75 Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA BA NHÀ VĂN NỮ: VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ .... Sau 1975, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới, cùng với nhữ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam
HÀ NỘI, 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu từ phía nhà trường, các thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu; Phòng Sau đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tổ chức, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này
Các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ tri thức cho tôi suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại lớp Cao học Lí luận văn học K14, khóa học 2010 - 2012
TS Nguyễn Văn Nam - Người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bạn đồng nghiệp, bạn
bè và gia đình… những người đã quan tâm giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi để tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 7 năm 2012
Người viết
Nguyễn Thị Nhuận
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo - TS Nguyễn Văn Nam
Tôi xin cam đoan: Luận văn là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi Những gì được triển khai trong luận văn không trùng khớp với bất cứ một công trình nghiên cứu của tác giả nào đã công bố trước đó Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 08 tháng 7 năm 2012
Học viên
Nguyễn Thị Nhuận
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Các bài viết về Võ Thị Hảo 2
2.2 Các bài viết về Nguyễn Thị Thu Huệ 5
2.3 Các bài viết về Nguyễn Ngọc Tư 7
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Dự kiến đóng góp của luận văn 11
6 Cấu trúc luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 KHÁI LƯỢC TRUYỆN NGẮN VÀ SÁNG TÁC CỦA BA NHÀ VĂN NỮ: VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ 12
1.1 Khái lược truyện ngắn 12
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng, sự hình thành và phát triển của thể loại 12
1.1.2 Khái quát bối cảnh phát triển của truyện ngắn Việt nam 17
1.1.2.1 Truyện ngắn Việt Nam trước 1975 17
1.1.2.2 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 18
1.1.3 Vị trí của các cây bút nữ trong trào lưu đổi mới 21
1.2 Truyện ngắn của ba nhà văn nữ 31
Chương 2 CẢM NHẬN ĐA CHIỀU VỀ NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA BA NHÀ VĂN NỮ: VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ 41
2.1 Khái lược về nhân vật văn học, nhân vật nữ trong văn học Việt Nam 41
2.1.1 Khái lược về nhân vật văn học 41
2.1.2 Nhân vật nữ trong văn học Việt Nam 45
2.2 Cảm nhận đa chiều về nhân vật nữ trong truyện ngắn của ba tác giả 50
2.2.1 Nhân vật nữ - Điểm giống nhau giữa ba tác giả 50
2.2.1.1 Nhân vật nữ luôn ý thức mẫu tính 50
Trang 52.2.1.2 Nhân vật nữ luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi 60
2.2.2 Nhân vật nữ - Điểm khác nhau giữa ba tác giả 67
2.2.2.1 Nhân vật nữ là nạn nhân của chiến tranh trong truyện ngắn Võ Thị Hảo 68
2.2.2.2 Nhân vật nữ là những cô gái mới lớn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 73
2.2.2.3 Nhân vật nữ mang đậm tính cách của con người Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 75
Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA BA NHÀ VĂN NỮ: VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ 86
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 86
3.1.1 Miêu tả ngoại hình 86
3.1.2 Nghệ thuật phân tích tâm lí 93
3.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống 106
3.2.1 Tình huống mang tính bi kịch 106
3.2.2 Tình huống tâm trạng 111
3.2.3 Tình huống tự nhận thức 113
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ, có dung lượng vừa đủ, giúp nhà văn phản ánh những bộn bề, phức tạp của cuộc sống trên nhiều bình diện, góc cạnh khác nhau Vì thế, truyện ngắn là thể loại được các nhà văn lựa chọn đầu tiên Sự phát triển không ngừng của truyện ngắn chính là minh chứng sống động cho điều đó trong giai đoạn này
1.2 Thế kỷ XX, cùng với quá trình hiện đại hóa văn học, truyện ngắn
đã có những chuyển biến rõ rệt theo từng thời kỳ trở thành một bộ phận quan trọng làm nên diện mạo văn học dân tộc Thời kỳ này có sự hình thành của một đội ngũ viết văn mới vừa trẻ về tuổi đời, vừa trẻ về tuổi nghề nhưng đã có những thành tựu đáng kể Sau 1975, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới, cùng với những cách tân về nội dung và hình thức, sự xuất hiện đông đảo các cây bút
nữ đã tạo nên những dấu ấn riêng trong đời sống văn học đương đại như: Vũ Thị Thường, Dương Thu Hương, Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư… Tìm hiểu truyện ngắn nữ thời kỳ đổi mới trước hết là tiếp cận với sự vận động của thể loại trong tiến trình vận động của lịch sử và cũng là một cách tiếp cận đời sống văn học hôm nay
1.3 Trong số những cây bút nữ chuyên viết truyện ngắn thì Võ Thị
Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư là những cây bút tiêu biểu gây
được sự chú ý của người đọc Ở Võ Thị Hảo là một cây bút nổi bật và giàu chất nữ tính, với Nguyễn Thị Thu Huệ thì đó là một ngòi bút tinh tế, giản dị, thâm trầm nhưng cũng rất từng trải, còn Nguyễn Ngọc Tư lại thấm đẫm chất Nam Bộ, trầm, buồn mà da diết yêu thương
Trang 71.4 Có thể thấy rằng, nhân vật xuyên suốt trong truyện ngắn của các tác giả đương đại nói chung và ba nhà văn nữ nói riêng là người phụ nữ Bởi hình ảnh người phụ nữ là đề tài quen thuộc trong sáng tác thơ văn từ xưa đến nay Hơn ai hết các nhà văn nữ là những người thấu hiểu được tâm lí, có sự đồng cảm sâu sắc với người phụ nữ Vì vậy sáng tác của họ nhanh chóng nhận được sự đồng cảm của bạn đọc Nhân vật nữ trong sáng tác của ba nhà văn Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư mang những nét riêng, độc đáo, cá tính và đầy bản lĩnh Điều đó đã tạo nên sự khác biệt về nhân vật nữ trong sáng tác của họ so với các tác giả khác Nó cũng góp phần tạo nên sự thành công của các tác giả, đồng thời tạo nên diện mạo truyện ngắn các cây bút nữ trong dòng chảy văn học đương đại
1.5 Tìm hiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn ba cây bút nữ Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi hy vọng có thêm những phát hiện, tìm tòi mới về cách thể hiện nhân vật nữ trong văn học đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy có khá nhiều bài viết được đăng tải trên các báo và các trang web văn học về ba tác giả trên Tuy nhiên chỉ là những bài viết nghiên cứu về một khía cạnh, một vấn đề và chủ yếu đi sâu vào một tác giả nào đó như:
2.1 Các bài viết về Võ Thị Hảo
Nhà nghiên cứu Đoàn Minh Tuấn, trong bài giới thiệu tập truyện
ngắn Biển cứu rỗi nhận định: "Võ Thị Hảo đã tận dụng được những đặc
trưng lớn nhất, tiêu biểu nhất của thể loại nhỏ này Mỗi truyện của chị như một tia nắng chiếu vào tầm rộng và chiều sâu biển cả cuộc đời" Ông còn
cho rằng Võ Thị Hảo tập trung ở hai cái nhìn: "Cái nhìn thứ nhất vào mặt
trái của vầng trăng chiến tranh Cái nhìn thứ hai vào con người nhỏ bé (số
Trang 8đông nhân loại) tồn tại trong im lặng” Với nhận định trên, Đoàn Minh
Tuấn đã đánh giá chính xác về chiều rộng, chiều sâu và phạm vi phản ánh trong truyện ngắn Võ Thị Hảo Bên cạnh đó tác giả bài viết còn nhận xét
truyện ngắn của chị "bộc lộ cái nhìn dung dị, bẩm sinh của các cây bút nữ
nhưng với chị còn sâu sắc hơn bởi khi chấm dứt câu chuyện, chị đã gióng lên trong lòng người đọc âm vang của sự lo lắng những lo lắng mơ hồ về cuộc đời biển cả" Còn về nghệ thuật, cách viết truyện ngắn của Võ Thị Hảo
thì "cốt truyện vững chắc với những xung đột được đẩy tới cao trào" và "lối
viết trữ tình để đạt hiệu quả nhận thức - một trong những đặc điểm của thể loại truyện ngắn hiện đại" [15]
Tác giả Lương Thị Bích Ngọc, có bài Võ Thị Hảo giữa những trang
viết trang đời trong Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm nhận xét:
"Truyện ngắn của Võ Thị Hảo phản ánh hiện thực một cách nghiệt ngã nhưng
người đọc lại không nhìn thấy sự cay nghiệt của một người viết Lan tỏa trên những trang viết, một tấm lòng nhân ái của một người đàn bà cầm bút hết lòng yêu cuộc sống và con người" Bên cạnh đó ta thấy trong truyện ngắn của
chị: "cái tôi của tác giả dường như chỉ thấp thoáng đâu đó, để rồi người đọc
thấy cái tôi của chị hiện hữu" [19, tr.303-304]
Tác giả Nguyễn Văn Lưu, trong bài Huyền thoại về tình yêu cho rằng:
"Tác giả dành cho trái tim người phụ nữ, cho số phận người phụ nữ lòng yêu
thương, đau xót sâu sắc nhất", "thân phận người phụ nữ trở thành tâm niệm thường xuyên, da diết trong những trang viết của Võ Thị Hảo" [58]
Hay tác giả Ngọc Anh, với bài Đã đến lúc người đàn bà nổi loạn đánh giá: "Trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo, có những người đàn bà khổ vì
yêu và khổ vì bị ruồng bỏ" [1]
Tác giả Bùi Việt Thắng, đánh giá về nhân vật (trong đó có nhân vật
nữ): "Nhân vật của Võ Thị Hảo thường có những nét dịu dàng khác người
Trang 9nhưng tâm hồn họ thánh thiện, giàu lòng vị tha và đức hi sinh - hi sinh mình
để cứu rỗi kẻ khác" [48]
PGS TS Bích Thu trong các bài: Những dấu hiệu đổi mới của văn
xuôi từ năm 1975 qua hệ thống môtíp chủ đề; Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975; Văn xuôi của phái đẹp, đã đánh giá cao sáng tác của các nhà
văn nữ Tác giả cho rằng đội ngũ sáng tác trong đó có Võ Thị Hảo, Nguyễn
Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư là “một lớp trẻ dồi dào bút lực” [52] Và bằng tầm nhìn bao quát của một nhà phê bình Bích Thu nhận định: “Sự xuất hiện
rầm rộ của các cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳn bộ mặt và dáng vẻ của văn xuôi hôm nay” [53] Không chỉ quan sát sự xuất hiện của đội ngũ tác giả nữ
như một hiện tượng, PGS.TS Bích Thu còn có ý kiến đánh giá về giá trị văn
xuôi phái đẹp rất tinh tế: “văn chương của phái đẹp hiện nay sắc và sâu khi
khai thác đề tài thế sự đời tư với nội dung nhân tình thế thái, bằng lối viết dịu dàng mà bén ngọt, riết róng mà đồng cảm, chia sẻ với những thân phận, những con người sống quanh mình” [54] Ý kiến này thể hiện người viết hiểu
rõ văn chương phái đẹp cả bề rộng của đề tài lẫn bề sâu của nghệ thuật biểu hiện
Còn Nguyễn Lương, trong bài Gương mặt Võ thị Hảo lại khái quát
truyện ngắn Võ Thị Hảo:
“Mỏng manh đến điệu đà, nhạy cảm đến mức khắt khe, đó là cảm giác ban đầu về nữ văn sĩ xứ Nghệ này khi mới đọc, mới tiếp xúc với chị Còn ẩn sâu đằng sau những câu chữ trau chuốt là những tâm sự day dứt khôn nguôi
về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái Đọc truyện của Võ Thị Hảo, người ta thường buồn Một nỗi buồn có lẫn ngọt ngào và cay đắng”
[17, tr.209 - 230]
Nhìn chung các tác giả đều nhận xét về: đề tài, nội dung, nghệ thuật, cốt truyện… trong truyện ngắn Võ Thị Hảo Đặc biệt là đánh giá về nhân vật
Trang 10nữ, các tác giả cho rằng nhân vật nữ trong truyện ngắn của chị phải trải qua
những nỗi đau nhưng qua đó ta cũng nhận thấy ở họ những vẻ đẹp cao quý
trong tâm hồn người phụ nữ Việt Nam
2.2 Các bài viết về Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, trong bài giới thiệu tập Truyện ngắn
bốn cây bút nữ cho rằng:
“Chao chát và dịu dàng, thơ ngây và từng trải, đớn đau và tin tưởng cứ trộn lẫn trong văn Nguyễn Thị thu Huệ tạo nên tính đa cực của ngòi bút nữ có duyên trong lĩnh vực truyện ngắn Đọc Nguyễn Thị Thu Huệ ta bị cuốn hút vào trong niềm vui và nỗi buồn bất tận Đời sống hiện lên trên từng trang sách của chị bề bộn, ngổn ngang, ấy vậy mà ngẫm kĩ nó đâu vào đấy Nhà văn nghiêng viết về con người trong khối mâu thuẫn vừa cố dính kết với gia đình như một
"hang ổ cuối cùng", lại vừa nhiều ngoại lực giằng xé, lôi kéo” [48, tr.8]
Đối tượng mà Thu Huệ quan tâm là "những thiên đường và hậu thiên
đường của đời sống con người, đặc biệt là phụ nữ" [48] Và "nhân vật nữ của Thu Huệ thường cô đơn, dường như tác giả quan niệm nó là mặt trái của tình yêu thương" [45] Bên cạnh đó ông còn cảm nhận rõ: "Một sự vật vã khắc khoải canh cánh trong mỗi nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ" và ở Nguyễn Thị Thu Huệ
có "sự sẻ chia, cảm thông với phụ nữ vì ai cũng mang khuôn mặt con gái" [45]
Tác giả Kim Dung trong bài Đọc Hồi ức một binh nhì và Bến trần
gian, cho rằng:
“Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt - vừa "bụi bặm" trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, văn của chị vừa táo bạo vừa thanh khiết Một cái gì đó không thuần nhất, không đơn giản, thậm chí có khi còn đối chọi nhau trong văn của Nguyễn Thị Thu Huệ” [7]
Tác giả Nguyễn Việt Hòa, lại có những nhận xét khác về nghệ thuật
Trang 11trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ: "Chất lãng mạn trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ tương đối đặc biệt, nó toát ra từ người đang đứng giữa ranh giới thiếu phụ - phụ nữ" trong bài “Lãng quên và hy vọng Nhân đọc Nào ta cùng lãng quên - Tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”
Nhà nghiên cứu văn học Đoàn Hương, trong Văn nghệ Trẻ ngày
25/3/1996 có bài viết Những ngôi sao nước mắt, lại có những nhận xét tinh tế
về cách xây dựng nhân vật và nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ
đó là:
“Huệ có lối viết văn như người "lên đồng" trong truyện ngắn của mình không phải cô "kể" cho chúng ta nghe mà là cô "lôi" chúng ta đi theo nhân vật Đó là phong cách độc đáo của Nguyễn Thị Thu Huệ" Và "Nhân vật của cô, những nhân vật mà bao giờ Thu Huệ cũng để cho nó lướt đi những bước chông chênh trên vực thẳm của cuộc đời không có dây bảo hiểm Tôi ngờ rằng những nhân vật của cô, đều là một phần máu thịt của cuộc đời cô những truyện ngắn của Huệ được viết, được kể lại bằng chính ngôn ngữ của nhân vật: nhẹ nhàng và thanh thản trong những tình huống, những cảnh ngộ lại không yên tĩnh chút nào Cũng như những nhân vật của cô, cô không
hề lên án một ai dù là một bà mẹ ích kỉ trong Hậu thiên đường, một người đàn ông tầm thường, nhạt nhẽo và giả dối trong Cát đợi, hoặc những ông bố,
bà mẹ quái gở trong Phù thủy Nhưng đọc truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, ta thấy những trang viết không bình lặng Những nhân vật của cô làm ta đau đớn, âm thầm trách móc ta và thức tỉnh ta” [27]
Nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Vịnh, thì lại nghiên cứu thi pháp truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ Ông đánh giá: "Nhà văn đã vượt ra ngoài phương thức
miêu tả vừa thực, vừa hư, vừa trần thế, vừa ảo mộng, chuyện hiện đại, chuyện
dĩ vãng nhằm tạo dựng một cuộc sống có dung tích khai thác chiều sâu những góc uẩn khúc", thế giới bên trong "của con người" [67] Đặc biệt kiểu nhân
Trang 12vật nữ xưng "tôi" trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thường bắt đầu bằng cụm từ "tôi tưởng tượng", "Tôi như bay trên chín tầng mây", "Tôi có
cảm giác như mình hóa đá" tất cả đó là cảnh hư nhằm nói cái thực đa diện
hơn, có kích thước hơn, có tần số ý nghĩa sâu sắc hơn Tôi gọi đó là thi pháp
mở Thi pháp mở còn được thể hiện ở chiều sâu nội cảm, nội tâm của người
viết hoặc của nhân vật "tôi" phương thức thể hiện này không chỉ làm cho
hiện thực phản ánh có chiều sâu mà còn giàu sức khái quát, sức ám ảnh lớn Đây cũng là một đặc điểm trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
PGS TS Lý Hoài Thu trong bài Những truyện ngắn hay, lại quan
tâm đến những vấn đề mà Nguyễn Thị Thu Huệ muốn gửi gắm qua nhân vật
nữ: khi "Nhìn đời, nhất là nhân vật nữ, Thu Huệ nhìn ra biến thái tinh vi của
bi kịch tình yêu với những biểu hiện dị thường của nó" [55]
Nhà văn Hồ Phương, nhận xét: "Trong các tác giả trẻ, Thu Huệ là
cây bút hết sức sắc sảo Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm, sao còn ít tuổi mà Huệ lại lọc lõi thế Nó như con phù thủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình Ruột gan mình có gì hình như nó cũng biết cả" [40]
Tóm lại, qua các bài nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Huệ được đánh giá
là người có khả năng nắm bắt và phản ánh hiện thực nhạy bén, sâu sắc, có giọng văn đặc biệt Nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ luôn khao khát hạnh phúc và gặp nhiều bi kịch
2.3 Các bài viết về Nguyễn Ngọc Tư
Trần Hữu Dũng, một độc giả quan tâm yêu mến tác phẩm của chị đã lập hẳn một trang web http://www.viet- studies.info về Nguyễn Ngọc Tư thu thập các bài viết và các sáng tác của chị Ngoài ra, Trần Hữu Dũng còn có bài
"Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam", tác giả cho rằng mỗi truyện ngắn của chị là "một bữa ăn văn chương thịnh soạn, dọn bày chu đáo gồm toàn đặc sản
Trang 13miệt vườn, với những vật liệu hảo hạng, tươi sống" [8] Chị đã tạo được một
chỗ đứng khu biệt cho mình không lẫn với bất cứ nhà văn nào và chị góp phần tạo nên một nhánh văn chương đặc biệt, không giống, nhưng chuẩn mực không kém những miền khác
Còn tác giả Hoàng Thiên Nga, lại nhận xét truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư qua Cánh đồng bất tận Tác giả cho rằng: "Đây là một truyện ngắn có bút
pháp giản dị, gọn ghẽ, đầy ắp âm sắc Nam Bộ và ngòi bút quá đỗi tinh tế, nhân hậu, trong lành" [36]
Tác giả Trần Thị Dung, khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm
Vinh - Nghệ An trong bài “Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc
Tư qua tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận”, lại điểm qua một số biện pháp
xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư như xây dựng tình huống, miêu tả ngoại hình, mô tả hành động, lời đối thoại của nhân vật
Tác giả Nguyễn Trọng Bình cũng có nhiều bài viết về Nguyễn Ngọc
Tư trong đó đáng chú ý đến các bài: “Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật con người”; Những dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Ở hai bài viết trên tác giả
cho rằng "mô hình" con người hướng thiện chính là một kiểu tư duy nghệ
thuật độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư và đưa ra dạng tình huống khi khảo sát hầu hết các truyện ngắn của chị
Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết của các độc giả về tác phẩm của chị, về giọng điệu, về đặc trưng ngôn ngữ, về nội dung tự sự, về không gian- thời gian cùng nhiều ý kiến bình luận trên các trang web Trong rất nhiều ý kiến đa phần là sự yêu mến đặc biệt của độc giả, sự đồng cảm, chia sẻ với tác
giả Nguyễn Ngọc Tư cũng như nhân vật trong tác phẩm của chị Và Cánh
đồng bất tận của chị đã được mua bản quyền chuyển thành phim nhựa và
công chiếu
Trang 14Trên đây là những ý kiến nhận xét, đánh giá và các bài viết tiêu biểu
về một số đặc điểm nghệ thuật nói chung và nhân vật nữ nói riêng trong truyện ngắn của ba tác giả Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc
Tư Song đó mới chỉ là ý kiến đánh giá, nhận xét bước đầu ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên đã phần nào thể hiện sự cảm nhận đúng đắn của các nhà nghiên cứu về mỗi nhà văn Đó là những nghiên cứu riêng lẻ về mỗi nhà văn
mà chưa có công trình nghiên cứu nào về nhân vật nữ của ba nhà văn Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư một cách hệ thống Bên cạnh đó các khóa luận tốt nghiệp, các luận văn cao học cũng bắt đầu có sự tìm hiểu về những đóng góp và đổi mới của các cây bút nữ trong văn học đương đại Như
Nguyễn Thị Thủy, "Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ", Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2011; Đào Thị Hường, "Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Phan Thị Vành Anh", Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, 2011 Bởi thế luận văn của chúng tôi kế thừa những ý kiến nhận
xét đánh giá trên để góp phần nghiên cứu "Nhân vật nữ trong truyện ngắn
của các nhà văn nữ đương đại: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư" một cách hệ thống như một loại hình tượng văn học với những dẫn
chứng cụ thể, để từ đó chỉ ra những đặc điểm của nhân vật nữ và cách xây dựng nhân vật nữ của ba tác giả Từ đó khẳng định vị trí của ba nhà văn nữ trong nền văn xuôi đương đại Đồng thời cũng có sự đối chiếu so sánh với các nhân vật của các tác giả khác để thấy được sự tìm tòi, cách tân của các nhà văn trong qua trình lao động sáng tạo nghệ thuật
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn hướng tới tìm kiếm, phát hiện
những nét mới trong cách nhìn và thể hiện nhân vật nữ trong truyện ngắn của
ba cây bút nữ Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư Đặc biệt
là những nét tương đồng và khác biệt trong cách nhìn và thể hiện nhân vật nữ
Trang 15của ba tác giả Từ đó thấy được sự đóng góp của ba nhà văn trong nền văn xuôi đương đại nói riêng và văn nền văn học dân tộc nói chung
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu nhân vật nữ
trong một số tập truyện ngắn tiêu biểu của ba nhà văn: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư Từ đó khái quát chân dung nhân vật nữ trong văn học đương đại việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu các tập truyện
ngắn của ba cây bút nữ, đặc biệt là những truyện ngắn tiêu biểu:
+ Võ Thị Hảo: Biển cứu rỗi, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen, Người sót lại của rừng cười, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm…
+ Nguyễn Thị Thu Huệ: Cát đợi, Hậu thiên đường, Phù thủy, Mùa thu vàng rực rỡ, Nào ta cùng lãng quên, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ…
+ Nguyễn Ngọc Tư: Nước chảy mây trôi, Cánh đồng bất tận, Giao thừa, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác…
Bên cạnh đó luận văn còn có sự mở rộng, so sánh với nhân vật nữ trong các thể loại khác nhau, các giai đoạn khác nhau, các tác giả khác nhau
cả cùng giới và khác giới Đặc biệt là so sánh với các nhà văn nữ cùng thời
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp loại hình…
Trang 165 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Làm rõ đặc điểm các kiểu nhân vật nữ trong truyện ngắn của ba nhà văn nữ: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư
- Bước đầu khẳng định vị trí, tài năng và những đóng góp của ba nhà văn nữ Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Đồng thời giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về kiểu nhân vật nữ của ba nhà văn này nói riêng và nhân vật
nữ trong văn xuôi đương đại nói chung
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái lược truyện ngắn và sáng tác của ba nhà văn nữ: Võ
Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư
Chương 2: Cảm nhận đa chiều về nhân vật nữ trong truyện ngắn của
ba tác giả: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện nhân vật nữ trong truyện ngắn của ba
tác giả: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư
Trang 17NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI LƯỢC TRUYỆN NGẮN VÀ SÁNG TÁC CỦA BA NHÀ VĂN NỮ:
VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN THỊ THU HUỆ, NGUYỄN NGỌC TƯ
1.1 Khái lược truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng, sự hình thành và phát triển của thể loại
Trước hết ta cần hiểu khái niệm truyện ngắn như sau:
Theo Từ điển văn học định nghĩa:
"Truyện ngắn là một hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với
truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội" [43, tr.137]
Còn trong 150 thuật ngữ văn học định nghĩa, truyện ngắn là một:
"Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu
hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ" [4, tr.359- 360]
D Gronopxki trong cuốn Đọc truyện ngắn viết: "Truyện ngắn là một
thể loại muôn hình muôn vẻ, biến đổi không cùng" Quả đúng như vậy, vì
xung, quanh khái niệm này có nhiều cách định nghĩa khác nhau là điều dễ hiểu
Tuy nhiên truyện ngắn có những đặc trưng để phân biệt với các thể loại khác Trong sự so sánh, đối chiếu với tiểu thuyết thì truyện ngắn có những điểm khác biệt về: Dung lượng tác phẩm, cách xây dựng kết cấu và cách thể hiện tính cách số phận nhân vật
Dung lượng thể hiện qua số trang, số lượng nhân vật, khuôn khổ của
Trang 18cốt truyện… Theo một số tài liệu phương Tây có những qui định cụ thể về chiều dài của tiểu thuyết và truyện ngắn Trong đó, truyện ngắn chỉ nên kéo dài từ 3 đến 30 trang còn tiểu thuyết thì số trang không giới hạn Về nhân vật, trong truyện ngắn số lượng nhân vật ít còn trong tiểu thuyết lại có nhiều tuyến nhân vật, số lượng nhân vật đồ sộ hơn Truyện ngắn thường có một biến cố, một sự kiện quan trọng còn tiểu thuyết có nhiều sự kiện, biến cố Trong truyện ngắn tốc độ hành động truyện diễn ra mau lẹ hơn còn trong tiểu thuyết tốc độ hành động thường diễn ra chậm để tính cách có điều kiện phát triển một cách trọn vẹn nhất Trong truyện ngắn thường chỉ có một cốt truyện còn tiểu thuyết là thể loại có dung lượng lớn nên đôi khi có nhiều cốt truyện
Theo Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ vì vậy nó "dừng lại ở một khoảnh khắc nào đó tiêu biểu
trong một đời người, trong sự hạn chế của không gian, thời gian" [39] còn
tiểu thuyết là "một loại văn rất hợp với tính tình nhân loại" vì "đọc tiểu thuyết
người ta thấy có cái thú vị nồng nàn là được sống sâu rộng hơn, thấm thía hơn, vì ở đời không một ai được sống trọn vẹn, không một ai được sống với tất cả các giác quan rung động, với tất cả mọi hành vi cùng tư tưởng bồng bột
và thâm trầm" [39] Trong truyện ngắn tính cách nhân vật thường được thể
hiện trong một phút sáng chói, trong một khoảnh khắc nào đó nhưng là khoảnh khắc có ý nghĩa quyết định đối với số phận nhân vật còn trong tiểu thuyết thì tính cách và số phận của nhân vật thường được mô tả ở dạng một quá trình Trong truyện ngắn, tình huống đóng vai trò cực kì quan trọng, mỗi một truyện ngắn hay chỉ nên có một tình huống Nhưng trong thực tế sáng tác
ta lại thấy có nhiều truyện ngắn mang dáng dấp của một tiểu thuyết như: AQ
chính truyện của Lỗ Tấn, Viên mỡ bò của Môpátxăng hay Phiên chợ Giát
của Nguyễn Minh Châu… là những ví dụ điển hình Mặc dù vậy những tác
phẩm này vẫn là truyện ngắn bởi nó mang hầu hết đặc trưng của thể loại này
Trang 19Vậy truyện ngắn hình thành và phát triển như thế nào?
Trong cuốn Truyện ngắn - những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể
loại, tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng: "Ở châu Âu, sự ra đời của truyện ngắn với tư cách một thể loại văn học độc lập gắn liền với thời kì Phục Hưng, khi nhu cầu giải phóng tinh thần cá nhân trở thành một cuộc cách mạng xã hội" [46,
tr.39] Khi nhà thờ cơ đốc và lãnh địa của các chúa phong kiến giữ vị trí tối thượng, bắt đầu với những thể tài châm biếm của Phục Hưng, sự xuất hiện của thể loại truyện ngắn ở Châu Âu ngoài những điều kiện phát triển xã hội - tinh thần của các dân tộc khác nhau còn chịu ảnh hưởng lớn của nhà văn
Italia: Bocaxio (1314 - 1375) với tác phẩm Mười ngày Ở Anh truyện ngắn ra đời vào thế kỉ XIX với tập truyện Vùng Kentenbec của Đzairo Soxero Ở Tây
Ban Nha, truyện ngắn hình thành muộn hơn và gắn liền với tên tuổi Xecvantec Ở Đức truyện, ngắn xuất hiện gắn với chủ nghĩa lãng mạn nhằm
phủ nhận chủ nghĩa cổ điển Ở Pháp, từ thế kỉ XV đã có 100 truyện ngắn của
Actua de Laxali Còn Ở Nga, truyện ngắn có mầm mống từ trước nhưng phải đến thế kỉ XIX, truyện ngắn mới thực sự hoàn thiện với A Puskin cùng các
tập truyện ngắn: Truyện của ông Benkin (1830), Con đầm pích (1838),
Người con gái viên đại úy (1836)… Tiếp đến là Gôgôn - người có công đặt
nền móng cho chủ nghĩa hiện thực cho văn học Nga với tập truyện ngắn Bức
chân dung, và hội tụ cuối cùng là Sêkhôp - một nghệ sĩ bậc thầy trong việc
tạo ra sự cô đọng của truyện ngắn với hàng loạt tác phẩm: Cái chết của một
viên công chức, Người tu sĩ vận đồ đen… Trong khi đó, thế kỉ XIX và thế kỉ
XX lại xem Mĩ là cái nôi phát sinh truyện ngắn hiện đại với việc cống hiến
cho thế giới những tác giả truyện ngắn tầm cỡ: E Poe với Con mèo đen, O Henry với Chiếc lá cuối cùng hay E Hemingway với Cuộc đời hạnh phúc
ngắn ngủi của Măccombo…
Ở phương Đông, hình thức sơ khai của truyện ngắn là truyền kỳ -
Trang 20"một thứ truyện thần thoại có tác giả" Truyền kỳ giúp trí tưởng tượng của
nhà văn bay bổng phiêu lưu vào thế giới kì thú của nhân vật để sáng tạo những cốt truyện li kì, hấp dẫn truyền kì bắt đầu xuất hiện vào đời Đường, thế kỉ IX ở Trung Quốc Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về
sự ra đời của thể loại này Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Truyền kỳ là hình thức ban đầu của truyện ngắn Việt Nam xuất hiện vào thế kỉ XV Một số lại cho rằng, hiểu theo nghĩa hiện đại thì truyện ngắn chỉ hình thành từ khi có chữ Quốc ngữ Để có câu trả lời chắc chắn cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, đối chiếu, so sánh một cách khoa học Nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng,
từ những năm 30 của thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam thực sự nở rộ với các tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao… sau đến là Đỗ Chu, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ… và sự xuất hiện của hàng loạt cây bút trẻ có triển vọng như Đỗ Bích Thúy, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu… Đội ngũ đông đảo ấy, mang đến cho truyện ngắn Việt Nam một gương mặt vừa lạ, vừa quen, thể hiện sự đổi mới rõ rệt trong phong cách thể loại
Tuy có những hoàn cảnh và thời gian ra đời khác nhau, nhưng đều dễ nhận thấy là ngay từ khi xuất hiện, truyện ngắn ngày càng khẳng định vị trí và chỗ đứng vững chắc của mình trong nền văn học với hàng loạt những tác giả
và tác phẩm tiêu biểu
Truyện ngắn là một thể loại chiếm được ưu thế và được nhiều nhà văn lựa chọn có lẽ vì dung lượng ngắn của nó Tuy nhiên có nhiều tác phẩm đã vượt qua sức khái quát của truyện ngắn về nội dung, tư tưởng ngang tầm với
tiểu thuyết Nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá: "Truyện ngắn là một bộ phận
của tiểu thuyết nói chung" [47, tr.27] Xu hướng truyện ngắn mang dung
lượng tiểu thuyết trở thành một nét độc đáo, tạo nên diện mạo mới cho nền
văn học Một số tác phẩm tiêu biểu cho loại truyện ngắn trên là: Số phận con
Trang 21người (Sôlôkhốp), Thảo nguyên (Sêkhốp), Viên mỡ bò (Môpatxăng), AQ chính truyện (Lỗ Tấn) Trong văn học Việt Nam cũng có những tác phẩm
như thế: Chí Phèo (Nam Cao), Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Tướng
về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu) Từ khi
ra đời cho đến nay, truyện ngắn vẫn luôn tồn tại và chứng tỏ sức sống lâu bền của nó Xã hội ngày càng hiện đại hóa với những phương tiện nghe nhìn hiện đại như đài phát thanh, truyền hình, Internet nhưng truyện ngắn vẫn có chỗ đứng vững chãi trong lòng người đọc đúng như nhận xét của PGS TS Lý
Hoài Thu: "Trong nhịp độ của đời sống công nghiệp hiện đại, dưới sức ép
của các phương tiện nghe nhìn, truyện ngắn đã phát huy được ưu thế của mình một cách hiệu quả" [56] Sự ra đời của hàng loạt tuyển tập truyện ngắn
cùng với những cuộc thi viết truyện ngắn liên tục được tổ chức trên các tạp
chí như: Văn nghệ quân đội, Văn nghệ Trẻ, Tạp chí Sông Hương đã thể
hiện sức sống của thể loại này Bên cạnh đó, những diễn đàn phê bình, tranh luận về văn học trong đó có truyện ngắn cũng diễn ra sôi nổi với các tên tuổi như: Bùi Việt Thắng, Phạm Xuân Nguyên, Phạm Thanh Sơn và bạn đọc ngày nay không quay lưng lại với truyện ngắn, họ vẫn dõi theo, nồng nhiệt hưởng ứng và đón đợi các tác phẩm mới Có những tập truyện ngắn ngay từ khi mới ra đời đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với công chúng và trở thành một
hiện tượng văn học như: Tướng về hưu (Nguyễn Huy thiệp), Người sót lại
của rừng cười (Võ Thị Hảo), I am đàn bà (Y Ban), Phù thủy (Nguyễn Thị
Thu Huệ), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Bóng đè (Đỗ Hoàng
Diệu) Như vậy chúng ta đủ thấy tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của truyện ngắn đối với văn học đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Trang 221.1.2 Khái quát bối cảnh phát triển của truyện ngắn Việt Nam
1.1.2.1 Truyện ngắn Việt Nam trước 1975
Truyện ngắn trung đại: Ra đời muộn hơn thế giới hàng trăm năm,
truyện ngắn Việt Nam hình thành vào khoảng thế kỷ XV, XVI với những tập
truyện như Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục (đời Trần); Việt điện u linh,
Nam ông mộng lục (1438), Thánh Tông di thảo, Lĩnh nam chích quái (thế
kỷ XV), Truyền kỳ mạn lục (thế kỷ XVI) Đặc điểm thể loại trong những
tập truyện này chưa định hình một cách tập trung, rõ nét Tình trạng diễn ra phổ biến là sự nhập nhằng giữa giữa tính chất ký, truyện lịch sử, truyện mô phỏng, phóng tác truyền thuyết dân gian trong tác phẩm Các nhà văn thời kỳ này ít dụng công miêu tả không gian và thời gian nghệ thuật, chủ yếu kể lại tiến trình xảy ra của sự việc Việc khắc họa đời sống tâm lý nhân vật cũng chưa được chú trọng nên những hình thức kết cấu tâm lý dường như không xuất hiện trong truyện ngắn trung đại
Truyện ngắn đầu thế kỷ XX đến 1930: Truyện ngắn giai đoạn này đã
có sự đổi mới bước đầu về đề tài, hình thức, diện mạo Nếu truyện ngắn trung đại thường lấy đề tài ít thấy trong thực tế và thường mang tính chất hoang đường thì truyện ngắn đầu thế kỷ XX đến 1930 đã mở rộng đề tài hướng đến cuộc sống thực, với những con người và mặt trái của xã hội bước đầu đô thị hóa… Bên cạnh những câu văn biền ngẫu, ước lệ đã xuất hiện những câu văn hiện đại, nhà văn đã chú ý miêu tả tính cách, tâm lý nhân vật Xuất hiện truyện ngắn viết bằng chữ quốc ngữ Tiêu biểu là truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Bá Học…
Truyện ngắn 1932 - 1945: Giai đoạn 1932 - 1945 là bước phát triển
quan trọng trong tiến trình văn học nói chung và của thể loại truyện ngắn nói riêng Truyện ngắn thời kỳ này khởi sắc, với một mùa gặt bội thu cùng những tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô
Trang 23Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tứ, Khái Hưng, Nhất Linh, Thanh Tịnh…
Truyện ngắn 1945 - 1975: Giai đoạn 1945 - 1975 là giai đoạn bão táp
nhất của lịch sử dân tộc vì thế văn học cũng sôi nổi, hào hùng hơn bao giờ hết Tất cả những vụn vặt của đời sống bình thường đều bị gác lại, văn học hướng tới mục đích chung của tổ quốc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước: ca ngợi cách mạng và cuộc sống mới, cổ vũ kháng chiến, ngợi ca thành tựu khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng ở miền Nam, thống nhất đất nước Nảy sinh từ mảnh đất hiện thực này văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng thể hiện
tư duy sử thi, cảm hứng ngợi ca, đề tài gắn liền với vận mệnh dân tộc tiêu biểu các tác giả:Kim Lân, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu…
1.1.2.2 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Nói đến truyện ngắn đương đại là nói đến truyện ngắn giai đoạn từ năm 1975 - đến nay Đây là mốc đánh dấu sự phát triển của truyện ngắn, thể hiện sức trẻ của ngòi bút, sự cách tân táo bạo và bất ngờ về các phương diện
cả nội dung và nghệ thuật Chiến thắng năm 1975, thống nhất đất nước cũng
là một mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển mình của thể loại truyện ngắn Văn học bao giờ cũng là tấm gương phản chiếu thời đại và thời đại sau 1975
có sự thay đổi Vì thế truyện ngắn cũng thay đổi theo
Trước 1975, văn học có nhiệm vụ là phục vụ kháng chiến, phản ánh cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Chiến tranh đòi hỏi con người cần có ý chí, sức mạnh để làm cuộc cách mạng vì thế văn học giai đoạn này tập trung cổ vũ động viên khích lệ tinh thần của con người Bởi thế các sáng tác văn học thời chiến có khuynh hướng sử thi, mang âm hưởng hào hùng, ngợi ca Đề tài xuyên suốt trong các sáng tác thời kì này là vận mệnh dân tộc, cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và niềm tin tất thắng Nhân vật xuyên suốt trong văn học
Trang 24kháng chiến là người anh hùng đấu tranh bảo vệ tổ quốc Cảm hứng sáng tác
là cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng của dân tộc Vì nhiệm vụ phục
vụ kháng chiến của văn học nên đề tài về số phận cá nhân con người, về những mảnh đời tư, những tâm sự riêng, những khát khao hạnh phúc cá nhân không được khai thác Và đây chính là những nét đặc trưng của văn học thời chiến
Sau 1975, hòa bình lập lại, cả dân tộc bước sang thời kì đổi mới và văn học cũng từng bước chuyển mình để bắt kịp sự đổi mới của thời đại Vì thế văn học giai đoạn này ngày càng gần gũi với hiện thực đời sống hơn và đi sâu phản ánh cuộc sống của con người Chủ đề thế sự - đời tư trở thành chủ
đề xuyên suốt trong các sáng tác của các nhà văn Số phận cá nhân, con người
cá nhân được các nhà văn đặt lên hàng đầu Cuộc sống muôn màu, muôn vẻ với các trạng thái khác nhau: cao cả - thấp hèn, ánh sáng - bóng tối… được phơi bày một cách chân thực, rõ nét Sáng tác theo khuynh hướng đó, bắt đầu
có những tác phẩm gây được sự chú ý của bạn đọc như: Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Hai người đàn bà xóm
trại (Nguyễn Quang Thiều), Khách ở quê ra, Bức tranh (Nguyễn Minh
Châu), Anh lính Tony D (Lê Minh Khuê), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ), Cánh đồng bất tận
(Nguyễn Ngọc Tư)… Ở những tác phẩm này các tác giả đã đi sâu khám phá
về con người thời hậu chiến với những nỗi đau, những mất mát, những bi kịch của cuộc sống Văn học vì thế gần với con người và cuộc đời hơn
Bên cạnh sự thay đổi về đề tài là sự thay đổi về lực lượng sáng tác Nối tiếp các thế hệ đi trước như: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,… (1930 - 1945) đến các thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống
Mĩ như: Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Kiên, Nguyên Ngọc, (1945 - 1975) Và bây giờ là sự xuất hiện của hàng loạt những cây bút trẻ:
Trang 25Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài… đặc biệt là sự có mặt của các cây bút nữ như: Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu,… Đây là thế hệ thứ tư, đại diện cho văn học đương đại và chính họ đã thổi một luồng gió mới đem đến cho bạn đọc những khám phá mới mẻ, bất ngờ
Ngoài ra, các cuộc thi viết truyện ngắn thường xuyên được tổ chức đã trở thành nguồn cổ vũ, động viên, khích lệ to lớn đối với những người cầm bút Từ những cuộc thi đó, chúng ta phát hiện được những tài năng mới như:
Y Ban, Tạ Duy Anh, Hòa Vang, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư
Và trong những đơn vị tổ chức thì tạp chí Văn nghệ Quân đội là một trong
những cơ quan có uy tín trong việc tổ chức các cuộc thi truyện ngắn Năm
1989 - 1990, Y Ban đã đoạt giải nhất cuộc thi viết truyện ngắn của tạp chí
Văn nghệ quân đội với tác phẩm: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ Ngoài ra còn 17 tác
phẩm đoạt giải trong số các tác phẩm dự thi Năm 1991 diễn ra hai cuộc thi truyện ngắn do báo Văn nghệ và Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Các
tác phẩm: Kẻ sát nhân lương thiện (Lại Văn Long), Vũ điệu của cái bô (Nguyễn Quang Thân), Nhân sứ (Hòa Vang) đã đoạt giải Năm 1992 - 1994,
tạp chí Văn nghệ Quân đội tiếp tục tổ chức cuộc thi truyện ngắn Lần tổ chức này đã thu hút được đông đảo các tác giả trên mọi miền tổ quốc tham gia và
đã khẳng định được sức sống và niềm đam mê với truyện ngắn của các cây bút trẻ Đặc biệt là sự góp mặt của các cây bút nữ có chất lượng tốt đã tạo nên một luồng sinh khí mới cho truyện ngắn như: Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ Đó là một tín hiệu đáng mừng, chứng tỏ văn học đang
phát triển và đổi mới Các tác phẩm Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp
của Nguyễn Thị Thu Huệ đã đoạt giải nhất Đến năm 1996 - 1997, xuất hiện ngày càng nhiều những cây bút trẻ về tuổi đời và tuổi nghề nhưng hăng hái nhiệt tình tham gia Với sức trẻ, tài năng và sự nỗ lực, họ đã ghi được những
Trang 26dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc, tiêu biểu như: Nguyễn Châu Giang (Ở
trọ), Nguyễn Thị Phước (Cau non), Dương Nữ Khánh Thương (Chiếc bình đựng kí ức) Từ năn 1989 - 1997 đã có ba cuộc thi viết truyện ngắn với qui
mô lớn được tổ chức và thu hút đông đảo lực lượng sáng tác tham gia Điều
đó chứng tỏ sức hút của thể loại này Truyện ngắn với những ưu thế riêng của mình ngày càng khẳng định chỗ đứng vững chãi trong văn đàn Với dung lượng vừa đủ, truyện ngắn chỉ tập trung vào một biến cố, một mặt nào đó của đời sống trong một thời gian, một không gian nhất định Sự nắm bắt những cái tinh túy nhất lôi cuốn bạn đọc là nét đặc trưng riêng của truyện ngắn
1.1.3 Vị trí của các cây bút nữ trong trào lưu đổi mới
Trong lịch sử văn học Việt Nam, dường như ít bóng dáng các cây bút
nữ, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn Bởi xã hội phong kiến có nhiều luật lệ
hà khắc, gò người phụ nữ như "Tam tòng tứ đức", "Tam cương ngũ thường"
nên đã hạn chế khả năng sáng tạo của họ, đặc biệt là trong lĩnh vực nghệ thuật Tuy nhiên bước sang thế kỉ XX các nhà văn nữ bắt đầu có tiếng nói trong văn đàn và bước đầu khẳng định được vị trí của mình Từ đầu thế kỉ XX đến 1975, văn học Việt Nam chủ yếu là sự đóng góp của các cây bút nam như: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, nguyễn Công Hoan, Nam Cao tiếp đến các thế hệ như: Kim Lân, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải sau đến là Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp Trong suốt giai đoạn 1930 - 1945, Vũ Ngọc Phan chỉ chọn được duy nhất một cây bút nữ là Thụy An Sang đến giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, số lượng các cây bút nữ nhiều dần lên như: Nguyễn Thị Ngọc Tú, Vũ Thị Thường, Lê Minh Khuê Nhưng phải đến sau 1975, đội ngũ cây bút nữ mới thực sự nở rộ Một loạt cây bút nữ xuất hiện
và dần khẳng định vị trí, tài năng của mình Các tác phẩm của họ đoạt giải thưởng trong các cuộc thi truyện ngắn là minh chứng cho điều đó Tiêu biểu
là các tác phẩm: Có một đêm như thế (Phạm Thị Minh Thư), Cha con (Lê
Trang 27Thị Thanh Minh), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban), Hậu thiên đường; Mùa
đông ấm áp (Nguyễn Thị Thu Huệ), Vương Trí Nhàn nhận xét về các cây
bút nữ:
"Hình như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại
nhanh hơn nam giới Họ luôn gần với cái lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống Mặt khác, với cực đoan sẵn có - tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng,
mà nhỏ nhen, chấp nhặt dữ dằn cũng không ai bằng - từng cây bút phụ nữ tìm
ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình khá sớm" [38]
Điều đó lí giải vì sao lại có sự thay đổi diện mạo văn học như vậy Thời hiện đại, người phụ nữ không bị sự ràng buộc của lễ giáo, hơn nữa văn học hiện đại với xu hướng gần gũi cuộc sống thực của con người nên đã mở
ra cho họ nhiều đề tài, nhiều cách tiếp cận cuộc sống trong sáng tác Thời kì đổi mới, văn học Việt Nam khởi sắc với sự lên ngôi của hàng loạt các cây bút
nữ mà Bùi Việt Thắng đã nhận xét: "Đã hình thành một tỷ lệ giữa phái yếu và
phái mày râu là 2/3 một tỷ lệ đáng gờm, bởi nhìn vào đó sẽ thấy truyện ngắn trẻ hôm nay (và văn chương nói chung) mang gương mặt nữ" [46, tr.206]
Trong sáng tác của mình, các cây bút nữ đã thể hiện những thế mạnh riêng, đó
là sáng tạo dựa trên những linh cảm nhạy bén của mình để khám phá nhân vật Đồng thời việc sử dụng những tình huống tâm lý, miêu tả chiều sâu nội tâm nhân vật cộng với bút pháp trữ tình đã trở thành một nét thi pháp trong cấu trúc truyện ngắn nữ giới hiện nay Bên cạnh đó cũng có những cây bút thể hiện cách viết tự do, khoáng đạt, hiện đại, tinh tế mà cũng không kém phần nữ tính Bởi thế mà họ đã khẳng định được vị trí của mình và tạo nên diện mạo mới cho văn học Việt Nam đương đại
Các giải thưởng truyện ngắn liên tiếp được trao cho các cây bút nữ
như: Phan Thị Minh Thư (Có một đêm như thế) giải nhất năm 1981 truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội; Lê Thị Thanh Minh (Cha con) đoạt giải
Trang 28năm 1984; Y Ban (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Chuyện một người đàn bà) đoạt giải nhất năm 1990; Nguyễn Thị Thu Huệ (Hậu thiên đường, Mùa đông ấm
áp) đạt giải cuộc thi năm 1992 - 1994 của Văn nghệ Quân đội Và liên tiếp
các năm 1996, 1999, 2001, 2002 các tác giả nữ đã nhận được những danh hiệu cao nhất như: Trần Thanh Hà, Đỗ Bích Thúy, Thùy Linh, Nguyễn Ngọc
Tư Họ đã tạo nên những "làn sóng nữ” trong văn học Việt Nam đương đại
Sự xuất hiện các cây bút nữ đã trở thành một trào lưu và đồng thời cũng tạo nên một nguồn mạch mới làm tiền đề cho sự ra đời của dòng văn học nữ quyền
Nữ quyền, trước hết là một phong trào xã hội của phụ nữ Tây Âu và
Mĩ nhằm đấu tranh bảo vệ, mở rộng các quyền của phụ nữ và xóa bỏ cái gọi
là "chế độ nam trị" Thêm vào đó nữ quyền là lý thuyết xã hội về sự khác biệt
và bất bình đẳng giới, những con đường và cách thức để nhằm hướng tới mục
đích xác lập vị thế "nam nữ bình quyền" trong xã hội "Nữ quyền" (feminism)
là "quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục" [68] Như vậy khái niệm "nữ quyền" ở cấp độ rộng là quyền lợi của người phụ
nữ trong thế tương quan với nam giới để đạt tới cái gọi là "nam nữ bình
quyền" Chủ nghĩa nữ quyền (feminism) cũng có nhiều người gọi là chủ nghĩa
nữ tính vốn là danh từ do Nhật văn dịch ra Trung văn Đến thế kỉ XVIII do phong trào tự do lớn mạnh, người ta đã đưa ra vấn đề nam nữ bình đẳng và nữ quyền tự do (Liberal feminism) Sang thế kỉ XX, chủ nghĩa nữ quyền hướng
về hậu hiện đại, nó kết hợp với chủ nghĩa hậu hiện đại nhằm vào các hướng như xóa bỏ sự khác biệt giới tính, gấp rút đập tan các trung tâm chính trị, bãi
bỏ vai trò phu nhân cao quý mà hướng về đại chúng, coi trọng vấn đề tha hóa của phụ nữ, phê phán các trung tâm văn hóa Tây phương, mở rộng mối lên hệ
với Đông phương và phụ nữ thế giới thứ ba Khi nói đến "vấn đề nữ quyến"
thì chủ yếu người ta thường nghĩ tới một phong trào xã hội nhằm giải phóng
Trang 29phụ nữ hơn là đặt nó trong hệ thống lý thuyết trừu tượng Nói cách khác chủ thuyết này phải được kiểm nghiệm qua đời sống thực trạng của người phụ nữ
Nhiều tài liệu cho thấy vấn đề nữ quyền được đề cập sớm vào khoảng thế kỉ XV trong công trình khoa học của một phụ nữ Pháp là Christine de Pisan (1364 - 1430), với sự lên tiếng của dân chúng về việc phụ nữ bị coi là loại người khác biệt vì vị trí trong xã hội của họ không bình đẳng với nam giới Sau đó vào khoảng thế kỉ XV, XVII, XVIII các công trình khoa học về
nữ quyền và về giới bắt đầu phát triển ở Anh Trong đó có nhiều công trình xuất bản vô danh, bên cạnh đó cũng có công trình xuất bản hữu danh với các tên tuổi như Aphara behn (1640 - 1689), Mảy Astell (1666 - 17310) Thế kỉ XIX, XX, một làn sóng văn học nữ quyền ở Anh và Mĩ xuất hiện Năm 1929,
Virginia Woolf đã cho ra mắt tiểu luận "Một căn phòng cho riêng mình" Đây được coi là "sách vỡ lòng" của phê bình nữ quyền Nhờ Woolf mà các
tác giả nữ ngày nay có khái niệm gợi mở về cách suy nghĩ lùi thông qua người mẹ, về ý kiến của đàn bà, và về tinh thần song giới (dung hòa cả hai giới tính) Tiếp theo là làn sóng nữ quyền ở các nước phương Tây, với những
xu hướng như trung hòa hay phổ quát mà đại diện là simone de Beauvoir với
tác phẩm "Giới thứ hai" (1949) Đây là cuốn sách được xem là bản tuyên
ngôn nữ quyền và là một công trình triết học về phụ nữ, xuất phát từ quan điểm nam nữ bình quyền Cuốn sách xoay quanh vấn đề: Phụ nữ bị kẹt trong tình trạng bị áp bức lâu dài qua sự loại bỏ mình nên trở thành giới ít quan trọng hơn (giới thứ hai) trong mối quan hệ với nam giới Ngoài ra làn sóng thứ hai này còn có xu hướng khác biệt với những tư tưởng của Melanie Klien
về sự tồn tại của hai giới, hay Carol Gilligan với tác phẩm "Một giọng khác"
(1982) Làn sóng thứ ba bắt đầu từ thập niên thứ 9 của thế kỉ XX đến nay đã diễn ra trên phạm vi toàn thế giới với lí thuyết hậu hiện đại và một vài tư tưởng lí luận phái sinh từ lí thuyết Derrida Dòng văn học nữ quyền đã lan
Trang 30rộng ra toàn thế giới Không chỉ các nước phương Tây mà các nước phương Đông bắt đầu có sự tiếp nhận và thể hiện dòng văn học nữ quyền mang đậm
bản sắc của mình Đó là dòng văn học nữ quyền ở Nhật Bản: "từ năm shôwa
50 (1975) trở đi, trong bầu không khí của phong trào tìm cách nới rộng quyền sống phụ nữ, các nhà văn phái nữ đã có những hoạt động đáng kể Đó là dòng văn học tranh đấu cho nữ quyền (women rights), hay mạnh mẽ hơn nữa, thiên trọng phụ nữ (feminism)" [44] Điển hình là các nhà văn như Kôno
Taeko: "Từ chối mẫu tính", đào sâu chủ đề "Thế giới của những dục vọng
thầm kín và lệch lạc của con người", hay Tsushima Yooko: "Hình ảnh người đàn bà đơn độc nuôi con" [44] Đặc biệt mạnh mẽ hơn là dòng văn học nữ
quyền ở Trung Quốc với hàng loạt những tác giả và tác phẩm nổi tiếng như:
"Điên cuồng như Vệ Tuệ", "Baby Thượng Hải" của Vệ Tuệ; "Quạ đen" của
Cửu Đan Sự bùng phát của dòng văn học Linglei mà các tác giả như Vệ Tuệ, Xuân Thụ, Miên Miên, Cửu Đan, An Ni Bảo Bối là những cái tên luôn nóng, luôn được chờ đợi Văn học nữ quyền là dòng văn học thể hiện được bản lĩnh, cất lên tiếng nói của người phụ nữ về quyền sống và những khao khát sống bản năng của mình Và đó là mốc đánh dấu sự phát triển của văn học
Ở Việt Nam, những tác phẩm văn học thuộc dòng văn học nữ quyền
đầu tiên xuất hiện và gây ấn tượng mạnh phải kể đến những tác phẩm: "Tình
ơi là tình" của Elfriede Jelinek Ngay từ khi được dịch và xuất bản tác phẩm
đã làm xôn xao bởi một câu chuyện đơn giản kể về hai cô gái mới lớn mơ có một tấm chồng để được ấm thân Một cô yêu phải gã béo ích kỉ còn cô kia vớ phải một thằng đần độn còn ích kỉ hơn Cô may mắn lấy được kẻ đã ngủ với mình làm chồng, cô kém may hơn phải đứng đường để lấy tiền nuôi con Cuộc sống cứ trôi đi với những cung bậc khác nhau, những bất hạnh dồn lên
vai người phụ nữ Tác phẩm "Người tình" của Marguerite Duras người Pháp
Trang 31đã để lại những ấn tượng sâu sắc đối với độc giả Và từ đó bước sang thế kỉ
XX, dòng văn học nữ quyền bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam với những tác giả tiêu biểu như: Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,
Đỗ Hoàng Diệu… Văn học nữ quyền là dòng văn học mà nội dung của các sáng tác đó liên quan đến việc bảo vệ, bênh vực quyền sống của người phụ
nữ, giải phóng phụ nữ Văn học luôn phản chiếu thời đại và tâm hồn con người, vì thế các nhà văn nữ đã tìm đến văn chương như là nơi để chia sẻ tâm
sự, thể hiện những khao khát trong tình yêu, hạnh phúc và đó cũng là một trong những tiếng nói mạnh mẽ đòi quyền bình đẳng giới trong xã hội hiện đại Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nền Nho giáo nặng nề Vì vậy người phụ nữ phải chịu những định kiến của lễ giáo phong kiến Trong xã hội họ thường là những người bị động, bị động trong tình yêu, bị động trong cuộc
sống Trong tình yêu, với quan niệm "trâu đi tìm cọc" chứ không phải "cọc
đi tìm tâu", người phụ nữ dường như thụ động trong mọi vấn đề của tình yêu
Như lời tỏ tình trong tình yêu cũng là của nam giới: "Gặp đây anh nắm cổ
tay/ Anh hỏi câu này có lấy anh không?" Người phụ nữ đã có chồng thì "Bây giờ em đã có chồng/ Như chim vào lồng như cá cắn câu/ Cá căn câu biết đâu
mà gỡ/ Chim vào lồng biết thuở nào ra" Còn đàn ông thì "Trai năm thê bảy thiếp/ Gái chính chuyên chỉ có một chồng" Vì thế hình ảnh người phụ nữ
trong văn học dân gian thường là những người nhỏ bé, họ không tự quyết định được số phận của mình Họ như con sâu cái kiến, như hạt mưa, tấm lụa
đào "Thân em như hạt mưa sa/ Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày" Người phụ nữ bị trói buộc bởi "Tam tòng tứ đức", bởi "Tam cương ngũ thường", là
"Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử", là những quan niệm
trọng nam khinh nữ thường thấy trong xã hội phong kiến Đến văn học trung đại bắt đầu có sự hé mở của dòng văn học nữ quyền nhưng vẫn dừng lại ở mức độ khiêm tốn Tiêu biểu là những tác giả như: Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện
Trang 32Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… Có thể nói Hồ Xuân Hương là người phụ đầu tiên trong văn học Việt Nam dám đề cao người phụ nữ, dám thể hiện những khao khát, ước mơ cháy bỏng của giới mình về tình yêu, về hạnh phúc lứa đôi Bên cạnh đó, bà còn công khai lên án những luật lệ hà khắc của lễ
giáo phong kiến đối với phụ nữ Dân gian cũng có câu: "Không chồng mà
chửa mới ngoan/ Có chồng mà chửa thế gian chuyện thường" Vì thế bà
không đồng tình với cảnh chồng chung, với kiếp lẽ mọn "Chém cha cái kiếp
lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng" Đồng thời thơ Hồ Xuân
Hương cũng là tiếng nói ca ngợi những phẩm chất và vẻ đẹp của người phụ
nữ như "Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn/ Mà em vẫn giữ tấm lòng son" hay "Yếm
đào trễ xuống dưới nương long/ Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm/ Một lạc đào nguyên suối chửa thông" Trần Nho Thìn nhận xét:
“Trong bối cảnh xã hội nam quyền theo Tống Nho nơi người phụ nữ vẫn được khuyến khích cam chịu thân phận, an phận thủ thường thì tiếng nói của một nhà thơ nữ như Hồ Xuân Hương đề cập đến quyền sống của phụ nữ xét về đời sống bản năng có ý nghĩa bênh vực nữ quyền thực sự Bởi vì so với nam giới, người phụ nữ chịu nhiều bất công, thiệt thòi nhất trong đời sống bản năng” [51]
Đến văn học hiện đại, trình độ dân trí được nâng cao, khoảng cách giữa nữ giới và nam giới dần dần bị thu hẹp lại Trên văn đàn bên cạnh các cây bút nam bắt đầu xuất hiện các cây bút nữ Mà sự góp mặt của họ đã làm
thay đổi diện mạo văn học như Bùi Việt Thắng nhận xét: "Văn học đang
mang gương mặt nữ- ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế mà đằm thắm" [46, tr.205] mà tiêu biểu là cá tác giả như: Y Ban, Phạm Thị Hoài,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư,
Đỗ Hoàng Diệu… Trongsáng tác của họ có sự táo bạo về nội dung, cách tân trong hình thức thể hiện Hơn hết ở họ có sự đồng cảm với thân phận của
Trang 33người phụ nữ, tiếng nói của họ dễ chạm đến những điều sâu kín nhất trong tâm hồn nữ giới và từ đó mà sáng tác của họ dễ chạm vào trái tim của người đọc Cán cân sáng tác đã cân bằng, khi ta thấy trên văn đàn đã có những sáng tác của nữ giới có giá trị Nó phản ánh hiện thực đời sống và thể hiện rõ ý thức về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội Sự góp mặt những cây bút nữ tiêu biểu đã tạo nên làn sóng văn học nữ quyền trong văn học việt Nam Và đây cũng là bước phát triển mới của văn học theo hướng dân chủ hóa
Đề tài mà các cây bút nữ thường đề cập, khai thác là tình yêu, hạnh phúc, hôn nhân Đó có thể là những cung bậc tình cảm của một cô gái trẻ trước ngưỡng cửa tình yêu, có thể là những khao khát, băn khoăn của người đàn bà trước hôn nhân và cuộc sống của gia đình Nhưng trên hết khi viết về các đề tài này, họ đã bày tỏ thái độ chủ động, đấu tranh quyết liệt để vươn tới tình yêu, hạnh phúc Họ luôn khao khát được yêu, kiếm tìm hạnh phúc cho bản thân và trân trọng những hạnh phúc dù là nhỏ bé Người phụ nữ dần thoát khỏi cái bóng của gia đình trở thành những người độc lập, không chịu sự ràng buộc của những qui định khắt khe như trước đây, họ tự quyết định số phận của mình Đây cũng chính là sự tiến bộ mới mẻ của văn học nữ quyền
Đặc biệt, một đề tài gây nhiều tranh cãi nhất trong giai đoạn này là đề tài tình dục Trước đây, nó là vấn đề cấm kị trong văn học còn giờ đây, các nhà văn nữ bắt đầu đi sâu tìm hiểu khám phá và thể hiện Họ không ngần ngại thể hiện những khao khát của bản thân mang sắc thái nhục thể trong sáng tác
của mình Tình dục là bản năng, trong văn chương, tình dục còn là một hoạt
động có ý nghĩa văn hóa Thông qua đó, các nhà văn có thể biểu đạt những vấn đề nhân sinh một cách có nghệ thuật Năm 2005 bạn đọc châu Á sững sờ
trước hiện tượng phái nữ "vùng lên" trong văn chương, tiêu biểu là ở Trung
Quốc Một loạt sách của các nhà văn Trung Quốc được dịch và giới thiệu ở
Trang 34Việt Nam làm cho bạn đọc hết sức sửng sốt như: Điên cuồng như Vệ Tuệ,
Búp bê Bắc Kinh Tình dục trở thành chủ đề trọng tâm khiến nhiều tác giả
quan tâm, khai thác trong văn học nói chung Sự mở rộng đề tài, cởi mở trong
vấn đề nhìn nhận tình dục ở phương diện văn hóa đã giúp các nhà văn mở
rộng nhiều hơn những suy nghĩ và thể hiện sâu sắc số phận con người trong thời đại mới Thông qua tình dục, các tác giả muốn khẳng định tình yêu là sự hòa quyện giữa thể xác và tâm hồn, thể hiện những khao khát hạnh phúc của con người Sâu xa hơn, nó còn là sự phản ánh hiện thực văn hóa của một giai
đoạn, một dân tộc, một đất nước Vì thế, ngay từ khi ra đời, Bóng đè của Đỗ
Hoàng Diệu đã gây xôn xao dư luận và tạo ra nhiều cuộc tranh luận với những những ý kiến trái ngược nhau Nguyễn Ngọc Tư cũng cũng gây bất ngờ cho
bạn đọc ở truyện ngắn Cánh đồng bất tận Ngòi bút của chị khá mạnh bạo
trong việc thể hiện những khao khát tình dục của con người Đó là câu chuyện của cô gái điếm tên Sương, là số phận của người đàn bà trên sông nước Nhiều trang văn trong tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh với bạn đọc Còn Y
Ban, năm 2006 cho ra đời tập truyện ngắn I am đàn bà đã khẳng định tính
dục trở thành một trong những chủ đề nóng của văn chương hiện đại Y Ban
đã không ngần ngại để nhân vật của mình phô bày, thổ lộ những ham muốn tình dục một cách tự nhiên Với mình, Võ Thị Hảo lại dành cho người phụ nữ trái tim yêu thương, đồng cảm cho số phận của họ Thân phận người phụ nữ trở thành tâm niệm thường xuyên da diết trong những trang viết của chị Với
quan niệm văn học là một sự cứu rỗi, "sứ mệnh của nhà văn là chia sẻ niềm
vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri" [19] Võ Thị Hảo đã thực sự mang lại cho
nhân vật văn học những kinh nghiệm sống từ những trải nghiệm trong cuộc đời của mình Sáng tác của chị đầy ắp những nỗi lo lắng mơ hồ về cuộc đời mênh mông bất tận, vừa như thiên đường, vừa như địa ngục đối với con
người, đặc biệt là đối với người phụ nữ, trong khi, "phụ nữ được tạo hóa sinh
Trang 35ra để làm chiếc dây đẹp quấn yểu điệu quanh cây đại thụ: người đàn ông"
[15] Vậy mà cuộc đời lại đầy rẫy những cạm bẫy, những trái ngang đau khổ,
bất hạnh Đặc biệt tính nữ quyền thể hiện rất rõ trong sáng tác của Võ Thị Hảo ở sự quyết liệt đấu tranh giành giữ tình yêu, sự bình quyền trong tình
cảm và khẳng định giới tính Trong Vũ điệu địa ngục cô gái đã nói với mẹ mình rằng: "Thế hệ của chúng con khác thế hệ e dè của mẹ, chúng con đi đến
tận cùng nên nhiều khi tàn nhẫn” Nhân vật trong sáng tác của chị có khi rất
mực nhu mì, dịu dàng, nhẹ nhàng, cuồng si nhưng cũng có khi quyết liệt đến
cứng cỏi Người đọc thường bắt gặp trong sáng tác của chị là "những người
đàn bà khổ vì yêu, rút hết gan, hết ruột để yêu và hy sinh cho tình yêu bất cần những hệ lụy sau đó" [59] Nhưng nhìn sâu vào những mất mát, những đau
thương ấy, ta thấy người phụ nữ không chỉ tội nghiệp mà còn dáng yêu, đáng kính trọng vô cùng Họ nhẹ dạ cả tin khi yêu, họ yêu đến cháy bỏng và luôn mong đem lại hạnh phúc cho người mình yêu dẫu phải chuốc lấy bất hạnh, phải cô đơn, lẻ loi suốt đời Nhân vật nữ trong sáng tác của chị tự thể hiện rõ nhất điều này Vấn đề tình dục trở đi trở lại nhiều lần và được nhiều tác giả nữ lựa chọn đã khẳng định được phần nào sự ảnh hưởng của văn học nữ quyền trong văn chương Việt Nam đương đại
Nhận xét về các cây bút nữ có ý kiến cho rằng:
"Nhẹ nhàng, kín đáo trong truyện Nguyễn Thị Thu Huệ Trực diện,
trần trụi trong truyện Y ban Mãnh liệt, nhẩn nha đầy thâm thúy và ẩn ý trong truyện Đỗ Hoàng Diệu Quê mùa, chất phác nhưng đằm thắm như trong truyện Nguyễn Ngọc Tư Dù ở mức độ nào thì họ cũng đã từng bước khẳng định tiếng nói của nữ giới trong văn chương" [57]
Màu sắc nữ quyền trong văn chương của các tác giả nữ đã thể hiện được bản lĩnh nghệ thuật và cá tính sáng tạo của họ Các tác giả không ngần ngại đề cập đến mảng đề tài được coi là cấm kị, thể hiện những khao khát và
Trang 36ước mơ cháy bỏng của giới mình nên các nhân vật nữ hiện lên trong tác phẩm của họ đầy cá tính, bản lĩnh, luôn làm chủ trước cuộc sống Họ dám đứng lên đòi quyền sống, quyền hạnh phúc, thể hiện thái độ tích cực trong việc khẳng định bản ngã và cái tôi của mình trước xã hội Ảnh hưởng của văn học nữ quyền trong truyện ngắn từ 1975 đến nay là một bước tiến, thể hiện sự nhanh nhạy trong việc bắt kịp xu hướng vận động của văn học thế giới trong thời đại
mới
Đặc biệt đến thời kì đổi mới, văn học Việt Nam khởi sắc với sự xuất hiện của của hàng loạt cây bút nữ, đúng như nhận xét của nhà phê bình Bùi
Việt Thắng: "văn học đang mang gương mặt nữ- ngày càng trắc ẩn và khoan
dung, ngày càng tinh tế mà đằm thắm" [46, tr.205]
1.2 Truyện ngắn của ba nhà văn nữ
Có thể nói, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ và Nguyễn Ngọc Tư là những tác giả tiêu biểu cho văn học nữ đương đại Việt Nam Ba nhà văn với
ba phong cách khác nhau đã đem đến cho bạn đọc một thực đơn đa dạng, phong phú và hấp dẫn về truyện ngắn đương đại
Võ Thị Hảo sinh năm 1956, xuất hiện chính thức và đều đặn vào thập
niên 90 của thế kỉ XX và gây được sự chú ý của người đọc từ những truyện
ngắn đầu tay Người gánh nước thuê (1989), sau đó là những truyện ngắn
"lạ" như: Hồn trinh nữ, Người sót lại của rừng cười, Biển cứu rỗi… Cho đến nay chị đã có bảy tập truyện ngắn và tiểu thuyết Giàn thiêu ra mắt bạn
đọc Chị đã đoạt các giải thưởng:
- Giải thưởng cuộc thi viết tiểu thuyết và truyện ngắn với tập Biển
cứu rỗi, Nxb Hà Nội, 1991
- Giải thưởng 5 Năm văn học Hà Nội với tập Truyện ngắn chọn lọc
Võ Thị Hảo, Nxb Hội nhà văn, 1995
Khi đọc sáng tác của Võ Thị Hảo ta "dễ nhận thấy chị có một cái nhìn
Trang 37ưu ái và thiên vị đối với phái nữ Một cô gái sa ngã (Vũ điệu địa ngục), một người đàn bà nhẹ dạ (Người đàn ông duy nhất), và đến cả một con điếm hết thời (Biển cứu rối) - Bao giờ chị cũng tìm cách biện bạch để "bắt" người đọc phải yêu và cưu mạng họ" [19] Bởi vậy chị được xếp vào hàng những cây bút sắc sảo và giàu nữ tính Những thân phận đàn bà, những con người bé nhỏ trước bão lũ cuộc đời, "Những gì rất riêng tư mà chẳng riêng tư chút nào là điều mà chị luôn trăn trở trên các trang viết của mình" [18] Hình dung về Võ
Thị Hảo người đọc sẽ thấy một người phụ nữ có số phận không dễ dàng nhưng đủ nghị lực để vượt qua mọi khó khăn trên đời, cùng ánh mắt dường như nhìn thấu nhân sinh và luôn khao khát thể hiện những điều cảm nhận, suy
ngẫm của mình bằng sự phong phú của ngôn từ nghệ thuật
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh năm 1966, là một cây bút nổi lên ngay từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX với tác phẩm Hậu thiên đường Cái nhìn
của một nhà văn trẻ - một cô gái trẻ thật táo bạo, thật mới nhưng cũng thật buồn, mang đậm hơi thở cuộc sống, hết sức chân thực và có sức hút kì lạ Sau
đó là các truyện ngắn vang tiếng khác: Cõi mê, Biển ấm, Phù thủy, Xin hãy
tin em, Của để dành… chị đã nhận được:
- Giải B, giải thưởng Văn học Hội Văn nghệ Hà Nội, 1986 (truyện
Một khoảng đời chờ đợi)
- Giải B, Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền Phong, 1990 (tác phẩm Những
đêm thắp sáng)
- Giải nhất cuộc thi viết truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ Quân đội,
1994 (truyện ngắn Hậu thiên đường)
- Tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, 1994 (tập truyện ngắn
Hậu thiên đường)
Nhận định về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Bùi Việt Thắng cho rằng, truyện ngắn của Thu Huệ hấp dẫn rộng rãi bạn đọc trước hết vì giàu chất
Trang 38đời Mọi chuyện diễn ra xung quanh ta đều có thể đi vào trong tác phẩm của chị: một sĩ quan quân đội nghỉ hưu non nuôi chó nhật để mưu sinh, chuyện ăn
ốc uống rượu, chuyện ngoại tình ghen tuông trong những câu chuyện được
kể lại bằng cái giọng tưng tửng lộ rõ những nỗi buồn, niềm vui của con người thời đại: khao khát yêu đương, cô đơn, trống rỗng, hi vọng, đắng cay và ngọt bùi Những chuyện ấy, nỗi niềm ấy có thể ngổn ngang và nhàm chán quanh
ta, nhưng vào truyện của Thu Huệ lại rõ đường nét, ám ảnh và mang nghĩa lí cuộc đời Dù có thành công nhưng chị vẫn luôn khao khát những tác phẩm của mình luôn ở trong lòng người đọc bởi vì những câu chuyện ấy là sự đồng cảm, là lời tâm sự trước muôn mặt của cuộc sống và chị chỉ là người nói hộ cho mọi người mà thôi
Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ dành nhiều sự quan tâm đến những người phụ nữ Vì với chị, phụ nữ không chỉ làm nên cuộc sống, mà còn bảo vệ, phát triển cuộc sống Hơn nữa, cũng là phụ nữ với nhau, chị hiểu họ Nhờ thế mà chị luôn có sự đồng cảm và muốn chia sẻ với
họ những niềm vui, những nỗi buồn Người phụ nữ trong tác phẩm của chị là những người đàn bà từng trải, bao dung với con cháu, những người vợ, những người mẹ lo toan cho gia đình và phấn đấu cho sự nghiệp, những cô gái háo hức bước vào đời, những người phụ nữ khát khao hạnh phúc, tìm kiếm tình yêu trong xã hội hiện đại Chị luôn cảm nhận cuộc sống từ bề chìm của nó, tức là luôn khám phá đằng sau mỗi con người, mỗi số phận cuộc sống nội tâm của họ Nhân vật của chị không ai xấu hẳn và cũng chẳng ai tốt hết Chị thường tìm kiếm và khai thác nửa bên kia của nhân vật vì chị cảm thấy, đằng sau mỗi người phụ nữ bao giờ cũng ẩn chứa những điều mà không phải lúc nào họ cũng bộc lộ Nhân vật của chị tồn tại được, vượt qua được những khó khăn là bởi vì có niềm tin Và văn chương, với chị, là người bạn chung thủy
có thể chia sẻ với chị nhiều điều Hạnh phúc nhất là khi chị viết ra một tác
Trang 39phẩm và nó đến với người đọc, rồi được chấp nhận Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã từng tâm sự rằng, chị không ưa đàn ông Việt Nam, bằng chứng là các nhân vật nam trong tác phẩm của chị Nhưng như thế không có nghĩa là chị hạ
bệ họ, vì thực ra có rất nhiều người đàn ông đáng giá trong cuộc đời này, chỉ
có điều họ chưa đi vào truyện của chị mà thôi
Xuất hiện kịp thời khi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn chương đã thay đổi từ sau đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ có dịp đi vào những vấn đề rất đỗi dung dị, bình thường nhưng không hề tầm thường Đó là vấn đề gia đình và những mâu thuẫn, xung đột xoay quanh tình yêu, những bi kịch tình yêu, bi kịch xã hội Những cái tưởng chừng vụn vặt nhưng lại có tác động ghê gớm tới hạnh phúc gia đình, tới số phận con người Khác với một số đề tài của các nhà văn đương thời khác như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp chị đi vào khai thác dư âm của cuộc chiến tranh tranh, bi kịch của người lính trở về sau chiến tranh hay thăm dò vào lĩnh vực tâm linh còn đầy
bí ẩn của con người Đây cũng là điểm mới của chị so với các nhà văn khác, đặt trong sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã đề cập đến vấn đề cấm kị trong văn học - tình dục Song vấn đề nhục thể mà chị đề cập tới trong tác phẩm của mình dường như đằm thắm, kín đáo, nhẹ nhàng Đây cũng là điểm khác giữa chị với Nguyễn Ngọc Tư và Võ Thị Hảo
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 - một nhà văn miền Nam với phong
cách dịu dàng, đằm thắm, không ồn ào, lên gân mà đi sâu vào phân tích tâm lí con người một cách nhẹ nhàng, sắc sảo, tinh tế Tự ví văn mình như trái sầu
riêng: "có người ăn khen ngon, có người bưng mũi quay đi vì chê nó nặng
mùi" Chị đoạt các giải:
- Giải nhất, Cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II năm 2000 với truyện ngắn Ngọn đèn không tắt
Trang 40- Giải B, Hội nhà văn Việt Nam năm 2001, tập truyện ngắn Ngọn
đèn không tắt
- Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ - Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2000
- Một trong "Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002", 2003
- Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2006, tập truyện Cánh
đồng bất tận
Và một loạt tác phẩm tiêu biểu khác: Ông ngoại (2001), Biển người
mênh mông (2003), Nước chảy mây trôi (2004) Với những sáng tác này, tên
tuổi Nguyễn Ngọc Tư được bạn đọc biết đến nhiều hơn và bắt đầu hình thành một phong cách truyện ngắn in đậm dấu ấn Nam Bộ: Nguyễn Ngọc Tư Chị mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc trong trẻo và đậm chất nhân văn Xuyên suốt những trang văn của chị là con người Nam Bộ với những suy tư, trăn trở rất người, với không gian sông nước, thuyền ghe, với các món cá bông chua, canh súng thân thiết với người Nam Bộ Hoàng Hiền Lương nhận xét:
"Chất liệu đời sống thường nhật đi vào sáng tác của chị, từ những câu
hò vọng cổ, những rừng tràm, rừng đước , đến những mảnh đời xuôi ngược trên mỗi dòng sông quê mang theo lời nhắn gửi về tình đời, tình người khiến cho người đọc phải day dứt, phải suy nghĩ, nhiều lúc còn phải giật mình bởi như bắt gặp một mảnh tâm hồn mình trong đó Tất cả chứa trong một cách viết giản dị, trong sáng, không hoa mĩ, cầu kì "Dòng riêng" Nguyễn Ngọc Tư đặt trong "nguồn chung" của văn chương Nam Bộ đã góp phần tạo ra một vẻ đặc biệt" [32]
Không ồn ào, chao chát như Đỗ Hoàng Diệu, không lạnh lùng sâu cay như Phan Thị Vàng Anh Nguyễn Ngọc Tư đã tạo dựng cho mình một thế giới riêng - thế giới đặc quánh chất miệt vườn Nam Bộ Và sông nước là yếu