Như ta đã biết , Nho giáo đã có một sự ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Việt Nam .
Trang 1Lời mở đầu
Nh ta đã biết , Nho giáo đã có một sự ảnh hởng rất lớn đến xã hộiViệt Nam Nó là một trong ba hệ t tởng chủ đạo cùng với Phật và Đạogiáo Nho giáo đã từng là vũ khí của kẻ xâm lợc , đã từng là hệ t tởng thốngtrị trong xã hội phong kiến Nho giáo đã giữ một vị trí đặc biệt và có mộtvai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta qua các giai
đoạn lịch sử Và cho đến ngày nay , nó cũng để lại những tàn d dai dẳng Chính vì thế việc nghiên cứu về Nho giáo , về những ảnh hởng của Nhogiáo đến xã hội Việt Nam là điều hết sức quan trọng và cần thiết Khi đóchúng ta có thể hiểu đợc những u điểm và những mặt hạn chế của Nho giáo
để bài trừ những hủ tục , những t tởng phản động và gạn lọc lấy những mặttích cực trong thời kì quá độ ngày nay
nêu những giá trị hạn chế của nho giáo
và ảnh hởng của nho giáo đến Việt Nam hiện nay
Trang 2I Sự hình thành và phát triển của Nho giáo
1 Sự hình thành và phát triển của Nho giáo
Khi nói đến Khổng giáo thì ta cũng hiểu đó là Nho giáo Sở dĩ nh vậy
là vì Khổng tử là ngời đã sáng lập ra Nho giáo và khi ngời ta gọi tên thìcũng gắn học thuyết này với tên tuổi ngời đã sáng lập ra nó Tuy nhiênnhững t tởng Nho giáo không phải chỉ đến thời Khổng tử mới có mà nó đã
có từ những thế kỉ trớc Trớc thời Xuân Thu các nhà nho đợc gọi là “sỹ”chuyên học văn chơng và lục nghệ góp phần trị vì đất nớc Đến đời mìmh ,Khổng Tử đã hệ thống những t tởng và học thuyết trớc đây thành học thuyết, gọi là Nho gia hay Nho học
Ngay từ nhỏ , Khổng tử đã nổi tiếng là ngời thông minh , học giỏisiêng năng và thích chơi trò cúng tế Sau này ông làm quan cho nớc Tề lên
đến chức Nhiếp tớng bộ coi việc hình án , ấn định luật lệ , phép tắc trong
n-ớc Trong bốn năm nhậm chức , Khổng tử đã thẳng tay trừng trị bọn loạnquan , nịnh quan trong triều , đem lại trong nớc Lỗ cảnh “ ban đêm ngủkhông phải đóng cửa , ban ngày ra đờng không ai nhặt của rơi , luân thờng
đạo lí đợc coi trọng ”
Song vua nớc Lỗ đam mê tửu sắc ,đàn hát ca múa xa hoa , bỏ bê việctriều đình nên Khổng Tử chán ngán , bỏ qua nớc Vệ Không đợc trọngdụng ở Vệ , ông qua Trần , về Vệ , sang Tống lại qua Trần ,về Vệ Mời bốnnăm ông cùng học trò bôn ba mong gặp ngời sử dụng học thuyết của mình ,song ý nguyện của ông đã không thành Đến đời Hán vũ đế , năm 130 trớccông nguyên thì đạo nho đợc phục hng và từ đó nho giáo trở thành hệ t tởngchủ đạo của xã hội phong kiến Nho giáo có mặt trong tất cả các triều đạiphong kiến Trung Hoa , nó để lại dấu ấn của mình không chỉ trong sách vở
mà trong cả cuộc sống thực của nhiều thế hệ Và nó cũng đã ảnh hởng rấtnhiều đến các triều đại phong kiến , đến phong tục , tập quán của các nớcphơng Đông
2 Một số t tởng chính trong hệ t tởng Nho giáo
Khổng Tử san định sách Dịch , Thi ,Th , Lễ , Nhạc của đời trớc đểlại , viết sách Xuân Thu để bộc lộ quan điểm của mình Nhiều quan điểmkhác của ông đợc thể hiện qua các cuộc đàm đạo mà nội dung của nó saunày đợc trìng bày trong Luận ngữ , do học trò của ông chép lại Đời Hán Vũ
đế năm 130 trớc công nguyên sách nhạc chỉ còn một thiên , đợc đem nhậpvào bộ lễ kí gọi là Thiên nhạc kí Những sách khác đợc ngời đời su tầm ,
bổ sung tạo thành năm kinh là Kinh Dịch , Kinh Thi , Kinh Lễ và KinhXuân Thu
Kinh Dịch : giải thích sự vân hành cũa vũ trụ , dùng để bói điềm lành ,dữ trong dời sống của con ngời Theo ngời Trung Hoa thợng cổ , trời đất có
âm , dơng tơng tác với nhau tạo thành sinh hoá Song do quỷ thần can thiệp
Trang 3vào nên âm dơng lúc ẩn , lúc hiện Kinh Th : là bộ sách từ đời Nghiêu đến
đời Tần Mục Công Bộ sách trình bày tỉ mỉ hoạt động ,đờng lối , t tởng củangời cổ về tiếp nhân , xử thế , đề cao phơng pháp trị vì thiên hạ bằng đạo lí ,thuận thiên thời , thuận thuỷ thổ , thuận nhân tâm , thuận lòng dân mà cácthánh vơng ngày xa đã sử dụng
Kinh Thi : là bộ sách chép lại những bài ca , bài dao của ngời TrungHoa cổ dại KhổngTử san định Kinh Thi để mong ngời đời hiểu điều hiểutrung , biết thơng , biết ghét và mở mang tri thức
Kinh Lễ : gồm ba bộ ; Chu Lễ , Nghi Lễ và Lễ Kí Trong đó Chu Lễnói về cách tổ chức hành chính , chính trị xã hội trong thời Chu , Nghi Lễquy định thể thức lễ nghi trong cuộc sống , còn Lễ Kí là phần do các môn
đệ của Khổng Tử bình về các phong tục Kinh lễ là sự vận dụng các quandiểm về vũ trụ vào cuộc sống để quy định mọi cử chỉ , hành vi , bổn phậncủa con ngời từ tấm bé cho đến khi nhắm mắt tắt hơi
Kinh Xuân Thu : Xuân Thu là bộ sách Khổng tử viết về nớc Lỗ , từ đời
Lỗ Ân Công đến đời Lỗ Ai Công , là chuyện về nhà Chu cùng các ch hầukhác Có thể coi đây là bộ biên niên sử mà KhổngTtử trong khi tránh đụngchạm đến các thế lực đang cầm quyền đã dùng nó để vạch ra nguyên nhânloạn lạc của xã hội đơng thời
Nho giáo của Không tử
1 Quan niệm về thế giới
“thái cực” vô hình huyền diệu chứa đựng hai mặt tiềm ẩn , đối lập liên hệvới nhau là âm dơng điều hoà giữa âm dơng , trời đất sẽ sinh ra vạn vật Những quan điểm về trời đất của ông cũng là những quan điểm tiến bộ
Ông cho rằng thế giới luôn vận động và biến đổi không ngừng , vận độngkhông chỉ là sự chuyển đổi vị trí mà còn là sự chuyển hóa lẫn nhau Ôngcho rằng Thái cực có bản thể và động thể Vì nó là vô hình nên không nhậnbiết đợc bản thể của nó , song có thể nhận biết đợc động thể của nó biểuhiện qua sự tơng tác chuyển hoá lẫn nhau giữa âm , dơng Ông dạy học tròcủa mình “Cũng nh dòng nớc chảy , mọi vật đều trôi đi , không có vật gìngừng nghỉ ” hoặc “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa cứ vận hành , vạn vật cứsing hoá mãi ”
Trang 4thiện “ không hiểu mệnh trời không phải là ngời quân tử ”( Luận Ngữ ,
Nghiêu viết ,3) Quan điểm của Khổng Tử về trời đất nh vậy tất yếu dẫn
đến thuyết “sống chết có mạng , giàu sang tại trời ” ( Luận ngữ , Nhan
Uyên ) Sở dĩ quyền lực và sức mạnh của trời là sự thần thánh hoá quyền
lực và sức mạnh của thế lực cầm quyền trên mặt đất Với quan điểm triếthọc cơ bản là duy tâm , muốn ru ngủ quần chúng bằng niềm tin vào mệnhtrời và số phận , Không Tử đã thể hiện rõ thái độ của mình trong việc ủng
hộ giai cấp chủ nô khi chế độ chiếm hữu nô lệ đã bớc vào thời kì suy tàn vàkhởi nghĩa vũ trang của nhân dân đang nổ ra khắp nơi
Những hạn chế trong quan điểm về thế giới của ông còn thể hiện ngaycả trong những quan điển duy vật Những quan điểm mà ông đã rút ra chỉ
là từ những suy luận của chính mình , chỉ là sự hình dung trong đầu óc màkhông đa ra bất cứ cơ sở khoa học nào để chứng minh Nh nhà triết học ph-
ơng tây Franxi Bêcơn ví đó nh phơng pháp “con nhện” Đó là “chỉ biếtngồi rút ra sự thông thái của mình từ chính bản thân mình , muốn thay thếviệc nghiên cứu giới tự nhiên và những quy luật của nó bằng những luận
điểm trừu tợng , bằng việc rút ra những kết quả bằng những kết luận chung,không tính đến sự tồn tại thực tế của chúng.”(1)
2 Quan niệm về chính trị và đờng lối cai trị đất nớc
Khi sáng tạo ra học thuyết Nho giáo , Khổng Tử đã đứng trên lập trờngcủa giai cấp thống trị mà ở vào thời của ông là giai cấp chủ nô Chính vìthế mà học thuyết do ông sáng tạo ra cũng là để bảo vệ lợi ích và địa vịthống trị cho giai cấp mình Để trị vì đất nớc , khôi phục trật tự xã hội ,Khổng Tử chủ trơng thực hiện truyết chính danh
2.1 Những giá trị
Trớc hết ta xác định những giá trị trong quan điểm về chính trị củaKhổng Tử thì trớc đây dới chế đọ cũ không thực hiên đợc nhng trong điềukiên xã hội ngày nay ta có thể tiếp thu những gía trị ấy Không tử hằng mơ
ớc một xã hội lí tởng trong đó ngời già đợc nuôi dỡng , trẻ em đợc chăm sóc, ngời lớn có công ăn việc làm , nhân dân đợc ấm no hạng phúc , không cótrộm cớp, chiến tranh , của rơi ngoài đờng không ai nhặt Khổng tử răn dạycác bậc vua chúa : vua phải là những ngời có đạo đức cao cả , có tài nănglỗi lạc , phải là bậc thánh có thể cảm hoá nhân dân , quan phải là những tôi
1( Trích Giáo trình triết học Mac-Lênin , NxB chính trị Quốc Gia )
Trang 5hiền , tớng giỏi có đủ tài để giúp vua an dân trị nớc đem lại ấm no hạnhphúc cho nhân dân , xứng đáng là cha mẹ của dân Không tử đề ra khẩuhiệu “ý dân là ý trời , ý dân với ý trời là một , vua phải làm theo ý dân tức ýtrời ” Khổng tử chủ trơng dùng lễ nhạc để giáo hoá nhân dân , bần cùng bất
đắc dĩ mới phải dùng đến biện pháp hành chính , đến pháp luật Không chủtrơng dùng luật pháp mà dùng đạo đức làm công cụ để ổn định trật tự xã hội, Khổng tử đã nhìn thấy sức mạnh của đạo đức trong cuộc sống Đạo đức
và luật pháp đều là những nguyên tắc , những chuẩn mực điều chỉnh hành vicủa con ngời trong quan hệ giữa ngời với ngời , giữa cá nhân với xã hội Song , nếu luật pháp là những yêu cầu tối thiểu thì đạo đức là những yêucầu tối đa về việc thực hiện những quan hệ này Nếu luật pháp đợc thựchiện do sự cỡng chế từ bên ngoài thì những nguyên tắc , những chuẩn mực
đạo đức đợc thực hiện từ bên trong do tính tự giác của mỗi ngời quy định ,khi bản thân ngời ấy đã nhận thức đợc quan hệ của mình với những ngờixung quanh Pháp luật trừng trị những hành động phạm pháp căn cứ vàohậu quả của nó nhng không thể trừng trị sự vi phạm còn nằm trong ý đồnào đó của các thành viên trong xã hội Đạo đức thì khác hẳn , ý thức đạodức của mỗi ngời sẽ tự trừng trị mình ngay từ khi ngời đó nghĩ đến hành
động gây hậu quả Chính vì vậy khi vai trò của đạo đức đợc nâng cao đếnmột mức độ nhất định và khi sự trừng giới bên trong mỗi ngời đợc củng cốvững mạnh đến một mức độ nhất định thì sự thi hành trừng giới bên ngoài– sự thi hành pháp luật sẽ trở thành thừa
2.2.Những hạn chế
Có thể nói những hạn chế bắt nguồn từ ngay những u điểm Nhữngquan diểm nh vua quan là cha là mẹ dân , rồi dùng lễ nhạc để giáo hoá nhândân thực chất đều là những quan điểm tiến bộ của Khổng Tử nhng những
t tởng ấy đều bị giai cấp phong kiến xuyên tạc để ru ngủ nhân dân , để củng
cố địa vị thống trị của giai cấp phong kiến Trong thực tế , bọn vua chúahầu hết lànhững ngời dâm ô , truỵ lạc , tàn bạo nhất đạo đức suy đồi nhất ,
đồng thời cũng là những ngời đợc hởng lạc nhiều nhất trên đời Còn bọnquan lại hầu hết là một lũ nịnh trên , đè dới , đục khoét dân , làm những
điều táng tận lơng tâm , miễn là đợc vinh thân phi gia Thoảng hoặc có mộtvài viên quan liêm chính , quan tâm đến quyền lợi quốc gia dân tộc , thìnhững viên quan đó bị bao vây cô lập , nhiều khi bị hãm hại nếu không mauchóng treo ấn từ quan Nguyên nhân là vì từ vua chí quan đều mu mô lợiích cá nhân , lòng tham không đáy Vì xung quanh đều tham ô , nịnh hót ,một mình trung thực , liêm chính thì ai tha cho Quyền hành của bọn vuachúa thì vô hạn Bọn quan lại cũng dựa vào đó mà tha hồ áp bức bóc lộtnhân dân Nh vậy làm sao có thể thực hiện đợc nhân chính Khổng tử đề rakhẩu hiệu ý dân là ý trời thì có vẻ tôn tọng quyền làm chủ của dân lắm nh -
ng trong thực tế , đối với bọn vua chúa , chỉ một lời nói hay một cử chỉ vô ýphạm thợng thì đã bị tội chém đàu rồi làm sao có thể thực hiện đợc dân
Trang 6chủ Khổng Tử chủ trơng dùng lễ nhạc để giáo hoá nhân dân , cái ấy là
điều tốt nhng t tởng ấy chỉ có thể thành sự thực trong một xã hội văn minhnhất , ý thức con ngời đã phát triển đến trình độ cao Còn với điều kiện thờibấy giờ và thậm chí cho tới cả ngày nay thì luật pháp vẫn cứ là một công cụhữu hiệu để duy trì trật tự xã hội Nó luôn gắn với đạo đức và có đủ sứcmạnh để khẳng định hay phủ định một bộ luật đạo đức nào đó Với t cách
là những đòi hỏi mang tính cỡng chế , luật pháp giữ vai trò cực kì quantrọng trong việc hình thành ý thức đạo đức , hành vi dạo đức , thói quen đạo
đức hay nói cách khác nó cũng chính là công cụ để rèn luyện cho con ngời
sự tự ý thức Và thực tiễn dã chứng minh , ngợc lại với chủ trơng củaKhổng Tử , ngời ta dùng những hình phạt rất tàn khốc nh roi vọt tra tấnnhục hình , gông cùm chem giết để trấn áp nhân dân gây ra biết bao oankhiên Giai cấp phong kiến còn lợi dụng lễ nhạc để củng cố thêm tôn ti trật
tự phong kíên Từ đó đề ra những t tởng sang hèn , phân biệt ngời trên , kẻdới , t tởng độc đoán chuyên quyền hết sức nặng nề trớc đây , mà ngày naycha đợc quét sạch hết
Nói chung , những quan điểm của Khổng Tử trong chính trị và đờnglối cai trị đất nớc chủ yếu là để bảo vệ giai cấp thống trị mang nặng t tởngtrọng quan khinh dân làm cho những ngời khi đã tham gia vào tầng lớpthống trị thì ngày càng trở nên xa rời quần chúng nhân dân Thái độ củadân đối với vị vua thời bấy giờ là thái độ sợ hãi và tôn sùng một vị hoàng đế
đợc thần thánh hoá và đối lập với quần chúng nhân dân Vua đợc gọi làthiên tử nghĩa là con trời , đó là hình ảnh mà Nho giáo đã dựng lên cho vịvua thời bấy giờ T tởng đức trị nhân trị , phơng pháp giáo dục nêu gơng đãcàng ngày càng làm cho xã hội phong kiến đã trở nên ngày càng thối nát ,mục ruỗng , giai cấp thống trị ngày càng trở nên lộng hành Tuy nhiên Nhogiáo cũng góp phần ổn định trật tự xã hội và củng cố trật tự phong kiến đápứng đòi hỏi của chế độ trung ơng tập quyền
Trong các mối quan hệ xã hội , Nho giáo xác định 5 mối quan hệ cơbản và thông thờng của mỗi đời ngời trong thiên hệ đợc gọi là ngũ luângồm 5 quam vua-tôi , cha-con , chồng-vợ , anh-em , bè bạn Mỗi quan hệlại có những tiêu chuẩn riêng cho từng đối tợng nh cha hiền , con thảo , anhtốt , em ngoan , chồnh biết tình nghĩa , vợ nghe lẽ phải , bề trên từ hiéu bềdới kính thuận , vua nhân từ , tôi trung thành Trong ngũ luân có 3 mốiquan hệ cơ bản nhất , Nho gia gọi là tam cơng
3.1.Những giá trị
Đối với quan hệ vua tôi , trớc hết Khổng Tử chống nối ngôi vua theokiểu cha truyền con nối Ông lên án việc truyền chức tớc theo huyết thống ,dòng dõi Khổng tử cho rằng ngời cần quyền phải có đức , có tài mà khôngcàn tính đến đẳng cấp xuất thân của họ Khổng Tử đẫ nêu ra những đòi hỏi
Trang 7đối với ngời đứng đầu quốc gia mà bao hàm ngời đó phải đạt đợc nhân đạo
và thiên đạo -để trở thành một vị minh quân một bề trên chính trực Vềnhững yêu cầu cụ thể đối với vua , Khổng Tử chủ trơng : vua phải đảm bảocho dân đợc ấm no , phải xây dựng lực lợng quân sự hùng hậu và đặc biệt làphải chiếm đợc lòng tin của dân Ngoài ra vua còn phải biết quý trọng ngời
đức độ và có năng lực làm việc phải biết rộng lợng đối với những ngời cộng
sự của mình Ông dạy rằng : “nhà cầm quyền nên thi hành 3 việc này : 1)trớc hết,nên phân phát công việc cho những quan chức dới quyền củamình , họ làm xong thì mình xem xét lại 2) những ai phạm lỗi nhỏ thìdung thứ cho họ ; 3) cử dùng những ngời hiền đức và tài cán “ Còn dân đốivới vua thì phải đặt chữ trung lên hàng đầu
Trong quan hệ cha con , Khổng tử chủ yếu đề cập đến chữ hiếu Khổng Tử nhấn mạnh đến cái tâm con cái dành cho cha mẹ ,không phải chỉ
là phụng dỡng ngời đã sinh ra mình mà trớc hết phaỉ là lòng thàng kính
3.2 Những hạn chế
Trong ngũ luân nghĩa là có năm mối quan hệ đó là quan hệ vua-tôi ,cho-con , anh-em , chồng-vợ , bè bạn thì quan hệ vua tôi đứng đầu Ông chorằng đã là quần thần thì phải tuyệt đối trung thành , tin tởng và phục tùngnhà vua Quan điểm của ông là “Quân xử thần tử , thần bất tử , bất trung phụ xử tử vong ,tử bất vong , bất hiếu” hay “cha mẹ đặt đâu con nằm đấy” Điều ấy cho thấy Khổng tử đã chủ trơng thực hiện ngu trung , ngu hiếu Khổng Tử đòi hỏi một sự phục tùng tuyệt đối của con cháu đối với cha ôngbởi thời nay không bằng thời xa và cha ông bao giờ cũng là mẫu mực chocon cháu Khổng tử đòi hỏi phải học theo ngời xa và sau khi cha chết 3năm không đợc đổi ý cha
Trong quan hệ vợ chồng thì t tởng khinh rẻ phụ nữ là t tởng nổi bậttrong Khổng giáo Không Tử cho phụ nữ là ngời khó dạy (phụ nữ nhân nanhoá) ,nên ông buộc ngời phụ nữ phải theo tam tòng tứ đức Địa vị ngời đàn
ông đợc tôn trọng tuyệt đối Ông quy đạo đức ngời phụ nữ vào 4 điểm công–dung – ngôn –hạnh Đó là thứ đạo đức biến ngời đàn bà thành mộtcông cụ cho ngời đàn ông Ngời đàn ông khi chọn vợ thì quan trọng nhất làsắc đẹp Đàn ông thì có quyền năm thê , bảy thiếp còn “gái chính chuyênthì lấy một chồng” Trong xã hội những ngời đàn ông có nhiều vợ còn đợcxem là những ngời có địa vị cao trong xã hội Công của ngời phụ nữ là tinhthần tận tuỵ lao động bếp núc ,vá may , phục vụ cho cuộc sống an nhàn củangời đàn ông Những ngời phụ nữ xa kia đều phải nuôi chồng học hành đếnkhi đỗ đạt làm quan Đó nh là một nhiệm vụ của ngời phụ nữ thời bấy giờ Giống nh nhà thơ Tú Xơng ngày xa đã ví von ngời chồng nh một đứa conthâm chí còn là gánh nặng hơn một đứa con Ngôn là lời nói dịu dàng , biếtgọi dạ bảo vâng , tuyệt đối lễ phép với chồng , bố chồng và mẹ chồng Hạnh của ngời phụ nữ chỉ tập trung vào điểm giữ đợc trinh tiết mặc dầu ng-
ời ngời chồng xấu xa , hèn mọn nh thế nào Hạnh ấy khuyên ngời phụ nữ
Trang 8không nên tái giá khi chồng đã chết Trong xã hội cũ , những ngời phụ nữ
nh thế sẽ đợc triều đình phong kiến phong cho bốn chữ là “Tiết hạnh khảphong” Pháp luật phong kiến cho phép ngời chồng đuổi vợ và cắt đứt hônnhân trong trờng hợp vợ hỗn với bố mẹ chồng , hoặc vợ tàn tật hoặc vợkhông có con Đạo đức phong kiến đòi hỏi ngơì vợ phải tiết liệt chứ không
đòi hỏi ngời chồng phải tiết liệt
mình để tuân theo lễ tiết của xã hội (Luận ngữ , Nhan Uyên ,1) để vững
vàng trầm t nh núi trớc mọi thử thách cuộc đời Đối với ngời có nhân
nguyên tắc suốt đời phải theo là “thơng yêu ngời khác” ( Luận ngữ, Nhan
Uyên ,21) Giải thích điều này Khổng Tử dạy : “ ngời nhân muốn tự lập lấy
một mình , thì phải lao lập cho ngời , muốn thành đạt cho mình thì cũng làthành đạt cho ngời Ngời nhân ứng xử với mình nh thế nào thì cũng ứng xử
với ngời nh thế ” (Luận ngữ ,Ung giã , 28 ) Nhân chung quy lại nh
Khổng Tử đã nói là : “ngời có đức nhân là ngời nghiêm trang , tề chỉnh ,rộng lợng , khoan dung , đức tín , lòng thành , siêng năng , cần mẫn và biết
thi ân bố đức ”(Luận ngữ , Dơng Hoá ,6) Về những điều này ông lí giải :”
Nghiêm trang , tề chỉnh sẽ làm ngời khác không dám khinh nhờn , rộng ợng khoan dung sẽ làm ngời khác bị thu phục , đức tín , lòng thành sẽ làmngời khác tin cậy , thi ân bố đức sẽ làm nguời khác bị sai khiến và cần
l-mẫn , siêng năng sẽ đem lại nhiều điều bổ ích “ ( Luận ngữ , Dơng
hoá ,6)
Nh vậy , với những chuẩn mực đợc đa ra cho đức nhân, Nho giáo củaKhổng Tử đã góp phần giáo dục nhân dân , chú ý đến việc tự khẳng địnhmình của mỗi thành viên trong xã hội Nó cũng cho thấy tính tích cực vềvai trò của tự ý thức và tự giáo dục của chủ thể trong cuộc sống cộng đồng
Đạo nhân đã thiết lập nên những mối quan hệ tốt đẹp giữa ngời với ngờitrong xã hội , nó là sợi dây liên kết các cá thể với nhau , với gia đình và vớixã hội
Trong quan niệm về trí của Khổng Tử thì trí đợc hiểu là sự minh mẫnnói chung để phân biệt đánh giá con ngời và tình huống , qua đó tự xác địnhcho mình cách ứng xử cho phải đạo Nói chung theo Khổng Tử phải có trí
Trang 9con nguời mới vơn tới đợc đức nhân , nên không thể là ngời nhân mà thiếuchí
4.2.Những hạn chế
Nếu giá trị của đức nhân là để giáo dục con ngời thì những hạn chếcủa nó cũng thể hiện ngay trong việc giáo dục con ngời Đức nhân đòi hỏicon ngời phải quên mình Ông cho rằng ngời nhân sẵn sàng sống trong bấtkì hoàn cảnh nào dù đấy là vinh hoa hay đói nghèo Ông khuyên mọi ngờinên an phận nghèo Đối vơí một con ngời thì vật chất chỉ là giúp con ngờitồn tại , còn ngoài ra nó không phải là mục đích , là cái cần thiết cho conngời Ông ca ngợi một cuộc sống giản dị , trong sạch “ăn không cầuno” Đó cũng là một điều tốt nhng nếu nh ai cũng an phận cũng chấp nhận
đói nghèo mà tu thân để có đợc đức nhân thì chính nhân không đem lại mộtcuộc sống thái bình mà nó chỉ đem lại cho ngời dân sự nghèo đói , sự rằngbuộc dới ách thốnh trị của giai cấp cầm quyền Hơn nữa t tởng an phậnnghèo còn làm cho cuộc sống của ngơì dân ngày càng nghèo khổ , túngthiếu Nó ngăn cản sự tiến bộ của loài ngời và đây cũng là nguyên hân làmkìm hãm sự phát triển của nền kinh tế phong kiến đặc biệt là đối với nhữngnớc đã bị giam hãm quá lâu trong chế độ phong kiến hà khắc
Trong quan niệm về trí Khổng Tử cho rằng mục đích cao nhất của
ng-ời có trí là ra làm quan , nhậm chức triều đình , tham gia gánh vác côngviệc quốc gia và để biết kỉ cơng của xã hội mà tuân theo Do quan niệmhoc để làm quan nên Khổng Tử không dạy làm ruộng trồng trọt Ông chorằng đó là công việc của những ngời bậc dới Khi Phàn Trì học trò của ôngxin ông học cách trồng cây thí ông đã trách ;”Gã Phàn Trì trí nhỏ hẹp lắmthay “ và ông cũng thờng giận dữ khi có ngời muốn bàn đến chiến trận ,binh đao Nh vậy ông đã phủ nhận tầm quan trọng của việc nghiên cứu thựctiễn, ông đã đem quá trình nhận thức của con ngời đóng trong một cáikhung nhất thành bất biến và chân lí không còn là tri thức vể thế giới kháchquan nữa , thực tiễn không còn là cơ sở động lực của quá trình nhận thức
mà thay vào đấylà vai trò của sách vở và sự tự biện (12)
Nói chung , về đạo đức , Khổng Tử khá sâu sắc khi cụ thể hoá nhữngnguyên tắc đạo đức thành những chuẩn mực đạo đức cho mẫu ngời lí tởng
Ông cũng thể hiện quan điểm đúng đắn khi nhìn con ngời không chỉ thuầntuý dựa vào lời nói mà phải kết hợp giữa động cơ và kết quả , giữa lí trí vàtình cảm trong việc đánh giá con ngời Những quan điểm của ông cũng cónhững giá trị nhất định trong việc giáo dục đạo đức nói riêng và giáo dụcnói chung Tuy nhiên xét cho đến cùng , bộ luật đạo đức của Khổng Tửtrọng danh hơn thực , trọng xa hơn nay và đã gạt ra ngoài nhiều giá trị đạo
đức mang tính nhân loại phổ biến (3)
2 ( Trích Đại cơng triết học Trung Quốc , NxB chính trị Quốc Gia , 1997 )
3 ( Trích Đại cơng triết học Trung Quốc , NxB chính trị Quốc Gia , 1997 )
Trang 105 Về giáo dục
5.1 Những giá trị
Khổng Tử đã đề ra những phơng pháp học rất đúng đắn mà cho đếnngày nay nó vẫn còn có giá trị đối với chúng ta Đó là khởi học từ mức thấp
đến mức cao , và phải biết nghe nhiều , học nhiều để qua đó tìm những điềuhay để học , thấy những điều dở để tránh Khổng Tử cũng rất coi trọng việcứng dụng vào cuộc sống nhng điều đã học Về vai trò của giáo dục , ôngcho rằng giáo dục có sức mạnh cảm hoá con ngời , hình thành nên nhâncách con ngời Về phơng pháp giáo dục , Khổng Tử rất coi trọng nguyêntắc làm gơng Bản thân ông là một tấm gơng sáng ngời về học tập ông th-ờng với các môn đồ : “Ta học tập không chán , dạy ngời không biết mỏi ”.Khổng Tử học tập suốt đời : ta 15 tuổi đã có chí học đạo thánh hiền , 30 tổithì vững vàng , 40 tổi thì không ngờ vực ,50 tổi biết mệnh trời ,60 tuổi thì tanghe thông suốt mọi việc , 70 tuổi thì làm theo ý muốn , mà không saikhuôn phép”.Về phơng pháp học tập , Khổng Tử khuyên các môn đồ :” Họccho rộng ,hòi cho sâu , suy nghĩ cho chín , trình bày rõ ràng , tích cực thihành điều mình đã học tập đợc “ Theo ông học tập chính là học đạo thànhhiền , học tập đạo làm ngời Khổng Tử đề ra thuyết tu thân là thuyết xâydựng con ngời bằng 5 bớc : muốn tu thân trớc tiên phải chính tâm , muốnchính tâm trớc tiên phải thành ý , muốn thành ý trớc tiên phải trỉ tri , trỉ tri
là ở cách vật Cách vật là trong mọi sự vật ta phài phân biệt đúng sai rồi lấycái đúng , bỏ cái sai Nói theo ngôn ngữ hiện đại trong những hiện tợng tựnhiên , xã hội vô cùng phức tạp ta phải đi vào nghiên cứu bản chất của nóchứ không chỉ dừng lại ở hiện tợng Khi đó , ta có thể nắm đợc những quyluật vận động phát triển của tự nhiên và xã hội có nghĩa là chúng ta đã đạt
đợc đến trỉ tri Một khi đã đạt đợc đến trỉ tri chúng sẽ có nhân thức vữngvàng gọi là thành ý Một khi đã có những nhận thức vững vàng , thì chúng
ta có lập trờng quan điểm đúng , tức là chính tâm Có lập trờng quan điểm
đúng là hoàn thành việc tu thân , việc xây dựng con ngời Đây là quan
điểm thể hiện tính duy vật tiến bộ của ông về lí luận nhận thức
5.2 Những hạn chế
Tất cả những gì Khổng Tử đã làm , xứng đáng để ông là một nhà giáodục lớn của xã hội đơng thời và kinh nghiệm giáo hoá của ông luôn lànhững bài học để mọi ngời quan tâm Song quan điểm giáo duc của ôngchủ yếu dừng lại ở giao tiếp lễ nghi chứ không hẳn mở mang dân trí nóichung Khổng Tử cũng đã bứt tri thức khỏi lao động sản xuất – lĩnh vựcquan trọng nhất của đới sống xã hội và nhất là mục đích giáo dục của ông
đã bộc hoàn toàn quan điển của một ông thầy chủ nô quý tộc đang truyền
đạo để củng cố điịa vị thống trị của giai cấp mình
Nói chung , trong quan điểm của Khổng Tử thể hiện nhiều u điểm
nh-ng khônh-ng phải là khônh-ng có nhữnh-ng khuyết điểm Đôi khi , cùnh-ng nói về một