Mục tiờu chung Nghiờn cứu thực trạng phỏt triển kinh tế đối với cỏc hộ nụng dõn bị THĐ thu hồi đất để phục vụ cho dự ỏn xõy dựng khu chung cư nhằm đề xuất một số giải phỏp ổn định và phỏ
Trang 1đại học thái nguyên
khoá luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chớnh quy
Chuyờn ngành : Kinh tế nụng nghiệp
Khoa : Kinh tế và phỏt triển nụng thụn
Khúa học : 2010 - 2014
Giảng viờn hướng dẫn : PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Thỏi Nguyờn - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ
nguồn gốc
Sinh viên
Ma Thị Khuyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể và cá nhân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu
đề tài
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS Đinh Ngọc Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, học tập để hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Ban chủ nhiệm khoa KT & PTNT, cùng các thầy cô giáo, những người đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của UBND xã Đắc Sơn, đặc biệt là các cán bộ cùng toàn thể nhân dân xã Đắc Sơn đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm khóa luận
Thái nguyên, tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Ma Thị Khuyên
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất năm 2013 của xã Đắc SơnError! Bookmark not defined.
Bảng 3.2: Kết quả sản xuất của các ngành kinh tế
của xã Đắc Sơn qua 3 năm 2011 – 2013 Error! Bookmark not defined
Bảng 3.3: Dân số và cơ cấu lao động của xã Đắc Sơn qua 3
năm 2011 - 2013 Error! Bookmark not defined
Bảng 3.4: Tình hình biến động đất đai của xã Đắc Sơn 2011 - 2013Error! Bookmark not defined.
Hình 3.1: Biểu đồ tình hình sử dụng đất trước và sau THĐ
của các hộ nông dân bị thu hồi đất của xã Đắc SơnError! Bookmark not defined
Bảng 3.5: Tình hình biến động ngành nghề của hộ trước và sau THĐError! Bookmark not defined Bảng 3.6 Độ tuổi lao động của các nhóm hộ được điều traError! Bookmark not defined.
Bảng 3.7: Trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của lao động ở các hộError! Bookmark not defined Bảng 3.8: Việc làm của các nhóm hộ trước và sau THĐ.Error! Bookmark not defined
Bảng 3.9: Kết quả sản xuất của hộ nông dân trước và sau THĐ.Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.10: Sử dụng tiền đền bù cho chi tiêu của các hộ nông dânError! Bookmark not defined.
Bảng 3.11: Những khó khăn của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đấtError! Bookmark not defined.
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
4 Đóng góp mới của đề tài 3
5 Bố cục của khóa luận 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản và đặc trưng của kinh tế hộ 4
1.1.2 Thu hồi đất và các vấn đề liên quan 7
1.1.3 Những tác động của việc thu hồi đất đến hộ nông dân 11
1.1.4 Khu chung cư 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong vấn đề thu hồi đất đai và giải quyết vấn đề sau mất đất 15
1.2.2 Chính sách đất đai ở Việt Nam 17
1.2.3 Tình hình nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
2.4.1 Chọn điểm nghiên cứu 23
2.4.2 Phương pháp thu nhập thông tin 23
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 23
Trang 72.4.4 Phương pháp phân tích số liệu 23
2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đắc Sơn 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29
3.2 Thực trạng về tình hình thu hồi đất trên địa bàn xã Đắc Sơn 33
3.2.1 Tình hình thu hồi đất tại xã Đắc Sơn 33
3.2.2 Sự biến động đất đai sau thu hồi đất tại xã Đắc Sơn 34
3.2.3 Biến động đất đai của các hộ được điều tra trước và sau khi THĐ 35
3.3 Thực trạng biến động ngành nghề, việc làm của các hộ dân sau THĐ 37
3.3.1 Thực trạng biến động ngành nghề của các hộ trước và sau khi THĐ 37
3.3.2 Thực trạng việc làm của các hộ dân trước và sau khi THĐ 38
3.3.3 Thực trạng thu nhập của các hộ sau THĐ 42
3.3.4 Thực trạng sử dụng tiền đền bù của các hộ 46
3.3.5 Các vấn đề khó khăn của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất 49
3.4 Một số giải pháp phát triển kinh tế cho các hộ nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn xã Đắc Sơn 51
3.4.1 Giải pháp chung 51
3.4.1.1 Giải pháp về lao động 51
3.4.1.2 Giải pháp về vốn 52
3.4.1.3 Giải pháp về đất đai 53
3.4.1.4 Giải pháp về nhóm ngành kinh tế 55
3.4.1.5 Giải pháp về hệ thống cơ sở hạ tầng và tiếp cận thị trường 57
3.4.2 Giải pháp cụ thể cho các hộ bị thu hồi đất 57
3.4.3 Giải pháp liên quan đến huyện 59
3.4.4 Giải pháp từ phía Nhà nước 60
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
4.1 Kết luận 62
4.2 Kiến nghị 63
4.2.1 Đối với Nhà nước 63
4.2.2 Đối với chính quyền địa phương 63
4.2.3 Đối với hộ dân bị thu hồi đất 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quý giá nhất của quốc gia, là cơ sở quan trọng để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Đây là loại hàng hoá đặc biệt, có vị trí
cố định, số lượng không đổi do đó việc bảo vệ, quản lý và sử dụng đất có hiệu quả đã và đang được đánh giá đúng tầm quan trọng thông qua Hiến pháp, cụ thể là tại Luật cũng như các văn bản dưới Luật
Hiện nay chính phủ luôn khuyến khích các doanh nghiệp và các nhà đầu
tư thực hiện mô hình khu chung cư và căn hộ cho thuê giá rẻ Trên thực tế với
sự khó khăn của thị trường bất động sản hiện nay thì đây sẽ là một giải pháp tốt nhằm giảm được phần nào sự tồn đọng của thị trường bất động sản trong thời gian vừa qua Bên cạnh việc đưa ra các chính sách nhằm khuyến khích các doanh nghiệp và nhà đầu tư thì chính phủ còn đưa ra gói kích cầu 30.000 tỷ để hỗ trợ và giúp đỡ thêm cho các doanh nghiệp Ngoài ra với mô hình xây dựng khu chung cư và nhà cho thuê đối với người có thu nhập thấp còn được nhiều sự đãi ngộ khác của chính phủ như: thuế phải trả thấp, gói tín dụng hỗ trợ nhà ở dành cho người thu nhập thấp, các giấy
tờ liên quan đến nhà đất luôn được chính phủ duyệt nhanh chóng cho các doanh nghiệp triển khai xây dựng
Không nằm ngoài sự xu hướng chung của cả nước Vấn đề ổn định và phát triển kinh tế cho các hộ nông dân bị thu hồi đất tại Xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên để xây dựng khu chung cư luôn được cấp chính quyền và được nhân dân quan tâm sâu sắc Thu hồi đất thì người dân, đặc biệt là người nông dân
sẽ mất kế sinh nhai, cần có chính sách cụ thể để tạo công ăn việc làm, ổn định cuộc sống cho họ Đó là vấn đề quan trọng vừa mang tính chiến lược lâu dài
để có thể phát triển bền vững, vừa là vấn đề nổi cộm, bức xúc và nóng hổi cần được giải quyết thỏa đáng để an dân Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài nghiên
cứu: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất để xây dựng khu chung cư tại xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 92 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phân tích được việc làm và kết quả phát triển kinh tế của hộ nông dân
bị THĐ tại địa bàn xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích được khó khăn, thuận lợi của hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất đến phát triển kinh tế hộ gia đình
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế cho hộ nông dân bị THĐ
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức môn học, áp dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tiễn, bổ sung những kiến thức còn thiếu
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng
nghề nghiệp
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và các thông tin thực tiễn về kinh tế hộ
- Cung cấp hệ thống số liệu cho địa phương về thực trạng ảnh hưởng của các hộ bị mất đất sản xuất trên địa bàn Các ứng xử của hộ nông dân, cách sử dụng tiền đền bù của các nhóm hộ
- Giúp địa phương có các chính sách và giải pháp ổn định kinh tế cho hộ nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo thiếu kinh nghiệm và khả năng xoay sở kém, các hộ bị mất nhiều đất sản xuất và đang gặp các vấn đề khó khăn
Trang 104 Đóng góp mới của đề tài
- Đưa ra được thực trạng tình hình kinh tế của hộ nông dân bị mất đất
- Đưa ra giải pháp giúp người dân địa phương phát triển kinh tế sau khi
bị thu hồi đất, khắc phục những khó khăn mà họ gặp phải
- Thấy được biến động về việc làm, biến động nghành nghề, thu nhập
của hộ nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn xã Đắc Sơn
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, khóa luận có 4 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương II: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương IV: Kết luận và kiến nghị
Trang 11Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”
- Theo Liên hợp quốc “Hộ là tất cả những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”
- Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”
Từ những khái niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
- Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ không phải
có cùng huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài…)
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động
và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là
Trang 12một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước…
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống vì hộ
là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh
tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau…[7]
1.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân
Khi tiến hành nghiên cứu mô hình kinh tế nông hộ nhiều học giả trên thế giới đã đưa ra quan điểm riêng của mình về nông hộ và kinh tế nông hộ để làm cơ sở cho việc nghiên cứu Từ đó xây dựng các đề án nghiên cứu, phát
triển kinh tế nông hộ Theo Elis (1988) nông hộ được định nghĩa như sau:
Hộ nông dân là các hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động một trình độ hoàn chỉnh chưa cao
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản, tiến hành sản xuất kinh doanh trên dựa trên các nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm tạo ra thu nhập theo nhiều hình thức khác nhau, chiụ sự tác động của quy luật khách quan trong quá trình tồn tại và phát triển [7]
1.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội,
trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung trong gia đình để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ăn chung, ngủ chung một mái nhà, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ Họ được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện cho phát triển kinh tế
Có ý kiến khác lại cho rằng kinh tế hộ nông dân bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng Kinh tế hộ thể hiện được các loại hoạt động kinh tế trong nông thôn
Trang 13như hộ nông nghiệp, hộ nông – lâm – ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp
Kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở nhiều địa phương nước ta Nó có một vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp Các thành viên kinh tế hộ nông dân là những người
có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống, người chủ quản lý kinh tế hộ nông dân
là chủ hộ Trong khuôn khổ của nền kinh tế, hộ nông dân tham gia vào các khâu trong quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộ điều hành mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ nông dân là một mô hình phổ biến chủ yếu phát triển ở nông thôn, đôi khi còn gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân [7]
1.1.1.4 Đặc trưng của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ có một số đặc trưng sau:
- Nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
- Ngoài hoạt động nông nghiệp các hộ còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau
- Phương thức tổ chức của nông hộ mang tính kế thừa truyền thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ với nhau
- Nông hộ ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất
- Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong
hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản khác của hộ Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên các
Trang 14thành viên trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc trong nông hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ
- Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất Trong nông hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống hơn nữa kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người điều hành quản lý sản xuất đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất Cho nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao
- Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác có quy mô lớn hơn
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động Trong quan hệ kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên
cơ sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xây dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất và lợi ích của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế của hộ [7]
1.1.2 Thu hồi đất và các vấn đề liên quan
* Khái niệm về thu hồi đất: Theo Điều 4 – Luật đất đai năm 2003 thì thu
hồi đất là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, cá nhân, uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và lợi ích
an ninh quốc gia Do đó, việc thu hồi đất là sự thoả thuận giữa Nhà nước và
cơ quan có chức năng với người dân có đất trong vùng quy hoạch để đi đến sự thống nhất về giá cả bồi thường thiệt hại cho người dân và sự ủng hộ của người dân cho việc thu hồi đất của Nhà nước Nhưng trong những năm qua, các vấn đề này hầu như chỉ thực hiện theo hình thức từ trên xuống, mọi giá cả
là do Nhà nước và các cơ quan có chức năng của các địa phương, có đất bị thu hồi áp giá chưa phù hợp với giá thị trường, do đó gây không ít khó khăn trong việc thu hồi đất của Nhà nước [5]
Trang 15* Lý do của việc thu hồi đất: Công nghiệp hoá là quá trình phát triển của
mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường giúp các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Về thực chất, đây là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu lại việc phân bổ dân cư theo hướng tăng nhanh khối lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm mạnh
số lượng dân cư sống ở khu vực nông thôn
Để làm được điều này, tất yếu là phải phân bổ lại các nguồn lực phát triển nền kinh tế, trong đó trước hết là nguồn nhân lực, đất đai và lao động Phải thu hồi và chuyển một bộ phận đất đai, tập trung chủ yếu là đất nông nghiệp sang phục vụ cho xây dựng khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu dân cư tập trung, cũng như cho việc xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ lợi ích cộng đồng Đồng thời phải chuyển một bộ phận lực lượng lao động ở khu vực nông nghiệp có năng suất lao động thấp, sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao, cũng như thu nhập cao
* Cơ chế thu hồi đất: Điều 5 – Luật đất đai năm 2003 quy định: Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất Do đó, đất đai là tài sản quý giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân và nó quyết định cuộc sống của họ và gia đình họ
Thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho việc xây dựng khu cụm công nghiệp, khu dân cư, cơ sở hạ tầng công cộng là vấn đề kinh tế - xã hội lớn, nhưng lại phải tính đến lợi ích cơ bản của những người dân bị thu hồi đất Qua đó, Nhà nước ta đã ban hành luật đất đai năm 2003, Nghị định số 181,
197, 198, 84 và hàng loạt chính sách vĩ mô hướng vào giải quyết cơ bản về đất đai nói chung và vấn đề thu hồi đất nông nghiệp nói riêng để đảm bảo giữa lợi ích chung của xã hội và lợi ích của hộ nông dân, nhằm giải quyết vấn
đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Khi Nhà nước thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân phải tiến hành bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng Người bị thu hồi đất loại nào thì được
Trang 16bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm [5]
* Bản chất của việc bồi thường, giải phóng mặt bằng: Giải phóng mặt
bằng là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phần đất nhất định được quy định cho việc thực hiện một dự án, công trình mới trên đó GPMB là quá trình
đa dạng và phức tạp Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định Đối với khu vực đô thị, thị trấn, thị tứ, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình GPMB có đặc trưng nhất định Đối với khu vực ven đô thị, thị trấn, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ quá trình GPMB cũng
có đặc trưng riêng của nó Còn đối với khu vực nông thôn hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp, đời sống phụ thuộc chính vào nông nghiệp Do đó, GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Trước tình hình đó đã dẫn
Trang 17đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển là rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng, không được tập trung một loại nhất định nên gây khó khăn cho công tác định giá bồi thường
* Vai trò của công tác thu hồi đất, bồi thường GPMB đối với sự phát triển cơ sở hạ tầng và đời sống xã hội:
+ Đối với sự phát triển cơ sở hạ tầng: Mỗi một giai đoạn phát triển kinh
tế xã hội có một sự phát triển thích ứng của hạ tầng kinh tế xã hội Với tư cách là những phương tiện vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế xã hội lại trở thành lực lượng sản xuất quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội
mà trong đó GPMB (giải phóng mặt bằng) là điều kiện tiên quyết để dự án xây dựng cơ sở hạ tầng có được triển khai hay không
+ Tiến độ thực hiện các dự án phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau như: Tài chính, lao động, công nghệ, điều kiện tự nhiên, tập quán của những người dân trong diện bị giải toả Nhìn chung, nó phụ thuộc nhiều vào thời gian tiến hành thu hồi đất và bồi thường GPMB
+ Thu hồi đất, bồi thường GPMB thực hiện đúng tiến độ đề ra sẽ tiết kiệm được thời gian và việc thực hiện dự án có hiệu quả Ngược lại, thu hồi đất, bồi thường GPMB kéo dài gây ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng của các công trình, ảnh hưởng đến việc sử dụng lao động cũng như chi phí cho dự án,
có khi gây ra thiệt hại không nhỏ trong đầu tư xây dựng
+ Về mặt kinh tế của dự án: Thực hiện thu hồi đất, bồi thưòng GPMB được thực hiện tốt sẽ giảm tối đa chi phí cho giải toả đền bù, có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho các công trình khác Thu hồi đất, bồi thưòng GPMB kéo dài dẫn đến chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến sự quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư: Đối với các dự
án đầu tư sản xuất kinh doanh do không đáp ứng được tiến độ đầu tư vì vậy nhiều dự án mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thấp Còn đối với các
dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kéo dài, tiến độ thi công bị ngắt quãng gây ra sự lãng phí rất lớn và ảnh hưởng tới chất lượng công trình
Trang 18Đặc biệt, các nhà đầu tư trong nước có nguồn vốn hạn hẹp thì việc quay vòng vốn là cần thiết để đảm bảo tận dụng cơ hội đấu thầu của các công trình khác
1.1.3 Những tác động của việc thu hồi đất đến hộ nông dân
1.1.3.1 Tác động trực tiếp tới hộ
Tác động về việc làm
* Tác động tích cực:
- Tăng cơ hội việc làm trong các khu, cụm công nghiệp cho hộ nông dân
- Nhiều loại hình dịch vụ phát triển, có cơ hội về việc làm mới nhờ đó nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
* Tác động tiêu cực:
- Lực lượng lao động có độ tuổi cao, trình độ thấp không có việc làm
- Hộ nông dân do bị thu hồi đất không còn đất sản xuất hoặc chỉ còn lại một phần, sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ không đúng mục đích nên sẽ dẫn tới việc dư thừa lao động, mặt khác một số lao động do không có khả năng chuyển đổi việc làm dẫn tới thất nghiệp
- Nhiều loại hình dịch vụ phát triển, có cơ hội về việc làm mới nhờ đó nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
Trang 19hàng ngày nên phải mua, dẫn tới mặc dầu thu nhập cao hơn trước, nhưng cuộc sống về vật chất lại thấp hơn trước đây do chi tiêu tăng nhanh hơn thu nhập
1.1.3.2 Tác động gián tiếp tới hộ
Về mặt xã hội
* Tác động tích cực:
- Thay đổi bộ mặt văn hoá của địa phương
- Thay đổi nếp sống của cộng đồng theo hướng tốt lên
- Các hộ nông dân có điều kiện tiếp xúc với phương tiện thông tin đại chúng nhiều hơn nên có cơ hội hưởng thụ văn hoá nhiều hơn
* Tác động tiêu cực:
- Có thể làm mất đi những phong tục tập quán tốt của địa phương do lối sống đô thị thâm nhập vào
- Nhiều luồng văn hoá, các thành phần xã hội du nhập sẽ làm cho tệ nạn
xã hội nhiều hơn
- Sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất sai mục đích, vô tình làm cho các hộ nông dân không chuyển đổi được nghề nghiệp, không đầu tư cho tái sản xuất đẩy họ vào các tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, chơi đề…
- Chi phí xử lý chất thải, nước thải bảo vệ môi trường tốn ít chi phí hơn
* Tác động tiêu cực: Khu, cụm công nghiệp, khu dân cư phát triển sẽ
kéo theo nhiều loại hình dịch vụ phát triển do đó các chất thải tại khu, cụm
Trang 20công nghiệp nếu không quản lý chặt chẽ và có biện pháp xử lý đồng bộ, khoa học sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới nhân dân
Tác động đến thu ngân sách
* Tác động tích cực:
- Đáp ứng nhu cầu về đất ở cho các hộ nông dân
- Khi thu hồi đất quy hoạch khu dân cư để giao đất có thu tiền sẽ tạo ra nguồn thu ngân sách chủ yếu cho địa phương để xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất, đời sống của nhân dân
- Khi thu hồi đất quy hoạch khu, cụm công nghiệp tạo ra nguồn thu từ các khoản thuế của các doanh nghiệp cho ngân sách địa phương
* Tác động tiêu cực: Nếu chỉ đạo, quản lý việc thu tiền sử dụng đất dẫn
tới những tồn đọng tiền sử dụng đất, sử dụng không đúng mục đích
1.1.4 Khu chung cư
Chung cư hay Khu chung cư là những khu nhà bao gồm một hay nhiều đơn nguyên (đơn vị độc lập của công trình xây dựng, được giới hạn quy ước trên diện tích mặt bằng), bên trong chung cư bố trí các căn hộ khép kín cho các gia đình sinh sống Chung cư thường xuất hiện nhiều ở các đô thị Chung cư có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đô thị hiện đại, bởi vì khi phát triển đô thị hóa và tập trung dân cư đông đúc chính là lúc nảy sinh vấn đề, nhu cầu (bức xúc về nhà ở, giá thành nhà ở, và các tiện ích công cộng khác ) Sự phát triển chung cư để tiết kiệm diện tích sử dụng đất, giảm giá thành xây dựng, tạo cơ hội nhà ở cho nhiều người ở các tầng lớp khác nhau
Theo ông Nguyễn Đỗ Dũng, nhà quy hoạch đô thị, khu chung cư là một tiểu khu trong một đô thị mà những đặc điểm về xã hội và môi trường sống phân biệt chúng với những khu dân cư khác Từ buổi bình minh của đô thị tới thời kỳ đương đại, khu chung cư đã luôn được xem là một đơn vị cơ bản của quy hoạch thành phố nhằm giải quyết những thách thức chính trị và xã hội của thời đại Phụ thuộc vào vấn đề muốn giải quyết và phần cấu thành của đô thị được quan tâm (khu trung tâm, khu phố cũ hay khu ngoại ô mới), những nhà
Trang 21tư tưởng tiên phong về đô thị đã phát triển những luận đề và những nguyên tắc khác nhau cho việc kiến tạo khu chung cư như một đơn vị quy hoạch [3]
1.1.4.1 Khu chung cư là một công cụ chính trị
Khu chung cư trước hết được nhìn nhận như một công cụ chính trị để nâng cao sự hiểu biết giữa các thành viên của cộng đồng cũng như trao quyền cho họ Ý tưởng đầu tiên về tổ chức không gian đô thị nhằm đạt được một mục đính chính trị nhất định đã ra đời từ rất lâu trong lịch sử văn minh của loài người Triết gia Aristotle vào thế kỷ 3 trước Công Nguyên đã đề xuất các polis (thành-bang) có quy mô tối ưu là 5.000 công dân (Công dân được xác định là nam giới ở tuổi trưởng thành) Quy mô dân số này đủ nhỏ để tiếng nói của một công dân có thể được lắng nghe bởi tất cả các công dân khác trong cộng đồng Một số nhà đô thị của thế kỷ 20 cũng có cùng một quan điểm,
Christopher Alexander giới hạn mô hình cộng đồng lý tưởng của ông ở mức
10.000 người để đảm bảo mỗi cá nhân đều có một tiếng nói đáng kể (Talen 2006) Nhà lý thuyết quy hoạch Fainstein (1987) bảo vệ mô hình khu chung
cư trong quy hoạch như là một cơ chế để địa phương hóa và phi tập trung hóa công tác quy hoạch, làm cho chính quyền đô thị trở nên nhạy cảm hơn đối với nhu cầu và ước nguyện của công dân và các cộng đồng trong lòng một thành phố
Ở một khía cạnh khác, khi một thành phố phát triển thành một đại đô thị khổng lồ, mô hình khu dân cư trong quy hoạch có thể bị phê phán như một nỗ lực chính trị nhằm giảm bớt sức nặng chính trị trong tiếng nói của công dân Trong tác phẩm "Cái chết và sự sống của những thành phố lớn nước
Mỹ" (1961) nhà phê bình quy hoạch Jane Jacobs thì cho rằng khi một thành
phố bị chia thành những khu dân cư nhỏ, mỗi khu sẽ không có sức mạnh chính trị để tác động vào các quyết định quy hoạch ở cấp độ thành phố Bà đề xuất rằng các khu chung cư gần hợp nhất thành những khu vực lớn hơn để có thể được tính đến trong quá trình ra quyết định ở thành phố [3]
1.1.4.2 Khu chung cư là một công cụ xã hội
Trong khi dường như không có sự đồng thuận cho cơ sở chính trị của một khu chung cư trong thành phố, vai trò xã hội của đơn vị đô thị này nhằm
Trang 22giảm nhẹ và thậm chí giải thoát cư dân khỏi sự phi - cá - nhân, bất ổn, cô lập
và xa lánh của môi trường sống đô thị được chấp nhận rộng rãi hơn, đặc biệt
là vào đầu thế kỷ 20 Mặc dù những nhà xã hội học đã là những người đầu tiên nêu lên tầm quan trọng của cộng đồng địa phương nơi những tương tác gần gũi giữa con người với con người diễn ra, chính những nhà tổ chức các khu tạm trú cho người nhập cư từ nông thôn lên thành phố và từ các quốc gia khác tới Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 như Samuel Barnett và Jane Addams (người phụ nữ đầu tiên đoạt giải Nobel Hòa bình) là những người đề
ra ý tưởng về khu chung cư như một đơn vị quy hoạch thông qua những nỗ lực không ngừng nhằm cung cấp dịch vụ xã hội ở địa phương Mang những dịch vụ cần thiết tới cư dân địa phương ngay trong khả năng tiếp cận của họ
và khuyến khích sự tương tác xã hội giữa những con người này, những lý tưởng và nguyên tắc mà các nhà cải cách này theo đuổi, đã đặt nền tảng đầu tiên cho quy hoạch khu chung cư Cũng từ góc nhìn về cung cấp dịch vụ xã hội, Fainstein (1987) nhận ra rằng chức năng của quy hoạch khu chung cư phát triển sau này thành một cơ sở cho việc kết hợp các nguồn lực công cộng,
tư nhân và các tổ chức phi lợi nhuận và sự phát triển của cộng đồng [3]
1.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong vấn đề thu hồi đất đai và giải quyết vấn đề sau mất đất
* Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là một nước ở Đông Nam Á có điều kiện tự nhiên, diện tích canh tác bình quân đầu người cao Những năm 50, 60 Thái Lan thực hiện CNH tập trung vào đô thị nhưng không hiệu quả, nông nghiệp bị trì trệ Sau
đó Thái Lan đã kịp thời chuyển hướng, tiến hành CNH cả ở đô thị và nông thôn theo hướng xuất khẩu Qúa trình CNH nông thôn cũng đồng thời với chuyển đổi đất đai Đất nông nghiệp bị cắt sang các loại đất khác nên cũng bị giảm diện tích Để đáp ứng nhu cầu trong nước, Thái Lan vừa chủ trương mở mang xây dựng KCN, vừa tập trung vào phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá xuất khẩu, phát triển ngành nghề dịch vụ và TTCN, CN nông thôn Từ đó
đã đưa nước này xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Bên cạnh sản xuất lúa hàng
Trang 23hoá, Thái Lan còn chú trọng phát triển cây CN ngắn ngày, tiêu biểu là cây mía nguyên liệu Diện tích mía nguyên liệu được cơ giới hoá 100%, chuyển giao và ứng dụng trong khâu chế biến Máy móc trong nông nghiệp tăng nhanh, chi phí lao động giảm, năng suất lao động cao
Ngoài những chủ trương trên, Thái Lan còn quan tâm đến hỗ trợ, cung cấp tín dụng, bồi dưỡng tay nghề, đào tạo cho công nhân, tạo hợp đồng giữa
CN và nông nghiệp Nhờ vậy mà nông nghiệp Thái Lan mặc dù giảm về diện tích nhưng lại phát triển về chiều sâu, nên năng suất và sản lượng đều cao Tất
cả những đường lối đúng đắn trong CNH đó đã làm cho khoảng cách nông thôn và thành phố Thái Lan thu hẹp đáng kể [12]
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc vạch ra đường đỏ về đất đai đến năm 2020 là đất dành cho nông nghiệp 180 triệu mẫu Đây là đất "bờ xôi ruộng mật" chỉ để phát triển nông nghiệp, không được xâm phạm nhằm đảm bảo an ninh lương thực Việc này được Quốc vụ thông qua thành luật
Trung Quốc có những vùng thực hiện chính sách tích tụ ruộng đất, không hạn điền, giúp hình thành những trang trại lớn Song, thực sự trang trại
đó không phải là những động lực chính để nông nghiệp phát triển mà nhờ chính sách tập trung và chính sách xây dựng doanh nghiệp đầu rồng về chế biến sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt cho người dân Tất nhiên, trong quá trình phát triển, nước này cũng không tránh khỏi các vấn đề bức xúc về đất đai, như
có chia lại hay không, có nên tích tụ không? Một số nơi đã thử nghiệm 80% đất chia lại, 20% để lại là đất tập thể
Trung Quốc có chính sách rõ ràng về đất đai Khi thu hồi đất nông nghiệp của người dân làm các công trình công cộng phúc lợi như nhà trẻ, mẫu giáo thì áp giá Nhà nước, còn giao cho doanh nghiệp thì bắt buộc áp dụng giá đất theo cơ chế thị trường Tức là, doanh nghiệp và người dân đàm phán với nhau Chỉ khi nào tất cả người dân vùng đó ký giao đất thì doanh nghiệp mới được triển khai dự án [12]
Trang 24* Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước có mật độ dân số đông nhất, địa hình chủ yếu là đồi núi, chỉ có 1/5 là đất đai trồng trọt Năm 1994, tổng diện tích đất đai toàn quốc và diện tích đất trồng trọt tính theo đầu người chỉ tương đương 0,22 ha Bùng nổ dân số làm cho tỷ lệ này ngày càng thấp nên việc tận dụng đất đai tối
ưu có một ý nghĩa sống còn đối với Hàn Quốc
Từ những năm đầu thập kỷ 60, chính sách nông nghiệp của Hàn Quốc tập trung tăng sản xuất lúa gạo nhằm đạt mục tiêu tự cung, tự cấp Một mặt, Chính phủ mở rộng những cánh đồng lúa bằng các biện pháp khai hoang, canh tác và cải tạo, biến những cánh đồng khô thành những cánh đồng lúa Mặt khác, bằng biện pháp quy hoạch "diện tích đất trồng trọt tuyệt đối" và
"diện tích đất trồng trọt tương đối" Chính phủ Hàn Quốc ngăn cấm biến đất trồng trọt thành đất phi nông nghiệp hay được sử dụng xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp Nghiêm cấm sử dụng những cánh đồng lúa thuộc phạm
vi diện tích đất trồng trọt tuyệt đối cho mục đích phi nông nghiệp như xây dựng các khu công nghiệp, là đường và xây dựng đô thị Còn đối với diện tích đất trồng trọt tương đối có thể được dùng cho các mục đích khác tuỳ thuộc vào Chính quyền điạ phương Song được quy định rất chặt Nhờ đó, từ năm
1970 đến năm 1983, diện tích những cánh đồng lúa được cải thiện mở rộng Điều này đã góp phần rất lớn trong việc tạo sự ổn định và tăng tính bền vững
về sinh kế của người nông dân Hàn Quốc [12]
1.2.2 Chính sách đất đai ở Việt Nam
Nội dung cơ bản của chính sách đất đai hiện nay được thể hiện trong Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi năm 1998, năm 2001, năm 2003 và các văn bản dưới Luật khác Một số văn bản dưới Luật như Nghị định 64 CP ngày 27/9/1993 về giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân sử dụng ổn định, lâu dài; Nghị định 02 CP ngày 15/01/1994 về giao đất lâm nghiệp ổn định, lâu dài cho
hộ nông dân; Nghị định 01 CP ngày 4/1/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp sử dụng đất đai và một số văn bản khác
Trang 25- Xác lập quyền sở hữu về đất đai
Trong Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật khác đã quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Theo đó, Nhà nước là người đại diện hợp pháp, duy nhất về quyền sở hữu đất đai, hộ nông dân và các tổ chức với tư cách là chủ thể sản xuất - kinh doanh được Nhà nước giao cho quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời
- Các quyền lợi trong sử dụng đất đai
Người sử dụng đất sẽ được Nhà nước xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài Người sử dụng đất có quyền được hưởng các thành quả lao động, bán thành quả lao động cũng như kết quả đầu tư trên đất được giao Các
hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp và quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh Như vậy, quyền của người sử dụng đất đai là quyền sở hữu về mặt kinh tế hay gọi là quyền sở hữu tương đối về đất đai
Luật Đất đai và các văn bản chính sách khác còn quy định cụ thể về thời hạn giao đất ổn định lâu dài đối với cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, đối với cây lâu năm là 50 năm Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất
có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất, chấp hành đúng pháp luật sẽ được Nhà nước tiếp tục giao đất sử dụng
Chính sách đất đai còn quy định việc thu hồi đất và cấp có thẩm quyền được giao đất, cấm việc mua, bán đất trái phép Như vậy, quá trình đổi mới ở nước ta, quyền sở hữu về kinh tế đã được trả lại cho hộ nông dân và các tổ chức sản xuất, kinh doanh nông nghiệp
- Các nghĩa vụ trong sử dụng đất đai
Người sử dụng đất đai có trách nhiệm phải sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, gắn việc sử dụng đất với bồi bổ, cải tạo đất và sử dụng đất hợp lý Người
sử dụng đất phải tuân theo quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại
Trang 26đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh Người sử dụng đất phải có nghĩa vụ đóng thuế sử dụng đất cho Nhà nước
Mục đích của thuế sử dụng đất đai là thu lại một phần lợi nhuận của người sử dụng đất để bổ sung cho ngân sách Chính phủ Tuy nhiên, mức thuế cần được phân biệt để khuyến khích việc sử dụng đất đai vào sản xuất nông nghiệp ngày càng có hiệu quả cao, hạn chế việc sử dụng đất đai không đúng mục đích Về hình thức thu thuế được linh hoạt bằng hiện vật hoặc bằng tiền, thời hạn thu thuế có thể theo mùa vụ của cây trồng hoặc một năm
- Một số vấn đề đặt ra đối với chính sách đất đai
+ Cần xác định thời hạn cho thuê đất linh hoạt và phù hợp hơn, điều chỉnh lại mức hạn điền cho phù hợp với yêu cầu của quá trình tập trung, tích
tụ ruộng đất, chuyển nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá Đối với quỹ đất công 5% để lại, quỹ đất ao hồ, mặt nước thì cần có những quy định cụ thể
về chế độ quản lý, sử dụng để tránh sự tranh chấp, lấn chiếm, bán đất công Cần tăng cường sự quản lý giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với đất đai và sớm hình thành thị trường đất đai có sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước
+ Ruộng đất còn manh mún, phân tán, quy mô diện tích nhỏ, quá trình tập trung ruộng đất diễn ra chậm, chưa kết hợp được giữa việc khai thác, sử dụng ruộng đất trước mắt với việc cải tạo, bồi dưỡng đất đai lâu dài, do đó năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp
+ Quá trình giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diễn ra còn chậm Do vậy, phải triển khai nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai cho các hộ nông dân và các đơn vị sản xuất, kinh doanh nông nghiệp Tình trạng tranh chấp đất đai còn xảy ra ở nhiều địa phương, thủ tục giải quyết còn nhiều phiền hà
+ Bộ máy Nhà nước quan liêu kém hiệu lực với những biểu hiện tiêu cực trong quản lý, đội ngũ cán bộ chuyên môn trình độ thấp, sự hiểu biết về luật và chính sách đất đai của nông dân chưa sâu và rộng cho nên chính sách chưa thực sự đi vào cuộc sống một cách có hiệu quả [12]
Trang 271.2.3 Tình hình nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Hiện nước ta có 9,42 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa 4,1 triệu ha Nông dân ước khoảng 60 triệu người (trên tổng số 86 triệu dân), như vậy bình quân đất canh tác là 480m2/người, chỉ bằng 1/4 của nông dân Thái Lan Trước làn sóng công nghiệp hóa, đô thị hoá của thời hội nhập, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp và chắc hẳn số "nông nhàn vĩnh viễn" sẽ ngày càng đông hơn
Năm năm trở lại đây, theo báo cáo của 49 tỉnh, thành phố (số còn lại không báo cáo) đã lấy đi 750.000 ha đất để thực hiện 29.000 dự án đầu tư, trong đó có tới 80% là đất nông nghiệp Khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm mỗi năm hai vụ lúa Sân golf dồn dập trong hai năm nay, nếu như trong 16 năm chỉ cấp phép cho 34 dự
án sân golf, thì có 2 năm (2006- 2008) đã cấp 104 dự án, như vậy bình quân một tuần lại có 1 sân golf mới Hiện cả nước có 141 sân golf ở 39 tỉnh, thành,
sử dụng tới 49.268 ha, trong đó có 2.625 đất bờ xôi ruộng mật
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn điều tra tại 16 tỉnh, thành trọng điểm, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89%, hầu hết là đất lúa, mỗi năm có thể làm giảm sản lượng trên 1 triệu tấn lúa Thực tế cho thấy, đất bị thu hồi không được sử dụng ngay mà bỏ hoang hoá, gây lãng phí rất lớn Chẳng hạn, khu công nghiệp Hà Nội - Đài Tư thành lập từ 15 năm nay, mới lấp đầy có 18,8%; khu công nghiệp Đồ Sơn (Hải Phòng) khai sinh năm 1997, mới lấp đầy 24,1%; khu công nghiệp Khánh An (Cà Mau) đã 5 năm vẫn đang xây dựng cơ bản, mới cho thuê được 3 ha, tức lấp đầy có 1,22%; hai khu công nghiệp Cát Lái IV (TP.Hồ Chí Minh) và Kim Hoa (Vĩnh Phúc) đều thành lập năm 1997-
1998, đến nay chưa xong cơ sở hạ tầng, chưa có nhà đầu tư Dự án "treo" cũng khá phổ biến Theo thống kê của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, 61 tỉnh, thành còn khoảng 1200
dự án treo với diện tích trên 130.000 ha [3]
Việc chuyển mục đích sử dụng đất đã gây xáo trộn, ảnh hưởng lớn đến đời sống trước mắt cũng như về lâu dài của một bộ phận đông đảo nông dân nước ta Chỉ tính trong 5 năm (2003-2008) đất thu hồi làm dự án đầu tư đã tác
Trang 28động trực tiếp đến 627.000 hộ gia đình, với khoảng 2,5 triệu người Điều tra thực tế cho thấy: 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ, chỉ có 13% chuyển nghề mới và có tới 25-30% nông dân không có việc làm, hoặc có nhưng không ổn định 53% hộ nông dân bị thu hồi đất thu nhập bị giảm so với trước, chỉ có 13% là tăng hơn trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động bị thất nghiệp và mỗi ha đất bị thu hồi làm mất việc của 13 lao động Nhiều địa bàn có tới hàng ngàn lao động bị mất việc, nhưng chỉ có 10 - 20 người là đã qua đào tạo nghề mới Những năm qua Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên giải quyết việc làm cho nông dân vùng dự án, nhưng mỗi năm chỉ giải quyết được khoảng 55.000 người, là "muối bỏ biển" trong tổng
số lao động mất việc [3]
Việc ổn định đời sống, tìm việc làm cho người nông dân sau khi thu hồi đất là một vấn đề cấp thiết hiện nay Để giải quyết vấn đề này, trước hết quy hoạch phải tính toán, cân nhắc cẩn trọng, sao cho hợp lý tối đa sử dụng đất, không tác động xấu cho môi trường, dân sinh Công khai, minh bạch trong các quy hoạch và "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" sẽ góp phần quan trọng tránh được nhiều tiêu cực nảy sinh trong quá trình hình thành, thực thi các dự án Có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm khắc với cá nhân, tập thể để lãng phí đất, không đưa vào sử dụng ngay, hoặc để dự án "treo" Nhà nước tích cực hỗ trợ nông dân tận dụng hết quỹ đất còn lại của họ và cũng phải quản lý việc dồn điền đổi thửa những khu đất canh tác này Bên cạnh đó, có chính sách ưu tiên đào tạo hướng nghiệp, chú trọng đào tạo tại chỗ cho người nông dân theo hướng thâm canh hiện đại, mang lại thu nhập thuần nông cao hơn hẳn trước Kinh nghiệm ở nhiều nơi cho thấy, quỹ đất 10% giao cho các
hộ làm dịch vụ, cũng phải có quy định, hướng dẫn cụ thể, tốt nhất tìm cách liên kết các hộ, thành lập các tổ hợp, hợp tác xã dịch vụ hỗ trợ cho chính các khu công nghiệp, đô thị hoặc du lịch bên cạnh, tạo sự phát triển hài hoà cho
cả hai phía [2]
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hộ nông dân bị thu hồi đất, các hoạt động tạo thu nhập, chuyển đổi nghề nghiệp, đời sống trước và sau khi bị THĐ của các hộ nông dân xã Đắc Sơn
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
2.1.2.1 Phạm vi thời gian
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2014 đến tháng 4/2014
- Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2011 – 2013
- Số liệu sơ cấp được khảo sát năm 2014
2.1.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Đắc Sơn, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đắc Sơn
- Điều tra tình hình thu hồi đất tại xã Đắc Sơn
- Nghiên cứu tình hình việc làm vầ kết quả phát triển kinh tế của các hộ nông dân bị thu hồi đất
- Phân tích các khó khăn, thuận lợi của các hộ nông dân sau khi thu hồi đất đến phát triển kinh tế hộ
- Xây dựng những giải pháp phát triển kinh tế cho các hộ nông dân bị thu hồi đất
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình thu hồi đất ở Đắc Sơn như thế nào?
- Tình hình kinh tế của các hộ nông dân khi bị thu hồi đất như thế nào?
- Đời sống của hộ nông dân bị thu hồi đất thay đổi như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của hộ?
Trang 30- Sau khi được đền bù người nông dân sử dụng tiền đền bù như thế nào? Hiệu quả của việc sử dụng tiền đền bù?
- Sau khi bị thu hồi đất các hộ nông dân gặp những khó khăn trở ngại gì?
- Các giải pháp nào có thể áp dụng để ổn định đời sống cho hộ nông dân
bị thu hồi đất?
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Chọn điểm nghiên cứu
- Tiến hành điều tra các hộ nông dân có đất bị thu hồi tại xã Đắc Sơn
- Chọn mẫu điều tra: Trong tổng số 183 hộ bị thu hồi đất của xã Đắc Sơn Trong đó chọn ngẫu nhiên 40 hộ của 3 xóm là các xóm Tân Lập, xóm Thống Hạ và xóm Cây Xanh làm mẫu điều tra
2.4.2 Phương pháp thu nhập thông tin
2.4.2.1 Thông tin thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các tài liệu, các báo cáo của địa phương, qua Phòng Thống Kê, Phòng Nông Nghiệp và cán bộ chuyên trách tại địa phương
2.4.2.2 Thông tin sơ cấp
- Thu thập tình hình của hộ bằng phương pháp sử dụng phiếu điều tra xây dựng trước Qua phiếu điều tra này cho phép thu thập được các thông tin định tính và định lượng về vấn đề liên quan đến thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi được điều tra sẽ được cập nhật, phân tích, tính toán và xử
lý bằng phần mềm Excel
2.4.4 Phương pháp phân tích số liệu
2.4.4.1 Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp tổng hợp các số liệu liên quan đến nội dung của đề tài thu được để tiến hành phân tích so sánh nhằm làm rõ các vấn đề nghiên cứu Qua các số liệu thống kê ta có thể thấy được tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu và rút ra được những nhận xét, kết luận chính xác
Trang 312.4.4.2 Phương pháp so sánh
Để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài
liệu được khoa học, khách quan
2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
* Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá mức sống của hộ nông dân
- Tình hình đất đai
- Tình hình dân số và lao động
- Mức độ độc lập về nguồn lực
- Trình độ văn hóa
- Đời sống tinh thần và sức khỏe của người dân
* Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất
- Giá trị sản xuất (GO: Gross Ouput): là toàn bộ của cải vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Đây là tổng thu của hộ
- Chi phí trung gian (IC: Intermediate Cost): là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như các khoản chi phí: Giống, phân bón, thuốc trừ sâu, dụng cụ rẻ tiền mau hỏng trong một vụ sản xuất
- Giá trị gia tăng (VA: Valua Added): là phần giá trị tăng thêm của người lao động khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm trong một vụ sản xuất
MI = VA – (A + T)
Trong đó : A: khấu hao TSCĐ
T: Thuế phải nộp
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đắc Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Xã Đắc Sơn là xã cụm 2 của huyện Phổ yên, nằm cách trung tâm huyện Phổ Yên 2km về phía Tây, cách thị trấn Ba Hàng 2km về phía Đông Với diện tích là 1442,82 ha
- Phía Bắc giáp Phường Phố Cò, thị xã Sông Công
- Phía Nam giáp xã Vạn Phái
- Phía Ðông giáp xã Đồng Tiến
- Phía Tây giáp xã Minh Đức
Về địa hình: xã Đắc Sơn mang đặc điểm địa hình vùng trung du miền núi Bắc Bộ Địa hình chủ yếu là đồi bát úp và có độ dốc từ trung bình đến thấp, hướng dốc chính từ Đông Bắc đến Tây Nam
3.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
Về khí hậu:
Đắc Sơn mang đặc trưng của khí hậu vùng trung du miền núi phía bắc, chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình năm là: 23,3oC; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 2 (8,8oC)
Lượng mưa trung bình năm là 2.020mm Lượng mưa cao nhất là 2.480mm, tập trung vào các tháng 6, 7, 8 Thời gian này thường trùng với mùa mưa bão nên hay xảy ra lũ lụt, ngập úng Lượng mưa thấp nhất là 912mm, tháng có số ngày mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1 Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, cao nhất là 85%, tháng 12 có độ ẩm thấp nhất là 57% Có 2 loại gió chính: Gió mùa đông bắc và gió đông nam Gió mùa đông bắc kèm theo khí hậu lạnh ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ đông xuân, thường xuất hiện vào tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau
Trang 33Thời tiết và khí hậu có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Lượng mưa tuy thấp nhưng ít sương muối, mưa xuân đến muộn, độ ẩm không khí cao, lượng bức xạ nhiệt trung bình đó là những yếu tố thuận lợi tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp
Đắc Sơn có nguồn nước mặt tương đối phong phú, có sông Công dài 9,2
km chảy qua địa bàn xã và hệ thống kênh mương nội đồng là nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của nhân dân
3.1.1.3 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Đắc Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 1442,82 ha, hiện tại đã đưa vào sử dụng 1440,85 ha, chiếm 99,87% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 1221,71 ha, chiếm 84,68% tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích đất phi nông nghiệp là 219,14 ha, chiếm 15,19% tổng diện tích đất
tự nhiên Diện tích đất chưa sử dụng là 1,97 ha chiếm 0,13% tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 34Bảng 3.1 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất năm 2013 của xã Đắc Sơn
1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại 110,55 7,67
(Nguồn: UBND xã Đắc Sơn)
Theo bản đồ thổ nhưỡng của huyện Phổ Yên, trên địa bàn xã Đắc Sơn có
6 loại đất chính:
- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm: phân bố ở phía Nam và Tây Nam của xã, có diện tích 319,66 ha; Chiếm 22,14% tổng diện tích đất tự nhiên Là đất thích hợp cho trồng lúa và một số cây ngắn ngày
Trang 35- Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: có diện tích 387,81 ha; phân bố ở phía Bắc và Đông Bắc của xã; Chiếm 26,86% tổng diện tích đất
tự nhiên
- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: Phân bố ở phía Tây Bắc của xã,
có diện tích 301,61 ha; Chiếm 20,98% tổng diện tích đất tự nhiên
- Đất dốc tụ: Phân bố ở phía Bắc, có diện tích là 47,93 ha; Chiếm 3,32%
* Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Đắc Sơn có nguồn nước mặt tương đối phong phú, với 8,28 ha đất ao, hồ sông ngòi và hệ thống kênh mương thuỷ lợi Hồ Núi Cốc đây là nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.020mm, đây là nguồn nước cung cấp cho ao hồ phục vụ cho sinh hoạt sản xuất của nhân dân trong xã Ngoài ra, Đắc Sơn còn có sông Công dài 9,2 km chảy qua địa bàn xã cung cấp trực tiếp cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất nông, lâm, nghiệp của nhân dân
Nguồn nước ngầm: Ở độ sâu từ 10m đến 30m là nguồn nước ngầm rất quí đã được khai thác để phục vụ sinh hoạt
* Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã có mỏ đất sét nằm ở khu vực phía nam xã đã được quy hoạch đến năm 2015
* Tài nguyên nhân văn
Xã Đắc Sơn có 9.135 người với 2.406 hộ sinh sống tại 23 xóm Xã có nguồn nhân lực dồi dào cùng với truyền thống hiếu học, cần cù, chịu thương chịu khó Nhân dân có truyền thống cách mạng, đoàn kết Đây là điều kiện thuận lợi để xã có thể thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Trang 363.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Điều kiện kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 5 năm đạt 16,28% Thu nhập bình quân đầu người xã Đắc Sơn năm 2013 là 18,7 triệu
đồng/người/năm Giá trị đóng góp vào kinh tế của xã Đắc Sơn năm 2012:
Nông nghiệp 42%, công nghiệp - xây dựng 32%, dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp 26%
* Khu vực kinh tế nông nghiệp
Trồng trọt: Tập trung chủ yếu vào trồng cây lúa với diện tích gieo cấy vụ
xuân là 430 ha, trong đó lúa lai là 57,47 ha, vụ xuân năm 2013 xã đã triển khai và đưa vào gieo cấy với tổng diện tích là 19,5 ha giống lúa thuần chất lượng cao như: HT9, SH4… Diện tích gieo cấy vụ mùa là 656,7 ha, năng suất bình quân đạt 52,4 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 3.283,9 tấn Ngoài ra còn gieo trồng một số cây màu khác như: cây ngô có diện tích gieo trồng là 120 ha, cây khoai lang là 141 ha, rau các loại là 129 ha, đậu tương là 19,5 ha, lạc là 89 ha, đậu các loại là 13 ha
Chăn nuôi: Chăn nuôi của xã Đắc Sơn tương đối phát triển, tổng đàn
trâu có 538 con, tổng đàn bò là 725 con, lợn có 9100 con Đã xuất hiện nhiều
mô hình chăn nuôi theo hướng công nghiệp cho thu nhập khá Đàn gia súc, gia cầm luôn đảm bảo an toàn dịch bệnh và phát triển tốt Ban nông nghiệp xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân, nâng cao ý thức phòng chống dịch bệnh, thường xuyên tổ chức kiểm tra và xử lý dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, dịch tả lợn, tụ dấu lợn, tiêm phòng dại đàn chó, vaccine tai xanh…
* Khu vực kinh tế công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
Xã Đắc Sơn đã chỉ đạo triển khai nhiều biện pháp tích cực giải quyết những khó khăn vướng mắc và có chủ trương khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất nhằm nâng cao giá trị sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường góp phần tạo việc làm và thu hút thêm nhiều