1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

88 397 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hà

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Cương

Trang 2

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã

Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang với đề tài: “Thực trạng

và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”

Khóa luận được hoàn thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường

Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Trần Cương giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp

đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Minh Thanh, các ban ngành cùng nhân dân trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Sinh viên

Ma Xuân Nhất

Trang 3

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.2.1.Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 4

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập 4

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5

2.1.1 Lý luận về đói nghèo 5

2.1.2 Lý luận về kinh tế hộ 10

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17

2.2.1 Thực trạng đói nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay 17

2.2.2 Thực trạng đói nghèo tại Việt Nam 19

2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế 23

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 26

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 26

3.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 27

3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 27

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 29

4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 29

Trang 4

4.2.1 Cơ sở phân định hộ nghèo của xã 42

4.2.2 Thực trạng nghèo của xã trong 3 năm từ 2011-2013 43

4.2.3 Tình hình chung của nhóm hộ điều tra 47

4.2.4 Nguyên nhân nghèo của các hộ điều tra 60

4.4 Tìm hiểu các chương trình và chính sách phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa phương 65

4.4.1 Cách thức xây dựng và tổ chức 65

4.4.2 Các chương trình phát triển kinh tế cho hộ nghèo 67

4.4.3 Kết quả đạt được và những hạn chế khi triển khai các chương trình phát triển kinh tế cho hộ nghèo 68

4.5 Giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo 70

4.5.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế cho hộ nghèo 70

4.5.2 Các giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo 71

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

5.1 Kết luận 76

5.2 Kiến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 6

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Minh Thanh năm 2013 30

Bảng 4.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn xã Minh Thanh giai đoạn 2011-2013 33

Bảng 4.3: Tình hình dân số và lao động xã Minh Thanh năm 2013 38

Bảng 4.4: Thống kê hộ nghèo theo đơn vị thôn tại xã Minh Thanh từ năm 2011 đến năm 2013 44

Bảng 4.5: Cơ cấu các nhóm hộ điều tra 46

Bảng 4.6: Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ điều tra 47

Bảng 4.7: Tài sản chính của nhóm hộ điều tra 49

Bảng 4.8: Tình hình vay vốn của các hộ điều tra 51

Bảng 4.9: Thống kê nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra 52

Bảng 4.10: Thống kê hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khác trong nhóm điều tra 54

Bảng 4.11: Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra 56

Bảng 4.12: Chi phí cho sản xuất và chi phí khác của nhóm hộ điều tra 58

Biểu đồ 4.7: So sánh chi phí giữa các nhóm hộ 58

Bảng 4.13: Tổng hợp chi phí và thu nhập trong sản xuất và sinh hoạt của nhóm hộ điều tra 59

Bảng 4.14: Tổng hợp những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của nhóm hộ điều tra 61

Trang 7

Biểu đồ 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Minh Thanh 31

Biểu đồ 4.2: Phân loại hộ của xã Minh Thanh năm 2013 46

Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ nhà ở giữa các hộ điều tra 50

Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ % lao động của các hộ điều tra 53

Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ các nhóm kinh tế hộ trong nhóm hộ điều tra 55

Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ thu nhập/năm của các nhóm hộ 57

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu luôn tồn tại trong xã hội Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực để phát triển kinh tế xã hội Ngay cả những nước phát triển cao cũng có tình trạng nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo ngày càng trở nên cách biệt

Sau gần 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những

thành tựu lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc

phòng Nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh chóng, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư Vì vậy, một bộ phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm

2020, Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển.Vậy vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -xã hội

Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, trong đó lao động đang làm việc trong nông thôn chiếm gần 70%, làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 51%, tỉ lệ đói nghèo còn cao nhưng phân bố không đều giữa các vùng, miền Nhưng bất kì nơi nào từ thành phố đến nông thôn, đồng bằng đến miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn tồn tại các hộ nghèo, người nghèo,

xã nghèo Chính vì vậy trong quá trình xây dựng và đổi mới Đảng và Nhà

Trang 9

nước ta luôn đặt mục tiêu xóa đói giảm nghèo lên hàng đầu, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực cho người nghèo ổn định thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống và tạo mọi điều kiện để đáp ứng đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng của người nghèo, để cho người nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ

xã hội, phát triển sản xuất và tự vươn lên thoát nghèo nhằm hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, một số số hộ nông dân trở thành hộ giàu có, thu nhập và đời sống tăng lên rõ rệt Ở những vùng khác nhau đã có những ông chủ trang trại, chủ trại rừng Bên cạnh một số hộ giàu và khá giả trong nông thôn hiện nay, đại bộ phận kinh tế hộ nông dân còn thuộc diện trung bình và nghèo Đặc biệt là ở vùng nông thôn và miền núi Trong những năm qua được sự chỉ đạo của cấp Đảng ủy và chính quyền địa phương, sự nỗ lực của toàn thể quần chúng, phong trào xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng được phát triển sâu rộng đã giúp cho nhiều hộ vượt qua đói nghèo và vươn lên khá giả, một

số nơi đã thanh toán được nạn đói kinh niên Chủ trương chính sách của Đảng

ta là: Xoá đói giảm nghèo đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp, thu hẹp dần khoảng cách thu nhập giữa các vùng và các tầng lớp dân cư

Huyện Sơn Dương là một huyện còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế và xã hội Trong đó xã Minh Thanh là một xã nghèo của huyện, cùng hưởng ứng các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo Nhân dân và chính quyền huyện Sơn Dương nói chung và xã Minh Thanh nói riêng cùng tiến hành thực hiện các chương trình 135, 134 và

167 của Thủ tưởng Chính phủ thành công Đảng bộ địa phương phân công giao cho các ban ngành thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đồng thời đẩy mạnh phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp

Trang 10

công tác xoá đói, giảm nghèo sẽ góp phần đem lại sự công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên nên trong quá trình thực tập tại xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang em đã chọn

đề tài nghiên cứu của mình: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho

hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”, làm đề tài thực tập tốt nghiệp Nhằm đánh giá đúng đắn thực trạng

đói nghèo, tìm ra nguyên nhân và đề ra những biện pháp thiết thực để từng bước góp phần xoá đói, giảm nghèo ở địa phương mình một cách hiệu quả

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1.Mục tiêu chung

Xác định những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế của

hộ nghèo nói riêng và người dân trong xã nói chung, tìm ra nguyên nhân dẫn đến nghèo và tái nghèo là gì Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế cho hộ nông dân trên địa bàn xã

1.3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Dựa trên những vấn đề lý luận và phương pháp luận để xem xét đánh giá vấn đề nghèo đói của các hộ dân nghèo ở nông thôn, phân tích và đánh giá thực trạng nghèo đói ở vùng nông thôn và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế cho các

hộ nông dân nghèo tỉnh Tuyên Quang

Trang 11

Nghiên cứu tình hình sản xuất, thu nhập và đời sống của nhóm hộ nông dân nghèo thông qua việc kiểm tra khảo sát các mô hình kinh tế hộ nông dân trong cơ chế quản lý mới

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập

Đề tài là kết quả của sự phân tích tổng hợp tìm tòi học tập giúp cho sinh viên:

- Bổ xung các kiến thức về nghèo đói đã được học trong nhà trường

- Bổ xung những kiến thức về xác định thực trạng và nguyên nhân đói nghèo

- Giúp sinh viên được tiếp cận với thực tế, nâng cao kiến thức cho bản thân

- Có cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo đói của người dân trên địa bàn nghiên cứu

- Trang bị thêm kinh nghiêm thực tế cho bản thân khi ra công tác

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Lý luận về đói nghèo

2.1.1.1 Khái niệm về đói nghèo

a Khái niệm về người nghèo

Người nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được

xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Nghèo là một cuộc sống thiếu về vật chất hay tinh thần, tiêu dùng hàng ngày, trình độ giáo dục y tế thấp, dễ bị tổn thương và rủi ro cao, không có quyền và tiếng nói nhiều trong xã hội Vì thế xóa đói giảm nghèo được định nghĩa là làm giảm đi những thiếu thốn đó trong cuộc sống

Nghèo được diễn tả là sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn nhất định Thước đo tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo thay đổi theo từng địa phương và theo thời gian

Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người nghèo là người có thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia đó

Tóm lại nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được

xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Trang 13

b Khái niệm về hộ nghèo

Hộ Nghèo là tình trạng một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng, xét trên mọi phương diện

Nghèo được chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối hoặc nghèo có nhu cầu tối thiểu

Nghèo tuyệt đối :

Theo ngân hàng thế giới “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở danh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê, mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng ”

Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn cho nạn nghèo tuyệt đối Bước tiếp đưa ra mức ranh giới nghèo (chuẩn nghèo) cho từng địa phương, từng khu vực Được xác định từ 2 đôla/ người/ngày cho châu Mỹ La Tinh và từ 3 - 4 đôla/người/ngày là cho những vùng Đông Âu, cho đến 14 đôla/người/ngày cho những nước công nghiệp

Nghèo tương đối :

Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự đáp ứng đầy đủ của xã hội đó

Nghèo tương đối có thể coi là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối Khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào điều kiện khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất, và việc thiếu

sự cung cấp nhu cầu phi vật chất ngày càng được coi trọng Việc nghèo đi về văn hóa xã hội, thiếu sự tham gia các hoạt động trong cuộc sống cộng đồng là

Trang 14

do thiếu hụt về tài chính (Những người nghèo) xem như là một thách thức cho các cấp chính quyền về công tác xóa đói giảm nghèo toàn diện cho người dân

2.1.1.2 Quan điểm đánh giá hộ nghèo

a Phương pháp xác định chuẩn nghèo của một số quốc gia trên thế giới

Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo Nước Mỹ áp dụng mức chuẩn từ những năm 60 của thế

kỷ trước, cụ thể, thu nhập 18.600 đô la/năm là ngưỡng nghèo đối với các gia đình có bốn người (gồm bố mẹ và hai con), và thu nhập 9.573 đô la/năm là ngưỡng nghèo đối với người độc thân trong độ tuổi lao động Theo chuẩn này thì năm 1993 nước Mỹ có 15,1% dân số nghèo khổ, năm 2000 tỷ lệ đó giảm xuống còn 11,3%, nhưng tới năm 2003 thì tỷ lệ người nghèo của nước Mỹ tăng lên 12,5% (tức là khoảng 35,9 triệu người dân Mỹ sống trong tình trạng nghèo đói)

Ma-lai-xi-a sử dụng tiêu chuẩn 9.910 ca-lo một ngày tính trên một gia đình có hai người lớn và ba trẻ em để làm đường nghèo Ấn Độ áp dụng ngưỡng nghèo với chuẩn mực tiêu thụ bình quân đầu người hàng ngày 2.400 ca-lo đối với vùng nông thôn và 2.100 ca-lo đối với vùng đô thị Pa-ki-xtan lấy đường nghèo là tiêu thụ 2.350 ca-lo bình quân một người lớn qui ước hàng ngày Phi-lip-pin lại lấy ngưỡng nghèo ở mức 2.000 ca-lo Tương tự, Xri Lan-ca: 2.500 ca-lo; Nê-pan: 2.124 ca-lo; Thái Lan: 2.099 ca-lo; Bang-la-đet: 2.122 ca-lo; A-dec-bai-gian: 2.200 ca-lo; một số quốc gia khác lại sử dụng ngưỡng nghèo là tiêu thụ một ngày 2.100 ca-lo một người, như Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Ngay trong một quốc gia mà người ta cũng

sử dụng các tiêu chuẩn nghèo khác nhau, ví dụ ở Xri Lan-ca, các nhà nghiên cứu không phải lúc nào cũng lấy 2.500 ca-lo làm ngưỡng nghèo.Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh giá WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men,

Trang 15

dịch vụ y tế, nhà ở, giá trị hàng hoá lâu bền Tuy nhiên báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn người lao động tự hành nghề

WB đưa ra hai ngưỡng nghèo :

+ Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực gọi là ngưỡng nghèo lương thực

+ Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung

- Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998 là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày Người dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực Dựa trên giá cả thị trường để tính chi phí cho rổ lương thực đó Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm

b Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Việt Nam

Cách xác định ngưỡng nghèo chung :

Ngưỡng nghèo chung =

Ngưỡng nghèo lương thực +

Ngưỡng nghèo phi lương thực

Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là

503038 đồng/người/năm từ đó ta còn ngưỡng nghèo chung là 1.789.871 đồng/người/năm

Quan điểm của tổng cục thống kê Việt Nam:

Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việt Nam được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời giá vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người Những người có mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo

Trang 16

Quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội:

Theo quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội cho rằng nghèo là

bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu

cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực

Bộ lao động thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau:

+ Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng quy ra gạo được 13 kg

+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng

Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo

Vùng thành thị dưới 25 kg gạo

c Cơ sở phân định hộ nghèo, cận nghèo trong khi tiến hành đề tài

Theo chỉ thị số: 1752/CT - TTg về việc tổ chức tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội giai đoạn

2011 - 2015

Mức chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn này như sau:

Khu vực nông thôn những hộ có thu nhập bình quân từ: 400.000đ/ người/ tháng (từ 4.800.000đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ: 500.000đ/ người/ tháng (từ 6.000.000đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Mức cận nghèo áp dụng trong giai đoạn này như sau:

Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đến 520.000đ/người/tháng là hộ cân nghèo

Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đến 650.000 đ/người/tháng là hộ cân nghèo

Trang 17

2.1.1.3 Quan điểm đánh giá hộ nghèo, cận nghèo theo địa phương

Nhằm xác định chính xác đầy đủ hộ nghèo, tỷ lệ nghèo ở từng địa phương và trên cả nước, làm căn cứ cho việc xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế và an sinh xã hội của các địa phương và cả nước, ngày 21/9/2010, thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 1752/CT-TTgvề việc tổ chức tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2015

Tiếp đó, ngày 30/1/2011, thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015

Theo hai văn bản nêu trên, chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

2.1.2 Lý luận về kinh tế hộ

2.1.2.1 Khái niệm về kinh tế hộ

Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: “Hộ” là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung Thống kê Liên Hợp Quốc cũng

có khái niệm về “Hộ” gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng

Trang 18

Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: “Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm

Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan

hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”

Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ

là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”

Giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) đưa ra một số định nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là:

+ Thứ nhất, đất đai: Người nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố

hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó, nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai

+ Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một

đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân Người “lao động gia đình” là cơ

sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng với các xí nghiệp tư bản

+ Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông dân

làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận

Tóm lại trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh:

Trang 19

Hộ gia đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế, các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động,…) được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách, cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình

Gia đình là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng, có cùng chung huyết tộc Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế

2.1.2.2 Sự cần thiết phát triển kinh tế hộ

Kinh tế hộ nông dân là một trong những thành phần cấu tạo nên nền kinh

tế quốc dân của mỗi nước, nó không chỉ tự phát triển, tự ảnh hưởng, mà còn ảnh hưởng tới các thành phần kinh tế khác và cũng chịu sự ảnh hưởng của các thành phần kinh tế này

Trong các học thuyết, các quan điểm của mình các nhà kinh tế, các nhà chính trị đã phần nào nêu lên những chứng kiến của mình về vai trò của kinh

tế hộ Trong bất kỳ thời đại nào, bất kỳ thời điểm lịch sử nào kinh tế hộ nông dân vẫn luôn đóng vai trò quan trọng

- Cung cấp lượng lương thực, thực phẩm chủ yếu cho đời sống và nhu cầu của con người:

Hàng năm trên thế giới, với sự ổn định khoảng 300 triệu hộ nông dân đã đóng góp, giữ vai trò là lực lượng chủ đạo trong nền nông nghiệp toàn cầu Sản xuất khoảng trên 2000 triệu tấn lương thực, khoảng 1000 triệu tấn thịt, sữa, trứng và hàng tỷ rau, quả cũng cấp cho gần 6 tỷ người

Ở Mỹ, chỉ với khoảng 65% đất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân đã tạo

ra một lượng nông sản chiếm khoảng 70% giá trị sản phẩm nông nghiệp, 50%

Trang 20

Ở Nhật Bản, kinh tế hộ nông dân đã sản xuất ra một khối lượng sản phẩm đủ cung cấp cho nhu cầu của cả nước với khối lượng 100% nhu cầu về gạo, 81% nhu cầu về thịt, 98% nhu cầu về trứng, 90% nhu cầu về rau, quả,…

Ở Việt Nam, với trên 10 triệu hộ nông dân hàng năm đã tạo ra khối lượng nông sản, thực phẩm lớn với sự tiến bộ vượt bậc Theo thống kê năm

2012, sản lượng lúa cả 3 vụ đều được mùa, đạt hơn 43,7 triệu tấn, sản lượng ngô đạt 4,8 triệu tấn, tổng sản lượng thuỷ sản năm 2012 ước đạt 5.745 ngàn tấn, sản lượng thịt trứng liên tục tăng Nước ta không những đảm bảo nhu cầu

về lương thực, thực phẩm cho nhân dân cả nước mà còn vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất trên thế giới

- Hình thành đơn vị tích tụ vốn của xã hội:

Kinh tế hộ nông dân với đặc điểm là đơn vị sản xuất cơ sở và tự chủ đã đóng vai trò là đơn vị tích tụ vốn của xã hội, cùng với các đơn vị trong các thành phần kinh tế khác tạo nên một tổng thể các nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu về vốn của toàn xã hội

Nguồn vốn mà các hộ nông dân tích tụ được là cơ sở cho việc chuyển từ kinh tế tự túc tự cấp sang kinh tế hàng hóa với hiệu quả cao mang lại Kết quả

ấy sẽ tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nông nghiệp, góp phần tích cự và to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình, kinh tế hộ nông dân vừa

là đơn vị tích tụ vốn, vừa đóng góp vai trò là đơn vị giải ngân nguồn vốn đó vào việc tái sản xuất hoặc mở rộng ngành nghề, tạo nguồn đầu tư vào các ngành khác

- Tạo công ăn việc làm cho người lao động:

Trong quá trình sản xuất, kinh tế hộ nông dân cần sử dụng nhiều lao động với số ngày công rất cao Tuy nhiên với mỗi dạng hộ khác nhau, ở mỗi

Trang 21

thời điểm và thời kỳ phát triển của hộ khác nhau mà có nhu cầu về lao động không giống nhau

+ Sử dụng lao động gia đình:

Hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình cũng là nguồn cung cấp chủ yếu cho hộ, chúng ta phải nói rằng đa số lao động trong hộ đều làm việc cho sự phát triển và mục tiêu sản xuất cũng như quá trình sản xuất của hộ nông dân

+ Sử dụng lao động gia đình chưa đến tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động:

Hiện nay, một tình trạng khá phổ biến là ở các hộ nông dân là sử dụng lao động ngoài độ tuổi lao động, đó là trẻ em và người lớn tuổi Với cách tính

cứ hai lao động này bằng một lao động chính đã góp phần tăng thu nhập cho

hộ, giải phóng dần lực lượng lao động chính ra khỏi nông nghiệp đến một mức hợp lý

+ Sử dụng lao động làm thuê:

Việc sử dụng lao động làm thuê rất ít khi xảy ra ở những hộ tự cung tự cấp, sản xuất nhỏ nhưng lại là việc làm khá phổ biến ở các hộ nông dân sản xuất hàng hóa và sản xuất lớn Những hộ nông dân này, việc thuê mướn thêm lao động thường xuyên hoặc vào thời vụ là điều cần thiết với tiền công hợp lý

đã tạo ra một số lượng công ăn việc làm khá lớn cho nhưng lao động dư thừa

ở nông thôn hiện nay

Kinh tế hộ nông dân, trong quá trình sản xuất và phát triển của mình cần rất nhiều ngày công lao động Thực tế đã chứng minh qua những năm vừa qua, kinh tế hộ nông dân đã giải quyết cho hàng triệu lao động ở nông thôn nước ta, góp phần quan trọng vào công cuộc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động

- Thực hiện phân công lao động theo đơn vị kinh tế hộ nông dân:

Trang 22

Cùng với quá trình phát triển của mình, kinh tế hộ nông dân ngày càng

có điều kiện để tích lũy tái sản xuất theo cả chiều rộng và chiều sâu Khoa học

kỹ thuật và công nghệ cũng như máy móc được áp dụng và sử dụng vào sản xuất ngày càng được nâng lên rõ rệt thêm vào đó là sự phù hợp trong cơ chế

và các chính sách của nhà nước sẽ giúp cho sản xuất ngày càng phát triển, lao động phục vụ cho nhu cầu của kinh tế hộ về nông nghiệp ngày càng giảm, sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp Số lao động

dư thừa này với trình độ ngày càng được nâng lên sẽ chuyển dịch sang làm việc tại các ngành, nghề khác, nhất là các ngành nghề truyền thống sẽ ngày càng phát triển

Tất cả những điều này sẽ dẫn tới diện tích đất nông nghiệp trên đầu người sẽ tăng, năng suất lao động tăng và hiệu quả sản xuất của một lao động

sẽ không ngừng được nâng lên

- Đổi mới kỹ thuật sản xuất:

Sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân với tư cách là một thành phần kinh tế tồn tại và luôn đổi mới cùng với quá trình đổi mới và phát triển của nền kinh tế Kinh tế hộ nông dân chịu sự ảnh hưởng tác động của các thành phần kinh tế khác, các yếu tố khác Qua quá trình hoạt động, nó luôn phát triển hướng tới hoàn thiện mình và đổi với về kỹ thuật sản xuất Sự đổi mới về kỹ thuật sản xuất có được là do tác động của một số yếu tố sau:

+ Người nông dân với kinh nghiệm sản xuất ngày càng làm tốt hơn công việc của mình, phát hiện những khó khăn cần khắc phục và những thuận lợi cần khai thác

+ Cùng với quá trình phát triển của mình, việc đầu tư cho đổi mới trang thiết bị sản xuất là điều tất yếu mà việc học hỏi khoa học kỹ thuật mới là việc làm thực sự cần thiết

+ Trong đời sống kinh tế hộ nông dân thì việc lành mạnh, sự ganh đua với những kết quả đạt được sẽ là động lực, là nhân tố tích cực đầu tư và học hỏi

Trang 23

+ Cùng với sự quan tâm về giáo dục của nhà nước, các mạng lưới khuyến nông ngày càng hoạt động có hiệu quả thì hệ quả là trình độ của người lao động trong hộ nông dân ngày một tăng lên Điều này thực sự là nhân tố tích cực giúp vận dụng tốt những điều kiện vốn có, những tư liệu sản xuất trong nông hộ được kết hợp có khoa học mang lại hiệu quả kinh tế cao + Qua thời gian và sự phát triển của nền kinh tế, đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp cũng ngày một tăng, góp phần khai thác tốt những tiềm năng, ưu thế riêng có của hộ

Tất cả những điều nói trên kết hợp với nhau một cách hài hòa, khoa học, kinh nghiệm truyền thống kết hợp với kỹ thuật hiện đại làm cho sản phẩm sản xuất ngày càng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn, giá thành hạ hơn, lợi nhuận ngày càng cao hơn Đó cũng là mục tiêu cho sự tồn tại và phát triển của kinh

tế hộ nông dân

Với những lợi thế của kinh tế hộ đã nêu trên, chúng ta có thể khẳng định kinh tế hộ nông dân sẽ tồn tại và luôn là một thành phần kinh tế quan trọng của quốc gia Sự phát triển của nó không những làm cho đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp ngày càng được khai thác đầy đủ và có tác dụng to lớn thúc đẩy sự phát triển của các thành phần, các ngành kinh tế khác

Thực tế đã cho thấy phát triển kinh tế hộ nông dân có nhiều ưu điểm, nhiều lợi thế Hơn nữa phát triển kinh tế hộ nông dân còn giúp phát triển lực lượng sản xuất, tạo công ăn việc làm và tăng thêm thu nhập cho gia đình Đây

là việc làm thực sự có ý nghĩa với bất kỳ một nên kinh tế nào, một xã hội nào Việc phát triển lực lượng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động là điều cần thiết cho sự phát triển của xã hội và của con người Năng lực sản xuất ở nông thôn, nhiều khi còn bị bó buộc nhưng nay đã được giải phóng, được phát huy tác dụng qua sự phát triển của kinh tế hộ

Trang 24

Phát triển kinh tế hộ nông dân sẽ giúp khai thác hết mọi tiềm năng, tiềm lực trong nông nghiệp nông thôn Khai thác sử dụng có hiệu quả những tư liệu sản xuất như đất đai, công cụ lao động,…, những yếu tố khác mà chỉ có kinh tế hộ sử dụng đem lại hiệu quả nhất

Trong những năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế và nông nghiệp nước ta

đã khởi sắc, đạt được những thành tự to lớn, điều đó có được là có một sự đóng góp không hề nhỏ của kinh tế hộ nông dân Điều này một lần nữa khẳng định sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật của sản xuất nông nghiệp

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Thực trạng đói nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay

2.2.1.1 Thực trạng chung

Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục suy giảm trong năm 2009 sẽ đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa mạng sống của thêm 200.000-400.000 trẻ em trong giai đoạn 2009-2015, theo đó 1,4-2,8 triệu trẻ em có thể bị tử vong nếu khủng hoảng tiếp diễn Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) được đánh giá trên 3 dấu hiệu cơ bản:

tỷ lệ người thiếu ăn, mức độ phổ biến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi, tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi Nhìn chung, trong những năm từ 1990-2008, GHI trung bình của thế giới đã giảm gần 1/5 Nhiều quốc gia đã giải quyết tốt vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi và tỷ lệ người thiếu ăn vẫn còn khá cao

Đói nghèo giết chết hơn 30.000 trẻ dưới 5 tuổi trên khắp thế giới mỗi ngày, báo cáo của Manos Unidas - một tổ chức phi chính phủ (NGO) Tây

Trang 25

Ban Nha Manos Unidas (United Hands) cho biết điều này có nghĩa là có khoảng 11 triệu trẻ em chết mỗi năm vì nghèo đói, trong đó có 7 triệu trẻ dưới 5 tuổi, 130 triệu trẻ không được đi học và 82 triệu trẻ bị mất tuổi thơ bởi phải kết hôn quá sớm Báo cáo của Manos Unidas cũng cho hay hiện có 15 triệu trẻ em trên thế giới bị mồ côi vì AIDS, đa số rơi vào trẻ ở Nam Phi, 246 triệu trẻ phải đi làm khi chưa đủ tuổi lao động, trong đó có 72 triệu trẻ dưới

10 tuổi

Trong khi đó, theo ước tính của Liên hiệp quốc, có khoảng 100 triệu trẻ

em trên thế giới không có nhà cửa và đang sống trên các đường phố Trước thực trạng này, LHQ kêu gọi các nước cải thiện điều kiện y tế và vệ sinh, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ em, cải thiện tình trạng đói nghèo và tạo điều kiện cho trẻ em phổ cập giáo dục tiểu học

2.2.1.2 Thực trạng đói nghèo của một số nước

a Trung Quốc

Từ năm 2001 đến năm 2010, thông qua việc thực thi hàng loạt dự án xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn bằng những dự án phát triển, Trung Quốc đã cơ bản giải quyết vấn đề sinh sống và ấm no cho cư dân nông thôn Chính phủ Trung Quốc lấy dân số dưới chuẩn nghèo, tức thu nhập bình quân đầu người mỗi năm thấp hơn 1.274 đồng nhân dân tệ làm đối tượng xóa đói, giảm nghèo, lấy các khu vực tập trung dân số nghèo khó làm khu vực trọng điểm của việc xóa đói, giảm nghèo Nhờ có nguồn đầu tư lớn từ tài chính công, bảo đảm đủ ăn đủ mặc của cư dân nông thôn Trung Quốc cơ bản được giải quyết Dân số nông thôn nghèo khó ở Trung Quốc từ 94,22 triệu người tính đến cuối năm 2000, giảm xuống còn 26,88 triệu người năm 2010 Tỷ lệ dân số nông thôn nghèo khó trong tổng số dân nông thôn Trung Quốc từ 10,2% năm 2000, giảm xuống còn 2,8% năm 2010 Trung Quốc đã thực hiện trước thời hạn mục tiêu giảm 50% dân số nghèo khó theo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Trang 26

của LHQ, góp phần quan trọng cho sự nghiệp xóa giảm đói nghèo của toàn thế giới

b Hoa Kỳ

Ở Mỹ hiện có 46,2 triệu người đang sống dưới mức nghèo đói-tỷ lệ tương đương với 15,7% dân số Trong năm 2010, 10% người nghèo nhất có thu nhập bằng với mức thu nhập của năm 1994

Theo số liệu được Cục thống kê dân số Mỹ đưa ra gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng chậm chạp và thị trường việc làm có rất ít tiến triển, gần 1/6 dân số nước Mỹ đang sống dưới mức nghèo khổ Để vượt qua mức nghèo đói, 1 gia đình gồm 4 người phải có mức thu nhập tối thiểu là 22.811 USD/năm

c Italy

Italy là một nước thuộc G-8, trong giai đoạn 2005 - 2012, tỷ lệ người nghèo đã tăng gấp đôi và hiện có khoảng 4,8 triệu người nghèo đói, khoảng 18,2 triệu người đang đối mặt với nghèo khó Còn theo các số liệu của báo cáo “châu Âu 2020” của cơ quan thống kê Italy (Istat), riêng năm 2012, tỷ lệ người nghèo ở Italy tăng gần 30% - mức cao nhất ở châu Âu sau Hy Lạp Số

hộ gia đình có cha mẹ đơn thân rơi vào cảnh nghèo đói cũng tăng từ 5,8% trong năm 2011 lên 9,1% năm 2012

2.2.2 Thực trạng đói nghèo tại Việt Nam

2.2.2.1 Thực trạng chung

Chính sách đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay và nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/TƯ ngày 27-11- 1989 của bộ chính trị “ Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi

“ và quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) “ về một số chủ trương biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế xã hội miền núi “ nhằm cụ thể hoá việc phát triển kinh tế-xã hội vùng cao, miền núi ngày càng đạt được nhiều thành tựu Có thể nói chưa bao giờ các chủ trương

Trang 27

chính sách của Đảng và Nhà nước lại có tác động mạnh mẽ đến như vậy đối với vùng cao, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn quen với một cuộc sống có nhu cầu thấp về tiêu thụ và hưởng thụ

Trong tQnh hQnh đó sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét Một nhóm nhỏ đã năng động sáng tạo biết cách làm ăn để vượt lên Một nhóm lớn vẫn còn loay hoay chưa dám mạnh dạn thay đổi, kiếm tìm nguồn lực, phương thức tăng thu nhập Đa số thực sự chỉ trông vào hạt ngô cây lúa, hứng chịu nhiều hơn sự rủi ro, thất bát mùa màng Không có lương thực cũng có nghĩa là không thể chăn nuôi để tăng thu nhập, không có tiền để đầu tư vào vật tư, giống cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch ít hơn, trong khi số người trong gia đình ngày càng tăng lên Phương thức đơn giản và đỡ tốn kém nhất là đốt phá rừng làm nương rẫy để tăng thêm lương thực, thậm chí một số đồng bào dân tộc Thái, Dao và Mông quay sang trồng cây thuốc phiện để tạo thu nhập cho cuộc sống

Sự giàu nghèo giữa các dân tộc thiểu số là một vấn đề cần được quan tâm để tìm ra phương sách phù hợp Cùng một vùng, khi người giàu hoặc khá

ở dân tộc Nùng là 10% thì dân tộc Giáy chưa có sự hình thành tầng lớp này ở dân tộc Thái là 8 - 10 % trong khi người Mông ở Nghệ An lại là 31,25% do còn lén lút trồng bán thuốc phiện

Trong việc phân chia mức độ nghèo đói, có thể phân chia ra các nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất: Một số hộ đói nghèo chủ động tìm kiếm cơ hội thoát

ra khỏi cảnh nghèo đói Họ tìm đến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cao hơn, giỏi làm kinh tế để học tập kinh nghiệm, tìm tòi các địa điểm, địa phương có điều kiện làm việc để có thu nhập cao hơn Họ mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất, tìm kiếm để mở rộng sản xuất ngoài nông nghiệp và chăn nuôi

Trang 28

Nhóm thứ hai: Nhóm này ít năng động hơn có thể khá lên thoát khỏi đói nghèo nhờ vào các chương trình phát triển giao thông, có đường sá tốt để giao lưu buôn bán trao đổi hàng hoá và nhờ vào được hưởng các dự án kinh tế, văn hoá, xã hội Nhưng nhóm này tỏ ra kèm năng động hơn nhóm thứ nhất và cũng đễ bị đẩy xuống diện đói nghèo nếu các chương trình, dự án trên địa bàn kết thúc Đó là nhóm thiếu bền vững

Nhóm thứ ba: Đây là nhóm chiếm đa số là những người không hoặc rất ít khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương hoặc phát đồi rừng làm nương để hy vọng có lương thực khá hơn, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi về giao thông, chợ, tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không nghĩ ra hoặc không giám mạnh dạn tìm cơ hội thay đổi cuộc sống Tâm lý dân tộc thiểu số quen sống dựa vào tự nhiên an phận thủ thường, dễ thoả mãn vào các nhu cầu cũng là một yếu tố đáng quan tâm một phần số họ là những người neo đơn, bệnh tật, già nua, độc thân, họ sẽ bị tụt hậu mãi về phía sau khi nền kinh tế không ngừng tăng trưởng

2.2.2.2 Thực trạng của một số tỉnh ở nước ta

Đói nghèo luôn là vấn đề được xã hội quan tâm Ở các nước phát triển,

dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại tình trạng phân hóa giàu nghèo Còn ở những nước đang phát triển với thu nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không đủ ăn trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh

tế, xã hội Trong đó, đói nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa trầm trọng hơn các khu vực miền xuôi Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng rất

Trang 29

xấu tới chất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách tích cực giúp xóa đói giảm nghèo cho vùng núi và đã đạt những kết quả nhất định Song trên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá nghiêm trọng bởi những chính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp với tình hình địa phương, và do đó sự tác động của chúng tới việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa thật sự hiệu quả Dưới đây là thực trạng nghèo đói của một số tỉnh miền núi:

a Lạng Sơn

Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới còn nhiều khó khăn như xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng, giao thông không thuận lợi Trình độ dân trí không đồng đều, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, thiên tai và dịch bệnh luôn tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến đói nghèo Năm 2013, Lạng Sơn có 2 huyện Bình Gia và Đình Lập được hưởng chính sách hỗ trợ huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Theo kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo cuối năm 2012, toàn tỉnh còn 21,02% hộ nghèo, hộ cận nghèo chiếm 8,87% và 7,63% hộ thuộc diện đối tượng đặc biệt khó khăn Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nghèo

là thiếu vốn, thiếu đất sản xuất và thiếu kinh nghiệm làm ăn

b Bắc Kạn

Bắc Kạn là tỉnh miền núi với 90% là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó, hơn 80% dân số sống bằng nghề nông-lâm nghiệp Do đó, giảm nghèo là một trong những chương trình ưu tiên hàng đầu trong phát triển KT-XH của tỉnh Những năm qua, bằng các giải pháp quyết liệt của tỉnh Chương trình xóa đói, giảm nghèo được lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình 134, 134 Năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh là 50,4% đến năm 2010 giảm xuống còn hơn 32% Đến cuối năm 2012 toàn tỉnh còn gần 17 nghìn hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 20,39% Trong những năm qua, hơn 82 nghìn lượt

Trang 30

hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội với số tiền hơn 1 nghìn tỷ đồng để đầu tư phát triển kinh tế, các chính

sách hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất, tư liệu sản xuất, trợ giúp pháp lí, y tế

c Cao Bằng

Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn, có tới 95% đồng bào là dân tộc thiểu số và hơn 70% số xã nằm trong diện đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp và chưa đồng đều giữa các dân tộc, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp Là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ đói, nghèo cao gần 47,82%, trong đó vùng đặc biệt khó khăn còn tới trên 70%, có xã trên 90%, ở các vùng dân tộc thiểu số còn trên 80% đói nghèo năm 2006, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém GDP bình quân đầu người chỉ đạt 602 USD/người/năm (vào năm 2010) Cao Bằng hiện vẫn đang là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước

d Hà Giang

Hà Giang là một tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc Toàn tỉnh có 195 xã, phường, thị trấn nhưng trong đó có tới 115 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn theo phân loại của Uỷ ban dân tộc miền núi, tỷ lệ đói nghèo của xã cao nhất là 86,3% Chính vì thế đến nay một bộ phận không nhỏ dân cư của tỉnh còn sống trong tình trạng định canh định cư chưa bền vững, trình độ phát triển kinh tế thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao Năm 2007, thu nhập bình quân tính trên đầu người của tỉnh Hà Giang đạt 4,04 triệu đồng/người/năm và tỉ lệ hộ nghèo chiến 35,49%, đến năm 2009 bình quân thu nhập đầu người đã đạt 6,3 triệu/người/năm, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 20,64%

2.2.3 Bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế

Qua tìm hiểu thực trạng đói nghèo và tình hình phát triển kinh tế của một

số nước trên thế giới và ở nước ta trong những năm gần đây Em rút ra được một số kinh nghiệm trong phát triển kinh tế như sau:

Trang 31

Một là: Không thể áp đặt phương pháp sản xuất công nghiệp vào nông

nghiệp, nghĩa là không thể tách quản lý sản xuất ra khỏi sản xuất, các chủ hộ

sẽ vừa là người quản lý vừa là người trực tiếp và là người kinh doanh Để quản lý được, người chủ hộ phải có kiến thức rộng, phải có năng lực và đặc biệt là phải có thái độ người chủ, đồng thời là người gần gũi với đất đai, vật nuôi và cây trồng

Hai là: Con đường phát triển kinh tế hộ nông dân tự cấp, tự túc lên kinh

tế trang trại không phải là quy luật riêng của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà là quy luật phát triển chung của nền nông nghiệp thế giới, là một tất yếu khách quan trong quá trình chuyển từ nông nghiệp tự nhiên sang nông nghiệp hàng hóa

Ba là: Hộ nông dân chuyển từ sản xuất tiểu nông sang sản xuất hàng

hóa, tất yếu phải phát triển theo quy mô trang trại gắn với hình thức hợp tác cần thiết Nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế

hộ bằng cơ chế, chính sách, biện pháp hỗ trợ cho người nông dân của mình

Bốn là: Tư liệu sản xuất là điều tối cần thiết đối với kinh tế hộ, đặc biệt

là đất đai và vốn sản xuất

Năm là: Các hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động gia đình kết hợp với

phương tiện hiện đại, mọi xu hướng đi ngược chiều đều không mang lại hiệu quả cao

Sáu là: Quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân phải gắn liền với quá

trình tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật trong nông nghiệp

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ nghèo và các hộ nông dân trên địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian:

Đề tài được triển khai tại xã Minh Thanh, Huyện Sơn Dương, Tuyên Quang

- Phạm vi thời gian:

+ Đề tài thu thập số liệu về xóa đói giảm nghèo và các phương pháp phát

triển kinh tế cho hộ nghèo từ năm 2011-2013, số liệu khảo sát được điều tra năm 2014

+ Thời gian triển khai thực hiện đề tài: Từ tháng 01 năm 2014 đến tháng

04 năm 2014

+ Các số liệu điều tra về hộ được tập trung vào năm 2013

3.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo tại

xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

Đề tài đánh giá hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

Đề tài đề xuất các giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại xã Minh

Thanh- Sơn Dương-Tuyên Quang

Trang 33

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

3.3.1.1 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Do có sự khác biệt về ngôn ngữ dân tộc trong các thôn trên địa bàn nghiên cứu nên phải sử dụng kết hợp phỏng vấn và tiến hành phân tích bằng bảng hỏi đã được chuẩn bị sẵn

Những chủ đề phỏng vấn tập chung vào:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và con người tại xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

- Thực trạng nghèo tại xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

- Những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của các hộ nông dân trong địa bàn xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

- Đánh giá về những kết quả đạt được và những tồn tại của các chính sách xóa đói giảm nghèo đã và đang thực hiện tại xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

- Giải pháp nhằm giảm nghèo ở xã Minh Thanh-Sơn Tuyên Quang

- Những giải pháp phát triển kinh tế ở xã Minh Thanh-Sơn Tuyên Quang

Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên,

và lấy 60 hộ dân, của 6 thôn để làm mẫu điều tra phân tích

Tiêu chuẩn chọn mẫu điều tra: Chọn mẫu điều tra là vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nghiên cứu Phải đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ địa bàn nghiên cứu Với phạm vi không gian đề tài thực hiện trên địa bàn là xã Minh Thanh Với mục tiêu chính là nghiên cứu và phân tích các nguyên nhân nghèo của hộ

Trang 34

- Để bắt đầu đợt khảo sát trước tiên phải tìm hiểu chung về địa bàn nghiên cứa, gặp gỡ, làm quen trao đổi nội dung và cách làm với cán bộ địa phương

- Điều tra và hoàn thiện bộ câu hỏi phỏng vấn

- Công việc khảo sát được tiến hành các buổi trao đổi ý kiến với cán bộ lãnh đạo địa phương và cộng đồng người dân, tại hộ gia đình, trên đồng ruộng,…

- Thời gian phỏng vấn được bố trí vào lúc thuận tiện cho công việc của người dân: Buổi trưa, buổi tối,…

3.3.1.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Đề tài thu thập những thông tin:

- Đề tài thu thập những tài liệu về kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

- Đề tài thu thập những tài liệu đã có về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

- Đề tài thu thập những báo cáo tổng kết của giai đoạn 2011-2013 của xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

- Đề tài thu thập những kết quả nghiên cứu, những kinh nghiệm liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế của xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang

3.3.2 Phương pháp xử lý thông tin

Phương pháp tổng hợp và sử lý thông tin

Sử dụng các công cụ trên máy tính như: Microsoft Word, Excel để tổng hợp và xử lý thông tin sơ cấp

3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin

3.3.3.1 Phương pháp thống kê kinh tế

Là phương pháp giúp cho việc tổ chức điều tra thu nhập được những tài liệu mang tính đại diện, phản ánh khái quát hiện tượng kinh tế Nó giúp cho

Trang 35

việc tổng hợp số liệu, tính toán các chỉ tiêu một cách đúng đắn, khách quan, đúng với nội dung nghiên cứu

3.3.3.2 Phương pháp so sánh

Phương pháp này được vận dụng để phân tích các hiện tượng kinh tế Sử dụng các số liệu thu thập từ thực tế rồi đặt chúng vào các điều kiện cụ thể trên địa bàn nghiên cứu, rồi đưa ra các kết quả đã đạt được Từ đó tìm được bản chất, tính quy luật của hiện tượng, khái quát lên những vấn đề chung của hiện tượng Qua đó rút ra những thuận lợi, khó khăn của hiện tượng kinh tế Cuối cùng là đưa ra các giải pháp thực tế và hướng đi phù hợp cho quá trình phát triển kinh tế trong tương lai

Trang 36

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Minh Thanh nằm ở phía Đông-Bắc huyện Sơn Dương, cách trung tâm huyện 18km về phía Bắc Phía Đông-Bắc giáp xã Trung Yên, phía Đông giáp xã Tân Trào, phía Tây-Bắc giáp xã Tiến Bộ, huyện Yên Sơn, phía Tây-Nam giáp xã Tú Thịnh, phía Nam giáp xã Bình Yên, phía Bắc giáp xã Công

Đa, huyện Yên Sơn Xã có chiều dài 8km từ xã Tú Thịnh đến xã Trung Yên, chiều rộng 5km từ giáp xã Tiến Bộ (Yên Sơn) đến xã Trung Yên Xã có diện tích tự nhiên 3.323 ha, trong đó đất nông nghiệp 640,1 ha, đất Lâm nghiệp 2.408,9 ha, đất ở 28,45 ha, còn lại là đất chuyên dùng Xã Minh Thanh có 14 thôn, 1302 hộ với dân số 5260 khẩu, trong đó có 75% là dân tộc thiểu số Trên địa bàn xã có nhiều cơ quan hành chính sự nghiệp, kinh tế, quốc phòng của huyện, tỉnh và trung ương như: Ban quản lý Nha công an

4.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

Xã Minh Thanh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22-230C, lượng mưa trung bình 1.200-1.400 mm, độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 75-80% Có 1 con suối lớn chảy qua giữa địa phận 5 thôn, 1 sông Phó Đáy chảy qua địa phận 5 thôn trong xã

4.1.1.3 Đặc điểm địa hình

Khu vực xã Minh Thanh nằm ở phía Đông Bắc của huyện Sơn Dương (thuộc khu vực thượng huyện), địa thế nghiêng dần theo hướng từ Tây sang Đông, độ cao trung bình từ 350 độ Địa hình xã khá phức tạp chủ yếu là rừng núi chiếm tới 3/4 diện tích toàn xã Do điều kiện tự nhiên chi phối nên địa hình xã Minh Thanh là một thung lũng, núi non bao bọc mang đậm nét của địa hình miền Núi, phong phú về động thực vật

Trang 37

4.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

a Tài nguyên nhân văn

Do điều kiện tự nhiên chi phối nên địa hình xã Minh Thanh là một thung lũng, núi non bao bọc mang đậm nét của địa hình miền Núi, sự phong phú về động thực vật đã tạo cho xã có nhiều tiềm lực về du lịch: Khu di tích lịch sử Công An Nhân Dân, khu di tích Bộ Ngoại Giao, khu di tích Bộ Văn Hóa Thông Tin, Đình Thanh La,

b Tài nguyên nước

Tổng diện tích ao, hồ 30.72 ha, trong đó 5 hồ lớn là: Hồ Lê 6,5 ha, Hồ ao Thông là: 1,7 ha, Hồ Lũng Cộm 2,6 ha, Đập ao Lân: 1,5 ha, Đập Cây Vải: 2,5

ha Còn lại chủ yếu là các ao, hồ nhỏ của các hộ gia đình Sản lượng cá của xã hàng năm đạt 40 tấn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân Nguồn tài nguyên nước của xã chủ yếu từ các hồ đập

c Tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Minh Thanh năm 2013

Năm Chỉ tiêu

Năm 2013 Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

I Tông diện tích đất nông nghiệp 3.036,88 91,79

Trang 38

Cơ cấu đất đai cũ

và sản xuất của ngườ

là nguồn tư liệu sản xuấ

kinh tế văn hóa xã hộ ủ

hợp là điều hết sức quan tr

ảng 4.1 ta thấy:

ện tích đất tự nhiên của xã là 3.308,46 ha, trong

ế ện tích lớn nhất trong tổng quỹ đất của x

m 91,79 %) Trong đất nông nghiệp thì đất lâm nghiệ

à 2.404,29 ha (chiếm 79,17 %) tổng diện tích đất nông nghi

ếm diện tích lớn nhất trong tổng diện tích đấ

ếm 54,39%) Đất phi nông nghiệp và đất chổng diện tích đất tự nhiên

đồ 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Minh

đấ đai cũng cho chúng ta thấy phần nào về đ ề

ời dân trong xã đa số vẫn là dựa vào nông nghi

ệ ản xuất chính của họ Do vậy trong các biệ

ộ của xã, việc nghiên cứu và sử dụng đấ

ề điều kiện sinh hoạt

ào nông nghiệp Đất đai

y trong các biện pháp phát triển

ử ụng đất đai sao cho phù

Đấ t nông nghi ệ p

Đấ t phi nông nghi ệ p

Đấ t ch ư a s ử d ụ ng

Trang 39

Như vậy qua biểu trên cho thấy xã Minh Thanh có thế mạnh về sản xuất đất nông lâm nghiệp, trong đó đất trồng cây hàng năm và đất rừng sản xuất chiếm diện tích lớn nhất với đất trồng cây hàng năm là 331,47 ha/632,6 ha (chiếm 52,40 % đất nông nghiệp) Và đất rừng sản xuất là 1.651,67 ha/2404,29 ha (chiếm 68,70 % đất lâm nghiệp)

Tài nguyên rừng:

Tổng số đất lâm nghiệp của xã hiện có: 2.404,29 ha (Đất rừng sản xuất: 1.651,67 ha; Đất rừng phòng hộ: 607,08 ha; Đất rừng đặc dụng: 145,54 ha) Diện tích rừng sản xuất đã giao cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân quản lý

và sử dụng: 1.652,18 (Hộ gia đình, cá nhân: 408,98 ha Công ty lâm nghiệp Sơn Dương: 267,77 ha Diện tích rừng chưa giao: 975,43 ha, hiện do UBND

xã Minh Thanh quản lý)

4.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội

4.1.2.1 Đặc điểm điều kiện kinh tế

Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn xã Minh Thanh giai đoạn 2011-2013 được thể hiện qua bảng 4.2 sau đây:

Trang 40

Bảng 4.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn xã Minh Thanh giai đoạn 2011-2013

Chỉ tiêu

GT (Tr.đ)

Cơ cấu (%)

GT (Tr.đ)

Cơ cấu (%)

GT (Tr.đ)

Cơ cấu (%)

2012/

2011

2013/

2012 BQ Tổng giá trị sản xuất 36.290,03 100 40.871,22 100 48.916,49 100 112,62 119,68 116,15

I Ngành nông, lâm nghiệp 29.543,53 81,41 32.530,45 79,60 39.837,82 81,44 110,11 122,46 116,29

1 Nông nghiệp 24.942,03 84,42 27.520,45 84,60 34.494,30 86,59 110,34 125,34 117,84 1.1 Trồng trọt 18.381,80 73,70 20.475,00 74,40 25.993,00 75,35 111,39 126,95 119,17

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất của xã Minh Thanh năm 2013 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất của xã Minh Thanh năm 2013 (Trang 37)
Bảng 4.2: Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn xã Minh Thanh giai đoạn 2011-2013 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.2 Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn xã Minh Thanh giai đoạn 2011-2013 (Trang 40)
Bảng 4.6: Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ điều tra. - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.6 Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ điều tra (Trang 54)
Bảng 4.7: Tài sản chính của nhóm hộ điều tra - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.7 Tài sản chính của nhóm hộ điều tra (Trang 56)
Bảng 4.8: Tình hình vay vốn của các hộ điều tra. - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.8 Tình hình vay vốn của các hộ điều tra (Trang 58)
Bảng 4.10: Thống kê hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khác trong nhóm điều tra - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.10 Thống kê hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khác trong nhóm điều tra (Trang 61)
Bảng 4.11: Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.11 Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra (Trang 63)
Bảng 4.12: Chi phí cho sản xuất và chi phí khác của nhóm hộ điều tra - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.12 Chi phí cho sản xuất và chi phí khác của nhóm hộ điều tra (Trang 65)
Bảng 4.13: Tổng hợp chi phí và thu nhập trong sản xuất và sinh hoạt của - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.13 Tổng hợp chi phí và thu nhập trong sản xuất và sinh hoạt của (Trang 66)
Bảng 4.14: Tổng hợp những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của nhóm - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Bảng 4.14 Tổng hợp những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của nhóm (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w