1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.

73 660 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 529,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy nhưng thực tế cho thấy nông thôn nước ta vẫn còn những yếu kém cần phải sớm khắc phục như: Tình trạng lạc hậu về khoa học công nghệ, ruộng đất ngày càng bị thu hẹp, đặc biệt là n

Trang 1

NGUYỄN NGỌC QUYẾN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ ĐÔNG CAO, HUYỆN PHỔ YÊN,

TỈNH THÁI NGUYÊN, GIAI ĐOẠN 2011 - 2013

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khoa : Kinh tế & PTNT

Khoá học : 2010 - 2014

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

NGUYỄN NGỌC QUYẾN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ ĐÔNG CAO, HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN, GIAI ĐOẠN 2011 - 2013

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khoa : Kinh tế & PTNT Lớp : K42 - PTNT

Khoá học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Dương Văn Sơn

Thái Nguyên - 2014

Trang 3

trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một luận văn nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 11 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Quyến

Trang 4

Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã

Đông Cao - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên với đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013”

Khóa luận được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn, quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường

Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Đông Cao - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên, các ban ngành cùng nhân dân trong xã, bạn bè và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi những sai xót mong thầy, cô chỉ bảo, góp ý

để bài khóa luận của tôi được tốt hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Quyến

Trang 5

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Yêu cầu của đề tài 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông thôn 4

2.2 Cơ sở thực tiễn 11

2.2.1 Tình hình kinh tế xã hội của một số nước trên thế giới 11

2.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam 13

2.2.2.1 Tình hình kinh tế 14

2.2.2.2 Tình hình xã hội 21

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 26

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 26

3.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 27

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

4.1 Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội xã Đông Cao 28

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

4.1.1.1 Vị trí địa lý 28

4.1.1.2 Địa hình 28

Trang 6

4.1.2.2 Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động xã Đông Cao năm 2013 32

4.1.2.3 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật 33

4.1.2.4 Về công tác đảm bảo ANCT và TTATXH 37

4.2 Thực trạng phát triển kinh tế của xã Đông Cao 38

4.2.1 Thực trạng chung 38

4.2.1.1 Thực trạng ngành sản xuất nông nghiệp 38

4.2.1.2 Thực trạng ngành thuỷ sản 42

4.2.1.3 Ngành CN - TTCN 42

4.2.1.4 Ngành dịch vụ - Thương mại 43

4.2.2 Thực trạng phát triển xã hội nông thôn xã Đông Cao qua 3

năm 2011 - 2013 43

4.2.2.1 Giáo Dục 43

4.2.2.2 Y tế 45

4.2.2.3 Dân số kế hoạch hoá gia đình và việc làm 48

4.2.2.4 Văn hoá 48

4.2.2.5 Môi trường 49

4.2.2.6 Những chính sách tác động đến quá trình phát triển kinh tế

nông thôn 49

4.2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển KT - XH của xã qua 3 năm 2011-2013 51

4.2.4 Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp và thu nhập về nông nghiệp của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu 52

4.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển KT - XH của xã Đông Cao 57

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Kiến nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 7

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Đông Cao năm 2011 -2013 31

Bảng 4.2 Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động xã Đông Cao

năm 2013 33

Bảng 4.3 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của xã Đông Cao năm 2013 34

Bảng 4.4 Giá trị, cơ cấu các ngành kinh tế qua 3 năm 2011 - 2013 38

Bảng 4.5 Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng của xã qua 3 năm (2011- 2013) 39

Bảng 4.6 Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm của xã qua 3

năm 2011 - 2013 41

Bảng 4.7 Kết quả sản xuất ngành nuôi trồng thuỷ sản của xã Đông Cao năm 2011 - 2013 42

Bảng 4.8 Tình hình giáo dục trên địa bàn xã Đông Cao

giai đoạn 2011 -2013 44

Bảng 4.9 Kết quả giáo dục trên địa bàn xã Đông Cao năm 2011-2013 45

Bảng 4.10 Công tác khám chữa bệnh và điều trị của trạm y tế xã Đông Cao năm 2011 - 2013 46

Bảng 4.11 Tình trạng chăm sóc sức khỏe của một số hộ điều tra 47

Bảng 4.12 Kết quả chương trình hỗ trợ xây nhà ở 50

Bảng 4.13 Tình hình chủ hộ điều tra năm 2013 52

Bảng 4.14 Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 53

Bảng 4.15 Một số chỉ tiêu về lao động và nhân khẩu của hộ nông dân điều tra năm 2013 54

Bảng 4.16 Thực trạng cơ cấu diện tích, năng suất, sản lượng gieo trồng năm 2013 của nhóm hộ, tính BQ/ hộ 55

Bảng 4.17 Giá trị sản xuất ngành trồng trọt năm 2013 của nhóm hộ điều tra, tính BQ/ hộ (theo giá trị thực tế) 56

Bảng 4.18 Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2013 của nhóm hộ điều tra tính BQ/hộ(theo giá thực tế) 56

Bảng 4.19 Nguyện vọng của các hộ điều tra 57

Trang 8

CSHT Cơ sở hạ tầng

BCHTƯ Ban chấp hành trung ương

Trang 9

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mặc dù nước

ta đã đạt được những thành tựu nhất định song kết quả đạt được vẫn còn ở mức khiêm tốn Tuy sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ 2 trên thế giới nhưng chất lượng vẫn còn thấp, tỷ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ có tăng nhưng không cao Hơn nữa, sự canh tranh mạnh mẽ của các nước trên thế giới đẩy Việt Nam cùng với một số nước khác đang đứng trước nguy cơ lạm phát Nước ta là một nước nông nghiệp lấy sản xuất lúa nước làm chính Có tới 72,88% cư dân đang sống ở nông thôn, làm ra 39,65 tấn lương thực lấy hạt, trong đó có 35,83 triệu tấn thóc và 3,82 triệu tấn ngô (2006) Nông dân với 27 triệu lao động đang sống trong 50.000 thôn xóm, thuộc 9.098 xã Trong Nông nghiệp, trồng trọt chiếm tới 73,5%, chăn nuôi chiếm 27,7%, còn dịch vụ chỉ chiếm có 1,8% Trong thu nhập quốc nội (GDP) thì nông lâm thủy sản còn tới 20,36%, công nghiệp, xây dựng là 41,56%, còn dịch vụ

là 38,08% Sau nhiều năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đến nay,

về cơ bản nông nghiệp, nông thôn Việt Nam vẫn mang tính tự cấp, tự túc, khép kín Khi nước ta gia nhập WTO, tham gia vào các không gian hợp tác kinh tế lớn của khu vực và thế giới, sức ép của hội nhập và phát triển ngày một lớn, đặt ra yêu cầu rất cao đối với nền kinh tế, trong đó lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực thách thức nhất

Bởi nước ta đi lên bằng sản xuất nông nghiệp là chủ đạo, nên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội gặp không ít khó khăn Thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, tác động xấu đến sản xuất và đời sông nhân dân Cũng trong thời kì hiện nay khủng hoảng kinh tế dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao cả ở thành thị phát cao, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhập siêu ở mức cao, thiên lẫn nông thôn Với tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến hàng loạt các vấn đề xã hội khác

Để đương đầu với những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội Đảng và Nhà Nước đã và đang tiếp tục thực hiện đẩy mạnh công cuộc CNH - HĐH đất nước Đưa đất nước ta phát triển bền vững và toàn

Trang 10

diện Tuy vậy nhưng thực tế cho thấy nông thôn nước ta vẫn còn những yếu kém cần phải sớm khắc phục như: Tình trạng lạc hậu về khoa học công nghệ, ruộng đất ngày càng bị thu hẹp, đặc biệt là những ruộng nhất đẳng điền, những bờ xôi, ruộng mật bị lấy đi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân golf hoặc xây các khu nhà để kinh doanh, ngoài ra vấn đề chất lượng nông sản khi xuất khẩu còn chưa cao, hiệu quả kinh tế từ sản xuất nông nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm (Nguyễn Lân Dũng, 2008) công nghiệp chế biến kém phát triển, mức sống và dân trí nhiều vùng nông thôn rất thấp, CSHT, trình độ quản lý, quan hệ sản xuất chậm đổi mới

Để sớm khắc phục những tồn tại còn bộc lộ trong nông thôn Việt

Nam, trong văn kiện hội nghị lần thứ V của BCHTW khoá IX chỉ rõ: “Xây

dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại Từ nay đến năm 2010 tập trung mọi nguồn lực để thực hiện một bước cơ bản mục tiêu tổng quát và lâu dài đó”

(Nguyễn Lân Dũng, 2008)

Xã Đông Cao nằm ở phía Đông Nam của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Ngoài nông nghiệp ra thì xã còn phát triển những ngành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ đã góp phần tăng thu nhập cho người dân và đẩy mạnh nền kinh tế xã Tuy vậy các nguồn lực như đất đai, lao động của xã vẫn đang còn là tiềm năng chưa được khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả

Để góp phần giải quyết những vấn đề trên em tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên,, tỉnh Thái Nguyên giai

đoạn 2011 - 2013”

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế -

xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên,, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013”

Trang 11

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Đông Cao

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội của xã Đông Cao

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để -phát triển kinh tế xã hộ xã Đông Cao

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá đúng thực trạng về tình hình phát triển kinh tế- xã hội của xã

- Tài liệu, số liệu thu thập được phải chính xá, khách quan, trung thực

- Giải pháp đề xuất có tính khả thi, phù hợp với thực trạng địa phương

1.4 Ý nghĩa của đề tài

* Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản

và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế

- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được

những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này

- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định

hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế

- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này

* Ý nghĩa thực tiễn

- Đánh giá được đời sống vật chất tinh thần của người dân trong xã

- Đề xuất được những biện pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong xã hội nói riêng, góp phần ổn định xã hội nói chung

Trang 12

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế nông thôn

* Kinh tế - xã hội:

- KT-XH là một vấn đề rộng lớn, bao trùm mọi mặt trong hoạt động của một quốc gia nói chung và một tỉnh, một huyện, một đơn vị hành chính xã nói riêng Nó liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học

- KT-XH là một phạm trù bao gồm các vấn đề: KT-VHXH-ANQP Các vấn đề được nghiên cứu cụ thể là: tình hình sản xuất nông-lâm-thuỷ sản; CN-TTCN, DV; cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, ), y tế giáo dục,… Tất cả những vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau Chúng tác động tạo thành mối quan hệ hai chiều Mỗi một vấn đề giữ một vị trí quan trọng riêng không thể thiếu

* Tăng trưởng và phát triển:

- Tăng trưởng là sự gia tăng cơ sở vật chất được biểu hiện bằng sự gia

tăng của một hoặc nhiều chỉ tiêu kinh tế, hoặc của cả nền kinh tế quốc dân trong một thời gian, được đánh giá bằng chỉ số % tăng thêm của tổng thu nhập hàng năm hay từng thời kỳ

- Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội,…

* Tăng trưởng kinh tế và Phát triển kinh tế:

- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định

- Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế-xã hội

* Phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH - HĐH:

Là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,

Trang 13

quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Quá trình này đặc biệt quan tâm đến vùng nông thôn Quá trình CNH - HĐH nông thôn là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phân công lại lao động và ngành nghề, đa dạng hoá kinh tế nông thôn theo hướng ngày càng nâng cao tỷ trọng của các hoạt động công nghiệp và phi nông nghiệp khác bằng việc áp dụng ngày càng rộng rãi và có hiệu quả những tiến bộ KHKT trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp để không ngừng phát triển kinh tế và nâng cao mọi mặt đời sống của cộng đồng dân

cư nông thôn, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

* Phát triển bền vững:

Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững: “Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay

mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai, ”

Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người tăng lên qua từng năm, số hộ nghèo giảm dần, số lượng hộ giàu tăng lên, rút ngắn khoảng cách thành thị - nông thôn, giảm bất bình đẳng xã hội, cơ sở

hạ tầng được nâng lên đáng kể, nhất là công trình giao thông được tu bổ đầu tư lớn, giúp việc đi lại, kinh doanh, lưu thông hàng hoá của người dân; giáo dục y

tế cũng được nâng cấp Xã hội đang dần tiến tới một xã hôi thực sự văn minh, dân chủ, công bằng xã hội, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ ở nhiều vùng nông thôn Bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém Nền kinh tế nhìn chung vẫn mang tính thuần nông, cơ cấu kinh tê nông - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, năng suất thấp, khoa học công nghệ còn lạc hậu, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn nhất là miền núi và vùng dân tộc thiểu số

Vấn đề đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước là xoá bỏ

sự lạc hậu, nâng cao đời sống, nâng cao trình độ dân trí nhằm phát triển bền vững toàn diện Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm về phát triển bền vững trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước đến năm

2010 “phát triển nhanh hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi đôi với

Trang 14

thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, gắn sự phát triển kinh tế với giữ vững, ổn định chính trị xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng Chủ trương của Đảng ta đề ra đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực lượng sản xuất Nhưng trước mắt nước ta vẫn là một nước có cơ cấu nông - công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Nông nghiệp vẫn là một ngành sản xuất vật chất chủ yếu và quan trọng của nền kinh tế quốc dân Thực tế đã chứng minh điều này, ngay từ những buổi sơ khai của loài người, nông nghiệp đã là ngành chủ yếu phục vụ cho cuộc sống của loài người và là cơ sở nền tảng cho các ngành nghề khác phát triển Hầu hết các nước dựa vào sản xuất nông nghiệp tạo ra một lượng lương thực thực phẩm cần thiết để nuôi sống dân tộc mình, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế thương nghiệp phát triển Nông nghiệp thường gắn với những vùng quê đặc trưng cho vùng nông thôn Sản xuất Nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản Tuỳ theo thế mạnh của từng vùng

mà có chiến lược phát triển khác nhau

Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản là khu vực chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Hoạt động công nghiệp bao gồm; Khai thác, chế biến và sửa chữa

Công nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng, nó là thước đo cho sự phát triển Bởi một nước phát triển bao giờ cũng gắn với nền công nghiệp phát triển, còn nước kém phát triển thường gắn với nền công nghiệp lạc hậu Sự phát triển công nghiệp gắn liền với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất cùng với việc mở rộng thị trường tiêu thụ, mức độ chuyên môn hoá và tập trung cao Đối với vùng nông thôn thì công nghiệp nông thôn có vai trò thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông thôn Cùng với nông nghiệp nông thôn thì công nghiệp nông thôn góp phần không nhỏ trong sự phát triển toàn diện nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng

TTCN nông thôn bao gồm ngành tiểu thủ công nghiệp sử dụng nguyên liệu gỗ, tre, nứa lá; Ngành thủ công mỹ nghệ; các ngành nghề truyền thống… TTCN đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông thôn, giúp giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn

Trang 15

Dịch vụ nông thôn bao gồm các: Dịch vụ tài chính, thương mại, kỹ thuật Dịch vụ phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển ngành nông nghiệp

Khoa học và công nghệ là nhân tố hàng đầu đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH đất nước Khoa học công nghệ chủ yếu tập trung vào các hướng như: Áp dụng các loại giống mới và công nghệ mới và sản xuất để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Từng bước áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất, hạn chế sử dụng chất độc hại để đảm bảo không ô nhiễm môi trường và tạo ra sản phẩm đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng; áp dụng công nghệ mới vào công tác bảo quản và chế biến để nâng cao giá trị hàng hoá của sản phẩm

Phát triển kinh tế có tác động rất mạnh tới các mặt của xã hội, cả chiều thuận và chiều nghịch Do vậy để tạo ra sự phát triển toàn diện và bền vững thì phải phát triển toàn diện của kinh tế đồng thời phải phát triển toàn diện của xã hội Phát triển xã hội là tập chung vào phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, an ninh chính trị, góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo

ra môi trường an toàn, tiến bộ công bằng xã hội

Tóm lại: Phát triển kinh tế - xã hội là phải song song, đồng thời, toàn diện và bền vững Tức phát triển kinh tế phải gắn liền với xã hội Hai lĩnh vực này luôn tác động qua lại với nhau, tồn tại song song nhau mà chúng ta không thể coi nhẹ mặt nào hơn

* Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế nông thôn

Tùy theo điều kiện cụ thể của từng vùng nông thôn và từng thời gian,

mà mỗi nội dung có mức độ và phạm vi khác nhau Nội dung phát triển kinh

tế nông thôn mang tính toàn diện, bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với

Trang 16

nhau và không thể thay thế nhau Phát triển kinh tế nông thôn chủ yếu tập trung vào các vấn đề: Kinh tế nông nghiệp nông thôn, kinh tế công nghiệp nông thôn, kinh tế dịch vụ nông thôn, phát triển cơ sở cơ sở hạ tầng ở nông thôn, chính sách để phát triển kinh tế nông thôn

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Có thực mới vực được đạo, phải làm cho

nhân dân ta ngày càng ấm no, ” Nông nghiệp và các ngành kinh tế khác có

mối quan hệ chặt chẽ Kinh tế nông nghiệp là ngành cơ bản, ngành gốc, là lĩnh vực bao trùm cả kinh tế nông thôn, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế nông thôn, kinh tế nông nghiệp có những quy luật kinh tế khách quan liên quan vấn đề kinh tế nông nghiệp

Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường (Đảng cộng sản Việt Nam, 1993)

Phát triển kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

ở nông thôn

Công nghiệp nông thôn bao gồm: Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản như: xay sát, chế biến lương thực, thực phẩm, chế biến gỗ, sản xuất thức ăn chăn nuôi; công nghiệp sản xuất công cụ thông thường, công cụ cải tiến và sửa chữa máy móc nông nghiệp; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như: sản xuất vôi, sản xuất gạch ngói, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đồ gỗ, tre, nứa, sản xuất đồ dùng gia đình, các trang thiết bị đồ gỗ, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế; công nghiệp khai thác vàng, khai thác đá, khai thác cát, sỏi,

Phát triển công nghiệp nông thôn góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp nông thôn là bộ phận cấu thành của kinh tế nông thôn Việc phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển

Trang 17

toàn diện, để khai thác tốt nhất các điều kiện kinh tế và các điều kiện tự nhiên ngay tại khu vực nông thôn Phát triển công nghiệp nông thôn sẽ thu hút lực lượng lao động, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động trong nông thôn, đồng thời sẽ sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ở nông thôn, sẽ thúc đẩy kết cấu hạ tầng phát triển nhanh chóng, góp phần phân bố hợp lý dân cư

và các lực lượng lao động trong khu vực này

Phát triển dịch vụ nông thôn

Quá trình tiêu dùng, thực hiện dịch vụ theo nhu cầu của sản xuất hoặc của đời sống Trong nền kinh tế hàng hóa, cũng giống như các sản phẩm thông thường, các dịch vụ đều là hàng hóa, đều có giá trị và giá trị sử dụng, luôn phải thích ứng với thị trường và khách hàng đó là đặc trưng chung nhất của kinh tế dịch vụ Theo quan niệm hiện đại, các ngành kinh tế dịch vụ nông thôn là một bộ phận của các ngành kinh tế dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Hoạt động dịch vụ trong khu vực nông thôn bao gồm: Cung ứng điện cho sản xuất ở nông thôn; bưu điện, điện thoại và thông tin liên lạc ở nông thôn; thương nghiệp nông thôn hoạt động mua bán hàng hóa chủ yếu ở nông thôn như: Buôn bán vật tư, kỹ thuật, nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn, buôn bán hàng tiêu dùng (cả sản phẩm nông nghiệp và hàng công nghiệp tiêu dùng) cho nông dân nông thôn; mua hàng nông sản và hàng công nghiệp, máy móc và công cụ sản xuất trong nông thôn [Nguyễn Đình Nam,1996]

Riêng đối với nông, lâm, ngư nghiệp còn có các dịch vụ giống cây trồng, giống gia súc, dịch vụ về phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng, dịch vụ khám chữa bệnh cho gia súc, dịch vụ bảo quản, chế biến, đóng gói nông sản phẩm,

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn, thị trường hóa nông thôn, trong đó nông thôn cần phát triển nhiều ngành kinh tế dịch vụ, thực sự làm cho các ngành kinh tế dịch vụ càng phong phú và đa dạng, chiếm cơ cấu ngày càng lớn trong kinh tế nông thôn để thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế nông thôn

* Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế nông thôn

Các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu thời tiết, các nguồn tài nguyên khác như: nguồn nước, rừng, khoáng sản, nguồn lao

Trang 18

động, Đây là những nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển kinh tế nông thôn Nơi có điều kiện tự nhiên như đất đai tốt, khí hậu ôn hòa, nguồn lao động dồi dào thì thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn Nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi như đất xấu, thiếu nước, lụt bão thường xuyên xảy ra thì gây nhiều khó khăn cho sự phát triển kinh tế nông thôn

Các nhân tố kinh tế-xã hội: Cơ cấu kinh tế nông thôn, các thành phần kinh tế nông thôn, thị trường, vốn, cơ sở hạ tầng nông thôn, cơ cấu dân tộc, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của người dân, phong tục tập quán, chính sách của nhà nước, Đây là những nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế nông thôn

Các nhân tố tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ: Tổ chức sản xuất giữ vai trò rất quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội trong đó có sự phát triển kinh tế nông thôn, nếu có cách tổ chức tốt, mô hình tổ chức phù hợp với trình độ phát triển và ngược lại nếu cách tổ chức không tốt, mô hình tổ chức không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông thôn thì sẽ kìm hãm kinh tế nông thôn phát triển Khoa học và công nghệ cũng có tính chất quyết định đến việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất - kinh doanh, nên việc áp dụng các thành tựu mới của khoa học và công nghệ vào sản xuất là một đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế nước ta nói chung (Bộ Chính trị,1998), của sự phát triển kinh tế nông thôn nói riêng

* Phát triển kinh tế - xã hội:

Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển

a, Các chỉ số về tăng trưởng kinh tế

- Tổng thu nhập

- Giá trị xuất nhập khẩu

- Thu nhập bình quân đầu người

- Giá trị sản xuất

b, Các chỉ số về cơ cấu kinh tế - xã hội

- Chỉ số cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

- Chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thương (X - M)

- Chỉ số về mức tiết kiệm - đầu tư (I)

- Chỉ số cơ cấu nông thôn và thành thị

Trang 19

- Chỉ số về sự liên kết kinh tế

c, Các chỉ số về phát triển xã hội

- Tuổi thọ bình quân trong dân số

- Mức tăng dân số hằng năm

- Tình hình chăm sóc sức khoẻ

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

- Tình hình giáo dục

- Tình hình an ninh chính trị

- Các chỉ số khác về phát triển kinh tế xã hội

d, Các chỉ số cải thiện môi trường

- Môi trường sản xuất nông nghiệp

- Môi trường đô thị

- Môi trường sản xuất công nghiệp

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình kinh tế xã hội của một số nước trên thế giới

* Nước Mỹ

Nền kinh tế lớn nhất thế giới tăng trưởng khá ì ạch trong năm 2012 và

dự đoán chưa có sự cải thiện đáng kể trong năm 2013 và 2014 Theo Liên hợp quốc kinh tế Mỹ sẽ chỉ tăng trưởng 1,7% năm 2013 và 2,7% năm 2014 Trên quan điểm kinh tế Mỹ cần sự hỗ trợ của các chương trình nới lỏng chính sách tiền tệ, Washington đã thực thi gói nới lỏng định lượng tới lần thứ ba, giữ lãi suất ở mức cực thấp 0 - 0,25%, tiến hành chương trình hoán đổi trái phiếu và giữa tháng 12/2012 triển khai chương trình mua trái phiếu mới trị giá 45 tỷ đô la/tháng thay cho chương trình đáo hạn vào cuối năm Mỹ vẫn kiên trì với chính sách tiền tệ này mặc dù về cuối năm, kinh tế Mỹ xuất hiện những “điểm sáng” trên thị trường nhà đất, chi tiêu tiêu dùng và thị trường lao động, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà Mỹ cho là vẫn còn yếu

* Trung Quốc

Tình hình sản xuất lương thực của Trung Quốc tổng GDP năm 2012 là 8.249 tỷ đô la Sản lượng lương thực năm 2012 đạt 589,55 triệu tấn, liên tục trong vòng 5 năm đều đạt mức trên 500 triệu tấn, đặc biệt là sản lượng lương thực như thóc gạo, ngô, tiểu mạch đều có sự tăng trưởng toàn diện, trong đó

Trang 20

sản lượng thóc gạo đạt 204,3 triệu tấn, tăng 33 triệu tấn (bằng 1,6%), thị trường lúa gạo và cân bằng cung cầu về tổng thể đáp ứng tốt nhu cầu nội địa Theo báo cáo phát triển kinh tế thực Trung Quốc năm 2012, trong bối cảnh kinh tế thế giới phức tạp, kinh tế Trung Quốc bước vào giai đoạn điều chỉnh,

do ảnh hưởng của xu thế suy giảm kinh tế vĩ mô cả ngoài và trong nước nên

áp lực suy giảm kinh tế thực Trung Quốc tăng thêm, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp càng khó khăn hơn Số liệu thống kê cho thấy, sản xuất công nghiệp cả năm vào khoảng 10%, giảm tương đối lớn so với con số 13,9% của năm 2011 và 15,7% năm 2010 Trong đó, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ tăng lần lượt 9,8% và 10,2%, giảm so với năm trước là 4,6 và 2,8 điểm phần trăm Các ngành như gang thép, vật liệu xây dựng, quang điện năng lượng mặt trời, năng lượng gió, đóng tàu, dệt may, điện tử và thông tin kinh doanh khó khăn, một số thậm chí thua lỗ Đặc biệt là sản xuất kinh doanh của ngành luyện, cán kim loại màu giảm tới 60,3%, nguyên liệu hoá chất và sản xuất các chế phẩm hóa chất giảm 14,3%, công nghiệp dầu mỏ và khí đốt giảm 3,2% riêng ngành chế biến dầu khí, luyện than cốc và nhiên liệu hạt nhân công nghiệp năm 2011 vẫn làm ăn có lãi, sang năm 2012 đã thua lỗ đến 21,74 tỉ NDT Tiêu dùng của người dân cũng ở mức thấp, nguyên nhân là

do kinh tế suy giảm đã ảnh hưởng nhất định đến niềm tin tiêu dùng và số việc làm, điều này đã khiến tiêu dùng suy giảm 11 tháng đầu năm, tiêu dùng đạt 18.683,3 tỉ NDT, tăng trưởng danh nghĩa 14,2% (loại trừ nhân tố giá cả tăng trưởng thực tế là 12%), giảm 3,1 điểm phần trăm so với năm trước Những năm trước đây Trung Quốc nhập khẩu gạo chủ yếu từ Thái Lan, đáp ứng đầy

đủ nhu cầu về loại gạo chất lượng cao, tuy nhiên về tổng thể số lượng không lớn Tuy vậy do tỷ giá đồng NDT ngày càng tăng đồng thời giá thành gạo sản xuất trong nước cũng tăng nhanh Năm 2012 giá gạo Trung Quốc đã cao hơn nhiều giá gạo nhập khẩu từ Việt Nam, Pakistan Từ đó lợi thế về giá của gạo nhập khẩu đã vượt qua giá gạo sản xuất trong nước, đặc biệt là gạo Việt Nam (do giá thành sản xuất thấp và liên tục tăng sản lượng trong 2 năm qua)

* Thái Lan

Thiên tai lũ lụt nghiêm trọng xảy ra năm 2011 đã gây thiệt hại to lớn cho tính mạng, tài sản của nhân dân cũng như kinh tế Thái Lan, song dưới sự

Trang 21

cố gắng của Chính phủ mới và nhân dân cả nước Thái Lan, kinh tế Thái Lan đang dần dần bước ra khỏi vùng lầy lũ lụt và khôi phục bình thường một cách toàn diện, tình hình kinh tế vĩ mô năm 2012 có xu hướng phát triển tốt đẹp Theo thống kê của ngành hữu quan Thái Lan, mức tăng kinh tế trong năm

2011 của Thái Lan chỉ đạt 1,1-1,8%, thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu xác định vào đầu năm 2011 là 4,5% Khi phát biểu tại cuộc hội thảo phân tích tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế năm 2012 diễn ra mới đây, thủ tướng Thái Lan Dinh- lắc nói, xét về cơ sở kinh tế quốc dân ngày một hùng hậu và chính phủ không ngừng áp dụng biện pháp thúc đẩy, tin tưởng rằng kinh tế quốc dân sẽ được phục hồi toàn diện trong quý hai năm nay, hy vọng mức tăng kinh tế cả năm

có thể đạt tới 5% Thủ tướng Dinh-lắc nói, “biện pháp thúc đẩy phục hồi kinh

tế của chính phủ chủ yếu bao gồm ba nội dung: Một là dốc sức thúc đẩy xuất nhập khẩu.hai là đẩy mạnh phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng trong nước và trong khu vực Ba là tăng cường sức mua của người dân, kích cầu trong nước, thúc đẩy sự lưu thông của sản phẩm doanh nghiệp vừa và nhỏ” Bên cạnh đó, tổng vốn đầu tư cho dự án xây dựng cơ sở hạ tầng năm nay của cả nước Thái Lan đạt 2,3 nghìn tỷ bạt Thái Lan Chuyên gia kinh tế Thái Lan nêu rõ, kinh

tế Thái Lan năm nay có tương lai phát triển sáng sủa, song vẫn phải theo dõi chặt chẽ các vấn đề quan trọng trong và ngoài nước có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế quốc dân, trong đó kể cả phương án và tiến triển giải quyết khủng hoảng nợ công, xu hướng và chính sách kinh tế trong tương lai của các nền kinh tế chủ yếu trên thế giới, phát triển và sâu sắc hợp tác kinh tế khu vực châu -Thái Bình Dương, khí hậu toàn cầu thất thường, thiên tai, nhân tố bất lợi gây tác động tới sự ổn định của tình hình chính trị trong nước Thái Lan

2.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu

Âu chưa được giải quyết Suy thoái trong khu vực đồng euro cùng với khủng hoảng tín dụng và tình trạng thất nghiệp gia tăng tại các nước thuộc khu vực này vẫn đang tiếp diễn Hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh, giá cả hàng hóa diễn biến phức tạp Tăng trưởng của các nền kinh

tế đầu tàu suy giảm kéo theo sự sụt giảm của các nền kinh tế khác Một số

Trang 22

nước và khối nước lớn có vị trí quan trọng trong quan hệ thương mại với nước ta như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật bản và EU đối mặt với nhiều thách thức nên tăng trưởng chậm Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể

Trước bối cảnh bất lợi đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ thẳng thắn nhìn nhận và chỉ ra những yếu kém trong nội tại nền kinh tế, đồng thời phân tích sâu những cơ hội và thách thức, trên cơ sở đó ban hành nhiều văn bản quan trọng cùng những định hướng đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành kinh tế-xã hội Mục tiêu tổng quát của năm 2012 được Chính phủ xác định trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012 là “Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế” Để ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường Các ngành, các cấp, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp trong năm qua có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, chủ động và tích cực thực hiện đồng bộ Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, các Nghị quyết của Chính phủ

và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm duy trì ổn định kinh tế-xã hội

2.2.2.1 Tình hình kinh tế

- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 5,03% so với năm 2011, trong đó quý I tăng 4,64%; quý II tăng 4,80%; quý III tăng 5,05%; quý IV tăng 5,44% Mức tăng trưởng năm nay tuy

Trang 23

thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011 nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý và thể hiện xu hướng cải thiện qua từng quý, khẳng định tính kịp thời, đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp và giải pháp thực hiện của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ Trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,42%, đóng góp 2,7 điểm phần trăm

- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 255,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2011, bao gồm: Nông nghiệp đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%; lâm nghiệp đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,4%; thuỷ sản đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5%

+ Nông nghiệp

Sản lượng lúa cả năm 2012 ước tính đạt 43,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn

so với năm trước do diện tích và năng suất đều tăng, trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7753,2 nghìn ha, tăng 97,8 nghìn ha; năng suất đạt 56,3 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha Nếu tính thêm 4,8 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 ước tính đạt 48,5 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm 2011

Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc bị ảnh hưởng của thời tiết xấu nên sản lượng một số cây hàng năm giảm so với năm 2011, trong đó đậu tương đạt 175,2 nghìn tấn, giảm 34,4%; vừng đạt 29,7 nghìn tấn, giảm 6,3%

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển do thuận lợi về giá bán sản phẩm đã khuyến khích người dân mở rộng diện tích gieo trồng Diện tích cho sản phẩm và sản lượng một số cây chủ lực tăng so với năm 2011, trong đó diện tích chè ước tính đạt 115,8 nghìn ha, tăng 1,4%; sản lượng đạt 923,1 nghìn tấn, tăng 5%; cà phê diện tích đạt 574,2 nghìn ha, tăng 5,6%, sản lượng đạt 1292,4 nghìn tấn, tăng 1,2%; cao su diện tích 505,8 nghìn ha, tăng 10%, sản lượng đạt 863,6 nghìn tấn, tăng 9,4%; hồ tiêu diện tích đạt 46,9 nghìn ha, tăng 4,2%, sản lượng đạt 112,7 nghìn tấn, tăng 0,6%

Trang 24

Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng dứa năm 2012 ước tính đạt 571,6 nghìn tấn, tăng 7,7% so với năm 2011; chuối đạt 1,8 triệu tấn, tăng 3%; xoài đạt 776,3 nghìn tấn, tăng 13%; bưởi đạt 435,6 nghìn tấn, tăng 2,7% Tuy nhiên, một số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng nhãn đạt 545,3 nghìn tấn, giảm 8,5% so với năm 2011; vải, chôm chôm đạt 649,3 nghìn tấn, giảm 10,5%; cam, quýt đạt 690,3 nghìn tấn, giảm 1,8%

Chăn nuôi gia súc, gia cầm gặp khó khăn do giá thịt giảm, chi phí đầu vào tăng cao và khó khăn về vốn nên chăn nuôi của các hộ và các doanh nghiệp cũng như trang trại bị ảnh hưởng Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2012, đàn lợn cả nước có 26,5 triệu con, giảm 2,1% so với cùng thời điểm năm 2011, trong đó đàn lợn nái có 4,0 triệu con, giảm 0,5%; đàn trâu có 2627,8 nghìn con, giảm 3,1%; đàn bò có 5194,2 nghìn con, giảm 4,5%, nguyên nhân chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp, chăn nuôi hiệu quả thấp nên chưa khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô đàn Riêng nuôi

bò sữa vẫn phát triển, tổng đàn bò sữa tại thời điểm trên của cả nước đạt 167 nghìn con, tăng 17% so với cùng thời điểm năm 2011 Đàn gia cầm có 308,5 triệu con, giảm 4,4% so với thời điểm 01/10/2011, trong đó đàn gà 223,7 triệu con, giảm 3,86% Tính đến ngày 20/12/2012, cả nước không còn địa phương nào có dịch bệnh trên gia súc, gia cầm chưa qua 21 ngày

Sản lượng thịt hơi các loại năm 2012 ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng 2,5% so với năm trước, trong đó sản lượng thịt trâu tăng 0,8%; sản lượng thịt

bò tăng 2,4%; sản lượng thịt lợn tăng 2%; sản lượng thịt gia cầm tăng 4,8% Sản lượng trứng tăng 5,8%; sữa tươi tăng 10,5%; mật ong tăng 4,8%; kén tằm tăng 6,5%

+ Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong năm gặp một số khó khăn do điều kiện thời tiết không thuận lợi nên việc triển khai các dự án trồng rừng chậm tiến độ, đặc biệt đối với rừng trồng phòng hộ và đặc dụng Mặc dù vậy, kết quả các hoạt động lâm nghiệp khác vẫn tăng khá do một số yếu tố tích cực như: Sự ổn định của thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ và lâm sản khác trong những năm qua đã kích thích người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng, đặc biệt là rừng trồng sản

Trang 25

xuất; các hoạt động lâm sinh khác như chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng tiếp tục được chú trọng để tăng độ che phủ rừng; diện tích rừng sản xuất được quy hoạch ổn định và đầu tư hợp lý Diện tích rừng trồng tập trung cả năm đạt 187 nghìn ha, bằng 88,2% năm 2011; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 169,5 triệu cây, tăng 0,3%; diện tích rừng trồng được chăm sóc tăng 34,8%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ tăng 12,6%; sản lượng

gỗ khai thác đạt 5251 nghìn m3, tăng 11,9%, trong đó gỗ khai thác từ rừng trồng chiếm trên 80% Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao là: Đồng Nai tăng 64,1%; Bắc Kạn tăng 51,6%; Thái Nguyên tăng 48,6%; Quảng Bình tăng 48%; Yên Bái tăng 47,2%; Kon Tum tăng 42,5%; Thanh Hóa tăng 42%; Lâm Đồng tăng 25,6%; Lào Cai tăng 17,6%; Bắc Giang tăng 14% Sản lượng củi khai thác đạt 27,4 triệu ste, tăng 3%

Do thời tiết trong năm nắng nóng, khô hạn kéo dài nên xảy ra hiện tượng cháy rừng ở một số địa phương, chủ yếu là các tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2012 là 3225 ha, giảm 18% so với năm 2011, bao gồm: diện tích rừng bị cháy 2091 ha, tăng 19,8%; diện tích rừng bị chặt, phá 1134 ha, giảm 48,2% Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Hà Giang 298 ha; Đà Nẵng 181 ha; Lạng Sơn 132 ha; Phú Yên 106 ha; Lào Cai 100 ha; Thừa Thiên-Huế 92 ha; Quảng Nam 80 ha Một số tỉnh

có diện tích rừng bị chặt, phá nhiều là: Lâm Đồng 140,3 ha; Kon Tum 106 ha; Sơn La 86 ha

+ Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản năm 2012 ước tính đạt 5732,9 nghìn tấn, tăng 5,2%

so với năm 2011, trong đó cá đạt 4343,7 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 632,7 nghìn tấn, tăng 0,3% Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2012 ước tính đạt

1059 nghìn ha, tăng 0,7% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi cá tra là 11,5 nghìn ha, tăng 3,4%; diện tích nuôi tôm sú 599,2 nghìn ha, giảm 1,4%; diện tích tôm thẻ chân trắng 34,3 nghìn ha, tăng 17,2%

Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay ước tính đạt 3110,7 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm 2011, trong đó cá đạt 2402,2 nghìn tấn, tăng 6,5%; tôm 473,9 nghìn tấn, giảm 1% Nuôi cá tra vẫn gặp khó khăn do giá không ổn

Trang 26

định, những tháng đầu năm giá tăng cao nhưng các tháng sau giá giảm trong khi giá cả các yếu tố đầu vào tăng như: Giá thuốc, thức ăn, nhiên liệu, v.v gây tâm lý e ngại và chưa khuyến khích các hộ mạnh dạn đầu tư mở rộng diện tích thả nuôi Mặc dù Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ 9000 tỷ đồng cho ngành cá tra, với mức lãi suất cho vay giảm nhưng đến nay người dân chưa mạnh dạn đầu

tư nuôi lại vì thị trường tiêu thụ không ổn định, trong khi đó các nhà máy luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu Đối với một bộ phận các doanh nghiệp nuôi cá tra quy mô lớn, do chủ động và thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn nên nhìn chung tương đối ổn định

Sản lượng cá tra năm 2012 cả nước ước tính đạt 1226 nghìn tấn, tăng 3% so với năm 2011 Nhiều địa phương có diện tích và sản lượng cá tra giảm như: An Giang 927 ha, giảm 18%, sản lượng 186 nghìn tấn, giảm 8%; Vĩnh Long 507 ha, giảm 4%, sản lượng 80 nghìn tấn, giảm 6%; Trà Vinh 90 ha, giảm 35%, sản lượng 22 nghìn tấn, giảm 20%; Sóc Trăng 125 ha, giảm 25,6%, sản lượng 10 nghìn tấn, giảm 43% Tại các địa phương có các doanh nghiệp nuôi quy mô lớn thì sản lượng tăng khá như: Đồng Tháp đạt 383 nghìn tấn, tăng 16,5% so với năm trước; Bến Tre 136 nghìn tấn, tăng 38%; Cần Thơ

194 nghìn tấn, tăng 3%; Tiền Giang 26 nghìn tấn, tăng 35%

Nuôi tôm cũng gặp một số khó khăn do dịch bệnh đốm trắng, hoại tử gan, tụy lan rộng trên phần diện tích nuôi làm sản lượng thu hoạch tôm tại một số địa phương giảm như: Kiên Giang giảm 2%; Sóc Trăng giảm 18%; Long An giảm 13%; Trà Vinh giảm 59%

Sản lượng thủy sản khai thác năm 2012 đạt 2622,2 nghìn tấn, tăng 4,3% so với năm 2011, trong đó khai thác biển đạt 2418 nghìn tấn, tăng 4,8%

Mô hình tổ đội kết hợp trong tổ chức khai thác biển nhằm tiết kiệm chi phí đang được các địa phương khuyến khích nhân rộng Hiện nay tàu thuyền đánh bắt tập trung chủ yếu vào khai thác có chọn lọc các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao Một số nghề đạt sản lượng khá là nghề cào, nghề lưới vây ánh sáng, nghề câu mực, đặc biệt là nghề câu cá lớn như cá ngừ Sản lượng cá ngừ đại dương năm 2012 đạt 18 nghìn tấn, tăng 38% so với năm 2011 Một số địa phương có sản lượng cá ngừ đại dương khai thác đạt khá trong năm là: Phú

Trang 27

Yên 6100 tấn, tăng 8% so với năm 2011; Bình Định 8389 tấn, tăng 78,7%, Khánh Hòa 3500 tấn, tăng 29,7%

* Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2012 ước tính tăng 5% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước Tính chung cả năm 2012, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 3,5%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%, đóng góp 3,2 điểm phần trăm; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 12,3%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm Sản xuất công nghiệp năm nay gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu chưa được hồi phục; sức mua trong nước và nhu cầu xuất khẩu giảm nên mức tăng thấp so với một số năm trở lại đây [1] Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm đang bắt đầu có chuyển biến tích cực, theo đó chỉ số sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng dần [2], chỉ số tồn kho giảm dần [3].

Một số ngành công nghiệp có mức sản xuất tăng cao so với năm 2011 là: Đóng tàu và cấu kiện nổi tăng 136,7%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 48,3%; sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ tăng 39,6%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 23,7%; sản xuất pin và ắc quy tăng 18%; sản xuất đường tăng 17,7%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 14,9%; sản xuất, truyền tải

và phân phối điện tăng 12,3%; chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 10,1%; khai thác khí đốt tự nhiên tăng 9,9%; khai thác dầu thô tăng 9,8%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng 9,7%; sản xuất bia tăng 9,7% Một số ngành có mức tăng khá như: Sản xuất mỹ phẩm, xà phòng và chất tẩy rửa tăng 9,4%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,8%; sản xuất sợi tăng 8,1%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm tăng 7,9%; chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 7,9%; sản xuất các sản phẩm từ plastic tăng 5,2%

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm so với năm 2011 là: May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) tăng 2,3%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 2,2%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 0,3%; sản xuất vải dệt thoi giảm 0,8%; sản xuất giày, dép giảm 0,9%; sản

Trang 28

xuất dây cáp, dây điện giảm 2,1%; sản xuất sơn, vec ni giảm 3,6%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) giảm 3,9%; sản xuất xi măng giảm 6%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 8,1%; khai thác và thu gom than cứng giảm 9,4%; sản xuất xe có động cơ giảm 10%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 14,6%; khai thác đá, cát, sỏi giảm 19,3%

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2012 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,9%; Đồng Nai tăng 7,2%; Bình Dương tăng 7,5%; Hà Nội tăng 5%; Hải Phòng tăng 3,9%; Bắc Ninh tăng 19,1%; Đà Nẵng tăng 6%; Cần Thơ tăng 4,6%; Hải Dương giảm 1%; Vĩnh Phúc giảm 3%

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mười một tháng năm 2012 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,6% Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất đường tăng 112,5%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 34,2%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 29,2%; chế biến và bảo quản thủy sản tăng 23,1%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm tăng 21,7%; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 10,7%; may trang phục tăng 7,8%; sản xuất mì ống, mì sợi tăng 6,5% Một số ngành có chỉ số tiêu thụ mười một tháng tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 4,5%; sản xuất sợi tăng 3,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,9%; sản xuất sắt, thép giảm 1,9%; sản xuất giày, dép giảm 2,2%; sản xuất bia giảm 6,6%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 9,2%; sản xuất sản phẩm từ plastic giảm 11,3%; sản xuất vải dệt thoi giảm 16,1%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ giảm 16,7%; sản xuất xi măng giảm 17,1%; sản xuất xe có động cơ giảm 18%; chế biến sữa và sản phẩm từ sữa giảm 18,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 20,6%; sản xuất dây, cáp điện giảm 38,3%

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/12/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất xe có động cơ tăng 76,6%; sản xuất dây, cáp điện tăng 56,8%; sản xuất bia tăng 44,5%; sản xuất thuốc lá tăng 42,2%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 42,1%; may trang phục tăng 41,5%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 40,8%; sản xuất xi măng tăng 30,6%; chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 28,6%; sản xuất mỹ phẩm, xà

Trang 29

phòng và chất tẩy rửa tăng 24,7%; sản xuất pin, ắc quy tăng 17,1% Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 9,2%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 7,1%; sản xuất giày, dép tăng 6,6%; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 3,6%; sản xuất sợi tăng 1,4%; sản xuất vải dệt thoi tăng 1%; sản xuất các cấu kiện kim loại giảm 5,4%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng giảm 7,5%; sản xuất thiết bị dẫn điện giảm 9,7%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 20,2%; sản xuất đường giảm 24%

Tỷ lệ giá trị hàng tồn kho tại thời điểm 01/12/2012 so với giá trị sản xuất ước tính cả năm 2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 6,9%, trong đó một số ngành có tỷ lệ giá trị hàng tồn kho cao như: Chế biến và bảo quản thuỷ sản 12,3%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 10,6%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ 9,5%; sản xuất xe có động cơ 9,1%

Lao động khu vực doanh nghiệp công nghiệp tháng Mười Hai

tăng 0,2% so với tháng trước, trong đó biến động lao động ngành công nghiệp

của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Đồng Nai tăng 0,6%; Bình Dương tăng 0,4%; Hà Nội giảm 0,2%; Hải Phòng giảm 0,2%; Bắc Ninh giảm 4,7%; Vĩnh Phúc tăng 0,9%; Cần Thơ tăng 0,7% Riêng thành phố

Hồ Chí Minh, Hải Dương, Đà Nẵng ở mức tháng 11/2012

2.2.2.2 Tình hình xã hội

+ Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính 88,78 triệu người, tăng 1,06% so với năm 2011, bao gồm: Dân số nam 43,92 triệu người, chiếm 49,47% tổng dân số cả nước, tăng 1,09%; dân số nữ 44,86 triệu người, chiếm 50,53%, tăng 1,04% Trong tổng dân số cả nước năm nay, dân số khu vực thành thị là 28,81 triệu người, chiếm 32,45% tổng dân số, tăng 3,3% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 59,97 triệu người, chiếm 67,55%, tăng 0,02%

Tổng tỷ suất sinh năm 2012 đạt 2,05 con/phụ nữ, tăng so với mức 1,99 con/phụ nữ của năm 2011 Tỷ suất sinh thô đạt 16,9 trẻ sinh ra sống trên 1000 người dân Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh duy trì ở mức khá cao với 112,3 bé trai/100 bé gái, tăng so với mức 111,9 bé trai/100 bé gái của năm

Trang 30

2011 Tỷ suất chết thô năm 2012 là 7‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 15,8‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 23,8‰ Tỷ suất chết tiếp tục ở mức thấp, thể hiện rõ hiệu quả của chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em nói riêng và công tác bảo vệ sức khoẻ, nâng cao mức sống cho người dân nói chung trong năm qua

Theo kết quả điều tra trong năm, tỷ lệ phụ nữ từ 15-49 tuổi sinh con thứ

ba trở lên của năm 2012 là 14,2%, giảm so với mức 14,7% của năm 2011; tỷ

lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng đang sử dụng biện pháp tránh thai đạt 76,2%, trong đó sử dụng biện pháp hiện đại là 66,6%; biện pháp khác là 9,6%

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 52,58 triệu người, tăng 2,3% so với năm 2011, trong đó lao động nam chiếm 51,3%; lao động nữ chiếm 48,7% Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,95 triệu người, tăng 0,87%, trong đó nam chiếm 53,3%; nữ chiếm 46,7% Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 là 51,69 triệu người, tăng 2,7% so với năm

2011 Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 48,4% năm 2011 xuống 47,5% năm 2012; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm từ 21,3% xuống 21,1%; khu vực dịch vụ tăng từ 30,3% lên 31,4% Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 khu vực Nhà nước chiếm 10,4% tổng lực lượng lao động; khu vực Ngoài Nhà nước chiếm 86,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,3%

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 1,99%, trong

đó khu vực thành thị là 3,25%, khu vực nông thôn là 1,42% (Năm 2011 các tỷ

lệ tương ứng là: 2,22%; 3,60%; 1,60%) Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 2,8%, trong đó khu vực thành thị là 1,58%, khu vực nông thôn là 3,35% (Năm 2011 các tỷ lệ tương ứng là: 2,96%; 1,58%; 3,56%) Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm năm 2012 giảm nhẹ

so với các tỷ lệ tương ứng của năm 2011 nhưng tỷ lệ lao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm 2010 tăng lên 35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012 Điều này cho thấy mức sống của người dân còn thấp, hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển mạnh nên người lao động không chịu cảnh thất nghiệp kéo dài mà chấp nhận làm những công việc không ổn định với mức thu nhập thấp và bấp bênh

Trang 31

+ Đời sống dân cư, bảo đảm an sinh xã hội

Mặc dù tình hình kinh tế-xã hội năm 2012 gặp nhiều khó khăn nhưng công tác xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng và Chính phủ, các cấp, các ngành, địa phương quan tâm, chỉ đạo và thực hiện thường xuyên Theo báo cáo của các địa phương, tổng kinh phí phục vụ cho công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo năm 2012 là 8,8 nghìn tỷ đồng, bao gồm: 1,3 nghìn tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; gần 1 nghìn tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 6,5 nghìn tỷ đồng dành cho cứu đói, cứu trợ xã hội khác

Đến nay, sau 5 năm thực hiện Chương trình tín dụng học sinh, sinh viên, chương trình đã thực sự đồng hành và giúp cho một bộ phận nhân dân thu nhập thấp có được sự bình đẳng về đào tạo Tính đến 30/6/2012, tổng dư

nợ của chương trình đạt gần 35 nghìn tỷ đồng, tạo điều kiện cho 2,3 triệu học sinh, sinh viên của gần 1,9 triệu hộ gia đình hoàn cảnh khó khăn có điều kiện tiếp tục đến trường Việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu từ 830 nghìn đồng/tháng lên 1,05 triệu đồng/tháng từ 01/5/2012 đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc

ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước cũng đã phần nào cải thiện đời sống cho người lao động

Ở khu vực nông thôn, tình trạng thiếu đói giáp hạt trong năm 2012 đã giảm đáng kể so với năm trước Tính chung cả năm, cả nước có 450,3 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 27,6% so với năm 2011, tương ứng với 1911,8 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, giảm 26,9% Tình trạng thiếu đói xảy ra chủ yếu

ở các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc; vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung; vùng Tây Nguyên Để khắc phục tình trạng thiếu đói, trong năm 2012, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 22,6 nghìn tấn lương thực và 24,4 tỷ đồng Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2012 ước tính là 11,3 - 11,5%, giảm 1,1 - 1,3% so với năm 2011, thấp hơn mức giảm 1,6% của năm 2011 so với năm 2010

+ Giáo dục, đào tạo

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông của cả nước năm học 2011-2012 đạt 98,97%, tăng 3,25 điểm phần trăm so với năm học 2010-2011;

Trang 32

tỷ lệ học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học đạt 85,47%, tăng 0,12 điểm phần trăm Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm nay đều cao hơn so với năm học trước, trong đó 36 tỉnh, thành phố có tỷ lệ tốt nghiệp đạt trên 99%; 25 tỉnh, thành phố đạt trên 97%

Vào thời điểm đầu năm học 2012-2013, cả nước có 19,2 triệu học sinh đến trường, bao gồm: 4,1 triệu trẻ em mầm non; 7,3 triệu học sinh tiểu học; gần 5 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,8 triệu học sinh trung học phổ thông Tính đến cuối năm 2012, cả nước có 60/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 03 tỉnh/thành phố đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng

độ tuổi mức độ 2 và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Đến năm 2012, cả nước có 215 trường đại học, trong đó 187 trường công lập; 204 trường cao đẳng, trong đó 150 trường công lập; 295 trường trung cấp chuyên nghiệp Tổng số sinh viên đại học, cao đẳng của cả nước là trên 2,2 triệu sinh viên, trong đó nữ sinh viên là 1,1 triệu người, chiếm khoảng 50% tổng số sinh viên đại học và cao đẳng; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 623 nghìn học sinh, trong đó nữ học sinh chiếm khoảng 60%

Công tác đào tạo nghề cũng được các cấp, các ngành và địa phương tiếp tục quan tâm đầu tư Tính đến cuối năm 2012, cả nước có 142 trường cao đẳng nghề, 316 trường trung cấp nghề, 850 trung tâm dạy nghề Số học sinh học nghề được tuyển mới trong năm nay là 1,9 triệu lượt người, trong đó cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 0,4 triệu lượt người; sơ cấp nghề 1,5 triệu lượt người Dự kiến trong năm 2013 sẽ tuyển mới khoảng 1,92 triệu lượt học sinh, trong đó sơ cấp nghề 1,5 triệu lượt người và hỗ trợ dạy nghề cho 700 nghìn lao động nông thôn theo mục tiêu và chính sách của Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Trong năm 2012, Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và dạy nghề đã cấp 1029 tỷ đồng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và 1536 tỷ đồng đổi mới và phát triển dạy nghề Kế hoạch năm 2013 sẽ dành 1750 tỷ đồng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và 2700 tỷ đồng đổi mới và phát triển dạy nghề, cùng gấp 1,7 lần năm 2012

Trang 33

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng kinh tế xã hội của xã

Hộ nông thôn trên địa bàn nghiên cứu (3 xóm: Cò, Me, Việt Hùng) thuộc

xã Đông Cao

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Địa bàn xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế xã hội của xã

trong giai đoạn hiện nay, những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội của xã trong những năm tới

- Về không gian: Nghiên cứu kinh tế hộ tại xã Đông Cao, tập trung ở 3

xóm: Cò, Me, Việt Hùng

Tôi lựa chọn 3 xóm trên để nghiên cứu dựa trên những đặc trưng riêng

về các điều kiện như sau:

Xóm Cò: Là xóm phát triển nông nghiệp với loại vật nuôi chính là con lợn, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển

Xóm Me: Đây là xóm khá phát triển với vật nuôi chính là con gà, là xóm có thu nhập tương đối cao

Xóm Việt Hùng là xóm phát triển với các loại rau, là xóm có cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, là xóm có kinh tế phi nông nghiệp phát triển nhất

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm thực tập: Xã Đông Cao

- Thời gian thực tập: 20/1 - 20/5/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội xã Đông Cao

+ Điều kiện tự nhiên

+ Đặc điểm kinh tế xã hội

Trang 34

- Thực trạng phát triển kinh tế của xã qua 3 năm 2011-2013

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển KT - XH của xã Đông Cao

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin

* Thu thập số liệu thứ cấp: Những tài liệu thứ cấp được thu thập các thông tin, số liệu có sẵn, trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các báo cáo, tài liệu tổng kết, đánh giá, các trang điện tử, sách báo, các công trình

đã công bố…

Tôi tiến hành thu thập các số liệu như sau:

- Thu thập các văn kiện, báo cáo tổng kết chương trình dự án, báo cáo đánh giá, các tài liệu liên quan về Hộ và hoạt động phát triển sản xuất và thu nhập của Hộ

- Thu thập các tư liệu số liệu có sẵn từ thống kê của ủy ban nhân dân xã

- Thu thập từ các bản đồ, bảng biểu số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh

Trang 35

sách hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: Khá, trung bình và nghèo và phỏng vấn theo hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị trước

Nội dung phiếu điều tra: Phiếu điều tra có các thông tin chủ yếu như nhân khẩu, lao động, tuổi, trình độ văn hoá của chủ hộ,… Tình hình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, … Những thông tin này được thể hiện bằng bảng những câu hỏi cụ thể và trả lời chính xác, đầy đủ

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp linh hoạt với hộ nông dân, đàm thoại với hộ nông dân thông qua một loạt các câu hỏi mở và phù hợp với tình hình thực tế, sử dụng linh hoạt và thành thạo các dạng câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào? Và bao nhiêu? Phỏng vấn số hộ

đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn của thông tin qua quan sát trực tiếp

- Phương pháp đánh giá nhanh thôn (RRA): Thông qua việc đi điều tra thực địa để quan sát thực tế, phỏng vấn không chính thức các cán bộ và những người dân sống tại địa phương, thu lượm những tài liệu, thông tin đã

có tại thời điểm nghiên cứu

3.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

* Xử lý số liệu đã công bố: Từ các số liệu đã thu thập được, tiến hành tổng hợp, đối chiếu để chọn ra những thông tin phù hợp với hướng nghiên

cứu của đề tài

- Số liệu điều tra bảng hỏi được nhập vào máy tính trên Excel, rồi tiến hành xử lý và phân tích số liệu

- Phân tổ thống kê: Được sử dụng để phân loại thu nhập và tiêu dùng theo các mức khác nhau: Hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo

* Phương pháp so sánh:

Tiến hành so sánh liên hoàn năm sau so với năm trước để thấy được tình hình KT-XH của xã giữa các năm Từ đó xác định được những kết quả

đã đạt được, những hạn chế và tồn tại và đề xuất giải pháp khắc phục

* Phương pháp đánh giá phân tích tống hợp:Sau khi đã thu nhập được các số liệu cần thiết cho các khía cạnh nghiên cứu của đề tài, tiến hành phân tích, đánh giá và tổng hợp để thấy được bản chất đích thực của mọi biến động

Trang 36

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội xã Đông Cao

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Đông Cao nằm ở phía Đông Nam huyện Phổ Yên, phạm vi nghiên cứu quy hoạch là toàn xã với tổng diện tích tự nhiên 647,41 ha Đông Cao thuộc xã vùng 1 của huyện Phổ Yên, có địa giới hành chính tiếp giáp với các địa phương như sau:

- Phía Bắc giáp xã Tân Hương

- Phía Nam giáp xã Tân Phú

- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang

- Phía Tây giáp xã Trung Thành

4.1.1.2 Địa hình

Đông Cao mang đặc điểm của địa hình vùng trung du Bắc Bộ, có địa hình tương đối bằng phẳng

Với địa hình như trên sẽ chi phối phương án quy hoạch sử dụng đất,

cụ thể là cần bố trí sử dụng đất sao cho phù hợp với điều kiện địa hình của địa phương

4.1.1.3 Khí hậu, thời tiết, thuỷ văn

Khí hậu - thời tiết

Theo phân vùng khí hậu thì Đông Cao nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Theo tài liệu của trạm khí tượng thủy văn huyện cho thấy các đặc điểm khí hậu thể hiện như sau:

- Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm là: 23,30C, tất cả các tháng trong năm nhiệt độ trung bình đều trên 150C, chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm tương đối cao(tháng có nhiệt độ cao nhất so với tháng có nhiệt độ thấp nhất chênh lệch nhau tới 140C)

- Lượng mưa

Lượng mưa trung bình năm là 2000 mm Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 có lượng mưa lớn nhất chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Đông Cao năm 2011 -2013 - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Đông Cao năm 2011 -2013 (Trang 39)
Bảng 4.2. Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động xã Đông Cao - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.2. Tình hình nhân khẩu và sử dụng lao động xã Đông Cao (Trang 41)
Bảng 4.3. Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của xã Đông Cao năm 2013 - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.3. Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của xã Đông Cao năm 2013 (Trang 42)
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng của xã - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng của xã (Trang 47)
Bảng 4.8. Tình hình giáo dục trên địa bàn xã Đông Cao - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.8. Tình hình giáo dục trên địa bàn xã Đông Cao (Trang 52)
Bảng 4.9. Kết quả giáo dục trên địa bàn xã Đông Cao năm 2011-2013 - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.9. Kết quả giáo dục trên địa bàn xã Đông Cao năm 2011-2013 (Trang 53)
Bảng 4.10. Công tác khám chữa bệnh và điều trị của trạm y tế xã Đông - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.10. Công tác khám chữa bệnh và điều trị của trạm y tế xã Đông (Trang 54)
Bảng 4.11. Tình trạng chăm sóc sức khỏe của một số hộ điều tra - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.11. Tình trạng chăm sóc sức khỏe của một số hộ điều tra (Trang 55)
Bảng 4.13. Tình hình chủ hộ điều tra năm 2013 - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.13. Tình hình chủ hộ điều tra năm 2013 (Trang 60)
Bảng 4.14. Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.14. Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra (Trang 61)
Bảng 4.15. Một số chỉ tiêu về lao động và nhân khẩu của hộ nông dân - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.15. Một số chỉ tiêu về lao động và nhân khẩu của hộ nông dân (Trang 62)
Bảng 4.16. Thực trạng cơ cấu diện tích, năng suất, sản lượng gieo trồng - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.16. Thực trạng cơ cấu diện tích, năng suất, sản lượng gieo trồng (Trang 63)
Bảng 4.17. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt năm 2013 của nhóm hộ điều - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.17. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt năm 2013 của nhóm hộ điều (Trang 64)
Bảng 4.19. Nguyện vọng của các hộ điều tra - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế - xã hội xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2013.
Bảng 4.19. Nguyện vọng của các hộ điều tra (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm