1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.

107 604 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, trong khi thực hiện xây dựng nông thôn mới cần phải có sự chung tay, chia sẻ của toàn dân trong hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tổ chức sản xuất một cách quy

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Vũ Thị Hiền

Thái Nguyên, năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Phát

triển nông thôn những người đ* truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích và

đ* tạo mọi điều kiện giúp đỡ em thực hiện khóa luận này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô giáo - ThS Vũ Thị Hiền

đ* dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn UBND x* Bộc Bố và toàn bộ người dân trong x* đ* tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập, điều tra nghiên cứu tại cơ sở

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đ* động viên, giúp đỡ em hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu do có những lý do chủ quan và khách quan nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận

được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn sinh viên để giúp em hoàn thành khóa luận được tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thỏi Nguyờn, thỏng 5 năm 2014

Sinh viờn

Lờ Ngọc Luõn

Trang 3

PTNT : Phát triển nông thôn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.2 Cơ sở thực tiễn 21

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31

3.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu 32

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34

4.2 Đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới tại xã Bộc Bố 48

4.3 Những khó khăn và trở ngại ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân và một số tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã 79

4.4 Một số giải pháp để nâng cao sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã 82

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

5.1 Kết luận 85

5.2 Kiến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất ở xã Bộc Bố qua các năm (2011 – 2013) 37 Bảng 4.2: Bảng tình hình sản xuất một số cây trồng chính tại xã Bộc Bố qua

3 năm (2011 – 2013) 40 Bảng 4.3: Bảng tình hình chăn nuôi ở xã Bộc Bố qua 3 năm (2011 – 2013) 41 Bảng 4.4 Tình hình dân số, lao động xã Bộc Bố qua 3 năm 2011-2013 43 Bảng 4.5 Tình hình cở sở hạ tầng qua 3 năm 2011 – 2013 45 Bảng 4.6 : Cách tiếp cận thông tin của người dân đối với chương trình nông thôn mới 48 Bảng 4.7: Cách tiếp cận thông tin của các tổ chức đối với chương trình nông thôn mới 50 Bảng 4.8: Hiểu biết của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới và mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 51 Bảng 4.9: Hiểu biết của các tổ chức xã hội về chương trình xây dựng nông thôn mới và mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 53 Bảng 4.10: Đánh giá mức độ tự nguyện của người dân khi tham gia chương trình nông thôn mới 56 Bảng 4.11: Đánh giá mức độ tự nguyện của các tổ chức xã hội khi tham gia

mô hình nông thôn mới 57 Bảng 4.12: Lý do người dân tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới 58 Bảng 4.13: Lý do các tổ chức tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới 59 Bảng 4.14: Những công việc của người dân khi tham gia vào xây dựng nông thôn mới 61 Bảng 4.15: Những công việc của các tổ chức xã hội khi tham gia vào xây dựng nông thôn mới 63

Trang 6

Bảng 4.16: Đánh giá của người dân và các tổ chức về vai trò của ban xây dựng nông thôn mới 64

Bảng 4.17: Đánh giá của người dân và các tổ chức xã hội vê hoạt động của

ban quản lý xây dựng nông thôn mới 66 Bảng 4.18 : Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong việc thảo luận chiến lược phát triển thôn 69 Bảng 4.19 Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong lập kế hoạch phát triển 71

Bảng 4.20: Người dân tham gia tập huấn và ứng dụng kĩ thuật trong sản xuất 74

Bảng 4.21: Các tổ chức tham gia tập huấn khoa học – kỹ thuật 76

Bảng 4.22: Người dân và các tổ tham gia lao động xây dựng công trình nông

thôn 79

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hiểu biết của người dân và mức độ trao đổi thông tin với cán bộ phát triển nông thôn của người dân 52 Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sự tham gia của người dân vào các lớp tập huấn 74

Trang 7

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 của đảng ta, tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định: “Hiện nay và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” là vấn đề chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là cơ sở ổn định chính trị và an ninh quốc phòng, là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng trước hết phải xuất phát rừ lợi ích của nông dân, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, tạo điều kiện thuận lợi giúp nông dân nâng cao trình độ mọi mặt, có đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao Trong những năm qua, nhiều chương trình dự án đã được thực hiện, như chương trình giống, chương trình khoa học công nghệ, chương trình khuyến nông, chương trình 135 hay Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP Tuy nhiên, việc triển khai còn chậm trễ do bị ràng buộc bởi các cơ chế, chính sách và năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế trong việc phát triển nông thôn văn minh hiện đại

Để xây dựng một nông thôn mới bền vững và phát triển, cần phải chú trọng việc nâng cao năng lực cho cộng đồng người dân của nông thôn, đặc biệt là quan tâm đến vai trò của người dân và các tổ chức xã hội

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy được vai trò của nông dân trong thực hiện các dự án phát triển nông thôn Có nhiều lý do và lực cản như trình độ hiểu biết của người dân, năng lực quản lý, cơ chế, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém,…

Trang 8

Bộc bố là một xã miền núi nằm ở trung tâm huyện Pác Nặm gồm có 15 xóm, số hộ 867 hộ, 3985 nhân khẩu, gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Sán Chỉ, Mông cùng chung sống Dân số của xã sống không tập chung, được phân bố ở các thôn bản dọc theo các tuyến giao thông trên địa bàn xã và các thôn vùng cao Xã có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế

xã hội với các xã lân cận, có nguồn nhân lực dồi dào, là nguồn lực lớn để xây dựng nông thôn mới, Điều kiện khí hậu thuận lợi cho viêc phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, sản xuất mang tính nhỏ lẻ, chưa mang tính hàng hóa, đời sống nhân dân còn khó khăn, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng nhưng chưa đồng bộ

Để đáp ứng nhu cầu phát triển đòi hỏi phải có sự sắp sếp một cách hợp

lý để tạo ra một bước phát triển toàn diện như: Lao động việc làm, giao thông, thủy lợi, dịch vụ thương mại, văn hóa, thể thao Vì vậy, trong khi thực hiện xây dựng nông thôn mới cần phải có sự chung tay, chia sẻ của toàn dân trong hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tổ chức sản xuất một cách quy mô và có hiệu quả

Vậy để xây dựng một nông thôn mới bền vững và phát triển, cần phải chú trong đến việc nâng cao năng lực cho cộng đồng người dân của nông thôn, đặc biệt quan tâm đến vai trò của người dân

Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và tình hình

trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn”

Trang 9

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân và các tổ chức trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho

công tác sau này

- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu

- Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh

và phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn hiện nay

Trang 10

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giá sát thực hơn thực trạng xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

- Qua đó giúp người dân nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của xây dựng nông thôn mới, đưa ra những giải pháp để tăng cường sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển nông thôn nói chung

- Kết quả của đề tài là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà đầu tư đưa ra quyết định mới, hướng đi mới để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm , tỉnh Bắc Kạn

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm nông dân

Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời

kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.[3]

Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá,

xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [3]

2.1.2 Các tổ chức xã hội

Khái niệm tổ chức xã hội được dùng với nhiều nghĩa khác nhau trong các ngành khoa học khác nhau và trong tư duy đời thường Tổ chức xã hội có thể được hiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội, hoặc là một dạng hoạt động, hay là mức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành phần của một chỉnh thể Khái niệm tổ chức xã hội được xem như là một thành tố của cơ cấu

xã hội; với ý nghĩa này, tổ chức xã hội chính là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định Như vậy, định nghĩa này nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong các tổ chức và các quan hệ ở đây là các quan hệ xã hội Nếu như giữa tập hợp các cá nhân không có những quan

hệ xã hội thì họ chưa thể được coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào

đó Những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt được những lợi ích nhất định

Trang 12

Tóm lại, có thể hiểu tổ chức xã hội là một nhóm người có mối quan

hệ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, và hoạt động cùng mục tiêu và cùng lợi ích như nhau

Các tổ chức ở xã như: hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,…

2.1.3 Khái niệm phát triển nông thôn

Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; Có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có

trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều

quan điểm khác nhau Theo Ngân hàng thế giới (1975): “Phát triển nông thôn

là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển” [2]

Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nước [2]

Trang 13

2.1.4 Mô hình nông thôn mới

Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí

Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới

là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ đựơc nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung: mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa

Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước

Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”.[6]

* Những đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới

− Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng - xã

− Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của nông dân

− Người dân chủ động trong việc xây dựng kế hoạch phát triển, thu hút sự tham gia đầy đủ của các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được mục tiêu đề ra có tính hiệu quả cao

− Việc thực hiện kế hoạch dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của

Trang 14

bản thân người dân, thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài là chính

− Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao

− Nguồn vốn từ bên ngoài được phẩn bổ và quản lý sử dụng có hiệu quả Trên đây là những đặc điểm tạo nên nét riêng biệt của mô hình nông thôn mới chưa từng có trước kia

2.1.4.1 Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới theo đề án của

Bộ NN và PTNT

- Về kinh tế, nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị

trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán

- Về chính trị, phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn

lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã

- Về văn hóa xã hội, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp

nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng

- Về con người, chú trọng nâng cao trình độ dân trí, nhằm phát huy

nội lực của người dân, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật vận dụng vào sản xuất Mặt khác cần khuyến khích người dân tích cực tham gia các hoạt động lập kế hoạch, giám sát, điều chỉnh và đánh giá các công trình phát triển thôn, xóm Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất giỏi, là người kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình

- Về môi trường, xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh

thái Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.[6]

Trang 15

2.1.4.2 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới theo đề án

của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

* Cấp tỉnh

UBND tỉnh xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể như sau:

- Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm > 30%

- Tỉnh nông - công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 10 - 30%

- Tỉnh công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm < 10%

Ngoài các tiêu chí trên, để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới tỉnh phải có 80% số huyện trong tỉnh đạt tiêu chí huyện nông thôn mới

* Cấp huyện

UBND huyện chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới ở huyện Huyện cử các cán bộ có trình độ am hiểu nông dân, nông thôn phối hợp với tư vấn của Bộ tham gia xây dựng kế hoạch phát triển xã Bên cạnh đó còn thẩm định kỹ thuật các công trình xây dựng cơ bản trong kế hoạch của xã có vốn lớn theo quy định hiện hành

Tiêu chí nông thôn mới phụ thuộc đặc điểm, điều kiện tự nhiên của từng vùng: trung du, miền núi hay các huyện đồng bằng, hải đảo Ngoài ra, huyện phải có 75% số xã trong huyện đạt tiêu chí xã nông thôn mới

* Cấp xã

Chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp xây dựng nông thôn mới ở các thôn,

xã Kết hợp với tư vấn của Bộ, tham gia xây dựng kế hoạch tổng thể của thôn và giúp cho cộng đồng thôn lựa chọn kế hoạch năm phù hợp quy hoạch lớn của xã

Thẩm định các kế hoạch phát triển và kỹ thuật các công trình xây dựng

cơ bản của thôn Tiêu chí xã nông thôn mới phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của mỗi xã: xã ven đô, đồng bằng, miền núi hải đảo

Ngoài ra, xã phải có 90% số thôn, bản trong xã đạt tiêu chí nông thôn mới

Trang 16

Một số tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới

Được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg (16/4/2009) ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí như: quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y

tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, an ninh, trật tự xã hội; và được chia thành 5 nhóm cụ thể:

Bổ sung nghị định 342 sửa đổi các tiêu chí NTM - Theo điều 1:

Sửa đổi 5 tiêu chí của bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành

tại quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ như sau:

(1) Tiêu chí 07 về chợ nông thôn được sửa đổi như sau:

“ Chợ theo quy hoạch đạt chuẩn quy định

(2) Tiêu chí sô 10 về thu nhập như sau:

a) Nội dung tiêu chí: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn (triệu đồng/người)

Trang 17

b) Tiêu chí chung cho cả nước:

- Năm 2012: Đạt 18 triệu đồng/người

- Đến năm 2015: Đạt 26 triệu đồng/người

- Đến năm 2020: Đạt 44 triệu đồng/người

c) Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng (theo phụ lục đính kèm) Chỉ tiêu cụ thể đạt chuẩn theo từng năm giữa các giai đoạn do Bô Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Kế Hoạch và Đầu tư hướng dẫn chi tiết

d) Các xã thuộc Nghị Quyết 30a/2008/NQ – CP được áp dụng mức của vùng trung du miền núi phía Bắc

e) Các xã đạt chuẩn phải có thu nhập bình quân đầu người của xã không thấp hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người tối thiểu khu vực nông thôn của vùng do Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông Thôn phối hợp cùng với Bộ Kế Hoạch và Đầu tư hướng dẫn chi tiết và công bố

(3) Tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động được sửa đổi bổ sung như sau: a) Tên tiêu chí: Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên

b) Nội dung tiêu chí : Tỷ lệ người dân làm việc trên dân số trong độ tuổi lao động

c) Chỉ tiêu chung và từng vùng: Đạt từ 90% trở lên

(4) Tiêu chí số 14 về giáo dục được sửa đổi như sau:

“14.1 Phổ cập giáo dục trung học cơ sở”

5 Tiêu chí số 15 về y tế được sửa đổi như sau:

a) Nội dung: “15.1 Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế”

b) Chỉ tiêu chung cho cả nước: Đạt từ 70% trở lên

c) Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng: Đạt [18]

2.1.5 Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng mô hình nông thôn mới

2.1.5.1 Lý luận về sự tham gia

Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng mô hình nông thôn mới được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng

Trang 18

phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Các nội dung trong vai trò của người dân vào việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu là:

- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về

những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như mục đích xây dựng công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi

- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế

hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi

- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc

mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ

- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các

hoạt động phát triển nông thôn như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo

Trang 19

dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Dân kiểm tra: có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có

sự giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ

sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình

và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh

kỹ thuật cũng như tài chính

- Dân quản lý: đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã

tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình

- Dân hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy

nhiên cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng tăng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng,… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập,…

Trang 20

2.1.5.2 Những quan điểm về nâng cao vai trò của người dân

Phát triển nông thôn mới được thực hiện trên cơ sở động viên toàn thể nhân dân phát huy nội lực theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi thành quả Bên cạnh

đó, cần được hỗ trợ tích cực, có hiệu quả từ các ngành, các cấp từ trung ương

đến địa phương về vốn, kỹ thuật và cơ chế chính sách

Nâng cao vai trò của người dân là nâng cao thể chế quản lý, tự quản của cộng đồng người dân như xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước, nội quy,… Phát huy vai trò của trưởng làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và các tổ chức tôn giáo tại địa phương; thực hiện đoàn kết trong toàn dân, xây dựng các mối quan hệ tốt trong thôn, xóm, làng, bản Phát huy tinh thần thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, phòng chống và đấu tranh chống lại các tệ nạn xã hội; Đào tạo việc lập và thực hiện các dự án phát triển, cũng như việc vận hành và bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ; Đào tạo quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường; Thiết lập các tổ, nhóm quản lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ, hình thành các tổ nhóm tiết kiệm, tín dụng nông thôn

Trang 21

được công nhận, khuyến khích người dân tham gia thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững Kinh nghiệm gần đây trong những hoạt động phát triển cho thấy rằng có một mối liên hệ quan trọng giữa mức độ và cường độ tham gia của người dân với sự thành công của những hoạt động phát triển

- Được cùng quyết định, chọn lựa các giải pháp hay xác định các vấn

đề ưu tiên của cộng đồng

- Có trách nhiệm cùng mọi người đóng góp công sức, tiền của để thực hiện các hoạt động mang tính lợi ích chung

- Người dân tự lập kế hoạch dự án và quản lý điều hành, kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng

2.1.6 Các giải pháp chủ yếu xây dựng mô hình nông thôn mới

Xây dựng mô hình nông thôn mới cần phải căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của vùng về tiềm năng, lợi thế, năng lực cán bộ và khả năng đóng góp của người dân Từ đó đưa các giải pháp phù hợp nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới phù hợp sau:

Trang 22

Đào tạo nâng cao năng lực của người lãnh đạo

− Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp về phát triển nông thôn bền vững

− Thực hiện quy hoạch kế hoạch triển khai thực hiện, điều hành dự án trên địa bàn thôn

− Thúc đẩy phát triển kết hợp với mô hình khuyến nông viên cơ sở trong việc chuyển giao những TBKT vào sản xuất

Nâng cao hiểu biết của người dân

− Cải thiện điều kiện sinh hoạt nâng cao chất lượng cuộc sống: xây dựng cung cấp các cơ sở hạ tầng phù hợp điện, đường, trường, trạm, y tế, văn hóa, chợ

− Cải thiện nhà ở: xóa nhà tranh vách nứa, vệ sinh, chuồng trại phục vụ cho chăn nuôi…

− Quy hoạch các khu dân cư: duy trì tính truyền thống văn hóa, bản sắc riêng của thôn Nhưng vẫn dảm bảo tính văn minh, hiện đại, phát triển bền vững

Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ nâng cao thu nhập

− Trong sản xuất nông nghiệp: khuyến khích người dân trồng trọt và chăn nuôi những cây con giống có giá trị kinh tế cao, khối lượng hàng hóa lớn tạo thị trường tiêu thụ rộng lớn Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp phát huy những tiềm lực của địa phương

− Tăng cường các hoạt động dịch vụ thúc đẩy sản xuất và đời sống: cung ứng vật tư, hàng hóa, tư vấn kỹ thuật…

− Hỗ trợ trang thiệt và kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nhằm thúc đẩy

cơ cấu cây trồng, vật nuôi

− Tăng cường, củng cố quan hệ sản xuất Các hoạt động tư vấn hỗ trợ: khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư…

Xây dựng các làng nghề gắn với nông thôn

− Với những thôn có ngành nghề truyên thống: Khôi phục và củng cố

Trang 23

tăng cường tay nghề cho người lao động, hỗ trợ và quảng bá công nghệ, xử lý môi trường và phát triển bền vững

− Với những thôn chưa có ngành nghề phi nông nghiệp: tiến hành đưa các ngành nghề mới vào thôn và tăng cường chuyển giao kỹ thuật, tạo việc làm tăng thêm thu nhập cho nông dân

Xây dựng nông thôn gắn với quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường

Quản lý nguồn nước cấp, thoát nước, thu gom rác thải Hiện nay vấn đề này ở nông thôn đang phần nào làm ảnh hưởng lớn tới môi trường bởi sự xuất hiện của các làng nghề, các khu tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp mới gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước Vì vậy các địa phương cần chú ý xây dựng các hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường

2.1.7 Vấn đề “tam nông” trong xây dựng nông thôn mới

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Qua các thời kỳ, giai cấp nông dân luôn là lực lượng hùng hậu nhất đi theo Đảng, cùng với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức là nền tảng chính trị của cách mạng, đóng góp vô cùng to lớn cả về sức người lẫn sức của, vượt qua muôn vàn

hy sinh, gian khổ, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Đặc biệt, trong thời kỳ phát triển kinh tế nước ta hiện nay, quá trình xây dựng nông thôn mới thì vấn đề tam nông luôn chiếm vị trí quan trọng, quyết định cho những chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nông thôn trong thời kỳ CNH - HĐH

Nông nghiệp và nông thôn là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế

Trang 24

quốc dân Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; xuất khẩu nông sản đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế; tạo việc làm và thu nhập cho đa số người dân Nông thôn là nơi sinh sống của đa số nhân dân, nơi bảo tồn và phát triển các truyền thống văn hóa dân tộc

Quan tâm tới vấn đề tam nông, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, đã ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp - nông thôn - nông dân, với mục tiêu đến năm 2010 tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân Chương trình hành động sẽ tập trung vào một số nội dung chính như:

– Tổ chức quán triệt sâu rộng trong các ngành, các cấp và nhân dân từ Trung ương đến cơ sở để có nhận thức đúng đắn về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta

– Phát động trong toàn quốc phong trào thi đua lao động xây dựng nông nghiệp hiện đại, xây dựng nông thôn mới

– Rà soát điều chỉnh quy hoạch, xây dựng và triển khai các chương trình kinh tế-xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án chuyên ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Sau Nghị quyết 7, Chính phủ đã có “Chương trình Hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp - nông dân - nông thôn” với 3 chương trình quốc gia là xây dựng nông thôn mới, đào tạo nguồn nhân lực và chương trình mục tiêu thích ứng với sự biến đổi khí hậu Cùng với 3 chương trình quốc gia này, gần 50 đề án chuyên ngành cũng đã thể hiện khá rõ nội dung về phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong phạm vi toàn quốc để phát triển nông nghiệp - nông dân - nông thôn theo Nghị quyết 7 Trung ương

Trang 25

Theo đó, đến năm 2020, bằng mọi cách phải đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn cứ 5 năm sau cao gấp đôi 5 năm trước

Đề án “Vấn đề nông nghiệp - nông dân - nông thôn”, dựa trên tư tưởng chỉ đạo của Đại hội Đảng X được đưa ra tập trung đáng giá thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2000 đến nay, làm rõ các quan điểm đề

ra mục tiêu và các chủ trương, giải pháp lớn nhằm giải quyết các vấn đề này trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Trong đề án, vấn đề xây dựng nông thôn mới là một trong 3 nội dung trọng tâm nhằm giải quyết các vấn đề đưa ra của đề án Với các nội dung như sau:

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại: cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công CNH - HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Với nội dung triển khai chính gồm

– Quy hoạch các khu dân cư nông thôn và hướng dẫn cải tạo nơi ở dân

cư đảm bảo ăn ở văn minh nhưng vẫn giữ được nét bản sắc văn hóa đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng quê Đến năm 2010, rà soát và điều chỉnh quy hoạch xây dựng 45% thị trấn, hoàn thành quy hoạch 42% các khu dân cư trung tâm xã, thị tứ Đến năm 2020, 100% các thị trấn có quy hoạch xây dựng

và 50% thị trấn có quy hoạch chi tiết; 100% thị tứ và trung tâm cụm xã có quy hoạch xây dựng

Trang 26

– Quy hoạch phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội thôn,

xã, đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH

– Nâng cao kiến thức đời sống và kiến thức nghề nghiệp cho người dân; nâng cao tinh thần tự lực tự cường vượt qua khó khăn, vươn lên xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn trong các cộng đồng dân cư nông thôn

– Phát triên sản xuất hàng hóa gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp tạo điều kiện thực hiện “mỗi làng một nghề”

– Xây dựng đời sống văn hóa

– Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ, phù hợp

– Nâng cao chất lượng dân chủ cơ sở

Phương châm chính của chương trình

phát huy cao độ tinh thần sáng tạo của người dân nông thôn tại từng cộng đồng Người dân tự bàn bạc lực chọn công việc ưu tiên, tự triển khai thực hiện và hưởng lợi Cấp ủy và chính quyền chọn hỗ trợ về tổ chức, về kỹ thuật và nguồn lực

Lấy xã, thôn, ấp làm địa bàn chính để chỉ đạo thực hiện Đổi mới phương pháp tiếp cận từ cơ sở, hỗ trợ của ngân sách nhà nước chủ yếu nhằm

“khuyến khích, thúc đẩy” và được phân phối theo nguyên tắc “hỗ trợ nơi làm tốt”, “hỗ trợ nhiều hơn cho nơi khó khăn” Xây dựng bộ tiêu chí để xác định chuản về làng, xã nông thôn mới Phấn đấu đến năm 2015 sẽ có 20%, tới năm

2020 có 50% xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới

Xây dựng các tổ chức tự chủ ở cấp cộng đồng thôn, bản nhằm huy động quan hệ cộng đồng cổ truyền, làm công tác tổ chức quản lý các hoạt động của chương trinhg, xây dựng các hệ thống hương ước, lệ làng để tham gia quản lý

xã hội và phát triển văn hóa nông thôn

Trang 27

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong phát triển nông thôn

2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nền nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của nền kinh

tế toàn cầu đang tăng trưởng như vũ bão Vì vậy, việc học tập những kinh nghiệm phát triển nông nghiệp nông thôn các nước là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế nước ta hiện nay

a Xây dựng nông thôn mới ở Đài Loan

Đài Loan là một nước thuần nông nghiệp Từ năm 1949 – 1953 bắt đầu thực hiện sách lược “lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp”

Bên cạnh đó Đài Loan đã xây dựng các chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp được Chính phủ thực hiện như “Chương trình phát triển nông thôn tăng tốc”, “Tăng thu nhập của nông trại và tăng cường chương trình tái cấu trúc nông thôn”, “Chương trình cải cách giai đoạn II” Các chương trình này được cụ thể hóa bởi các nội dung:

− Cải cách ruộng đất

− Tập huấn các nông dân hạt nhân

− Mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp

− Tín dụng nông nghiệp

− Quy hoạch và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

− Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mới

− Chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế

Tăng thêm phúc lợi cho nông dân.[22]

b Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Trung Quốc xuất phát từ một nước nông nghiệp, đại bộ phận người lao

Trang 28

động sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp Nên cải cách kinh tế ở nông thôn là một khâu đột phá quan trọng trong cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc

Ngay trong năm 1978, Trung Quốc đã quyết định xoá bỏ chế độ phân phối bình quân ở nông thôn, thực hiện nguyên tắc "làm hết năng lực, phân phối theo lao động", tăng cường quản lý định mức, trả thù lao cho người lao động căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động

Từ năm 1980, Trung quốc bắt đầu thí điểm khoán sản lượng đến hộ và khoán toàn bộ đến hộ gia đình nông dân Đến năm 1982 các biện pháp này mới chính thức được thực hiện trên toàn quốc

Đến cuối năm 1984 đã có 98,2% số thôn; 96,3% số hộ và 98,6% đất canh tác trong cả nước thực hiện phương pháp khoán sản lượng đến hộ hoặc khoán toàn bộ đến hộ Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu

hộ nông dân đã mang lại bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn Trung quốc với tỷ lệ tăng trưởng bình quân của giá trị tổng sản lượng nông nghiệp là 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 - 1985, cao gấp 3,5 lần tốc độ bình quân đạt được trong giai đoạn 1953 - 1980

Cho đến nay, tháng 3/2006 Trung ương Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện (Chính phủ) Trung Quốc công bố Bản “tài liệu số 1” Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn đề nông thôn; chủ trương xây dựng “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” là nhiệm vụ chính của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 Nội dung đề cập những chiến lược cơ bản trong đó chú trọng đến “Điều chỉnh mối quan hệ trong phân phối thu nhập, quy phạm, trật tự phân phối: thu nhập, tăng thu nhập cho tầng lớp người có mức sống trung bình và thấp Kiên trì “Cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” đặc biệt là áp dụng nhiều biện pháp trong việc “cho nhiều” đối với nông dân; đồng thời đưa ra các giải pháp nhiều mặt về xây dựng nông thôn, vấn đề xã hội và dân chủ, khác với tài liệu các năm trước nói đến các vấn đề riêng biệt như sản xuất lương thực, thu nhập nông dân và khả năng sản

Trang 29

xuất nông nghiệp Việc phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc đã vào

một thời kỳ mới [5]

c Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc

- Phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc: Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với chủ trương công nghiệp hoá hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động

phong trào Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc

và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn" Theo đó,

Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ

ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điểm đặc biệt của phong trào của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là đối tượng ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại diện này Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Năm 2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng về nông dân Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á [19]

Trang 30

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

* Tình hình xây dựng nông thôn mới trong nước

Sau gần 2 năm thực hiện, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới

đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng Mô hình nông thôn mới theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí nông thôn mới là phù hợp

Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới được thực hiện tại 11 xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thuỵ Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hoà (Kiên Giang) Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm các nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách, xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ đạo giữa các cấp trong việc xây dựng nông thôn mới; hình thành các mô hình trên thực tiễn về nông thôn mới để rút kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên diện rộng

Theo kết quả đánh giá của các địa phương, đến nay đã có 7/11 xã đạt được 10 tiêu chí trở lên, gồm Thuỵ Hương; Tân Thịnh; Hải Đường; Gia Phố; Tân Thông Hội; Mỹ Long Nam; Định Hoà; trong đó có 3 xã đạt 14/19 tiêu chí trở lên là Thuỵ Hương 13, Tân Thịnh 14, Tân thông Hội 14 Có 3 xã đạt từ 8-

10 tiêu chí, gồm Tân Lập, Tân Hội, Tam Phước Riêng xã Thanh Chăn (Điện Biên) tuy là xã khó khăn nhất, nhưng đã đạt 7/19 tiêu chí Một số xã đạt kết quả tương đối toàn diện như: Hải Đường, Tân Thịnh, Tân Thông Hội Một

số xã đạt được mô hình tốt ở một số mặt như: quy hoạch và thực hiện tốt quy hoạch ở Hải Đường; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ Long Nam; huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và Định Hoà; phát triển sản xuất gắn với

Trang 31

quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng ở Tam Phước; phong trào cải tạo điều kiện sống của các hộ dân cư ở Tân Thịnh; liên kết sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập… Hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác đến tham quan và học tập Phát triển sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ môi trường được xác định là nội dung trọng tâm đặc biệt quan trọng của chương trình và được đẩy mạnh triển khai trong năm 2010 Đến nay, mỗi xã

đã có ít nhất 3-5 dự án, điểm trình diễn về sản xuất nông nghiệp được thực hiện Ngoài sản xuất tập trung theo các dự án, hầu hết các xã đã tăng nguồn vốn hỗ trợ nông dân thông qua chương trình khuyến nông, khuyến công, đặc biệt là vốn tín dụng để hình thành các mô hình, dự án sản xuất có hiệu quả kinh tế Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới đã có nhiều hình thức đa dạng hơn, thu hút người dân tham gia nhiều hơn Xây dựng nông thôn mới đã được cán bộ, nhân dân ở cơ sở phấn khởi đón nhận, các xã điểm đã tổ chức để người dân đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế hoạch xây dựng nông thôn mới của xã, tham gia bàn bạc, lựa chọn công trình xây dựng hoặc các công việc nào cần làm trước, làm sau

* Tình hình xây dựng nông thôn mới ở 1 số xã địa phương trong nước Tình hình xây dựng nông thôn mới Thái Bình

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, với phương châm "Nhà nước

và nhân dân cùng làm", chỉ trong hơn 10 năm, nhân dân Thái Bình đã đóng góp hơn hai trăm tỷ đồng xây dựng hạ tầng nông thôn Nhờ đó, hệ thống đường giao thông nông thôn của toàn tỉnh được trải nhựa hoặc bê-tông hóa với tổng chiều dài hơn 5.000 km Thái Bình là một trong những tỉnh đi đầu thực hiện sáu chương trình lớn ở khu vực nông thôn: điện, đường, trường, trạm, thông tin và nước sạch Giờ đây, tất cả các loại xe có thể về tận các

Trang 32

thôn, làng để đón khách hoặc chở hàng nông sản về thành phố 100% số xã, thôn có điện thắp sáng và phục vụ sản xuất với gần 99% số hộ được sử dụng điện Nhiều thôn, làng có hệ thống chiếu sáng ngoài đường Tất cả các xã có

hệ thống thông tin liên lạc Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 58% số gia đình và hơn 44% số thôn, làng đạt chuẩn văn hóa

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phương Trong nông nghiệp, việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu còn chậm Công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thủy hải sản, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng còn hạn chế, môi trường ngày càng bị ô nhiễm, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân chưa cao, và khoảng cách phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ngày càng tăng

Hiện nay ở Thái Bình, nhiều chỉ tiêu (điện, đường, trường, trạm) đã đạt chuẩn Vì thế, Thái Bình quyết định trong hai năm 2009-2010 sẽ xây dựng thí điểm tám mô hình sản xuất hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới ở tám huyện, thành phố Ngay từ đầu năm nay, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của tỉnh đã bố trí kinh phí gần 48,5 tỷ đồng, trong đó phần kinh phí cho các nội dung thực hiện ở tám xã điểm là 48 tỷ đồng

Từ cuối năm 2008, ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã của Thái Bình đều thành lập Ban chỉ đạo xây dựng thí điểm nông thôn mới, do đồng chí bí thư cấp ủy làm trưởng ban Kế hoạch được thực hiện từ quý 4-2008 và các năm tiếp theo, tùy theo tính chất, quy mô của từng dự án Nhưng trước hết là tập trung vào các nội dung như: quy hoạch vùng sản xuất, vùng dân cư, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi trong sinh hoạt, phát triển văn hóa, giữ gìn môi trường và phát triển các làng nghề ở mỗi địa phương

Trang 33

Trước mắt, các khu dân cư ở các điểm nông thôn mới được quy hoạch lại cho phù hợp quy hoạch phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ở thôn, xã, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, nâng cao kiến thức đời sống và kiến thức nghề nghiệp cho nông dân Đồng thời, xây dựng nông thôn mới gắn với nâng cao dân chủ cơ sở, phát huy tính sáng tạo của người dân nông thôn

Trong tám hình mẫu về nông thôn mới của tỉnh thì Thanh Tân là điểm được xây dựng đầu tiên Đến nay xã đã xây xong quy hoạch chi tiết vùng sản xuất hàng hóa và vùng dân cư ở địa phương, đồng thời chuẩn bị tiếp nhận nguồn vốn của Ngân hàng thế giới (WB) xây dựng hệ thống cấp nước sạch Mỗi vùng sản xuất hàng hóa được bố trí từ 30 đến 100 ha trở lên, trên đó đường bờ vùng thiết kế từ 3,5 đến 4 m, bảo đảm cho xe cơ giới đi lại thuận tiện Hệ thống mương máng, sông ngòi, cống đập, trạm bơm đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ sản xuất trong vùng, phù hợp sản xuất bằng cơ giới hiện đại Trong thôn xóm, các khu dân cư được quy hoạch trên cơ sở hiện có, nơi nào

có trại lẻ thì có thể dồn vào khu dân cư tập trung, tạo điều kiện cho người dân được hưởng cơ sở hạ tầng chung, đồng thời mở rộng thêm vùng sản xuất hàng hóa của địa phương

Tỉnh Thái Bình đã chỉ đạo ngành nông nghiệp hỗ trợ di chuyển dân ở các trang trại lẻ vào điểm dân cư tập trung Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo việc dồn điền, đổi thửa Ngành điện lực đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án RE2 ở xã Thanh Tân Sở Kế hoạch và Đầu tư bố trí đủ vốn cho nội dung quy hoạch Các ngành y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, khoa học - công nghệ căn cứ vào nhiệm vụ, chức năng của mình tạo các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia phục vụ cho các xã nông thôn mới

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 của Thái Bình là thực hiện cơ giới hóa khâu làm đất đạt 100% diện tích, cơ giới hóa khâu gieo cấy đạt 55%, khâu thu hoạch và tra hạt đạt 75% Hệ thống tưới tiêu bảo đảm đủ năng lực chủ động

Trang 34

theo yêu cầu thâm canh cho toàn bộ diện tích lúa, rau màu và nuôi trồng thủy, hải sản Hệ thống đê điều, kênh mương hoàn thiện có thể chủ động tiêu nước, chống úng khi có lượng mưa trên dưới 300 mm

Cùng với sự phát triển kinh tế, Thái Bình còn chú trọng đẩy mạnh phát triển y tế, giáo dục, xây dựng các thiết chế văn hóa ở nông thôn gắn với nâng cao dân chủ cơ sở, bảo đảm 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% số trường học ở tất cả các cấp học được xây dựng kiên cố Hiện nay toàn tỉnh đã

có 39/296 trường mầm non, 242/294 trường tiểu học, 57/274 trường THCS và 7/49 trường THPT đạt chuẩn quốc gia Tất cả các thôn, làng trong tỉnh đều có nhà văn hóa, thư viện và khu vui chơi giải trí; đồng thời tích cực thực hiện xóa đói, giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân.[22]

Một số kết quả đạt được của tỉnh Bắc Giang trong xây dựng nông thôn mới

Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đã triển khai trên địa bàn tỉnh trên 3 năm Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, đến nay Bắc Giang đã có 02 xã được công nhận là xã đạt 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới 100% xã lập xong đồ án xây dựng nông thôn mới Nhận thức của cán bộ và nhân dân về nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới đã có nhiều chuyển biến sâu sắc; đời sống nhân dân ngày cáng khá giả hơn; nhiều

mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa cho thu nhập cao đã hình thành và phát triển; đời sống văn hóa của nhân dân được phát huy; an ninh nông thôn được giữ vững Bình quân 202 xã đạt tỷ lệ 10,2 tiêu chí; 40 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 bình quân đạt 14,9 tiêu chí… Đến hết năm 2013, toàn tỉnh có thêm 1 xã đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới (trừ xã điểm Tân Thịnh (huyện Lạng Giang) đã hoàn thành 19/19 tiêu chí); đạt từ 15-18 tiêu chí có 25 xã; đạt từ 10-14 tiêu chí có 88 xã; đạt từ 5-9

Trang 35

tiêu chí: 85 xã và còn 3 xã khó khăn mới đạt chuẩn dưới 5 tiêu chí Tổng nguồn vốn xây dựng nông thôn mới ở 40 xã thực hiện trong giai đoạn 2011-

2015 đạt trên 363 tỷ đồng; cứng hóa trên 190 km đường giao thông liên xã, liên thôn và khoảng 40 km kênh mương nội đồng; toàn tỉnh đã xây dựng được

50 cánh đồng mẫu, cánh đồng cho thu nhập cao; hình thành 124 mô hình sản xuất tập trung theo hướng phát huy thế mạnh các loại cây, con của địa phương;

Tham luận tại hội nghị, đại biểu đã nêu ra một số tiêu chí khó thực hiện như: tiêu chí số 4 về điện nông thôn còn gặp một số khó khăn khi thực hiện, nhất là tại một số xã vùng cao; tiêu chí 17 về vệ sinh môi trường nông thôn và tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa… Bên cạnh đó, nhiều đơn vị cũng chia

sẻ kinh nghiệm và cách làm sáng tạo như: Sư đoàn 3 đã cùng địa phương tham gia làm đường giao thông, xây dựng trạm y tế xã, thăm hỏi, chăm lo cho các hộ nghèo vào các dịp lễ tết, ngày truyền thống với kinh phí hàng tỷ đồng; Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã huy động các nguồn vốn

và chuyển dịch cơ cấu vốn cho vay phát triển nông nghiệp và nông thôn trên 8.000 tỷ, hàng năm 40 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 được vay khoảng 1.500 tỷ đồng Thành phố Bắc Giang chia sẻ kinh nghiệm lồng ghép nhiều biện pháp để khuyến khích nông dân chuyển dịch cây trồng và đẩy nhanh tiến độ các công trình xây dựng nông thôn; kinh nghiệm vận động nhân dân hiến trên 10.000 m2 đất để làm đường giao thông và nhà văn hóa… Năm 2014, BCĐ tỉnh đã đề ra mục tiêu hoàn thành thêm 12 xã nông thôn mới; trong đó chú trọng phát triển hạ tầng giao thông nông thôn và chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân; triển khai các mô hình sản xuất có sự tham gia của “4 nhà”

Phát biểu kết luận hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Hải hoan nghênh, đánh giá cao sự tham dự các các đại biểu, hoan nghênh các tập thể, cá

Trang 36

nhân có nhiều thành tích trong công tác xây dựng NTM đã “ngấm” đến thôn bản và người dân Do kết quả năm 2013 đạt được khá tốt, cán bộ, nhân dân đã chuyển hóa nhận thức, xây dựng NTM trở thành nguyện vọng của người dân Đến nay, qua kiểm tra trên thực tế đã nhận thấy những thay đổi về diện mạo của nông thôn: đường giao thong lien xã, đường làng ngõ xóm, bờ vùng, bờ thửa được xây dựng chỉnh trang quy củ hơn, nhà cửa được xây dựng chỉnh trang nề nếp hơn, đời sống người dân ổn định hơn, an ninh nông thôn được giữ vững hơn.[21]

Trang 37

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở

xã Bộc Bố

3.1.2 Địa điểm & Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi Về không gian: Đề tài thực hành tại xã Bộc Bố – Pác Nặm – Bắc Kạn

Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội ở xã Bộc Bố – huyện Pác Nặm – Bắc Kạn

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Tại xã Bộc Bố – Pác Nặm – Bắc Kạn

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ 01/2014 đến 27/04/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

-Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn xã Bộc Bố

- Đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố

- Phân tích những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố

- Đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bộc Bố

Trang 38

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra

Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên: Trong 15 thôn trong

xã, chọn ngẫu nhiên 3 thôn, sau đó chon ngẫu nhiên mỗi thôn 20 hộ để điều tra Đối với các tổ chức tôi tiến hành chọn 3 tổ chức xã hội, chỉ chọn 3 tổ chức đại diện và trong đó 9 người/tổ chức chia đều cho 3 xóm, 3 tổ chức đã chọn là hội phụ nữ, chi đoàn thanh niên và hội nông dân, trong xã hội tôi thấy

3 tổ chức này có sự gắn kết nhiều hơn với người dân, họ làm việc thông qua người dân và đặc biệt là 3 tổ chức này có sự tham gia nhiều nhất của người dân, trong các công trình thi công xây dựng mô hình nông thôn mới tổ chức tham gia nhiều nhất là hội phụ nữ và hội nông dân và chi đoàn thanh niên là tầng lớp trẻ là nòng cốt của đất nước cũng như trong xây dựng nông thôn mới của xã, là họ nguồn lực quan trọng có thể là chủ yếu của gia đình, vậy qua những lý do trên tôi đã chọn 3 tổ chức trên để điều tra

3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Các thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: Từ UBND xã

và các bộ phận liên quan như: bộ phân nông nghiệp và phát triển nông thôn,

bộ phận địa chính,…

3.4.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Số liệu sơ cấp được thu thập qua quá trình điều tra thực tế các hộ tại địa bàn nghiên cứu Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), kết hợp với quan sát thực tế

PRA là một phương pháp nghiên cứu phát triển nông thôn, là một tập hợp hệ thống các công cụ nghiên cứu, thông qua các công cụ này, cán bộ nghiên cứu và người dân cùng phát hiện vấn đề, nghiên cứu và đề xuất hướng giải quyết, phối hợp thực hiện và cùng rút ra bài học kinh nghiệm Các công

cụ PRA chủ yếu mà đề tài sử dụng là phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận có sự

Trang 39

tham gia Quá trình thảo luận có thể diễn ra giữa những người dân với nhau, quá trình này có thể diễn ra tại các buổi họp thôn, các địa điểm tụ tập đông người, các cuộc nói chuyện nhỏ giữa điều tra viên và người dân Thảo luận nhóm còn diễn ra với các cán bộ xã, thôn và giữa cán bộ với người dân Địa điểm diễn ra các cuộc thảo luận này chủ yếu là UBND xã, nơi họp thôn

Phỏng vấn bán cấu trúc là phương pháp phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi, bảng câu hỏi chỉ xây dựng với những nội dung chính Trong quá trình phỏng vấn người phỏng vấn có thể phát triển các câu hỏi, để bổ xung cho nội dung nghiên cứu

3.4.3 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

- Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả để phân tích thực trạng quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã

- Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng chương trình Microsft Office Excel

- Phương pháp đánh giá phân tích thông qua lấy ý kiến của nông dân trong điều tra hộ dân và thảo luận nhóm

Trang 40

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Bộc Bố là một xã nằm ở trung tâm huyện Pác Nặm Có tổng diện tích

tự nhiên là 5.336,53 ha Phía Bắc giáp xã Bằng Thành; Phía Nam giáp xã Cổ Linh; Phía Đông giáp xã Xuân La; Phía Tây giáp xã Giáo hiệu và Nhạn Môn

4.1.1.2 Địa hình

Xã Bộc Bố có địa hình đồi núi tương đối dốc, có khả năng phát triển các loại cây lâu năm và cây hàng năm, về lâu dài trên địa hình này chủ yếu là phát triển cây lương thực, rau màu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày đó là những yếu tố thuận lợi cho việc bố trí sử dụng đất Khu vực xã Bộc Bố còn có sông, suối và các khe nước nhỏ, chất lượng nước khá tốt cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã

4.1.1.3 Khí hậu thời tiết

Khí hậu của xã Bộc Bố thuộc tiểu vùng khí hậu chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền núi đông bắc Việt Nam, mùa đông lạnh khô hanh, mùa hè nóng ẩm

mưa nhiều

- Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình: 210c

Nhiệt độ trung bình thấp là 15oc Từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau

Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 27oc

Biên độ nhiệt giữa ban ngày và ban đêm khoảng 5 – 9oc

Sự chênh lệch nhiệt độ giưa tháng cao nhất và tháng thấp nhất từ 10- 12oc,

cá biệt có ngày tới 39oc vào mùa hè và xuống tới 5oc vào mùa đông làm ảnh hưởng đến đời sống và khả năng sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất ở xã Bộc Bố qua các năm (2011 – 2013) - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất ở xã Bộc Bố qua các năm (2011 – 2013) (Trang 43)
Bảng 4.2: Bảng tình hình sản xuất một số cây trồng chính - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.2 Bảng tình hình sản xuất một số cây trồng chính (Trang 46)
Bảng 4.6 : Cách tiếp cận thông tin của người dân đối với chương trình nông - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.6 Cách tiếp cận thông tin của người dân đối với chương trình nông (Trang 54)
Bảng 4.7: Cách tiếp cận thông tin của các tổ chức đối với chương trình - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.7 Cách tiếp cận thông tin của các tổ chức đối với chương trình (Trang 56)
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hiểu biết của người dân và mức độ trao đổi - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hiểu biết của người dân và mức độ trao đổi (Trang 58)
Bảng 4.11: Đánh giá mức độ tự nguyện của các tổ chức xã hội khi - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.11 Đánh giá mức độ tự nguyện của các tổ chức xã hội khi (Trang 63)
Bảng 4.14: Những công việc của người dân khi tham gia vào - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.14 Những công việc của người dân khi tham gia vào (Trang 67)
Bảng 4.16: Đánh giá của người dân và các tổ chức về vai trò của - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.16 Đánh giá của người dân và các tổ chức về vai trò của (Trang 70)
Bảng 4.17: Đánh giá của người dân và các tổ chức xã hội về - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.17 Đánh giá của người dân và các tổ chức xã hội về (Trang 72)
Bảng 4.18 : Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.18 Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong (Trang 75)
Hình  thức  tham gia - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
nh thức tham gia (Trang 77)
Bảng 4.19. Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.19. Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội (Trang 77)
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sự tham gia của người dân vào - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sự tham gia của người dân vào (Trang 80)
Bảng 4.20: Người dân tham gia tập huấn và ứng dụng kĩ thuật trong sản xuất - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.20 Người dân tham gia tập huấn và ứng dụng kĩ thuật trong sản xuất (Trang 80)
Bảng 4.22: Người dân và các tổ tham gia lao động - Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bộc Bố, Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn.
Bảng 4.22 Người dân và các tổ tham gia lao động (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w