Được sự nhất trí của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, em đã tiến hành thực hiện đề tài “Phân tích các nhân tố tác động đến thu nh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
KIỀU VIỆT HOÀNG
Tên đề tài:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP
CỦA HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HIỀN ĐA, HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo Chuyên ngành Khoa
Khóa học
: Chính quy : Kinh tế nông nghiệp : Kinh tế và Phát triển nông thôn : 2010 - 2014
Thái Nguyên - năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
: ThS Đặng Thị Thái
Thái Nguyên - năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn” của các trường chuyên nghiệp nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp là bước quan trọng của sinh viên cuối khóa Đây là giai đoạn rất quan trọng nhằm củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường đồng thời nâng cao kỹ năng thực hành
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, em đã tiến hành thực hiện đề tài
“Phân tích các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ trên địa bàn xã Hiền
Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”
Trong thời gian thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên Đặng Thị Thái, cùng sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ tại Ủy ban Nhân dân xã Hiền Đa Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo cùng toàn thể các cán bộ tại UBND xã Hiền Đa
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2014
Sinh viên
Kiều Việt Hoàng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
4 Những đóng góp mới của đề tài 3
5 Bố cục của khóa luận 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 5
1.1.1 Khái niệm về hộ 5
1.1.2 Khái niệm về hộ nông dân 6
1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của hộ nông dân 7
1.1.4 Kinh tế hộ nông dân 8
1.1.5 Vị trí, vai trò của kinh tế hộ trong thời kỳ đổi mới 9
1.1.6 Phân loại hộ nông dân 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở Việt Nam 14
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
Trang 62.2 Phạm vi và nội dung nghiên cứu 20
2.2.1 Phạm vi thời gian 20
2.2.2 Phạm vi không gian 20
2.2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.4.2 Phương pháp xử lí số liệu 22
2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 22
2.5.1 Hàm sản xuất 22
2.5.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ nông dân 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Các nguồn lực phát triển 27
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế của xã năm 2013 31
3.2 Tình hình phát triển kinh tế các hộ được điều tra 31
3.2.1 Phân loại hộ theo thu nhập 31
3.2.2 Tình hình cơ bản của các hộ được điều tra 33
3.2.3 Đầu tư chi phí cho sản xuất của các hộ được điều tra 37
3.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của các nhóm hộ 41
3.2.5 Thị trường 44
3.2.6 Các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ 45
3.3 Thuận lợi và khó khăn của địa phương 49
3.3.1 Thuận lợi 49
Trang 73.3.2 Khó khăn 49
Chương 4 CÁC GIẢI PHÁP 50
4.1 Quan điểm - Phương hướng - Mục tiêu 50
4.1.1 Quan điểm 50
4.1.2 Phương hướng 50
4.1.3 Mục tiêu 50
4.2 Các giải pháp 53
4.2.1 Giải pháp chung 53
4.2.2 Giải pháp cho hộ nông dân 54
KẾT LUẬN 56
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình biến động đất đai trên địa bàn xã Hiền Đa 29
Bảng 3.2: Tình hình biến động dân số 30
Bảng 3.3: Khảo sát thu nhập của các nhóm hộ điều tra 32
Bảng 3.4: Phân loại hộ theo thu nhập 32
Bảng 3.5: Các nguồn lực cơ bản của các hộ được điều tra 34
Bảng 3.6: Trình độ chuyên môn của các chủ hộ 36
Bảng 3.7: Chi phí sản xuất lúa cho 1 sào/hộ/năm 38
Bảng 3.8: Chi phí cho chăn nuôi lợn/hộ 39
Bảng 3.9: Tổng hợp chi phí sản xuất cho 1 hộ 40
Bảng 3.10: Kết quả sản xuất lúa/hộ 41
Bảng 3.11: Kết quả sản xuất của ngành chăn nuôi/hộ năm 2013 42
Bảng 3.12: Tổng thu các ngành/hộ của các nhóm hộ trong năm 43
Bảng 3.13: Kết quả thống kê hồi quy 46
Bảng 3.14: Kết quả thống kê hồi quy 47
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế xã hội cùng với quá trình hội nhập của khu vực và thế giới đã tạo nên những bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội Đời sống của người dân từng bước được nâng lên rõ rệt, người dân có điều kiện cải thiện đời sống và tiếp cận với những thành tựu của khoa học công nghệ
Kinh tế hộ nông dân của nước ta ngày càng khẳng định rõ vai trò tự chủ của mình trong đời sống kinh tế xã hội nói chung và ở vùng nông thôn nói riêng Sự phát triển kinh tế hộ nông dân đã thực sự làm cho nền nông nghiệp nước ta đạt được những thành tựu to lớn khiến bộ mặt nông nghiệp nông thôn
và đời sống của người dân có những bước thay đổi đáng kể
Kinh tế hộ nông dân được coi là một đơn vị kinh tế đặc thù và phù hợp trong sản xuất nông nghiệp Nó góp phần giải quyết vấn đề việc làm và xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và phong phú của con người về lương thực, thực phẩm
Nước ta có tới hơn 70% dân số sống ở các vùng nông thôn, đây là khu vực luôn được Đảng và nhà nước quan tâm, tạo điều kiện phát triển Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta đã trải qua hàng ngàn năm kinh nghiệm Tuy có nhiều bước tiến quan trọng nhưng về cơ bản vẫn là nền sản xuất mang tính chất tự cung tự cấp, quy mô nhỏ lẻ ở mức hộ gia đình, đây là đơn vị kinh tế đặc thù của nông thôn và cũng phù hợp với thực trạng phát triển nông nghiệp nước ta hiện nay Tuy nhiên thu nhập của nông dân đang có
xu hướng ngày một giảm đi vì giá nông sản không tăng, trong khi vật tư nông nghiệp đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu và xăng dầu tăng liên tục
Do đó thách thức đặt ra hiện nay là duy trì và nâng cao thu nhập cho hộ nông
Trang 10Có thể nói việc xem xét các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình, sự cần thiết tháo gỡ những bất cập để có thể sử dụng tối ưu các nguồn lực đã trở thành mối quan tâm chung của mọi người, đặc biệt là người dân ở nông thôn, những chủ thể trực tiếp chịu sự tác động đó
Xuất phát từ thực tiễn đó, em tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Phân tích các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ trên địa bàn xã Hiền Đa,
- Nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội chung trên địa bàn xã Hiền Đa
- Nghiên cứu các nguồn thu chính của các hộ nông dân trên địa bàn xã
- Phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ trên địa bàn nghiên cứu
- Từ kết quả điều tra mô hình hóa các tác động của các nhân tố chính đến thu nhập
Trang 113
- Đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các nông hộ trên địa bàn xã
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên củng cố lý thuyết và biết áp dụng lý thuyết vào thực tế
- Rèn luyện các kỹ năng thu thập, xử lý số liệu, viết báo cáo
- Dùng làm tài liệu tham khảo và góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển các đề tài khác
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cái nhìn tổng quát về các yếu tố tác động đến thu nhập của các hộ nông dân trên địa bàn xã Hiền Đa Từ đó có thể đưa ra các phương hướng nhằm phát huy những lợi thế, hạn chế những rủi ro, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân
4 Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài sử dụng các mô hình, các phương pháp phân tích số liệu và cơ sở
lý thuyết kinh tế Đưa ra những kết quả nghiên cứu chính xác thông qua việc lượng hóa các số liệu, giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các cấp chính quyền và các cơ sở kinh doanh đưa ra các phương án giúp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu
5 Bố cục của khóa luận
- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
- Chương 4: Các giải pháp
- Kết luận
Trang 124
- Phụ lục
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 13Một hộ có thể có nhiều gia đình hoặc không có một gia đình nào cả, ngược lại, một gia đình có thể trải rộng thành nhiều hộ Thông thường, gia đình và hộ trùng lên nhau, tạo thành tên gọi "Hộ gia đình" Mỗi hộ gia đình ở Việt Nam hiện nay đều có sổ đăng ký hộ khẩu, trong đó ghi rõ số nhân khẩu, chủ hộ và quan hệ giữa các thành viên với chủ hộ
Theo Terry McGee (1989), khi nghiên cứu về quá trình đô thị hóa châu
Á đã có quan điểm thiên về thu nhập Theo ông, thành viên của hộ không nhất thiết phải là sống chung dưới một mái nhà, miễn là họ có đóng góp vào ngân quỹ chung
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế: “Hộ là tất cả những người cùng chung sống Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công”
Theo Liên hiệp quốc, Hộ được hiểu theo hai hình thức:
- Hình thức thứ nhất là hộ chỉ có một thành viên, là hình thức mà một người độc lập tự đưa ra các quyết định về điều kiện sống cho chính bản thân mình mà không kết hợp với bất kì người nào khác
Trang 146
- Hình thức thứ hai là hộ có nhiều thành viên, là hình thức mà hai hoặc nhiều người sống cùng nhau, cùng đưa ra các quyết định về điều kiện sống chung, có chung một ngân quỹ
Với các ý kiến nêu trên, khái niệm hộ có thể được khái quát như sau:
Hộ là nhóm người có thể chung huyết tộc hoặc không, họ không nhất thiết phải sống chung dưới một mái nhà nhưng ăn chung và có ngân quỹ chung, phân phối nguồn thu nhập mà các thành viên của hộ tạo ra
Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động
và phân công lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dầu cùng chung huyết thống bởi vì
hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh
tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau
1.1.2 Khái niệm về hộ nông dân
Theo Ellis (1988): Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình
độ hoàn chỉnh không cao [4]
Theo Đào Thế Tuấn (1997): Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Trang 157
1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của hộ nông dân
Thứ nhất: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình
quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai để tạo ra của cải vật chất đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ
Thứ hai: Lao động và quản lí lao động gắn bó chặt chẽ với nhau và
được chi phối bởi quan hệ huyết thống Thông thường chủ hộ thường là người quản lí, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất nên việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống nhất, cơ cấu tổ chức đơn giản
Thứ ba: Quy mô sản xuất nhỏ, có khả năng huy động hay thu hồi các
nguồn lực một cách dễ dàng Khi gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa nguồn lực sản xuất Ngược lại, trong hoàn cảnh khó khăn, nông hộ
sẽ tự thu hẹp sản xuất
Thứ tư: Các quan hệ huyết thống, họ tộc, văn hóa, kinh tế… đều nằm
đan xen lẫn nhau và tạo nên sự đồng tâm hiệp lực giữa các thành viên để họ cùng tự giác lao động để phát triển kinh tế mà không cần đến thưởng phạt
Thứ năm: Kinh tế của hộ nông dân đặc trưng bởi sự tham gia từng
phần vào thị trường Họ chỉ trao đổi từng phần nguồn lực cũng như những gì
mà họ không có khả năng tự làm ra
Thứ sáu: Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động, nguồn vốn của
mình là chủ yếu Chỉ khi quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có thì mới diễn ra các hoạt động mua bán hay đi thuê
Trang 168
1.1.4 Kinh tế hộ nông dân
Kinh tế gia đình là một hình thức sản xuất có từ sớm, xuất hiện từ khi gia đình được hình thành Ngày nay hình thức sản xuất này đang chịu nhiều tác động và cũng đang tự chuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của xã hội phát triển - xã hội công nghiệp và xã hội hậu công nghiệp Vì lẽ đó, cần tìm hiểu quyền tồn tại để nhận diện vị trí và vai trò của nó trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Lịch sử phát triển xã hội loài người là lịch sử của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Gắn liền với các thời kỳ phát triển là các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Hai phương thức sản xuất cơ bản tồn tại trong quyền phát triển, đó là sản xuất tự cung tự cấp (sản xuất tự nhiên) và sản xuất hàng hoá Nền kinh tế nào cũng phải tham gia giải quyết các yếu tố cơ bản trong quyền sản xuất: - Sản xuất cái gì? - Sản xuất bao nhiêu? - Sản xuất như thế nào? - Phân phối sản phẩm ra sao?
Trong hình thức kinh tế tự nhiên, sản phẩm làm ra chỉ nhằm thảo mãn nhu cầu thiết yếu trong nội bộ những người sản xuất; người sản xuất tự quyết định về loại hình sản phẩm, số lượng sản phẩm Sự trao đổi sản phẩm chỉ bó hẹp trong phạm vi những người cùng sản xuất dưới hình thức đơn giản nhất Của cải vật chất có dư thừa đều phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho cộng đồng, xã hội dưới các hình thức khác nhau của mỗi chế độ Tính thị trường của nền kinh tế tự nhiên tuy có, nhưng hết sức mờ nhạt, chủ yếu vẫn mang tính trao đổi giản đơn Phân công lao động xã hội trong hình thức sản xuất tự nhiên chưa phát triển, vì thế cũng chưa xuất hiện tình trạng cạnh tranh
Trong cơ chế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ diễn ra rất đa dạng, ngoài sản xuất nông nghiệp, hộ còn tham gia vào các
Trang 179
ngành nghề khác như công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Do đó thu nhập của hộ nông dân bao gồm toàn bộ những kết quả của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ và một số ngành nghề khác như sửa chữa, sản xuất nguyên vật liệu, chế biến nông sản, kinh doanh mang lại
1.1.5 Vị trí, vai trò của kinh tế hộ trong thời kỳ đổi mới
Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh
tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ) Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31 - 01 - 1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 05 - 04 - 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh
tế tự chủ trong nông nghiệp Đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 03 - 2 - 1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước đối với với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế
hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản
Trang 1810
Động lực mới cho sự phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn đã xuất hiện
1.1.6 Phân loại hộ nông dân
1.1.6.1 Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào khả năng mở rộng diện tích đất đai, có thị trường lao động để họ mua nhằm lấy lãi, có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập, có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
- Hộ nông dân sản xuất hàng hoá chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là tối
đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động
1.6.1.2 Theo tính chất của ngành sản xuất của hộ
- Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp
- Hộ kiêm nông: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính
- Hộ buôn bán: ở nơi đông dân cư, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hoá Từ đó làm cho lao động
Trang 19+ Nhóm hộ có thu nhập cao: Hộ có thu nhập bình quân đầu người lớn hơn 600.000đ tại thời điểm điều tra
+ Nhóm hộ có thu nhập khá: Hộ có thu nhập bình quân đầu người nằm trong khoảng 401.000đ - 600.000đ tại thời điểm điều tra
+ Nhóm hộ có thu nhập thấp: Hộ có thu nhập bình quân đầu người nhỏ hơn 400.000đ tại thời điểm điều tra
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên thế giới
- Thái Lan: là một nước trong khu vực Đông Nam Á, chính phủ Thái
Lan đã thực hiện nhiều chính sách để từ một nước lạc hậu trở thành nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành từ 1950 đến năm 1980
Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn Mạng lưới đường
bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa, đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng
Trang 2012
Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hoá sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc
Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hoá chế biến nông sản để xuất khẩu như ngô, sắn sang các thị trường châu Âu và Nhật Bản
Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: Cho nông dân vay tiền với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Hàng năm có 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng
- Đài Loan: Ý thức được xuất phát điểm của mình có vị trí quan
trọng là nông nghiệp nhưng ở trình độ thấp, nên ngay từ đầu Đài Loan đã coi trọng và chú ý đầu tư cho nông nghiệp Trong những năm 1950 đến
1960 chủ trương “Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp
phát triển nông nghiệp” Từ năm 1951 đã có chương trình cải cách ruộng
đất theo 3 bước: giảm tô, giải phóng đất công, bán đất cho tá điền, thực hiện người cày có ruộng (1953 - 1954)
Theo đạo luật cải cách ruộng đất của Đài Loan, địa chủ chỉ được giữ lại 3ha nếu là ruộng thấp và 6ha nếu là ruộng cao, số còn lại Nhà nước
Trang 2113
mua và bán lại cho tá điền với giá thấp và được trả dần, trả góp Chính sách phát triển nông nghiệp của Đài Loan trong thời kỳ này đã làm cho nông dân phấn khởi, lực lượng sản xuất trong nông thôn được giải phóng, sản xuất đã tăng với tốc độ nhanh
Tại Đài Loan hiện có 30 vạn người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng cao, song đã có đường đi lên núi là đường nhựa, nhà có đủ điện nước, có ô tô riêng Từ năm 1974 họ thành lập nông trường, nông hội, trồng những sản phẩm quý hiếm như “cao sơn trà”, bán các mặt hàng sản phẩm của rừng như cao, thịt hươu, thịt nai khô cùng các sản phẩm nông dân sản xuất được trong vùng Về chính sách thuế và ruộng đất của chính quyền có sự phân biệt giữa 2
đối tượng “nông mại nông” thì miễn thuế (nông dân bán đất cho nông dân khác), “nông mại bất nông” thì phải đóng thuế gấp 3 lần tiền mua (bán đất
cho đối tượng phi nông nghiệp) Nguồn lao động trẻ ở nông thôn rất dồi dào
nhưng không di chuyển ra thành thị, mà dịch vụ tại chỗ theo kiểu “ly nông bất
ly hương” Các cơ quan khoa học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên cứu cải tạo
giống mới cho nông dân và họ không phải trả tiền
- Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực
đầu tư cho nông nghiệp nông thôn Một trong những thành tựu của Trung Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho
sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi, cây con vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông
Trang 22+ Người lao động nông dân mất quyền tự chủ sản xuất nông nghiệp, không quan tâm đến mọi hoạt động sản xuất của hợp tác xã và nông - lâm trường mà chỉ để tâm đến kinh tế phụ gia đình trên đất 5% và trong các lao động khác
+ Quy mô hợp tác xã và nông trường càng lớn thì bộ máy càng cồng kềnh, quản lý tập trung quan liêu, dẫn đến lãng phí lớn, tham ô, tài sản thất thoát, ruộng đồng thì bỏ hoang
+ Năng suất và sản lượng nông nghiệp giảm sút liên tục và nghiêm trọng, thu nhập của xã viên tự kinh tế tập thể hợp tác xã giảm xuống chỉ còn 30-40% tổng thu nhập của hộ xã viên Trong nông trường, tình trạng nợ lương công nhân trở thành phổ biến và kéo dài liên miên
+ Sản xuất lương thực giảm sút Hằng năm mức sản lượng lương thực bình quân đầu người liên tục giảm xuống, lượng gạo nhập khẩu hàng năm ngày càng tăng lên và tới trên 1 triệu tấn
Trước tình hình nông nghiệp trì trệ, kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã suy yếu, hiện tượng khoán chui ngày càng phổ biến, Đảng đã thận trọng, nghiêm túc xem xét, phân tích và đưa ra chỉ thị 100/CT về khoán sản phẩm cuối cung đến nhóm và người lao động Chỉ thị 100 đã bước đầu giải phóng lao động nông dân, gắn trách nhiệm và lợi ích của họ với sản phẩm
Trang 2315
cuối cùng trên ruộng khoán, khuyến khích đầu tư để thu thêm nhiều sản phẩm vượt khoán Kết quả đem lại 6 - 7 vụ được mùa liên tiếp, sản lượng lương thực tăng gần 1 triệu tấn/năm Tuy nhiên, động lực khoán sản phẩm đến nhóm
và người lao động đến cuối năm 1983 và 1984 thì chững lại và dần giảm xuống vì khoán mới chỉ điều chỉnh cơ chế phân phối và cơ chế quản lý lao động giữa người lao động và hợp tác xã, giữa công nhân lao động và nông trường, chưa thiết lập được quyền làm chủ đầy đủ của các hộ nông dân Cơ chế kế hoạch hóa tập trung làm cho nền nông nghiệp chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ
- Thời kì từ 1987 đến nay
Việt Nam thực hiện bước chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp hàng thế kỷ nay, nhưng tiến trình diễn ra rất chậm chạp và sự chuyển tiếp là việc thực hiện nền kinh tế kế hoạch tập trung theo cơ chế bao cấp kéo dài suốt mấy chục năm qua Cách mạng giải phóng dân tộc với hai cuộc kháng chiến trường kỳ tiến tới thống nhất tổ quốc cũng là một nguyên nhân góp phần làm giảm phát triển kinh tế đất nước Chỉ tới thập niên cuối thế kỷ XX, khi bắt tay vào thực hiện công cuộc Đổi mới, chúng ta mới thực sự tiến hành từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường
Do những đặc điểm địa lý tự nhiên và thiếu trình độ, kiến thức, kinh nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường nên mặc dù trong những năm qua kinh
tế đất nước tuy có tăng trưởng, nhưng phát triển không đồng đều giữa các vùng Bên cạnh sự phát triển kinh tế sản xuất hàng hoá đang diễn ra ở các đô thị và các tỉnh đồng bằng, vẫn tồn tại các hình thức sản xuất còn biểu hiện của nền kinh tế tự cung tự cấp (kinh tế tự nhiên) ở các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa
Trang 24Kinh tế hộ gia đình là một loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới Nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là trong nông nghiệp ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng có ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường trên nền tảng gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn và điểm xuất phát để tạo cơ sở vật chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại đi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, quản lý theo kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
Mặc dù không phải là một thành phần kinh tế nhưng kinh tế hộ gia đình
là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất
và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh
và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình Ở nước ta, kinh tế hộ
Trang 25mở rộng ra trên phạm vi toàn quốc
Các cá nhân và nhóm kinh doanh trong các lĩnh vực như vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh… trên thực tế là các hoạt động kinh tế hộ gia đình và được điều chỉnh theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 2/3/1992 Chủ hộ chịu trách nhiệm vô hạn
về vốn và kết quả kinh doanh của mình, mặt khác Nhà nước cũng có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với qui
mô để hộ gia đình có thế chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và các hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 5 thông qua vào tháng 6 năm 1999 Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2000 nước ta có khoảng 38.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân và hơn 1,5 triệu hộ kinh doanh cá thể Các loại hình doanh nghiệp này bao gồm nhiều ngành nghề thu hút nhiều lao động, sản xuất
ra nhiều sản phẩm hàng hoá phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước; góp phần làm cho nền kinh tế phát triển sôi động và linh hoạt hơn, khai thác được nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân cư phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước
Như trên đã phân tích, kinh tế hộ gia đình tập trung chủ yếu ở khu vực sản xuất nông nghiệp và chiếm tới 2/3 lực lượng lao động toàn xã hội Vì vậy, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình của Đảng và Nhà nước
ta thực chất là việc thực hiện phát triển một cách hợp lý các hình thức sản
Trang 2618
xuất và kinh doanh trong nông nghiệp Đây là loại hình kinh tế phổ biến nhất
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng khu vực, từng địa bàn, cần phân loại các hộ gia đình theo trình độ sản xuất hàng hoá, khả năng tự chủ trong kinh doanh, mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh tế để có những biện pháp hỗ trợ thích hợp Hộ gia đình có nhiều ưu thế, nhưng cũng có nhiều khó khăn, hạn chế về nhiều mặt Việc tác động của Nhà nước, kết hợp với sự liên kết hỗ trợ hướng dẫn của các doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã… là rất cần thiết
Xem xét đến vấn đề kinh tế nói chung, hay kinh tế hộ gia đình nói riêng không thể không đề cập đến vấn đề tiêu dùng Tiêu dùng là hành vi tất yếu và thường xuyên của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân, cộng đồng, của toàn xã hội Tiêu dùng vừa là mục tiêu vừa
là tiền đề của sản xuất và tái sản xuất xã hội Mức độ tiêu dùng có thước đo và được chi phối bởi yếu tố thu nhập thực tế tính theo đầu người Các nước phương Tây có nền kinh tế phát triển, tích lũy tư bản, phúc lợi xã hội và thu nhập cá nhân cho phép đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội phát triển cao
Do kết quả của sự chi phối, giao lưu kinh tế quốc tế trong việc thực hiện chính sách mở cửa, những năm qua nền kinh tế thị trường đa thành phần
ở nước ta có những bước tăng trưởng đáng kể, nhưng đồng thời cũng kéo theo
sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng cả về vật chất lẫn tinh thần Sự gia tăng về nhu cầu tiêu dùng là quy luật tự nhiên và đáng khuyến khích Tuy nhiên, trong trường hợp kinh tế kém phát triển như ở nước ta, chưa thể có mức tiêu dùng bình quân cao được
Trang 2719
Hiện nay, có hiện tượng một bộ phận hộ gia đình thu nhập cao, tập trung ở thành thị, mức sống và nhu cầu tiêu dùng chênh lệch cao gấp nhiều lần so với những hộ dân sống ở nông thôn Đây là vấn đề cần được quan tâm giải quyết để thực hiện tính công bằng trong phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xóa đói giảm nghèo, tình trạng thất nghiệp, phân công lao động và giải quyết việc làm, thực tế hộ gia đình cũng là những vấn đề cần được đề cập trong nghiên cứu về các chính sách liên quan tới lĩnh vực gia đình
Trang 2820
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các nhân tố tác động tới nguồn thu nhập của hộ nông dân
2.2 Phạm vi và nội dung nghiên cứu
2.2.1 Phạm vi thời gian
- Thời gian thực tập từ 10/02/2014 đến 30/04/2014
- Số liệu nghiên cứu trong các năm 2011 – 2013
2.2.2 Phạm vi không gian
- Địa bàn nghiên cứu là xã Hiền Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng kinh tế hộ nông dân ở địa phương
- Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra
- Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng tới các hộ nông dân ở địa phương
- Mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới thu nhập của hộ gia đình
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng về tình hình sản xuất và thu nhập của các hộ nông dân tại
Trang 2921
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Chọn mẫu: không điều tra hết toàn bộ đơn vị của địa bàn nghiên cứu
mà chỉ điều tra trên một số đơn vị nhằm tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí Từ những đặc điểm của mẫu ta có thể suy ra được đặc điểm và tính chất của tổng thể đó Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho mẫu phải có khả năng đại diện cho tổng thể chung Căn cứ vào nội dung và yêu cầu của đề tài, em xác định đối tượng điều tra là hộ nông dân, số hộ điều tra là 90 hộ trên địa bàn
xã Hiền Đa
- Quan sát: là phương pháp thông qua quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng dụng cụ hoặc bằng mắt thường để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu
- Phỏng vấn trực tiếp cá nhân: người phỏng vấn và người được phỏng vấn gặp gỡ trực tiếp Phương pháp này có tính linh hoạt cao vì người phỏng vấn có thể thay đổi cách hỏi hoặc giải thích thêm nếu người được hỏi chưa hiểu rõ câu hỏi Phỏng vấn trực tiếp có khả năng thu được nhiều dữ liệu hơn ngoài bảng câu hỏi, bởi vì người phỏng vấn có thể quan sát để thu được thêm
dữ liệu về người được phỏng vấn
2.4.1.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí mang tính hàn lâm có liên quan
- Thu thập các báo cáo của các phòng ban, số liệu thống kê về tình hình kinh tế xã hội của xã
Trang 302.5.1.1 Giới thiệu về Hàm sản xuất Cobb – Douglas
Hàm sản xuất do Knut Wicksell (1851-1926) đưa ra, được kiểm nghiệm
và phát triển bởi Charles Cobb và Paul Douglas trong những năm 1900 - 1928 Trong kinh tế, hàm sản xuất thể hiện mối quan hệ vật chất giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng của nông hộ, trang trại, doanh nghiệp, ngành công nghiệp hay một nền kinh tế
Hàm sản xuất cơ bản được viết: Y = AL α K β
Hàm sản xuất Cobb - Douglas không được xây dựng dựa trên bất cứ cơ
sở kiến thức nào về kỹ thuật, công nghệ hay quản lý của quá trình sản xuất
Nó chỉ được xây dựng dựa trên nền tảng cơ bản là quy luật Lợi ích cận biên giảm dần và Chi phí cận biên tăng dần
Trang 3123
2.5.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế hộ nông dân
2.5.2.1 Nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của kinh tế hộ nông dân Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến, gần nơi tiêu thụ sản phẩm sẽ có lợi thế lớn để phát triển kinh tế
- Đất đai: là toàn bộ diện tích đất mà nông hộ đang sử dụng để tiến hành sản xuất kinh doanh Đất đai của nông hộ có thể được hình thành từ các nguồn khác nhau: đất do thừa kế, đất do nhà nước giao cấp, đất do mua, đất đang thuê mướn, đất được chuyển nhượng hay đất khai hoang, phục hoá Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ và là yếu tố không thể thay thế Do đó quy mô đất đai, địa hình, tính chất thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới từng loại nông sản, tới số lượng và chất lượng sản phẩm
- Khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Thực tế cho thấy
ở những nơi có điều kiện thời tiết và khí hậu thuận lợi sẽ hạn chế được nhiều rủi ro hơn
- Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của hộ nông dân Nếu môi trường thuận lợi, phù hợp với cây trồng, vật nuôi thì sẽ phát huy được ưu thế của cây trồng vật nuôi đó, làm cho năng suất tăng cao
2.5.2.2 Nhân tố về nguồn lực của hộ
- Nhân lực: Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chon
sinh kế cho người dân trong xã Con người là trung tâm, là nguồn vốn vô tận để
Trang 32- Vốn: nguồn vốn như là một đòn bẩy góp phần phát huy các nguồn lực khác Vốn là điều kiện đảm bảo cho các hộ đầu tư về tư liệu sản xuất, nguyên liệu cũng như thuê thêm nhân công để tiến hành sản xuất Vốn là yếu tố không thể thiếu được khi tiến hành sản xuất hay kinh doanh Mức độ đầu tư vốn vào sản xuất cũng có thể ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm
- Công cụ sản xuất: công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất Muốn sản xuất có hiệu quả và năng suất cao cần phải sử dụng công cụ phù hợp Ngày nay, công cụ sản xuất đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất, năng suất cây trồng không ngừng được tăng lên
- Cơ sở hạ tầng: bao gồm đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông nghiệp , đây là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển sản xuất của kinh tế hộ nông dân Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển thì nơi đó sản xuất cũng phát triển, đời sống người dân ổn định hơn
Trang 3325
- Thị trường: thị trường có ảnh hưởng đến quyết định sản xuất của hộ nông dân như giá cả, chất lượng, sản xuất cái gì, cho ai, đối thủ cạnh tranh như thế nào
2.5.2.3 Nhân tố khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác: do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng
là khác nhau, mỗi giống cây, giống con lại yêu cầu kỹ thuật khác nhau Kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế
- Ứng dụng khoa học công nghệ: quá trình sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, chúng giúp cho cây trồng vật nuôi có thể nâng cao năng suất và chất lượng Những hộ nhạy cảm với tiến bộ khoa học kỹ thuật, hiểu biết về thị trường, dám đầu tư và chấp nhận rủi ro thường là những hộ thành công Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy hàng hóa phát triển
Trang 3426
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí
Hiền Đa là một xã trung du của huyện Cẩm Khê, nằm ở phía đông nam của huyện, cách trung tâm huyện khoảng 12km, có vị trí địa lí như sau:
- Phía bắc giáp xã Tình Cương
- Phía nam giáp xã Cát Trù, Yên Dưỡng và Văn Khúc
- Phía đông giáp xã Đỗ Sơn và Đỗ Xuyên của huyện Thanh Ba
- Phía tây giáp xã Văn Khúc
3.1.1.2 Địa hình
Là vùng trung du nhưng xã Hiền Đa là một trong hai xã của huyện Cẩm Khê có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc trung bình là 3%, địa hình được đường Quốc lộ 32C chia làm hai vùng: trong đê và ngoài đê Phía ngoài
đê được phù sa bồi tụ hàng năm, là nơi tập trung dân cư chủ yếu từ lâu đời Phía trong đê là phần đất trũng, thấp dần về phía tây, là vùng trồng cây lương thực và chủ yếu là cây lúa nước
3.1.1.3 Khí hậu
Xã Hiền Đa mang khí hậu đặc trưng nhiệt đới gió mùa Theo phân vùng khí hậu của tỉnh Phú Thọ, xã Hiền Đa nằm trong vùng II với đặc điểm chung về khí hậu như sau:
- Xã có lượng mưa hàng năm tương đối lớn, hàng năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung chủ yếu trong các tháng 6, 7, 8 Lượng mưa trung bình từ 1.450 - 1.480mm, về mùa hè từ 1.450 - 1.650mm
Trang 3527
- Nhiệt độ trung bình từ 22,5oC - 23,5oC, số giờ nắng trung bình đạt 1.600 giờ/năm Nhiệt độ cao nhất đo được đạt 38oC và thấp nhất là 6oC Mùa đông có sương muối Tổng tích ôn nhiệt đạt 8.400o
C thuận lợi cho các cây trồng nhiệt đới và cận nhiệt đới phát triển
Nhìn chung khí hậu của xã tương đối thuận lợi cho việc phát triển sản xuất của nhân dân Cây lúa nước luôn là ưu thế phát triển của xã Tuy nhiên
về mùa đông, thời tiết lạnh giá và sương muối có thể gây hại cho cây trồng vật nuôi
3.1.1.4 Thủy văn
Xã Hiền Đa có 130,81ha đất sông ngòi, toàn bộ là diện tích sông Hồng
và ngòi Cỏ Với lưu lượng nước lớn cùng với hệ thống kênh mương, trạm bơm điều tiết nước tốt, đáp ứng đủ nhu cầu về nước sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Tuy nhiên về mùa mưa, mực nước sông Hồng có khi lên đến mức báo động 3 thì khu dân cư ngoài đê thường bị úng ngập do bờ kênh không đủ cao, gây không ít khó khăn cho người dân
3.1.2 Các nguồn lực phát triển
3.1.2.1 Đất đai
Xã Hiền Đa có tổng diện tích đất tự nhiên là 288,46ha Trong đó đất nông nghiệp là 97,45ha, đất phi nông nghiệp là 170,31ha, đất chưa sử dụng là
20,70ha Gồm một số loại đất sau:
- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm chiếm khoảng 7,30% diện tích đất
tự nhiên
- Đất phù sa hàng năm không được bồi đắp chiếm khoảng 48,10% diện tích đất tự nhiên
- Đất bãi bồi chưa sử dụng chiếm 7,15% diện tích đất tự nhiên
Xã Hiền Đa có 3 thành phần đất chính như sau:
Trang 3628
- Đất đỏ vàng trên nền đá biến chất: được hình thành trên nền đá mẹ là phiến thạch, đất màu đỏ vàng, tầng đất dày, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng Hàm lượng dinh dưỡng ở mức trung bình Loại đất này được khai thác sử dụng trồng cây lâu năm
- Đất trũng là sản phẩm dốc tụ: được hình thành do sự rửa trôi đất từ đồi núi tích tụ, có màu xám đen, tầng đất dày, hàm lượng dinh dưỡng từ trung bình đến giàu thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, được khai thác để trồng lúa nước
- Đất phù sa sông bồi: được hình thành do phù sa sông Hồng, đất có màu nâu vàng, tầng đất dày, có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, hàm lượng lân, kali ở mức trung bình, độ pH từ 5,5 - 6,5 Được đưa vào khai thác trồng rau màu và cây hàng năm khác
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã trong 3 năm 2011 - 2013 không thay đổi, là 288,46ha trong đó diện tích đất trồng cây hàng năm vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất Tuy nhiên trong cơ cấu đất đai có sự thay đổi nhẹ Cơ cấu đất nông nghiệp năm 2012 giảm 0,05% so với năm 2011 và tiếp tục giảm 0,04% trong năm 2013 Trong khi đó cơ cấu đất đai của các ngành phi nông nghiệp có sự tăng nhẹ, năm 2012 tăng 0,06% và năm 2013 tăng thêm 0,03% Không có diện tích đất đai của trang trại do người dân và tập thể không mạnh dạn đầu tư vào hình thức sản xuất này, vì vốn đầu tư cao nhưng sản phẩm chưa tìm được thị trường tiêu thụ
Có thể thấy địa phương đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu ngành, nông nghiệp giảm dần xuống và nhường chỗ cho các ngành phi nông nghiệp Các hộ nông dân trước đây chỉ làm nông nghiệp giờ đây cũng kết hợp thêm phi nông nghiệp hoặc có một số hộ đã chuyển hẳn sang phi nông nghiệp
Trang 37Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Trang 3830
3.1.2.2 Dân số và lao động
Bảng 3.2: Tình hình biến động dân số
STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
(Nguồn: UBND xã Hiền Đa)
Tình hình dân số trong 3 năm qua của xã Hiền Đa tương đối ổn định, tỉ
lệ phát triển dân số trung bình ở mức 1,01% năm Quy mô dân số, số hộ, số lao động của xã về cơ bản đáp ứng được nhu cầu về nhân lực
Xã có lao động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp của xã chưa có định hướng sản xuất hàng hóa, chỉ mang tính thời
vụ nên vào thời điểm nông nhàn, số lao động trực tiếp tham gia sản xuất thường không đủ công ăn việc làm Số lao động đã qua đào tạo chuyên môn rất ít Công tác tuyên truyền phổ biến khoa học còn hạn chế Trình độ lao động chưa cao là trở ngại cho việc đưa tiến bộ khoa học áp dụng vào sản xuất Trong thời gian tới cần nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Xã Hiền Đa có tuyến Quốc lộ 32C chạy qua, hệ thống đường liên xóm
đã được bê tông hóa 100% tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, phát triển kinh tế xã hội Xã có 01 chợ trung tâm với diện tích 0,2ha họp vào tất cả các ngày, phục vụ các nhu cầu buôn bán của người dân trong xã rất thuận tiện
Trên địa bàn xã hiện nay có 01 trường THPT với diện tích 1,70ha, 01 trường tiểu học diện tích 0,24ha và 01 trường mầm non diện tích 0,18ha
Trang 3931
Hiền Đa có 01 trạm y tế diện tích 0,16ha ở trung tâm xã với đội ngũ y bác sỹ đủ trình độ khám và chữa bệnh ban đầu tại xã Tuy nhiên cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhiều
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế của xã năm 2013
Tổng giá trị sản xuất đạt 5.379 triệu đồng trong đó:
- Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 2.794 triệu đồng (51,94%)
- Giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 1.133 triệu đồng (21,06%)
- Giá trị thương mại dịch vụ đạt 1.452 triệu đồng (26,99%)
- Tổng diện tích gieo trồng vụ chiêm xuân đạt 73,5ha, trong đó diện tích gieo trồng lúa là 72ha, đạt sản lượng 440 tấn Diện tích trồng ngô là 1,5ha đạt sản lượng là 2,5 tấn Vụ mùa, do chịu ảnh hưởng của cơn bão số 2 gây mưa nhiều nên năng suất cây trồng không cao Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 701,5 tấn Bình quân lương thực đạt 402kg/người/năm Tổng thu nhập bình quân đạt 17.130.000đ/người/năm
3.2 Tình hình phát triển kinh tế các hộ được điều tra
3.2.1 Phân loại hộ theo thu nhập
3.2.1.1 Tiêu chí phân loại hộ
- Nhóm hộ thu nhập cao: là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 601.000đ/người/tháng trở lên
- Nhóm hộ thu nhập trung bình: là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đ – 600.000đ/người/tháng
- Nhóm hộ thu nhập thấp: là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đ/người/tháng trở xuống
3.2.1.2 Khảo sát thu nhập
Trang 40(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)
Bảng 3.4: Phân loại hộ theo thu nhập
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)
Biểu đồ 3.1: Phân bố thu nhập của các hộ điều tra