1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.

86 663 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 583,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM

DƯƠNG VĂN HƯNG

Tên đề tài:

NGHIấN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHẩO TẠI XÃ TỔNG CỌT, HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Phỏt triển nụng thụn

Khoa : Kinh tế & PTNT

Khúa học : 2010 - 2014

THÁI NGUYấN - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

DƯƠNG VĂN HƯNG

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa

kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã Tổng Cọt - huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng với đề tài:

“Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng”

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi xin chân thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các tập thể, các cơ quan, tổ chức đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cùng các thầy cô giáo những người đã cung cấp trang thiết bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình thực tập

Cảm ơn UBND xã Tổng Cọt các ban ngành cùng nhân dân trong xã

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong qua trình thực tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin chân trọng cảm ơn thầy giáo Th.S Lành Ngọc Tú - người đã trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài này

Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài tốt nghiệp của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất và thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự

đóng góp của các thầy cô giáo và cùng toàn thể các bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Dương Văn Hưng

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

4 XĐGN Xóa đói giảm nghèo

5 UBND Ủy ban nhân dân

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN

Trang Bảng 2.1: Chuẩn mực xác định nghèo đói giai đoạn 2005 - 2010 và 2010-2015

của Bộ Lao động-TB&XH 14

Bảng 3.1 Thành phần dân tộc, giới tính của đối tượng phỏng vấn 40

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Tổng Cọt từ năm 2011-2013 44

Bảng 4.2 Tình hình nuôi trồng các loại cây, con xã Tổng Cọt 46

Bảng 4.3 Tình hình phát triển cây trồng chính của xã Tổng Cọt 49

Bảng 4.4 Tình hình dân số và lao động của xã Tổng Cọt năm 2013 50

Bảng 4.5 Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Tổng Cọt năm 2013 53

Bảng 4.6 Tỷ lệ hộ nghèo của xã Tổng Cọt giai đoạn 2011-2013 57

Bảng 4.7 Tình hình về nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra 59

Bảng 4.8 Tình hình sử dụng đất của các nhóm hộ nghiên cứu xã Tổng Cọt

năm 2013 60

Bảng 4.9 Tình hình vay vốn của nhóm hộ điều tra năm 2013 61

Bảng 4.10 Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra năm 2013 62

Bảng 4.11 Phương tiện sinh hoạt của nông hộ 64

Bảng 4.12 Phương tiện sản xuất của các nông hộ 65

Bảng 4.13 Tình hình học tập chủ hộ của các hộ điều tra 66

Bảng 4.14 Những nguyên nhân dẫn đến nghèo của các hộ điều tra

năm 2013 67

Trang 6

DANH MỤC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Phần 1: MỞ ĐẦU 10

1.1 Đặt vấn đề 10

1.2 Mục đích nghiên cứu 11

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 11

1.4 Ý nghĩa của đề tài 12

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 12

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 12

PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 13

2.1 Cơ sở khoa học 13

2.1.1 Một số quan điểm về đói, nghèo 13

2.1.2 Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia 14

2.1.3 Tính tất yếu, cấp thiết phải thực hiện xóa đói giảm nghèo 15

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 15

2.2.1 Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay 15

2.2.2 Thực trạng nghèo tại Việt Nam 19

2.2.3 Nguyên nhân nghèo đói của nước Việt Nam 21

2.2.4 Quan điểm và mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 25

2.2.4.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước 25

2.2.4.2 Mục tiêu thiên nhiên kỷ 28

2.2.5.Những thành tựu và kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo của một số nước trên thế giới

2.2.6.Một số địa phương làm tốt công tác giảm nghèo trong nước

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 38

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 38

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 38

Trang 8

3.2 Nội dung nghiên cứu 38

3.3 Phương pháp nghiên cứu 38

3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 38

3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 39

3.3.3 Phương pháp chọn mẫu 39

3.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 41

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Tổng Cọt 42

4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 42

4.1.1.1 Vị trí địa lý 42

4.1.1.2 Địa hình địa mạo 42

4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 42

4.1.1.4 Đặc điểm đất đai 43

4.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 45

4.1.2.1 Đặc điểm kinh tế 45

4.1.2.2 Đặc điểm văn hóa xã hội 49

4.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 53

4.2 Thực trạng đời sống của người dân tại Xã Tổng Cọt 56

4.2.1 Tình hình chung của nhóm hộ điều tra 58

4.2.1.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ điều tra 58

4.2.1.2 Đặc điểm về sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra 59

4.2.1.3 Tình hình vay vốn của nhóm hộ điều tra 60

4.2.1.4 Tình hình thu nhập của các hộ điều tra năm 2013 62

4.2.1.5 Phương tiện sinh hoạt của nhóm hộ điều tra (60 hộ) 63

3.2.1.6 Phương tiện sản xuất của nhóm hộ điều tra 64

4.2.1.7 Trình độ học vấn của nhóm hộ điều tra 65

4.2.2 Nguyên nhân nghèo của các hộ gia đình trong xã 66

4.2.3 Mong muốn của người dân trong xã 73

4.3 Một số các chương trình ưu đãi đối với người nghèo của Đảng và Nhà nước đang được thực hiện ở xã 74

4.3.1 Chính sách hỗ trợ về y tế 74

Trang 9

4.3.2 Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở 74

4.3.3 Hỗ trợ các giống cây trồng, vật nuôi 75

4.3.4 Quà tết và chế độ hỗ trợ các gia đình nghèo ăn tết 75

4.4 Những vấn đề cần giải quyết 75

4.5 Một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt 76

4.5.1 Giải pháp chung 76

4.5.1.1 Giải pháp về quan điểm nhận thức 76

4.5.1.2 Giải pháp về công tác quy hoạch định hướng phát triển 77

4.5.1.3 Giải pháp về xã hội 77

4.5.1.4 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 77

4.5.1.5 Tăng cường nguồn lực cho các chương trình xóa đói

giảm nghèo 78

4.5.1.6 Tạo điều kiện thích hợp cho các hộ nghèo phát triển kinh tế, tự vươn lên giảm nghèo bền vững 78

4.5.1.7 Các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và tổn thương cho các hộ nghèo 79

4.5.2 Giải pháp cụ thể 79

Phần 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 82

5.1 Kết luận 82

5.2 Kiến nghị 83

5.2.1 Đối với Đảng và Nhà nước 83

5.2.2 Đối với người dân 84

5.2.3 Đối với hộ nông dân nghèo 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Đối với tất cả các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là vấn đề được xã

hội quan tâm Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn tại tình trạng phân hóa giàu nghèo Còn ở những nước đang phát triển với thu nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không

đủ ăn trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người

Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Trong đó, đói nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng

xa trầm trọng hơn các khu vực miền xuôi Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng rất xấu tới chất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi Trong những năm gần

đây, Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách

tích cực giúp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho vùng núi và đã đạt những kết quả nhất định Song trên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá nghiêm trọng bởi những chính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp với tình hình địa phương, và do đó sự tác động của những chính sách này tới việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa thật sự hiệu quả

XĐGN cũng như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói? Trong đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đưa ra được những giải pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất nhằm giúp người dân xoá nghèo

Tổng Cọt là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Là một xã gồm 3 thành phần dân tộc sinh sống (Nùng, Tày và Kinh), mấy năm trước đây sản xuất kinh tế của người dân mang tính tự cung, tự cấp, không có cơ hội tiếp cận thông tin, cơ sở hạ tầng nghèo nàn như: Giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, đời sống của người dân nơi đây còn nghèo nàn, được sự giúp đỡ quan tâm của

Trang 11

các cấp ban ngành của Đảng và Nhà Nước thì những năm qua xã Tổng Cọt đã

tổ chức và thực hiện rất nhiều những chương trình theo chủ chương chính sách của Nhà Nước trong việc hỗ trợ và giúp đỡ người nghèo nhằm giảm tỷ lệ nghèo

đói nơi đây Tổng Cọt đã từng bước khắc phục được những khó khăn, đặc

biệt là hệ thống giao thông đi lại được bằng xe máy, xe ô tô đi được đến trung tâm xã và các xóm, có các công trình thủy lợi nhỏ phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp, xây dựng kiên cố được các trường học, có điện lưới ở các xóm trung tâm , và đời sống của người dân ngày một được cải thiện Một vấn đề quan trọng đặt ra là: Mặc dù đã có sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước và sự nỗ lực của chính quyền địa phương nhưng tỷ lệ nghèo của người dân trong xã vẫn cao, năm 2013 chiếm 60,93% tỉ lệ hộ nghèo, kinh tế tăng trưởng chậm, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém Từ thực

tế trên việc tìm hiểu, xác định nguyên nhân nghèo đói của người dân trên địa bàn xã có thể đề ra những đề xuất và các giải pháp trong việc XĐGN tại địa phương là hết sức cần thiết Chính vì lí do đó tôi đã quyết định chọn đề tài

khóa luận tốt nghiệp của mình đó là: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”, với

mong muốn có cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo của cộng đồng người dân tại xã Tổng Cọt, từ đó tìm ra các nguyên nhân dẫn tới nghèo và đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo cho địa phương trong giai đoạn tiếp theo

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh

hưởng đến nghèo của các hộ nông dân và đưa ra những giải pháp giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân trong xã

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Điều tra sơ bộ và phân tích thực trạng nghèo tại địa bàn ngiên cứu

- Những nguyên nhân dẫn tới nghèo tại địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu về các chương trình xóa đói giảm nghèo đã thực hiện tại địa phương, những kết quả đạt được và hạn chế trong các chính sách giảm nghèo

Trang 12

- Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo phù hợp và thật sự thiết thực với các hộ gia đình nghèo tại địa phương nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo

và xây dựng địa phương ngày càng phát triển

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tế, là khung chương trình mà bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra có tính chất tất yếu giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kinh nghiệm thực tế Nghiên cứu đề tài được xem như bài học thực

tế đầu tiên giúp cho sinh viên làm quen khi bắt tay vào thực tế, nó là cơ hội nhưng cũng đầy thách thức mà sinh viên phải đối mặt và trải qua trước khi

ra trường và bắt tay vào công việc, nghề nghiệp của mình sau này

Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn

Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu

trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt Nam Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc dễ dẫn tới nhiều những vấn đề khác của cuộc sống Nó là một mắt xích trong vòng luẩn quẩn của các vấn đề xã hội

Đây cũng là nguồn tài liệu bổ xung cho kho thư viện phục vụ cho

công tác nghiên cứu học tập của các bạn sinh viên khóa sau cũng như công tác giảng dạy của các thầy các cô Và cũng là cơ sở cho việc hình thành, thực hiện những ý tưởng khoa học sau này

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa

phương, những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chính sách, chương trình triển khai tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của bà con địa phương Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và ban ngành

đoàn thể trong xã đưa ra được những biện pháp giảm nghèo có hiệu quả hơn

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Một số quan điểm về đói, nghèo

Quan điểm về nghèo đói hay nhận dạng nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự khác biệt đáng

kể, tiêu chí chung nhất để xác định đói nghèo vẫn là mức thu nhập hay mức chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế giáo dục, đi lại và giao tiếp xã hội

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương tiện

Một cách hiểu khác: nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo, những ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc

điểm củ thể của từng địa phương hay từng quốc gia

Ngân hàng phát triển châu á (ADB) đưa ra:

+ Nghèo tuyệt đối là việc không thỏa mãn nhu cầu tối thiểu để nhằm duy trì cuộc sống của con người

+ Nghèo tương đối là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó

Khái niệm về hộ đói: hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ

Khái niệm về hộ nghèo: hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng,xét trên mọi phương tiện

Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo

Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau:

- Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã

- Không có hoặc thiếu rất nhiều công trình cơ sơ hạ tầng như: điện sinh hoạt, Đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt

Trang 14

- Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao

Khái niệm vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số

xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận lợi

2.1.2 Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia

Bảng 2.1: Chuẩn mực xác định nghèo đói giai đoạn 2005 - 2010 và

2010-2015 của Bộ Lao động-TB&XH

Chỉ tiêu Địa bàn

Thu nhập bình quân người/tháng

2005 - 2010 2010 – 2015

Nghèo - Nông thôn

- Thành thị

200.000 260.000

400.000 500.000

(Nguồn: Chuẩn mực xác định nghèo đói của Bộ Lao động - TB&XH)

Theo chuẩn mới áp dụng cho giai đoạn 2005-2010 thì nước ta có 3,9 triệu hộ nghèo chiếm 22% dân số cả nước.khi đó hộ nghèo ở nông thôn miền núi sẽ là 45,9 %, nông thôn đồng bằng là 23,2 % khu vực thành thị là 12,2%

Năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo của nước ta giảm xuống còn 12% mục tiêu của nước ta vào năm 2012 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9-10% tránh tình trạng tái nghèo

Đây là thách thức lớn của đảng và nhà nước ta

Song những chuẩn mực này cũng được điều chỉnh cho phù hợp với từng vùng, từng địa phương căn cứ vào:

- Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh (thành phố)địa phương cao hơn mức thu nhập bình quân của cả nước

- Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh (thành phố) địa phương thấp hơn tỷ lệ nghèo

đói chung của cả nước

Nguồn lực hỗ trợ cho hộ nghèo

Nhưng do tính chất phức tạp của nghèo đói nên không thể đưa ra những chuẩn mực chung nhất để áp dụng, ở các vùng các quốc gia khác nhau các chuẩn mực xác định đói nghèo cũng khác nhau, ngay cả cùng một địa điểm

Trang 15

những chuẩn mực cũng được thay đổi theo thời gian Cho nên những chuẩn

nghèo giữa các khu vực có sự chênh lệch

2.1.3 Tính tất yếu, cấp thiết phải thực hiện xóa đói giảm nghèo

“Sống một cuộc sống nghèo khổ hiển nhiên sẽ gây ra những thất vọng

mà thất vọng này là nguồn gốc của những hành động phá phách gây phiền

hà cho cuộc sống và trật tự xã hội, hoàn cảnh nghèo khổ buộc người ta phải khai thác bừa bãi môi trường và làm giảm khả năng sản xuất của nó, là mầm bệnh cho các xung đột về chính trị, xã hội, phá hoại những giá trị cơ bản của con người và làm xói mòn hạnh phúc gia đình, những hành động kiểu này đang là bi kịch cho nhiều gia đình và xã hội” (Báo cáo tổng kết

chương trình giảm nghèo ở châu Á - Thái Bình Dương)

Nghèo đói là nguyên nhân của hàng loạt những tác động tiêu cực với

sự phát triển xã hội và phát triển con người mà biểu hiện cụ thể của nó là:

Thu nhập thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới mức sống của con người, mức sống không đảm bảo dẫn đến hậu quả tất yếu, đó là duy dinh dưỡng ở trẻ em và giảm tuổi thọ ở người lớn Nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại là nhu cầu bản năng, nhu cầu đầu tiên của mỗi người Trong điều kiện thu nhập thấp, thì chi tiêu cho giáo dục, cho y tế và cho các sinh hoạt khác sẽ bị cắt giảm để nhường chỗ cho các chi tiêu về lương thực, về quần áo Thiếu sự chăm sóc về y tế, giáo dục thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, phòng tránh thai cũng như chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em dẫn tới tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ

tử vong cao ở trẻ sơ sinh, thậm chí cả các bà mẹ

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay

Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất

đáng báo động Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh tế

suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao

Trang 16

Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa thêm mạng sống của 200.000 đến 400.000 trẻ em trong giai đoạn 2010-2015, theo đó 1,4 đến 2,8 triệu trẻ em có thể bị tử vong nếu khủng hoảng tiếp diễn

Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) được đánh giá trên 3 dấu hiệu cơ bản: tỷ lệ người thiếu ăn, mức độ phổ biến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ

em dưới 5 tuổi; tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi Nhìn chung, trong những năm từ 1990 đến 2009, GHI trung bình của thế giới đã giảm gần 1/5 Nhiều quốc gia đã giải quyết tốt vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em Tuy nhiên,

tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi và tỷ lệ người thiếu ăn vẫn còn khá cao

Đói nghèo giết chết hơn 30.000 trẻ dưới 5 tuổi trên khắp thế giới mỗi

ngày, báo cáo của Manos Unidas - một tổ chức phi chính phủ (NGO) Tây Ban Nha, Manos Unidas (United Hands) cho biết điều này có nghĩa là có khoảng 11 triệu trẻ em chết mỗi năm vì nghèo đói, trong đó có 7 triệu trẻ dưới 5 tuổi; 130 triệu trẻ không được đi học và 82 triệu trẻ bị mất tuổi thơ bởi phải kết hôn quá sớm

Báo cáo của Manos Unidas cũng cho hay hiện có 15 triệu trẻ em trên thế giới bị mồ côi vì AIDS, đa số rơi vào trẻ ở Nam Phi; 246 triệu trẻ phải đi làm khi chưa đủ tuổi lao động, trong đó có 72 triệu trẻ dưới 10 tuổi Trong khi đó, theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, có khoảng 100 triệu trẻ em trên thế giới không có nhà cửa và đang sống trên các đường phố Trước thực trạng này, Liên Hiệp Quốc (LHQ) kêu gọi các nước cải thiện điều kiện y tế

và vệ sinh, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, cải thiện tình trạng đói nghèo và tạo điều kiện cho trẻ em phổ cập giáo dục tiểu học

Năm 2000, các nước trên thế giới đã thống nhất đề ra mục tiêu này, theo đó giảm một nửa số người nghèo đói vào năm 2015 Tuy nhiên, trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng lương thực, tài chính diễn ra liên tiếp đẩy số người nghèo tăng cao như hiện nay, đối với nhiều nước, mục tiêu này là bất khả thi

Báo cáo của "Sodexho Foundation", một tổ chức từ thiện chuyên theo dõi về nạn nghèo đói ở Mỹ, cho biết, nạn nghèo đói ở nước này trong nhiều năm qua không giảm mà còn có chiều hướng tăng Theo thống kê, trong năm

2005, toàn nước Mỹ có khoảng 35 triệu người thường xuyên không đủ ăn,

Trang 17

phải sống dựa vào các nguồn từ thiện Trong 90 tỉ USD chỉ cho người nghèo hàng năm, tới 66,7 tỉ USD dành cho y tế và chữa bệnh; 14,5 tỉ USD chi dưới các dạng tem phiếu hoặc các suất ăn từ thiện hàng ngày; 9,2 tỉ USD bị thiệt hại do năng suất lao động giảm

Tổ chức từ thiện Finn Care của Anh công bố một nghiên cứu cho thấy khoảng 12,5 triệu người Anh, tức 20% dân số nước này, đang sống dưới mức nghèo đói (theo chuẩn của Anh) Đây là thực tế đáng ngạc nhiên bởi Anh vốn được xem là nền kinh tế lớn thứ tư thế giới Hơn 140 triệu người ở châu Á bị đẩy vào tình trạng cực kỳ nghèo đói trong năm 2009 khi nạn thất nghiệp gia tăng do suy thoái kinh tế toàn cầu Đó là cảnh báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trong bản báo cáo mang tên The Fallout in Asia

được công bố ngày 18/2/2010

Theo nhận định của ông Kuroda (Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu

Á (ADB), khoảng 620 triệu người ở châu Á sống dưới mức 1USD/ngày Ít nhất một nửa và trong số này lần lượt sống ở Ấn Độ và Trung Quốc - 2 nước

có nền kinh tế đang phát triển mạnh

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, châu Phi là châu lục có tỷ lệ thanh niên thất nghiệp cao nhất thế giới (25,6% ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi) Thất nghiệp là một trong những vấn đề chủ chốt gây ra nạn đói nghèo của lục địa Đen và ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình và các kế hoạch phát triển, với tỷ lệ tăng 10% mỗi năm 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi Số tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỉ USD Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất thế giới, 45 tuổi Chỉ có 58% số người dân châu Phi được dùng nước sạch

Từ vài thập kỷ nay, tỷ lệ mù chữ tại châu Phi gia tăng, chiếm khoảng 40% số dân châu Phi ở độ tuổi 15 và chiếm hơn 50% số phụ nữ ở độ tuổi 25

Từ nhiều năm nay, châu Phi đã phải gánh chịu một vấn đề kinh niên là vấn

đề người tị nạn Theo các con số chính thức, tại châu Phi có hơn 7 triệu

người tị nạn và hơn 20 triệu người không có nhà cửa do hàng loạt các cuộc xung đột và nội chiến gây ra và đã để lại một hậu quả nặng nề về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng và kinh tế bị đình trệ

Trang 18

Châu Phi đang phải đối mặt với nạn hạn hán kinh niên và bị thiếu nước sạch thường xuyên, điều này đã và đang cản trở sự phát triển của châu lục này Tình trạng không được sử dụng nước sạch và mất vệ sinh đã gây ra những hậu quả tai hại và là nguồn gây ra các bệnh dịch trên toàn châu Phi Mặc dù trong những năm qua, các nước châu Phi đã đạt được những tiến bộ

về việc cung cấp nước sạch và điều kiện vệ sinh, song những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vẫn chưa đạt được

Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là

một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định

và phát triển của các quốc gia khác

Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi "đói nghèo đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh" không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi, những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốc tế; và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ nổ ra chiến tranh

Mặt khác, đói nghèo còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại Thay vì con người có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho phát triển, thì một phần lớn nguồn lực đó phải dành ra để giải quyết vấn đề đói nghèo và các vấn đề toàn cầu khác do đói nghèo mang lại Nghèo đói, bất công là nguyên nhân của tội phạm quốc tế (khủng bố, nạn buôn bán ma túy

và rửa tiền); nghèo đói cộng với thiếu hiểu biết kéo theo đó là gia tăng dân

số, cạn kiệt nguồn nước, khan hiếm nguồn năng lượng (do sự gia tăng nhanh chóng những hoạt động kinh tế của con người); lương thực, thực phẩm ngày càng thiếu hụt; bệnh tật (nhất là đại dịch HIV/AIDS) ngày càng lan tràn, khó

Trang 19

kiếm soát; môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và vấn đề di dân tự do

đang ngày càng trở nên phức tạp

Như vậy, đói nghèo là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của loài người Tác động của nó trong quan hệ quốc tế là rất lớn và vì vậy vấn đề này không phải của một quốc gia riêng lẻ nào mà là của toàn nhân loại, đòi hỏi thế giới phải chung tay để giải quyết một cách triệt để và toàn diện Ngăn chặn tình trạng đói nghèo sẽ không chỉ giúp nâng cao cuộc sống tại các nước đang phát triển mà còn mang lại sự bảo đảm về an ninh cho các nước giàu

Xin trích lời của ông Jacques Diouf, Giám đốc Tổ chức Nông - Lương

thế giới: "Để có thể loại trừ nạn đói này mỗi năm phải có ngân khoản 30 tỉ

mỹ kim, tức 8% ngân khoản mà các nước kỹ nghệ tân tiến đã yểm trợ cho ngành nông nghiệp của họ; và thực ra nó không là gì cả đối với số tiền các chính quyền dành cho việc mua sắm khí giới hay để chống lại cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới hiện nay"

Dẫu biết rằng đó chỉ là so sánh trên con số chứ không thể đem ra đo

đếm trong hiện thực nhưng vẫn cho chúng ta biết được rằng đói nghèo là vấn

đề mà nếu các quốc gia trên thế giới một lòng quan tâm và dốc sức vào nó

thì nó không thể không bị đẩy lùi Thiên tai, biến động kinh tế, chính trị vẫn xảy ra hàng năm và những người dân nghèo là những người hứng chịu hậu quả rõ rệt nhất, đặc biệt là trẻ em: đói như nỗi lo thường trực đánh cắp mất quyền hòa nhập vào cuộc sống bình thường như công dân thế kỷ XXI của những con người khốn khổ

2.2.2 Thực trạng nghèo tại Việt Nam

Sáng 30/5/2011, tại Hà Nội, Bộ lao động thương binh và xã hội đã công bố kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2010 và Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020

Bộ lao động, Thương binh và xã hội công bố kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc năm 2010 theo chuẩn nghèo mới (thu nhập hàng tháng của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng trở xuống ở nông thôn và 500.000 đồng trở xuống ở thành thị)

Trang 20

Theo đó, tổng số hộ nghèo cả nước là 3.055.566 hộ, hộ cận nghèo là 1.612.381 hộ Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 22% năm

2005 xuống còn 9,45% năm 2010 Xét về tỷ trọng số người nghèo ở từng vùng so với tổng số hộ nghèo trên cả nước, với 77.802 hộ nghèo, chiếm tỷ trọng 2,55%, khu vực Đông Nam Bộ là khu vực có số lượng hộ nghèo thấp nhất Khu vực Đông Bắc Bộ có số lượng hộ nghèo lớn nhất cả nước với 581.560 hộ, chiếm 19,03%

Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất với mức 50,01%; ba tỉnh

tỷ lệ hộ nghèo từ trên 40% đến dưới 50% là Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang Năm tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là Thành phố Hồ Chí Minh (0,01%), Bình Dương 0,005%, Đồng Nai 1,45%, Bà Rịa – Vũng Tàu 4,35%, Hà Nội 4,97% Cũng theo chuẩn nghèo mới, cả nước có 81 huyện nghèo thuộc 25 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, trong đó bao gồm 54 huyện nghèo theo Nghị quyết 30A năm 2008 Kết quả cuộc tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc là cơ sở để thực hiện các chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn 2011 - 2015

Cũng tại hội nghị, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức giới thiệu Nghị quyết số 80 về định hướng giảm nghèo bền vững trong giai

đoạn 2011-2020 do Chính phủ cũng đã ban hành ngày 19/5

Với chiến lược này, Chính phủ Việt Nam kỳ vọng sẽ từng bước cải thiện và nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo sẽ tăng lên 3,5 lần so với hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/ năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn Bộ mặt nông thôn, nhất là vùng nông thôn miền núi, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc… đã có nhiều thay đổi tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

Theo nghị quyết, đối với xã nghèo, ưu tiên đầu tư trước để hoàn thành, đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới đối với cơ sở trường học, trạm

y tế, nhà văn hóa ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi

Trang 21

2.2.3 Nguyên nhân nghèo đói của nước Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạo trong một thời gian dài

Chính sách nhà nước thất bại

Sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn

bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm

Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lực sản xuất

Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiệu quả, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hàng hóa làm thu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao

Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thành phố

Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hệu quả vào các công trình thâm dụng vốn của Nhà nước

Các nguyên nhân theo vùng địa lý

Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ cấu sản xuất đa phần dựa vào nghề

nông Đa số người nghèo sống bằng nghề nông nên dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, điều kiệnthời tiết không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Trang 22

Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe, ) Với năng lực kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn trong cuộc sống của họ và tất nhiên người nghèo thì càng nghèo hơn

Ngoài ra người nghèo chủ yếu sản xuất nông nghiệp năng suất thấp do không có trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất khả năng nâng năng suất là rất khó khăn trong khi do áp lực của đô thị hóa ngày càng mạnh, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp

Những tác động của chính sách vĩ mô đến người nghèo chưa hợp lý,

tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn còn thấp Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm dân cư gồm cả các nhóm thu nhập phụ thuộc vào đặc tính của tăng trưởng chưa hợp lý Thông thường, người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn những người nghèo và như vậy đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa nội thành và ngoại thành là điều khó tránh khỏi

Các nguyên nhân từ cộng đồng

Sự cách biệt với xã hội còn lớn Công việc của phụ nữ thường là ở nhà Họ có ít thời gian để tiếp xúc với xã hội Hộ nghèo có chủ hộ là nữ cảm thấy rất xa lạ với những quyết định có liên quan tới chính bản thân họ

Sự bất bình đẳng giữa các dân tộc vẫn còn tồn tại Những nhóm dân tộc thiểu số nghèo hơn rất nhiều so với đa số người Kinh

Các nguyên nhân về mặt nhân khẩu học

Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh

con trong các hộ gia đình nghèo và khu vực nông thôn thường là rất cao Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế Dân số tăng nhanh, quy mô gia đình nhiều con

ở khu vực ngoại thành là áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm và

xóa đói giảm nghèo đồng thời tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo

Trang 23

chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ Tỷ lệ phụ thuộc còn cao(54%) (Nguồn: TCTK Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2005-2007)

Thành kiến về vai trò của người phụ nữ còn tương đối khắt khe Những hộ có chủ hộ là nữ có nhiều khả năng rơi vào cảnh nghèo hơn so với chủ hộ là nam giới Trẻ em gái ít được đi học hơn, nếu có cũng ít được đi học cao Phụ nữ thường phải nhận mức lương thấp hơn nam giới ở cùng một công việc và ít được tham gia vào các công việc điều hành quan trọng Chẳng may trong trường hợp mất đi người chồng, người phụ nữ thường thiếu khả năng chống chọi nên dễ rơi vào đói nghèo

Các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế hộ gia đình

Tính ổn định và liên tục của nguồn thu nhập còn hạn chế nhất là trong khu vực nông thôn do phải chịu nhiều rủi ro không lường trước được như thiên tai, dịch bệnh, sâu bọ hay giá nông sản thấp

Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp,

ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có

điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo

Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ hội cho người dân sống nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người nghèo, bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt hơn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất Nếu tìm được chỗ làm cũng

chỉ là lao động phổ thông

Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thiếu nguồn lực Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn nhân lực của họ, đồng thời nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói Thông thường họ lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị kinh tế thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương

án sản xuất mang lợi nhuận cao, giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây

Trang 24

trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường Xu hướng này tất yếu dẫn tới một bộ phận không nhỏ nông dân sống ở các huyện ngoại thành phải chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng trên thực tế không phải nông dân nào cũng biết cách thay đổi “phương thức sản xuất” của mình, tức là phải tăng năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác nhờ áp dụng khoa học

kỹ thuật nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh

tế cao, Một số người khác sau khi nhận được số tiền đền bù từ mảnh ruộng của mình trong các dự án quy hoạch không biết sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả dẫn đến hệ quả là:

Thứ nhất, chỉ thoát được cảnh đói nghèo trong một thời gian ngắn Thứ hai, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp không tìm được việc làm mới, thất nghiệp gia tăng

Thứ ba, khi giá đất tăng lên do tác động của đô thị hóa, người nông dân bán đất ồ ạt, nhiều ngôi nhà mới được xây dựng nhưng đó là những ngôi nhà của những người ở nơi khác đến, đất canh tác cũng thu hẹp lại, vì vậy người nông dân khó có cơ hội để duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp

Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất nông nghiệp như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón… đã làm tăng chi phí tính trên một đơn vị giá trị sản phẩm Một mặt, do không có tài sản thế chấp, người nghèo phải dựa vào tín chấp với các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn trả vốn Mặt khác, đa số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thểhoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng

Ý chí vươn lên thoát nghèo của người dân còn thấp, vẫn tồn tại thái độ tiêu cực với cuộc sống Nhiều người không thật sự muốn làm ăn, quanh năm

họ chỉ trông chờ vào sự cứu trợ của chính quyền, thậm chí khi chưa đến mức bần cùng họ cũng không thể hiện chút nỗ lực nào, ngược lại là tìm mọi cách

để có tên trong sổ nghèo với hi vọng được thụ hưởng một số quyền lợi cho

không Một số cá nhân khác do có vấn đề tâm lý (làm ăn thất bại, gia đình

Trang 25

đổ vỡ…) nên không thiết tha với cuộc sống và trở nên rất tiêu cực (nghiện

rượu, bài bạc…) Đây là những trường rất khó để thoát nghèo cho dù cá biện pháp chính sách có tốt đến đâu đi chăng nữa

2.2.4 Quan điểm và mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam

2.2.4.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước

Năm 1998 lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằm trong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia Từ đó đến nay, công tác xóa

đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định như:

luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành vượt mức mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm…Từ năm 1992 đến năm

1998 với rất nhiều nỗ lực, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm từ 2 đến 3% Đến hết năm 2010 tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mức mục tiêu đề ra là 10%

Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) đã đề ra chủ trương xóa đói giảm nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiến lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các

kỳ Đại hội của Đảng.Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của công tác xóa đói giảm nghèo, xác định phải nhanh chóng đưa các hộ nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước; đề ra Chương trình quốc gia

về xóa đói giảm nghèo trong 5 năm 1996 – 2000 cùng với 10 Chương trình kinh tế - xã hội khác

Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu năm 1998, Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN (Chương trình 133) cho giai đoạn 1998-2000 Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung Chương trình 135 -Chương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Mục tiêu chính của Chương trình này là hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như:

hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế Tại 1715 xã nghèo nói trên Kết quả là đến năm 2000 tỷ lệ nghèo của cả nước còn 10% theo chuẩn cũ Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy, không thể chỉ theo đuổi mục

Trang 26

tiêu giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kết quả giảm nghèo đã đạt

được, tăng khả năng bền vững, hiệu quả của công tác giảm nghèo, đặc biệt

trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường Vì vậy, quan điểm giảm nghèo bền vững đã được đề cập và thể hiện trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển Đi

đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực

cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập… Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo” Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, phải luôn coi trọng yêu cầu nâng cao các phúc lợi xã hội cơ bản của nhân dân, đặc biệt là đối với người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách Nhà nước tăng đầu tư từ ngân sách tiếp tục phát triển cơ sở vật chất -

kỹ thuật để nâng cao phúc lợi chung cho toàn xã hội và bảo đảm cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản, trước hết là về y tế, giáo dục cho người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách và dịch vụ công cộng liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định:

“Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị”

Để cụ thể hóa hơn định hướng của Đảng, Chính phủ đã đưa ra mục

tiêu cần đạt được trong giảm nghèo từ 2011 đến 2020: Giảm nghèo bền vững là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu

Trang 27

số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Cụ thể cần đạt được:

* Thu nhập của hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm, riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn

* Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là vấn đề y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản

* Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, trường học, trạm y

tế, nước sinh hoạt

Để thực hiện được các mục tiêu trên, trong giai đọan 2011 – 2015 sẽ

tiếp tục thực hiện những chương trình, dự án, chính sách xoá đói giảm nghèo

đã và đang thực hiện: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, thực

hiện Chương trình 135 giai đoạn 3, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 30a của chính phủ và các chương trình phát triển kinh tế xã hôi khác Nguồn lực đề thực hiện công tác giảm nghèo sẽ được huy động tối đa, không chỉ bằng Ngân sách Nhà nước mà còn huy động được sự tham gia với tinh thần trách nhiệm cao của các tập đoàn kinh tế, các Tổng Công ty nhà nước, Ngân hàng thương mại…và đặc biệt là từ chính bản thân người nghèo Phối hợp nhiều phương thức hỗ trợ người nghèo như hỗ trợ người nghèo trong vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ về nhà ở, hỗ trợ về cung cấp và tạo điều kiện duy trì với các loại dịch vụ, hỗ trợ giao đất, giao rừng, về đào tạo nguồn nhân lực…Đồng thời khắc phục những hạn chế như: Các chương trình giảm nghèo triển khai chưa toàn diện, nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo

được ban hành nhưng còn mang tình ngắn hạn, chồng chéo, nguồn lực cho

giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, lại bị phân tán, dàn trải, thiếu giải pháp

cụ thể gắn kết việc thực hiện chính sách giảm nghèo với chính sách an sinh

xã hội, việc phối hợp chỉ đạo thực hiện giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả.Với những giải pháp đồng bộ như vậy, sẽ đảm bảo tính

Trang 28

khả thi trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 2011 – 2015

2.2.4.2 Mục tiêu thiên nhiên kỷ

Các nghiên cứu đã lập được bản đồ phân bố đói nghèo đến từng xã, từng hộ Việt Nam đã công bố chiến lược ‘’tăng trưởng toàn diện và xóa đói giảm nghèo’ Việt Nam đã ký vào Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu:

1 Xoá bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói

2 Đạt phổ cập giáo dục tiểu học

3 Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế người phụ nữ

4 Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh

5 Tăng cường sức khỏe bà mẹ

6 Phòng chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác

7 Đảm bảo bền vững môi trường

8 Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển

2.2.5.Những thành tựu và kinh nghiệm trong công tác giảm nghèo của một số nước trên thế giới

Kể từ khi Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa đến nay, Trung Quốc

đã chính thức khởi động chương trình xóa đói, giảm nghèo bằng dự án phát

triển với quy mô lớn, có kế hoạch và có tổ chức trong phạm vi cả nước Mười năm qua, mức tăng thu nhập bình quân đầu người của nông dân thuộc

592 huyện trọng điểm xóa đói, giảm nghèo cấp quốc gia đã vượt mức tăng bình quân của cả nước Trung Quốc Tỷ lệ dân số nông thôn nghèo khó trong tổng số dân nông thôn Trung Quốc từ 10,2% năm 2000, giảm xuống còn 2,8% năm 2010 Trung Quốc đã thực hiện trước thời hạn mục tiêu giảm 50% dân số nghèo khó theo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của LHQ, góp phần quan trọng cho sự nghiệp xóa giảm đói nghèo của toàn thế giới [28]

Các nước Đông Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng đã rất thành công trong việc giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo không chỉ đạt được mức tăng trưởng cao mà còn gắn

được tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và giảm mạnh đói nghèo Mô

hình tăng trưởng của các nước Đông Á được mô tả lúc đầu dựa vào phát triển nông nghiệp, sau đó dựa vào xuất khẩu mặt hàng công nghiệp chế biến

Trang 29

sử dụng nhiều lao động Đến nay tăng trưởng nhanh chủ yếu dựa vào xuất khẩu các sản phẩm dịch vụ có hàm lượng kỹ thuật cao, sử dụng nhiều lao

động ngành nghề

Tại Hàn Quốc với hàng loạt các chính sách và định hướng đúng đắn trong các chương trình giảm nghèo bao gồm việc hỗ trợ tài chính cho các vùng nông thôn nghèo để phát triển cơ sở hạ tầng và thúc đẩy sinh kế cho nông dân, nhất là người nghèo, theo cơ chế khuyến khích và có điều kiện

Có kế hoạch hàng năm và 5 năm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế -

xã hội ở địa phương kết hợp với nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cấp cơ

sở Tăng tỷ lệ vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn trong tổng chi tiêu công của Chính phủ để thúc đẩy việc phát triển sinh kế cho người dân và nâng cao hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp Trao quyền tự chủ cho cơ

sở và người dân, làm gì, làm như thế nào do người dân và chính quyền cấp

cơ sở tự quyết định Nhờ những nỗ lực đó, chỉ sau 30 năm nông thôn Hàn Quốc

đã có sự phát triển vượt bậc, kinh tế Hàn Quốc được xếp vào nhóm nước phát

triển

Đài Loan là một trong những nước công nghiệp mới (NIES), nhưng là

1 nước thành công nhất về mô hình kết hợp chặt trẽ giữa phát triển công nghiệp với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ( mặc dù Đài Loan không có các điều kiện thuận lợi như một số nước trong khu vực) đó là chính phủ Đài Loan đã áp dụng thành công một số chính sách về phát triển kinh tế -xã hội như:

- Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theo hướng sản xuất hàng hoá

- Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, mở mang thêm những nghành sản xuát kinh doanh ngoài nông nghiẹp cũng được phát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp, vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91% số trang trại sản xuất thuần nông chiếm 90% Việc tăng sản lượng và tăng năng suất lao động

Trang 30

ttrong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo điều kiện cho các nghành công nghiệp phát triển

- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nông thôn Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn

cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ

Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện khí hoá nông thôn góp phàn cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt

ở nông thôn Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công

nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút những lao đông nhàn rỗi của khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn của nhân dân nông thôn được nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên và điều kiện sống được cải thiện,Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 3,2%/năm(1950) xuống còn 1,5%/năm(1985) Hệ thống ytế , chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng [18]

Ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn 1 số nước ASEAN cũng có những chương trình phát triển kinh tế -xã hội bằng con đường kết hợp giữa những ngành công nghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế nông thôn với mục

đích xoá đói giảm nghèo trong dân chúng nông thôn Điều đặc trung quan

trọng của các nước ASEAN là ở chỗ những nước này đều có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bước vào công nghiệp hoá có nghĩa là vào lúc khởi đầu của quá trình công nghiệp hoá.Tất cả các nước ASEAN (trừ Singapo) đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triển nông nghiệp là một trong những nguồn vốn cho phát triển công nghiệp, điền hình là những nước như Thái Lan, InĐôNêXiA, Philipin và Malaxia Tất cả những nước này phần

Trang 31

lớn dân cư sống ở khu vực nông thôn, đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu, thu nhạp chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy mà chính phủ các nước này trong quá trình hoạch định các chính sach kinh tế -xã hội họ đều rất chú trọng đến các chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn , giành cho nông nghiệp nông thôn những ưu tiên cần thiết về vốn đầu

tư đẻ tiến hành cuộc cách mạng xanh trong nông nghiẹp.Tuy nhiên khi bước vào giai đoạn 2 của quá trình công nghiệp hoá, tất cả các nước ASEAN đều nhận thấy rằng không thể đi lên chỉ bằng con đường nông nghiệp mà phải

đâù tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ Chính vì lẽ đó mà các chính

sách về phát triển nông nghiệp nông thôn cũng như các chương trình phát triển khác như chương trình xoá đói giảm nghèo không được chú trọng như

ở giai đoạn đàu của quá trình công nghiệp hoá Do vậy khoảng cách về thu

nhập của những người giàu với những người nghèo là rất lớn Sự phân tầng

xã hội là rõ rệt gây mất ổn định về tình hình chính trị xã hội , từ đó làm mất

ổn định trong phát triển kinh tế

Sự phồn vinh của băng cốc ,Manila được xây dựng trên nghèo khổ của các vùng nông thôn như ở vùng đông bắc Thái Lan, ở miền trung đảo Ludon Cho đến nay sự bất bình đẳng veg thu nhập ở Thái Lan vẫn tiép tục gia tăng, các thành phố lớn, các khu cônh nghiệp vẫn có tỷ lệ tăng trưởng cao,năm 1981 Bangkoc đóng góp 42% GDP , đến năm 1989 lên tới 48% cho GDP trong khi đó phần đóng góp cho GDP ở các vùng khác lại giảm xuống như ở miền bắc và miền nam Thái lan phần đóng góp đã giảm xuống từ 14,7% năm 1981 xuống còn 10% năm 1989

Ở Malaixia chính phủ đã thực hiện chính sách phân phối lại trong nền

kinh tế quốc dân, nhưng việc phân phối lại thì lợi ích vẫn chủ yếu tập trung cho tần lớp giàu có, những người nghèo khổ đặc biệtlà nông dân hầu như

Trang 32

không được chia sẻ lợi ích đó, khái niệm công bằng ở đây là sự công bằng giữa tầng lớp giàu có

Vào năm 1985 ở Malayxia có tới 82.000 hộ gia đình ở khu vực nông thôn thuộc diện nghèo đói

Tình trạng nghèo khổ ở Philipin còn tồi tệ hơn, năm 1988 tỷ lệ nghèo

đói ở Philippin lên tới 49,5% dân số trong 3,1 triệu hộ gia đình đói nghèo thì

tới 2,2 triệu gia đình (72,8%) sống ở khu vực nông thôn, đời sống chủ yếu dựa vào nghề nông, còn 843.000 hộ (27,2%) sống ở khu vực phi nông nghiệp Điều này cho thấy đa số những người nghèo Philippin sống tập trung

ở khu vực nông thôn

Tình trạng nghèo khổ ở các nước ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này, điều này cho thấy do

sự tăng trưởng kinh tế không theo kịp sự tăng trưởng dân số, mặt khác là do quá trình chuyển dịch cơ cấu sang những ngành sản xuất công nghệ cao của một số nước ASEAN hiện nay làm cho nạn thất nghiệp ngày càng trầm trọng hơn.Để giải quyết tình trạng đói nghèo, chính phủ các nước ASEAN có rất nhều cố gắng

Chính phủ Inđônêxia trong kế hoạch 5 năm lần năm đã tăng chỉ tiêu cho các hoạt động tạo ra những việc làm mới cho những người chưa có việc làm, nhằm tạo thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần tích cực cho công cuộc xoá đói giảm nghèo cho nhân dân

Ở Thái Lan, một trong những biện pháp chống nghèo khổ mà nước

này đã áp dụng là phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới về khu vực nông thôn, nơi có sẵn tài nguyên thiên nhiên nhằm thu hút số lao

động dôi dư ở khu vực nông nghiệp( để khắc phục tình trạng dân lao động

di cư vào thành phố kiếm việc làm) làm tăng thu nhập cho người dân và

Trang 33

gia đình họ Biện pháp này còn nhằm mục đích đô thị hoá nông thôn, đưa những vùng nông thôn hẻo lánh xa xôi vào dòng phát triển chung của đất nước Những nỗ lực trong các giải pháp chống nghèo khổ của các nước ASEAN đã đem lại những kết quả đáng kể, song để khắc phục tình trạng đói nghèo có tính lâu dài bền vững thì chính phủ các nước này phải duy trì và

đẩy mạnh nhịp độ tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế phát triển tạo nên cơ

sở vật chất dể phân phối lại thu nhập qua sự điều tiết của chính phủ và khi nền kinh tế phát triển thì tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế được nâng cao, từ đó chính phủ đầu tư cho việc xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là chương trình xoá đói giảm nghèo một cách hiệu quả nhất

2.2.6 Một số địa phương làm tốt công tác giảm nghèo trong nước

*) Giảm nghèo ở Bắc Giang

Theo Ông Ngô Biên Cương, Phó trưởng Ban Dân vận tỉnh ủy Bắc Giang cho biết: Đến nay,toàn tỉnh đã huy động trên 2.500 tỷ đồng cho việc xóa đói, giảm nghèo ở miền núi, vùng DTTS, trong đó tập trung vào một số chương trình mục tiêu như Chương trình 135/CP, 134/CP; chính sách trợ cước, trợ giá theo Nghị định 02 và 20 của Chính phủ…

Ngoài chính sách của Nhà nước, tỉnh Bắc Giang đã áp dụng nhiều biện pháp sáng tạo như: Huy động nhân dân vùng thấp giúp đỡ nhân dân vùng cao, đồng bào Kinh giúp đỡ đồng bào DTTS, hộ khá giúp hộ nghèo Đồng thời vận động các cơ quan, doanh nghiệp trong tỉnh như Công ty phân đạm

và hóa chất Hà Bắc, Ngân hàng chính sách xã hội, Công ty viễn thông… tham gia giúp đỡ vùng nghèo

Nhờ có Chương trình 135 (giai đoạn I) mà Bắc Giang đã có 14 xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn, và đến nay đa số hộ nghèo dân tộc đã

được xóa nhà tạm 98% số xã vùng dân tộc miền núi của tỉnh đã có đường

cho xe ô tô đến trung tâm xã, kể cả mùa mưa Trên 95% số hộ trong vùng đã

được sử dụng điện lưới quốc gia, trên 70% số hộ dân được sử dụng nước

Trang 34

sinh hoạt hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn giảm bình quân

5 - 6%/năm

Kinh tế phát triển, nhiều con em đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng

xa được đi học Đến nay, Bắc Giang đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở

ở vùng đồng bào DTTS, nhiều con em đồng bào các dân tộc đã thi đỗ đại

học, cao đẳng và đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi, như em Hà Khương Duy, dân tộc Nùng đã giành huy chương vàng kỳ thi Toán – olimpic quốc tế năm 2009

Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ngày càng tốt hơn Toàn tỉnh đã hoàn thành việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho đồng bào ở các xã

đặc biệt khó khăn với trên 291.000 đối tượng…

Để góp phần nâng cao đời sống nhân dân, giúp đồng bào vươn lên xóa đói giảm nghèo, nhất là đồng bào DTTS, ông Ngô Biên Cương cho rằng:

Muốn xóa đói, giảm nghèo thành công cho đồng bào DTTS, cần phải tập trung nâng cao trình độ dân trí, coi đó là điều kiện để xóa đói giảm nghèo bền vững

*Ở Lào Cai

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Ban Chấp hành Đảng bộ đã ban hành 7 chương trình công tác trọng tâm với 27 đề án, trong đó đề án "Giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2011 - 2015" tiếp tục được lựa chọn là một trong các đề án trọng tâm của tỉnh trong giai đoạn này Nhờ xác định đúng tiềm năng, lợi thế để dồn sức thực hiện nên đến hết năm 2011, công tác giảm nghèo của tỉnh Lào Cai tiếp tục được quan tâm, đầu tư thích

đáng và đạt kết quả quan trọng, tỷ lệ nghèo giảm 8,19%, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 17 triệu đồng/năm Kết quả trên không chỉ góp phần tạo

ra thế và lực mới cho giai đoạn tiếp theo của Lào Cai mà còn là minh chứng của một chủ trương kiên trì đúng đắn, đó là tăng trưởng kinh tế cao, gắn với giảm nghèo bền vững

Thực tế cho thấy, Lào Cai đã và đang có những bước phát triển vượt bậc Diện mạo nông thôn từ vùng thấp đến vùng cao có nhiều đổi mới, đời

Trang 35

sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là đời sống của bà con vùng cao, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cùng với những thay đổi về cơ sở vật chất thì nhận thức về giảm nghèo của đồng bào được nâng lên, đồng thời lại có các cơ chế chính sách hỗ trợ của Đảng

và Nhà nước, nên bà con đã tích cực tham gia lao động, sản xuất để xóa đói, giảm nghèo và từng bước vươn lên làm giàu chính đáng Cây trồng, vật nuôi nào có giá trị kinh tế cao, mô hình sản xuất nào có hiệu quả là đồng bào nắm bắt chuyển đổi ngay, đồng thời tích cực học tập, áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ đó đã bước đầu hình thành được những vùng sản xuất có giá trị kinh tế cao chứ không nhỏ lẻ, manh mún như trước Nhiều hộ có cách làm hay, hiệu quả vươn lên thoát nghèo và phấn đấu làm giàu Kết quả đó là do công tác xóa đói, giảm nghèo luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở, đã coi đây là một nhiệm

vụ trọng tâm, từ đó quyết tâm thực hiện Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã vận dụng sáng tạo nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương, thực hiện đồng bộ các giải pháp về xoá đói, giảm nghèo thông qua việc xác định đúng những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, những tiềm năng, thế mạnh, những khâu đột phá và có bước đi phù hợp; hằng năm giành từ 65% trở lên nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khu vực nông thôn, vùng cao, tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đối với các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn Bên cạnh đó, các chủ trương,

đường lối của tỉnh được cụ thể hoá, các cơ chế, chính sách được ban hành

kịp thời Công tác đào tạo nhân lực được đặc biệt quan tâm, thường xuyên

cử cán bộ cơ sở tập huấn kiến thức trong hoạt động thương mại - dịch vụ, kỹ năng triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, các hoạt động nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, đối tác… Các chính sách đối với hộ nghèo theo chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh được quan tâm, chỉ đạo kịp thời Chính vì vậy đã đạt được những kết quả hết sức ấn tượng, năm 2011, sản

Trang 36

lượng lương thực có hạt đạt 251,8 nghìn tấn, tăng 11% so với kế hoạch; tỷ lệ

hộ nghèo giảm 8,19%; các mô hình sản xuất có hiệu quả được nhân rộng; việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng mở rộng; một

số cây trồng có năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất, chương trình thâm canh tăng vụ được tích cực thực hiện và đem lại hiệu quả kinh tế cao Ở nhiều địa phương đã và đang hình thành vùng sản xuất hàng hoá đối với một số loài cây như: Chuối, dứa với giá trị thu nhập đạt trên 100 triệu

đồng/ha Toàn tỉnh đã tuyển sinh và đào tạo nghề cho 12.200 lao động, giải

quyết việc làm mới cho 10.500 lao động; đưa 215 người đi xuất khẩu lao

động Bên cạnh những kết quả đạt được thì hiện nay toàn tỉnh vẫn còn

35,29% tỷ lệ hộ nghèo và nhiều hộ có nguy cơ tái nghèo, trong khi đó khó khăn lớn trong công tác giảm nghèo là một bộ phận người dân ỷ lại, trông chờ vào nhà nước, chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động trong thời gian tới

Để đề án "Giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2011- 2015" tiếp tục đạt

kết quả cao, quan điểm chỉ đạo chung vẫn là tăng trưởng kinh tế gắn với giảm nghèo bền vững Phải xác định giảm nghèo bền vững là hỗ trợ cho người nghèo những điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập mang tính lâu dài, ít có khả năng tái nghèo trong thời gian dài Để làm được điều

đó, phải đặc biệt quan tâm, chú trọng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ

cơ sở và người lao động có đủ năng lực cần thiết sử dụng nguồn vốn đúng mục tiêu, có hiệu quả, không thất thoát Bảo đảm tính công khai, dân chủ, minh bạch về tài chính theo nguyên tắc "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được hưởng lợi" Tiếp tục thực hiện cơ chế phân cấp quản lý

và sử dụng kinh phí cho cấp huyện, xã theo hình thức hỗ trợ kinh phí có mục tiêu và giao quyền quyết định sử dụng nguồn kinh phí đó cho mục tiêu giảm nghèo và phát triển bền vững ở địa phương Tiếp tục quan tâm bố trí ngân sách để giải quyết những nhu cầu bức xúc trên địa bàn theo những mục tiêu

Trang 37

của chương trình, ưu tiên cho việc xây dựng hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là ở những xã, thôn đặc biệt khó khăn Xây dựng

cơ chế, quy trình lồng ghép, gắn kết với các chương trình, dự án khác để tập trung nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo, tránh trùng lắp, chồng chéo; đồng thời xây dựng kế hoạch cụ thể của từng chính sách, dự án giảm nghèo và triển khai tổ chức thực hiện đồng bộ và hiệu quả

Với quyết tâm phấn đấu giữ vững tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo; giảm tỷ

lệ hộ nghèo phát sinh, củng cố kết quả giảm nghèo bền vững toàn diện hơn, hàng loạt các nhóm giải pháp đã được đề ra và đang từng bước triển khai thực hiện, với 8 dự án và chính sách thành phần Đó là, nhóm chính sách hỗ trợ hộ nghèo về dân sinh và tiếp cận với các dịch vụ xã hội; nhóm chính sách

hỗ trợ về sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo; tiếp tục thực hiện các chính sách nâng cao năng lực về giảm nghèo; chính sách đặc thù hỗ trợ giảm nghèo nhanh, bền vững ở các huyện nghèo Đặc biệt, tỉnh sẽ tập trung triển khai quyết liệt và có hiệu quả 5 chương trình công tác trọng tâm hướng về cơ sở, nhất là Chương trình xây dựng nông thôn mới Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới không chỉ tập trung cho 35 xã làm điểm trong giai đoạn 2011 - 2015 mà đều phải tiến hành đồng bộ ở tất

cả 144 xã, với phương châm chọn những việc dễ làm trước, những khâu đột phá có sức lan tỏa để tiến hành và cần huy động mọi nguồn lực trong nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới

Phát huy các tiềm năng, lợi thế, tranh thủ và tận dụng tốt các nguồn lực, tạo sự đồng thuận cao trong việc triển khai thực hiện các chương trình,

đề án trọng tâm nói chung, đề án "Giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2011-

2015" nói riêng, tin tưởng công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Lào Cai tiếp tục thu được nhiều kết quả, góp phần xây dựng tỉnh đổi mới vàpháttriển, nhân dân các dân tộc ngày càng ấm no, hạnh phúc Ban Chấp hành [16]

Trang 38

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là các hộ gia đình trong xã Tổng Cọt,

huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được triển khai tại xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao

Bằng Tập trung chính vào nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp XĐGN

- Phạm vi thời gian: từ ngày 20-1 đến ngày 27-4

- Phạm vi không gian: đề tài được thực hiện tại Địa bàn xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra sơ lược về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội địa bàn nghiên cứu

- Phân tích thực trạng và nguyên nhân dẫn đến nghèo của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu về các chương trình xóa đói giảm nghèo đã thực hiện tại

địa phương, những kết quả đạt được và hạn chế trong các chính sách giảm

nghèo

- Đề xuất một số giải pháp giảm nghèo cho địa phương trong những năm tới

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp

Là phương pháp thu thập thông tin, số liệu sẵn có, thường có trong các báo cáo, tổng kết, đánh giá về vấn đề nghèo đói Các thông tin này thường được thu thập từ: Ủy ban nhân dân xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Phòng Bảo trợ xã hội, Sở Lao động-TB&XH Cao Bằng Tôi

sử dụng phương pháp này có được các số liệu về các yếu tố sản xuất của nhóm hộ điều tra Bao gồm: Nhà ở, các phương tiện sinh hoạt Điều kiện sản xuất của các HGĐ, (tình hình sử dụng đất đai, nhân khẩu, lao động và sử

Trang 39

dụng lao động, tranh thiết bị máy móc, công cụ sản xuất, thu nhập ,) Thông qua việc tham khảo các tài liệu liên quan đến tình hình KT-XH của xã: Số liệu về tình hình sử dụng đất, lao động và việc làm và những báo cáo có liên quan đến XĐGN: Kế hoạch XĐGN giai đoạn 2010-2015, báo cáo mục tiêu giảm nghèo năm 2013, báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu giảm nghèo năm 2013 Qua đó để thấy được thực trạng nghèo đói của cộng đồng người dân trên địa bàn

3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp

Là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu chưa từng được công

bố ở bất kỳ tài liệu nào, người thu thập có được thông tin, số liệu thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát thực tế, đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) , Tôi sử dụng phương pháp này thông qua việc lập một bảng câu hỏi sẵn nhằm điều tra, phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu sau đó tổng hợp các số liệu thu được, xác định các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của cộng đồng dân tộc tại địa bàn xã

* Nội dung điều tra phỏng vấn các hộ điều tra

Những đặc trưng cơ bản của HGĐ (dân tộc, trình độ văn hóa, quy mô hộ ,) tình trạng sử dụng phương tiện sản xuất (PTSX), tài sản, tình trạng việc làm của từng thành viên trong gia đình, thu nhập và cơ cấu nguồn thu nhập của HGĐ, tiếp cận hộ nghèo về vốn

* Nội dung điều tra, phỏng vấn tại xã

Tình hình cơ bản tại xã, cơ sở hạ tầng sản xuất và sinh hoạt, kết quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận tín dụng của hộ, một số chương trình góp phần giảm nghèo tại địa phương

Trang 40

+ Chọn 02 xóm cách xa trục đường chính, điều kiện đi lại khó khăn (xóm Cọt Nưa tổng 43 hộ ,điều tra 20 hộ: 3 hộ khác, 10 hộ cận nghèo và 7

hộ nghèo; xóm Rằng Đán điều tra 15 hộ: 3 hộ khác ,2 hộ cận nghèo và 10

hộ nghèo)

+ Số lượng mẫu điều tra hộ: 60 hộ thuộc 03 xóm Trong đó: 8 hộ khác, 15 hộ cận nghèo và 37 hộ nghèo

+ Tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ xã điều tra:

- Lãnh đạo phụ trách nông lâm nghiệp

- Cán bộ liên quan đến khuyến nông lâm

- Có đại diện các ban ngành, thành phần: Phụ nữ, thanh niên, đất

đai, văn hóa xã hội

+ Tiến hành phỏng vấn 6 cán bộ xã và 3 trưởng thôn: tổng là 9 cán bộ

Bảng 3.1 Thành phần dân tộc, giới tính của đối tượng phỏng vấn

(Nguồn: tổng hợp từ điều tra thực tế của tác giả)

Tiến trình thực hiện nghiên cứu:

Để bắt đầu đi khảo sát đầu tiên đi tiền trạm nhằm tìm hiểu thông tin

chung tại địa bàn nghiên cứu, gặp gỡ trao đổi nội dung và cách làm với cán

bộ lãnh đạo địa phương, qua đó nắm bắt được quan điểm của cán bộ lãnh

đạo địa phương để tìm sự giúp đỡ trong tổ chức công việc khảo sát

Điều tra thử và hoàn thiện bộ câu hỏi phỏng vấn hiện trường

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Tổng Cọt từ năm 2011-2013 - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Tổng Cọt từ năm 2011-2013 (Trang 44)
Hình 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Tổng Cọt từ năm 2011-2013 - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Hình 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Tổng Cọt từ năm 2011-2013 (Trang 45)
Bảng 4.2. Tình hình nuôi trồng các loại cây, con xã Tổng Cọt - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.2. Tình hình nuôi trồng các loại cây, con xã Tổng Cọt (Trang 46)
Hình 4.2. Sự biến động về diện tích các loại cây trồng của xã Tổng Cọt - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Hình 4.2. Sự biến động về diện tích các loại cây trồng của xã Tổng Cọt (Trang 47)
Bảng 4.3. Tình hình phát triển cây trồng chính của xã Tổng Cọt - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.3. Tình hình phát triển cây trồng chính của xã Tổng Cọt (Trang 49)
Bảng 4.4. Tình hình dân số và lao động của xã Tổng Cọt năm 2013 - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.4. Tình hình dân số và lao động của xã Tổng Cọt năm 2013 (Trang 50)
Bảng 4.6. Tỷ lệ hộ nghèo của xã Tổng Cọt giai đoạn 2011-2013 - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.6. Tỷ lệ hộ nghèo của xã Tổng Cọt giai đoạn 2011-2013 (Trang 57)
Bảng 4.7. Tình hình về nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.7. Tình hình về nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra (Trang 59)
Bảng 4.8. Tình hình sử dụng đất của các nhóm hộ nghiên cứu xã Tổng - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.8. Tình hình sử dụng đất của các nhóm hộ nghiên cứu xã Tổng (Trang 60)
Bảng 4.10. Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra năm 2013 - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.10. Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra năm 2013 (Trang 62)
Hình 4.3. Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình nghèo trong các hộ điều - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Hình 4.3. Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình nghèo trong các hộ điều (Trang 63)
Bảng 4.12. Phương tiện sản xuất của các nông hộ - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.12. Phương tiện sản xuất của các nông hộ (Trang 65)
Bảng 4.13. Tình hình học tập chủ hộ của các hộ điều tra - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Bảng 4.13. Tình hình học tập chủ hộ của các hộ điều tra (Trang 66)
Hình 4.4. Những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của nhân dân trong xã - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Hình 4.4. Những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của nhân dân trong xã (Trang 68)
Hình 4.5. Vòng luẩn quẩn nghèo đói tại xã Tổng Cọt - Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng.
Hình 4.5. Vòng luẩn quẩn nghèo đói tại xã Tổng Cọt (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm