những quốc gia phát triển kinh tế nông hộ đầu tiên và phát triển mạnh mẽ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Các quốc gia này đã lần lượt tiến hành cải cách ruộng đất, xoá bỏ quan hệ sở hữu ruộng đất và phương thức sản xuất phong kiến, tạo điều kiện cho kinh tế hộ nông dân tiểu nông trở thành các đơn vị tự chủ sản xuất hàng hoá theo mô hình nông hộ Đông Bắc Á là vùng đất ít, người đông quy

mô đất đai của hộ nông dân nhỏ bé nên nông hộ vùng này cũng có quy mô nhỏ

bé nhất thế giới Bình quân diện tích đất đai của một nông hộ chỉ trên dưới 1 ha,

so với bình quân nông hộ của Tây Âu là 20 - 30 ha và của Mỹ là 150 - 180 ha thì nhỏ hơn 20 - 30 lần đến 100 - 200 lần Hiện nay, hầu hết các quốc gia ở vùng này phát triển nông hộ theo hướng giảm số lượng và tăng quy mô nông hộ, theo quy luật đã diễn ra ở các nước công nghiệp hoá Âu Mỹ, trên cơ sở tích tụ ruộng

đất Nhưng do đặc thù là quỹ đất hạn chế nên mặc dù số lượng nông hộ giảm

nhiều song quy mô nông hộ tăng chậm và vẫn còn nhỏ bé

Nhật Bản là một quốc gia điển hình cho vùng Đông Bắc Á Mặc dù các nông hộ có quy mô nhỏ bé nhưng trong quá trình công nghiệp hoá đã ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả cao các thành tựu KHCN hiện đại về giống cây trồng, vật nuôi, các loại vật tư kỹ thuật nông nghiệp, phân bón cho cây trồng, thức ăn công nghiệp cho gia súc, năng lượng cơ điện, nước, gió, các máy móc thiết bị nông nghiệp và ứng dụng đồng bộ vào các chu trình sản xuất và chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cao và năng suất lao động nông nghiệp cao

Trang 24

Ở các nước đang phát triển Châu Á, khi bước vào quá trình công nghiệp

hoá có nhu cầu về nông sản hàng hoá nên một bộ phận hộ tiểu nông có ruộng

đất, vốn, năng lực kinh doanh đã thoát khỏi sản xuất tự túc tiến lên sản xuất nông

nghiệp hàng hoá với mức độ từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều theo mô hình kinh

tế nông hộ Một vật cản hạn chế sự chuyển dịch theo mô hình nông hộ ở các nước này là chưa xóa bỏ được quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ với phương thức phát canh thu tô nên chưa hình thành được một tầng lớp nông dân tự chủ sản xuất kinh doanh Riêng Trung Quốc và Việt Nam đã hoàn thành cải cách ruộng đất một cách triệt để, sau thời kỳ hợp tác hoá nay các hộ nông dân đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, được quyền sở hữu ruộng đất ổn định, lâu dài từ đó

tạo đà cho kinh tế nông hộ phát triển

1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế hộ tại Việt Nam

Ở Việt Nam sau khi hoàn thành cải các ruộng đất kinh tế hộ ngày càng

phát triển và hiệu quả sản xuất không ngừng được nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Khoa học kỹ thuật đã được áp dụng vào sản xuất của từng nông hộ cũng đã góp phần tăng năng suất lao động trong hộ Các nghị quyết của Đảng đã đưa ra các chủ chương về phát triển 5 thành phần kinh tế và 3 chương chình kinh tế lớn của nhà nước: Hộ nông dân là chủ thể sản xuất với việc ban hành các chính sách lớn như giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng cho vay vốn đến nông hộ, mở rộng tín dụng nông thôn, thực hiện xóa đói giảm nghèo những chủ chương lớn của Đảng

đã làm tăng lòng tin, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho hộ, kinh tế hộ

nông dân đã có nhiều thay đổi lớn, đã làm cho sản xuất lương thực không ngừng được tăng lên

Đối với nước ta, kinh tế nông hộ quy mô còn nhỏ và phân tán Lượng

vốn còn ít ỏi nhưng kinh tế nông hộ cũng đã cung cấp cho xã hội 95% sản lượng thịt, 90% lượng trứng, 93% sản lượng rau quả Sản xuất nông nghiệp của hộ chiếm 48% giá trị tổng sản lượng của ngành nông nghiệp

Kinh tế hộ ở Việt Nam cũng đã có nhưng hướng phát triển khác nhau ở từng địa phương trên cả nước như:

Bắc Ninh: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bắc Ninh có

nhiều nỗ lực trong thực hiện chủ trương cho vay hộ sản xuất, trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển địa phương

Trang 25

Từ đó đến nay, hàng ngàn hộ nông dân trên địa bàn đã được tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng Với thủ tục vay vốn ngày càng đơn giản, thuận tiện, thời gian nhanh hơn, số tiền vay nhiều hơn, phong cách phục vụ tận tình chu đáo hơn, ngân hàng đã luôn đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các hộ nông dân thúc

đẩy phát triển trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng các mô hình trang trại, VAC … tạo

việc làm thu nhập ổn định, từng bước xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu

Chủ trương cho vay hộ sản xuất trong 15 năm qua ở địa phương là chính sách tín dụng ngân hàng đã đến với 100% thôn xóm, làm thay đổi hản quan niệm, nhận thức của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội và nhất là các người dân về tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi hộ nông dân nói riêng và của cả địa phương nói chung Đây chính là bài học kinh nghiệm để trong thời gian tới, ngân hàng tiếp tục chính sách đẩy mạnh tuyên truyền các chủ trương chính sách tín dụng tới mọi địa bàn, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với các cấp các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai nhanh chóng kịp thời và hiệu quả nguồn vốn vay đến các hộ nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng góp tích cực cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Phong trào hộ nông dân thi đua sản xuất giỏi của Trung ương hội nông dân Việt Nam phát động được các cấp hội và nông dân tỉnh Bắc Ninh hưởng

ứng Các cấp hội Nông dân xác định đây là phong trào trọng tâm, nòng cốt có

ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới của hội viên Thực hiện tốt phong trào này sẽ góp phần xây dựng nông nghiệp, nông thôn

Hà Giang: Huyện Bắc Quang được coi là một huyện đồng bằng của tỉnh

Hà Giang, nhờ có địa hình tương đối thuận lợi cho sản xuất nông - lâm - ngư và công nghiệp phát triển lại nằm ngay cửa ngõ phía nam của tỉnh, có Quốc lộ 2 đi qua và cũng là con đường duy nhất cho giao thông Hà Giang nối liền các tỉnh nội địa và nối liền với cửa khẩu quốc gia Thanh Thủy Nhờ đó mà mô hình kinh

tế hộ nông dân được chọn làm mũi nhọn phát triển kinh tế nơi đây

Với lợi thế của mình những năm qua, Bắc Quang đã có nhiều giải pháp phát triển kinh tế, lấy kinh tế hộ nông dân làm mũi nhọn, làm ra phong trào

Trang 26

làm kinh tế hộ nông dân vừa và nhỏ theo định hướng hàng hóa Những mô hình kinh tế hộ đã trở thành điểm mẫu để người nông dân trong thôn, xã học hỏi và nhân rộng thành phong trào đều khắp toàn huyện

Các mô hình kinh tế đều có sự liên kết giữa các hộ với nhau, tạo ra một lượng hàng hóa nhất định có sự thống nhất về giá cả cho từng loại sản phẩm,

đủ điều kiện để cung cấp cho thị trường hay tư thương theo từng chu kỳ chăn

nuôi hay mùa vụ sản xuất Để trao đổi hàng hóa thuận lợi, Huyện Bắc Quang xây dựng hàng chục chợ xã và cụm ngoài xã những chợ truyền thống, đây vừa

là đầu mối thu gom tiêu thụ sản phẩm vừa là những “vệ tinh” kinh tế, giúp người nông dân tiêu thụ sản phẩm một cách nhanh chóng và đúng giá Đồng thời các chợ đầu mối này cũng là nơi thu hút các nhà đầu tư các doanh nghiệp,

tư thương có cái nhìn đúng, đánh giá chính xác để đầu tư chế biến các mặt hàng nông lâm sản ở từng khu vực và mô hình kinh tế trên địa bàn huyện

Cao Bằng: Cao Bằng có gần 95.000 ha (chiếm 14,12% đất tự nhiên

toàn tỉnh) đất dành cho sản xuất nông nghiệp, trên 534.000 ha (trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh) đất lâm nghiệp có rừng và trên 400 ha đất nuôi trồng thủy sản (2009)

Trong năm năm trở lại đây, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng GPD có xu hướng giảm dần, song vẫn có đóng góp tương đối lớn trong GDP toàn tỉnh Tính tới năm 2010, ngành đã đóng góp 35,37% trong tổng số GDP của tỉnh Cao Bằng

Là một tỉnh miền núi biên giới, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khắc nghiệt song ngành nông nghiệp của Cao Bằng vẫn khá phát triển Giá trị sản xuất của ngành liên tục tăng qua các năm Năm 2003, giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh chỉ đạt xấp xỉ 689 tỷ đồng, đến năm 2009, con

số này tăng lên 734 tỷ đồng (giá so sánh 1994) Cơ cấu ngành nông nghiệp chia thành 3 ngành chính là trồng trọt (chiếm trên 65% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp), chăn nuôi (chiếm trên 30%) và dịch vụ (dưới 5%)

Để phát triển và có được những thành tựu đó thì một loại hình kinh tế được sản xuất phổ biến đó là kinh tế hộ gia đình, do có điều kiện địa hình

không thuận, các nguồn đầu tư còn hạn hẹp nên các trang trại chưa được hình

Trang 27

thành nhiều vì vậy kinh tế hộ nông dân vẫn là loại hình sản xuất chủ yếu của người dân trên địa bàn tỉnh Nó đã góp phần vào nâng cao đời sống của người dân, đóng góp vào GDP của tỉnh và của cả nước

Cây trồng chủ yếu của tỉnh gồm các cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn); cây công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá); cây ăn quả (lê, mận, cam, hạt dẻ); cây rau, đậu và gia vị; và cây công nghiệp (chè đắng)

Ngành chăn nuôi của Cao Bằng tập trung vào các loại gia súc lớn như trâu, bò, ngựa; gia súc nhỏ như lợn, dê, và các loại gia cầm Cao Bằng có 2 giống bò địa phương là bò Cỏ và bò U H’Mông, trong đó bò U H’Mông có trọng lượng lớn, chất lượng tốt

Trong thời gian tới, tỉnh có dự án phát triển hơn nữa về kinh tế hộ như:

đầu tư vốn cho người dân sản xuất, tập huấn cho người dân về kỹ thuật sản

xuất, dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào thực tế nhằm góp phần tăng năng xuất cây trồng vật nuôi và thu nhập của người dân cũng tăng lên

đời sống người dân đi vào vào ổn định và dần dần được nâng cao

Thái Nguyên: Trong những năm qua, với sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên

đã có những bước tiến dài và chuyển biến toàn diện Trước xu thế hội nhập,

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên tiếp tục hướng đến những mục tiêu mới và tầm nhìn đó được cụ thể hóa bằng quy hoạch nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên thời kỳ 2011 - 2020 Một trong những mục tiêu phát triển tổng quát của Thái Nguyên là phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với xây dựng nông thôn mới làm thay đổi cơ bản nông thôn Thái Nguyên về hạ tầng, về văn hóa xã hội và

về đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn Nhờ đó mà mô hình kinh tế hộ nông dân được chọn làm mũi nhọn phát triển kinh tế nơi đây Các

mô hình kinh tế đều có sự liên kết giữa các hộ với nhau, tạo ra một lượng hàng hóa nhất định có sự thống nhất về giá cả cho từng loại điều kiện để cung cấp cho thị trường và xuất khẩu.|10|

1.2.3 Một số mô hình kinh tế hộ tiêu biểu

+ Làm giàu từ mô hình vườn rừng của gia đình Bà Chu Thúy Sung ở thôn Quảng Trung 2, xã Quảng Lạc, thành phố Lạng Sơn, 60 tuổi và là công nhân đã nghỉ hưu:

Trang 28

- Học hỏi những khoa học kĩ thuật và cách chăm sóc trong trồng trọt và chăn nuôi

- Vay vốn đầu tư 80 triệu đồng mua cây con giống và thuê nhân công lao động cả tạo vùng đất bỏ hoang trở thành một khu vườn rừng trồng cây ăn quả tổng hợp, đem lại nguồn lợi kinh tế cao

- Lựa chọn những cây trồng phù hợp với vùng đất và cho năng suất cao: Cây ăn quả: Vải thiều, hồng Bảo Lâm, Trám trắng, Cam, Quýt…Cây bầu gió ( cây trầm hương ), hạt dẻ Trùng Khánh

- Kết hợp chăn nuôi gia cầm, ong lấy mật

Kết quả thu được: Hiện nay gia đình bà có 11,3 ha vườn rừng, trong đó 4,5 ha trồng cây thông đang cho khai thác lấy nhựa, 6,8 ha diện tích đất còn lại bà trồng 4.900 cây ăn quả các loại: Vải thiều, hồng Bảo Lâm, Trám trắng, cam, quýt và 1.000 cây bầu gió (cây trầm hương) trong đó cây dẻ Trùng Khánh và cây Vải thiều muộn không hạt chiếm số lượng lớn, đã cho thu hoạch Tổng thu nhập của chăn nuôi và trồng trọt trên dưới 150 triệu

đồng/năm

Kinh nghiệm:

Cần cù chịu khó, nỗ lực, dám nghĩ dám làm

Tham khảo một số mô hình phát triển kinh tế gia đình của một số gia

đình làm tại trang trại cho thu nhập cao và rút ra kinh nghiệm, và những

người có chuyên môn: cán bộ xã, cán bộ khuyến nông…

Không chỉ biết cách áp dụng khoa học kĩ thuật vào chăm sóc là đủ mà còn đòi hỏi phải phù hợp với đất đai thổ nhưỡng mới đem lại hiệu quả kinh tế

Lấy ngắn nuôi dài, tức là chăn nuôi gia cầm và ong bước đầu tạo thu nhập cho gia đình và lấy vốn đẻ chăm sóc cây trồng

Làm khinh tế vườn rừng không được nóng vội, phải kiên trì, chịu khó quan sát sự phát triển của các loài cây

+ Mô hình Vườn Rừng của ông Nguyễn Thanh Sơn thôn Đầm Hồng 1,

xã Ngọc Hội, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

- Ông làm trang trại bắt đầu từ năm 1999, ông đấu thầu với Lâm trường Chiêm Hóa (nay là Công ty Lâm nghiệp Chiêm Hóa) 1 ha ao để nuôi cá

Trang 29

- Ông quy hoạch ao, một phần diện tích ao rào lại đẻ nuôi 500 con vịt siêu trứng, diện tích ao còn lại ông nuôi cá thịt

- Ông xây lò ấp trứng, với số trứng ông thu được mỗi ngày, một phần trứng ông bán, phần còn lại mang ấp để bán trứng vịt lộn

- Đến năm 2003 ông xây hệ thống chuồng nuồi lợn cạnh ao cá thịt, vừa thuận tiện vệ sinh chuồng trại, vừa tận dụng chất thải làm thức ăn cho cá Phương pháp nuôi kết hợp cho ăn thức ăn công nghiệp và ngô, sắn của gia

đình sản xuất ra, cộng thêm bỗng rượu, mỗi năm gia đình ông nuôi 2 lứa lợn,

mỗi lứa 50 đến 55 con lợn

- Cùng với chăn nuôi, ông Sơn nhận 2 ha đất đồi đẻ trồng keo, mỡ (cây keo

to hiện có đường vành trên 40 cm) Trên vườn rừng ông kết hợp nuôi gà thả

Kết quả thu được:

Với cách làm này, từ năm 2005 tới nay mỗi năm ông bán được trên 5 tấn lợn thịt, thu trên 180 triệu đồng

Từ đầu năm 2008 đến nay, ông khai thác chặt tỉa bán gỗ, củi cho thu nhập 35 triệu đồng

Năm 2008, tổng thu nhập của gia đình ông từ nuôi vịt, cá, gà, lợn, vườn rừng, cây ăn quả đạt 844,4 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi 190 triệu đồng Với

mô hình kinh tế trang trại, gia đình ông Sơn còn tạo được việc làm cho 2 lao

động tại địa phương, với mức thu nhập 1,5 triệu đồng/người/tháng

Kinh nghiệm của gia đình:

+ Năng động, nhạy bén, dám nghĩ dám làm

+ Nghiên cứu khả năng của bản thân, gia đình, học tập kinh nghiệm các

mô hình sản xuất giỏi, tranh thủ sự giúp đỡ từ nhiều phía: Gia đình, anh em, người dân trong thôn

+ Tham khảo ý kiến với cán bộ xã, với những người có chuyên môn, với cán bộ khuyến nông

+ Sắp xếp lao động hợp lý, đổi công cho anh em trong gia đình, họ hàng Sử dụng lao động dư thừa của bà con dân tộc vào lúc nông nhàn như: Thuê, vay công

+ Tranh thủ sự giúp đỡ, trợ giúp của lâm trường, tập thể và Nhà nước

Trang 30

+ Bản thân là người quyết định các hoạt động kinh tế trong gia đình, phải học và hiểu được các kiến thức cơ bản để áp dụng trong công việc, biết cách ghi chép, lập kế hoạch và hạch toán sản xuất, biết cách chi tiên hợp lý trong gia đình và phân bố đầu tư cho sản xuất

Phát triển kinh tế hộ gia đình bằng cách phát triển rừng tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn [11]

+ Đặc điểm xã Bình Trung:

Xã Bình Trung có diện tích tự nhiên hơn 6.500 ha nhưng chí có gần

300 ha đất nông nghiệp, còn lại là rừng và đất lâm nghiệp Trên địa bàn xã có nhà máy sản xuất giấy đế Bình Trung thường xuyên tiêu thụ lâm sản cho nhân dân và tỉnh lộ 254 chạy xuống tỉnh Thái Nguyên Dân sinh sống ở xã chủ yếu

là dân tộc H’Mông

+ Chiến lược của xã:

Xác định phát triển lâm nghiệp là lĩnh vực sản xuất chính ở địa phương,

đến nay Bình Trung đã cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho nhân dân

quản lý, sử dụng Rừng có chủ nên được khoanh nuôi, bảo vệ tốt, không còn tình trạng cháy rừng, phát, phá rừng làm nương rẫy như những năm trước

Việc khoanh nuôi, tỉa thưa rừng vầu, tre bán cho nhà máy sản xuất giấy

đế Bình Trung đã mang lại nguồn thu nhập chính cho bà con

+ Kết quả:

Tại xã đã có rất ngiều hộ gia đình giàu lên nhờ kinh tế rừng Chỉ tính riêng năm 2010, nhân dân tròn xã Bình Trung đã bán 1.226 tấn nguyên liệu giấy và hàng nghìn khối gỗ rừng trồng với số tiền thu được gần 1 tỷ đồng Giải quyết việc làm và thu nhập ổn định từ rừng là động lực để nhân dân tích cực tồng rừng sản xuất Từ năm 2005 đến năm 2010, nhân dân xã Bình Trung

đã trồng được 542 ha rừng, chủ yếu là keo và mỡ Trong đó, Nhà nước đầu tư

vốn hơn 134 ha, diện tích còn lại là do nhân dân tự đầu tư Do đó, tỉ lệ che phủ của rừng đã nâng lên từ 50% năm 2005 lên hơn 60% diện tích tự nhiên như hiện nay Diện tích rừng trồng, chỉ vài năm nữa sẽ cho thu hoạch, mang lại nguồn thu lớn cho nhân dân trong xã Từ kinh tế rừng mang lại, đời sống nhân dân Bình Trung được cái thiện rõ rệt Mỗi năm giảm bình quân 5% số

Trang 31

hộ nghèo, đến nay 80% số hộ trong xã có điện lưới quốc gia, có ti vi và cơ bản không còn nhà tạm

đất lâm nghiệp Hơn nữa vì chu kì trồng rừng phải sau bảy đến tám năm mới

cho khai thác mà thời gian vay vốn chỉ có hạn Nếu giải quyết được hai vấn

đề này thì kinh tế lâm nghiệp ở huyện Chợ Đồn sẽ phát triển hơn

Quang Thuận cũng là một xã có diện tích rừng khá lớn 2423,58 ha và

có những điều kiện tự nhiên - xã hội tương tự như ở xã Bình Trung, vì vậy có thể học hỏi thông qua những kinh nghiệm trồng rừng và sử dụng rừng một cách kinh tế và bền vững của người dân xã Bình Trung nhằm tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong xã

Vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra những giải pháp

Phát triển kinh tế hộ gia đình luôn là đối tượng được mọi người quan tâm và nghiên cứu, nếu kinh tế gia đình phát triển, đời sống con người được nâng cao thì nền kinh tế của đất nước đó mới có thể phát triển một cách bền vững được Vì vậy nghiên cứu vấn đề này sẽ không bao giờ là cũ cả do nếu

đặt kinh tế hộ gia đình trong bối cảnh đất nước như lúc các nhà khoa học đang

nghiên cứu và đưa ra giải pháp thì nó chỉ hợp lý lúc đó, còn khi kinh tế của thế giới cũng như kinh tế trong nước biến động thì liệu nó còn hợp lý nữa hay không? Hơn nữa gia đình ở nông thôn là những người chủ yếu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, vậy để đảm bảo ổn định lương thực cho gần 90 triệu dân trong một vài năm nữa như ở nước ta thì chính phủ cùng các nhà khoa học phải nghiên cứu bản chất của vấn đề đó là kinh tế hộ gia đình Theo ông

Trang 32

Donald Coxe ( nhà chiến lược hàng đầu của Tập đoàn Tài chính BMO ) đã phát biểu tại câu lạc bộ đầu tư ở thành phố Toronto, Canada: “ Thách thức lớn nhất đối với thế giới không phải là 100 USD/thùng dầu, mà thế giới phải có

đủ lương thực cho các tầng lớp trung lưu mới và vì vậy đòi hỏi phải tăng sản

lượng lương thực ”[9]

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Người dân, các hộ gia đình trong xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Các vấn đề về kinh tế, xã hội của Xã Trung Hội

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi nghiên cứu về không gian

Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Trung Hội, huyện Định Hóa,

tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2011-2013

- Thời gian tiến hành

Từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014

- Nội dung nghiên cứu

+ Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội giai đoạn năm 2011-2013

+ Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong quá trình phát triển kinh tế hộ tại xã

+ Nghiên cứu các tác động của các chính sách có tác động tới phát triển kinh tế hộ tại xã

+ Đưa ra được một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nhằm nâng cao đời sống cho người dân xã Trung Hội

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

- Phương pháp chon mẫu

Xã Trung Hội được chia thành 17 xóm, tôi tiến hành chọn 3 xóm để

điều tra 3 xóm được chọn gồm xóm Làng Mố, xóm Làng chủng và xóm Đồng Mon , trong 3 xóm đó chọn ra 60 hộ đại diện cho tổng thể xã, là những

xóm có cả sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp và dịch vụ

Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngâu nhiên của 3 xóm này tùy thuộc vào tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ trung bình, hộ khá

Trang 34

3 xóm có tổng số hộ là 303 hộ trong đó có 32 hộ khá, 184 hộ trung bình,

41 hộ cận nghèo, 46 hộ nghèo

Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên lập mỗi nhóm hộ một danh sách đánh số thứ tự cứ cách 5 hộ chọn 1 hộ để điều tra Từ đó chọn ra được hộ khá là 6 hộ, hộ trung bình 37 hộ, hộ cận nghèo 8 hộ, hộ nghèo 9 hộ

- Phương pháp chuyên gia

Phỏng vấn cán bộ xã về tình hình phát triển chung của toàn xã như thu nhập, các chính sách có ảnh hưởng đến kinh tế của xã…

Phỏng vấn trưởng thôn nhằm đánh giá tình hình chung của thôn như dân số, đất đai, thuận lợi, khó khăn…

- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc

Phỏng vấn hộ gia đình có sử dụng phiếu điều tra: điều tra 4 nhóm hộ là

hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ trung bình, hộ khá Với số phiếu điều tra là 60 phiếu

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Thu thập số liệu thứ cấp qua các văn bản, báo cáo, tạp chí, các nghị

định, chính sách và các số liệu liên quan đến tình phát triển kinh tế hộ tại địa

phương năm 2011 - 2013

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu và sử lý thông tin

Số liệu điều tra được tổng hợp theo hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu, các số liệu sử dụng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội để phân tích, so sánh, đánh giá kết quả theo từng nhóm đối tượng, lĩnh vực sản xuất kinh doanh

Phân tích tài liệu

Phương pháp so sánh

Dùng để so sánh tình hình phát triển kinh tế - xã hội của xã từ năm

2011 đến 2013 và kinh tế hộ của các nhóm hộ với nhau Làm rõ được các cách thức phát triển kinh tế của các hộ được điều tra So sánh phương thức sản xuất và điều kiện phát triển kinh tế của các nhóm hộ với nhau

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

Chỉ tiêu về điều kiện phát triển kinh tế hộ

- Diện tích đất sản xuất, năng suất, sản lượng các loại cây trồng

Trang 35

- Sản lượng vật nuôi ( gia súc, gia cầm…) giá trị sản lượng

- Số lượng và giá trị ngành nghề dịch vụ các loại hoạt động kinh tế khác

- Lao động bình quân/hộ, nhóm hộ

- Giá trị sản xuất bình quân/hộ, nhóm hộ

Chỉ tiêu thể hiện kết quả sản xuất và thu nhập của hộ

Các chỉ tiêu về sản xuất và thu nhập của người dân:

+ Tổng giá trị sản xuất (GO)

+ Giá trị tăng thêm (VA): Là phần giá trị sản xuất còn lại sau khi trừ

đi chi phí trung gian

VA = GO – IC

+ Thu nhập hỗn hợp (MI)

MI = VA – ( A + L + T + r )

A : Là khấu hao tài sản cố định

L : Chi phí thuê lao động thường xuyên

Trang 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Trung Hội

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 vị trí địa lý

Trung Hội là xã miền núi, nằm ở phía nam huyện Đinh Hóa, tỉnh Thái Nguyên, các trung tâm huyện 05 km theo đường quốc lộ 268 Ranh giới hành chính xã Trung Hội các phía giáp:

+ Phía Đông giáp: xã Phượng Tiến – Định Hóa và xã Yên Trạch - Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

+ Phía Tây giáp: xã Trung Lương - Định Hóa

+ Phía Nam giáp: xã Bộc Nhiêu và xã Phú Tiến – Định Hóa

+ Phía Bắc giáp: xã Đồng Thịnh và Bảo Cường – Định Hóa

Xã Trung Hội được chia làm 17 xóm, có 5 dân tộc anh em cùng sinh sống với tổng diện tích đất tự nhiên là 1255.58 ha

3.1.1.2 Địa hình

Do cấu trúc của địa hình xã, chủ yếu là vùng núi cao, đồi và núi đan xen, chèn kẹp nhau Nhìn chung xã Trung Hội có địa hình khá phức tạp, phần lớn diện tích trên hành chính xã là vùng núi cao, có độ dốc lớn, địa hình hiểm trở bị chia cắt mạnh Những vùng đất tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất Nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven suối hoặc thung lũng vùng núi đá vôi Sự phân bố địa hình trên lãnh thổ với quá trình sản xuất đã tạo nên 3 tiểu vùng sinh thái: Tiểu vùng núi cao, tiểu vùng thung lũng và tiểu vùng đồi thoải

3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu mang khí hậu đặc trưng của khí hậu miền Bắc Bộ, có 2 mùa mưa và mùa khô rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng

11 năm trước đến tháng 3 năm sau (số mưa bình quân 137 ngày), lượng mưa trung bình 1.710mm/năm Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng đều, mưa tập trung vào từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm 90% lượng mưa cả năm

Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,5 độ, các tháng nóng nhất là các tháng mùa mưa, nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình là

Trang 37

28,7 độ, nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình là 15 độ Biên

độ nhiệt ngày đêm trung bình khá lớn trên 7 độ

Nguồn nước: Xã Trung Hội có 4 hồ và 2 đập lớn, đây là nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra còn có hệ thống kênh mương bắt nguồn từ hồ Bảo Linh (thuộc xã Bảo Linh – Định Hóa) về phục vụ tưới tiêu cho vùng phía Bắc của xã và các xã lân cận Các kênh mương nội

đồng trên phạm vi của xã ngày càng hoàn thiện kiên cố hóa kênh mương

3.1.1.4 Đất đai

Xã Trung Hội có tổng diện tích đất tự nhiên là: 1.255,58 ha, đất đai có một số loại chính như sau:

- Đất feralit đỏ vàng phân bố ở các vùng có độ dốc từ 15- 25 độ, loại

đất này phù hợp với loại cây trồng như chè, ngô, lúa, sắn, cây cọ và cây keo

- Đất thung lũng và sản phẩm dốc tụ, đất này được phân bố ở dọc khe suối và thung lũng đá vôi, địa hình tương đối bằng phẳng Hiện nay đất này đã dần được khai thác để trồng cây lúa nước và các loại cây hoa màu ngắn ngày khác

- Ngoài ra xã còn có các loại đất khác như: đất mầu nâu vàng trên mẫu

đất phù sa cổ, đất biến đổi do trồng lúa nước Số lượng không đáng kể nằm

dải rác trên địa bàn xã

Tình hình sử dụng đất của xã được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Trung Hội giai đoạn năm

Trang 38

Từ bảng số liệu trên ta thấy tổng số diện tích đất tự nhiên của xã Trung Hội là 1.255,58 ha, trong đó:

Diện tích đất lâm nghiệp chiếm diện tích đất lớn nhất với tổng diện tích

đất năm 2011 là 604,44 ha so với tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã Với

diện tích đất lớn người dân chủ yếu chủ yếu là trồng cây keo, cây cọ Đến năm 2012 diện tích đất lâm nghiệp là 603,54 ha có xu hướng giảm so với năm

2011 do người dân khai thác Nhưng đến năm 2013 xã đã có một số chương trình trồng rừng được hỗ trợ về giống và phân bón nên diện tích trồng rừng đã

được tăng lên

Đất sản xuất nông nghiệp của xã chiếm 416,39 ha (năm 2011) so với

tổng diện tích đất tự nhiên Đất nông nghiệp của xã Trung Hội chủ yếu để trồng cây chè, lúa nước, ngô, khoai tây…Đây là nguồn thu nhập chủ yếu của người dân trong xã Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng tăng lên năm

2012 diện tích đất nông nghiệp là 603,54 ha, đến năm 2013 diện tích đất tăng lên là 605,54 ha

Diện tích đất mặt nước của xã chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với diện tích đất

tự nhiên, do người dân không canh tác thủy sản

Diện tích đất chưa sử dụng giảm do diện tích đất lâm nghiệp và nông nghiệp tăng

Qua bảng tình hình sử dụng đất của xã Trung Hội thì người dân của xã chủ yếu là trồng rừng và sản xuất nông nghiệp trồng cây lúa nước vì vậy đây cũng là nguồn thu chính của các hộ gia đình trong xã

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Về tình hình dân số và dân tộc

Xã Trung Hội được chia ra làm 19 xóm Tính đến ngày 31/12/2013 thì toàn xã có 1.293 hộ với 4.692 người trong đó có 2.137 nam và 2.555 nữ Mật

độ dân số bình quân là 300 người/km2

Toàn xã có 5 dân tộc anh em cùng sinh sống đó là các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chí

+ Dân tộc Kinh có 445 hộ với 1.619 người, chiếm 34,5% tổng dân số toàn xã

Trang 39

+ Dân tộc Tày có 378 hộ với 1.371 người, chiếm 29,2% tổng dân số toàn xã + Dân tộc Nùng có 263 hộ với 956 người, chiếm 20,4% tổng dân số toàn xã + Dân tộc Dao có 168 hộ với 606 người, chiếm 12,9% tổng dân số toàn xã + Dân tộc Sán Chí có 39 hộ với 140 người, chiếm 3,0% tổng dân số toàn xã Dân tộc kinh là dân tộc chiếm tỷ lệ dân số cao nhất 34,5% so với tổng dân số toàn xã Trong xã có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống nên các phong tục tập quán của các dân tộc cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất của các hộ gia đình

3.1.2.2 Tình hình lao động và việc làm của xã

Tính đến tháng 12 năm 2013 xã Trung Hội có 1.293 hộ với 4.692 người trong đó có 2.750 trong độ tuổi lao động chiếm 58,61% trong tổng số nhân khẩu toàn xã Trong đó có 2.000 người làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 72,73% tổng số lao động trong xã Số nhân lực đang trong

độ tuổi đi làm ngoài địa phương là 550 lao động chiếm 20% tổng số lao động

toàn xã Ngoài ra là lao động trong các ngành nghề khác Tỷ lệ lao động có trình độ qua đào tạo đạt 10% trong tổng số lao động toàn xã

Bảng 3.2 Tình hình lao động của xã Trung Hội giai đoạn 2011-2013

Năm

1.2 Ngoài độ tuổi lao động 1.983 42,57 1.972 42,11 1.942 41,39

2 Phân nguồn lao động

2.1 Lao động nông nghiệp 2.137 79,89 2.092 77,17 2.000 72,73 2.2 Lao động phi nông nghiệp 583 20,11 619 22,83 750 27,27

( Nguồn: Thống kê của UBND xã Trung Hội năm 2011-2013)

Qua bảng số liệu cho ta thấy lao động của xã Trung Hội qua các năm qua có sự biến đổi không đáng kể Số người trong độ tuổi lao động của xã có

tỷ lệ khá lớn cụ thể là trong năm 2011 chiếm 57,43%, năm 2012 chiếm 57,89%, năm 2013 chiếm 58,61% trong tổng số dân của toàn xã

Tỷ lệ dân cư trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ khá lớn điều này cho thấy xã có nguồn nhân lực khá dồi dào, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho

Trang 40

việc phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, nhưng cũng đòi hỏi xã phải có hướng giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người dân nông thôn

Là một xã có đông dân cư sinh sống người dân lại chủ yếu phát triển nông nghiệp Tỷ lệ người năm trong độ tuổi lao động là phụ nữ cũng chiếm tỷ

lệ lớn hơn so với nam giới, cụ thể năm 2011 số người trong độ tuổi lao động

là 2675 người trong đó nam giới có 1.236 người chiếm 46,21%, nữ giới có 1.449 người chiếm 53,79%, tỷ lệ lao động nữ nhiều hơn lao động nam là 7,58% Vì vậy mà trong phát triển kinh tế hộ không thể không kể đến vai trò của phụ nữ

Lao động trong nghành nghề nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn cụ thể là năm 2011 có 2137 lao động làm trong nghành nông nghiệp chiếm 79,89%

Đến năm 2012 tỷ lệ này 77,17% với 2092 lao động, năm 2013 tỷ lệ lao động

nông nghiệp là 72,73% với 2000 lao động Qua đây có thể thấy tỷ lệ lao động trong nông nghiệp qua các năm có xu hướng giảm nhưng chưa rõ rệt, tỷ lệ lao

động nông nghiệp giảm 7,16% so với năm 2011 vì với thu nhập thấp nên lao động có xu hướng thoát ly khỏi nông nghiệp mà chuyển sang các ngành phi

nông nghiệp với mức thu nhập cao hơn Việc phát triển kinh tế hộ tai địa phương chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp là chính

Tóm lại xã Trung Hội là một xã vùng núi mà người dân chủ yếu là làm nông nghiệp nên năng suất lao động thấp, nguồn lao động của xã khá dồi dào nhưng chưa được sử dụng tối đa do chủ yếu là lao động nông nghiệp nên nhưng lúc nông nhàn người dân không có việc làm nên gây lãng phí nguồn lao động Vấn đề hiện nay là cần giải quyết nguồn lao động lúc nông nhàn của

địa phương để tận dụng tối đa lao động mà lại tăng thêm thu nhập cho người

dân cải thiện cuộc sống

3.1.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng

Trụ sở UBND xã

Xã có một trụ sở UBND nằm ở trung tâm xã được xây dựng kiên cố với các phòng làm việc chuyên môn

Giáo dục

Ngành giáo dục và đào tạo của xã đã thực hiện các chương trình học theo

đúng kế hoạch Toàn xã có 2 trường mầm non với 8 phòng học, có 2 trường tiểu

học và 1 trường trung học cơ sở Mọi trẻ em đủ tuổi đều được đến trường

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Trung Hội giai đoạn năm - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Trung Hội giai đoạn năm (Trang 37)
Bảng 3.4. Thu nhập bình quân của xã trung Hội giai đoạn 2011-2013 - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.4. Thu nhập bình quân của xã trung Hội giai đoạn 2011-2013 (Trang 43)
Bảng 3.5. Giá trị sản xuất nông nghiệp của xã giai đoạn 2011-2013 - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.5. Giá trị sản xuất nông nghiệp của xã giai đoạn 2011-2013 (Trang 45)
Bảng 3.9. Diện tích đất lâm nghiệp của xã Trung Hội giai đoạn năm - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.9. Diện tích đất lâm nghiệp của xã Trung Hội giai đoạn năm (Trang 51)
Bảng 3.11. Tình hình về nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.11. Tình hình về nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ (Trang 55)
Bảng 3.12. Tình hình sử dụng đất đai của các nhóm hộ gia đình trong xã - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.12. Tình hình sử dụng đất đai của các nhóm hộ gia đình trong xã (Trang 56)
Bảng 3.13. Chi phí bình quân về trồng trọt của các nhóm hộ năm 2013 - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.13. Chi phí bình quân về trồng trọt của các nhóm hộ năm 2013 (Trang 58)
Bảng 3.14. Tình hình chăn nuôi của các hộ gia đình năm 2013 - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.14. Tình hình chăn nuôi của các hộ gia đình năm 2013 (Trang 60)
Bảng 3.15. Chi phí bình quân của các nhóm hộ về ngành chăn nuôi. - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.15. Chi phí bình quân của các nhóm hộ về ngành chăn nuôi (Trang 61)
Bảng 3.16. Chi phí sản xuất ngành nghề và dịch vụ của các nhóm hộ - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.16. Chi phí sản xuất ngành nghề và dịch vụ của các nhóm hộ (Trang 62)
Bảng 3.17. Thu nhập từ trồng trọt của các nhóm hộ năm 2013 - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.17. Thu nhập từ trồng trọt của các nhóm hộ năm 2013 (Trang 63)
Bảng 3.18. Thu nhập từ chăn  nuôi của các nhóm hộ năm 2013 - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.18. Thu nhập từ chăn nuôi của các nhóm hộ năm 2013 (Trang 65)
Bảng 3.21. Tổng thu nhập của các nhóm hộ năm 2013 - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.21. Tổng thu nhập của các nhóm hộ năm 2013 (Trang 68)
Bảng 3.22. Tình hình sử dụng tư liệu sản xuất bình quân của các - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Bảng 3.22. Tình hình sử dụng tư liệu sản xuất bình quân của các (Trang 70)
Sơ đồ phân tích ma trận SWTO của sự phát triển kinh tế hộ gia đình - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại xã Trung Hội, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Sơ đồ ph ân tích ma trận SWTO của sự phát triển kinh tế hộ gia đình (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm