Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã Bản Ngoại - Đại Từ - tỉnh Thái Nguyê
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Thị Giang
Thái Nguyên - 2014
Trang 2Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khoá học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã Bản Ngoại - Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên với đề tài:
“Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bản Ngoại, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên”
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Giang giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp
đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Bản Ngoại, các ban ngành cùng nhân dân trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Hà Hoàng Lâm
Trang 3Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của xã Bản Ngoại từ năm 2011- 2013 27
Bảng 4.2: Bảng tình hình sản xuất một số cây trồng chính tại xã Bản Ngoại qua 3 năm 2011 - 2013 29
Bảng 4.3: Bảng tình hình chăn nuôi ở xã Bản Ngoại qua 3 năm 2011- 2013 31
Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động xã Bản Ngoại qua 3 năm 2011-2013 32
Bảng 4.5: Tình hình cơ sở hạ tầng qua 3 năm 2011-2013 34
Bảng 4.6: Hiểu biết của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới và mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 36
Bảng 4.7: Hiểu biết của các tổ chức xã hội về chương trình xây dựng nông thôn mới và mức độ thông tin với cán bộ phát triển nông thôn 38
Bảng 4.8: Những công việc của người dân khi tham gia vào xây dựng nông thôn mới 40
Bảng 4.9: Những công việc của các tổ chức xã hội khi tham gia vào xây dựng nông thôn mới 42
Bảng 4.10: Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong việc thảo luận chiến lược phát triển nông thôn 44
Bảng 4.11: Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong việc lập kế hoạch phát triển nông thôn 46
Bảng 4.12: Người dân tham gia tập huấn và ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất 48
Bảng 4.13 Các tổ chức tham gia tập huấn khoa học – kỹ thuật 51
Bảng 4.14: Cơ cấu nguồn vốn xây dựng mô hình xây dựng nông thôn xã
năm 2013 53
Bảng 4.15: Người dân góp sức lao động vào xây dựng công trình nông thôn 55
Bảng 4.16: Người dân đóng góp tiền xây dựng các công trình nông thôn 55
Bảng 4.17: Lý do người dân xây dựng mô hình nông thôn mới 57
Bảng 4.18: Lý do các tổ chức tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới 59
Bảng 4.19: Đánh giá của người dân và các tổ chức về vai trò của ban xây dựng nông thôn mới 60
Bảng 4.20: Đánh giá của người dân và các tổ chức xã hội về hoạt động của ban quản lý xây dựng nông thôn mới 62
Trang 4Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hiểu biết của người dân và mức độ trao đổi thông
tin với cán bộ phát triển nông thôn của người dân 37 Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sự tham gia của người dân vào các lớp tập huấn 49
Trang 5PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 6Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở khoa học lý luận 5
2.1.1 Khái niệm nông dân 5
2.1.2 Các tổ chức xã hội 5
2.1.3 Khái niệm phát triển nông thôn 6
2.1.4 Mô hình nông thôn mới 6
2.1.4.1 Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới theo đề án của Bộ NN&PTNT 7
2.1.4.2 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới theo đề án của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 8
2.1.5 Sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình nông thôn mới 10
2.1.5.1 Lý luận của sự tham gia 10
2.1.5.2 Những đặc điểm nâng cao vai trò của người dân 12
2.1.5.3 Sự tham gia 13
2.1.5.4 Các hình thức tham gia 13
2.1.5.5 Mức độ tham gia 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong phát triển nông thôn 14
2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
Trang 73.2.1 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 23
3.4.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 23
3.4.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 23
3.4.1.3 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân 23
3.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 24
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
4.1.1.1 Vị trí địa lý của xã 25
4.1.1.2 Địa hình diện mạo của xã 25
4.1.1.3 Khí hậu thời tiết 25
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên 26
4.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế 28
4.1.2.2 Đặc điểm về xã hội 32
4.1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng 33
4.2 Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dưng nông thôn mới tại xã Bản Ngoại 36
4.2.1 Sự hiểu biết của người dân và các tổ chức xã hội xây dựng nông thôn mới 36 4.2.1.1 Sự hiểu biết của người dân trong xây dựng nông thôn mới 36
4.2.1.2 Sự hiểu biết của các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới 38
4.2.2 Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Bản Ngoại 39
4.2.2.1 Những công việc người dân và các tổ chức xã hội tham gia vào xây dựng nông thôn mới 39
4.2.2.2 Các hoạt động đã thực hiện trong chương trình nông thôn mới có sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội tại xã Bản Ngoại 42
Trang 8dựng nông thôn mới 60
4.3 Những khó khăn ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân và một số tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn trên địa bàn xã Bản Ngoại 63
4.4 Một số giải pháp để nâng cao sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên 65
4.4.1 Giải pháp chung 65
4.4.2 Giải pháp cụ thể 65
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Kiến nghị 69
5.2.1 Đối với các cấp chính quyền 69
5.2.2 Đối với người dân nông thôn 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 9đó cả Nước bước vào công cuộc xây dựng kinh tế, xây dựng Chủ nghĩa xã hội Nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và bị cấm vận về mọi mặt, tình trạng quan liêu, bao cấp gây ra tình trạng khủng hoảng trầm trọng, kinh tế - xã hội nước ta ngày càng trở nên phức tạp và trì trệ
Xuất phát từ tình hình đó, hàng loạt câu hỏi đặt ra đất nước ta cần phải đổi mới, ngay sau đại hội IV của Đảng (1986), chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn đã đặt ra những thay đổi căn bản Tuy nhiên, chính sách này chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn có hiệu quả, thiếu tính bền vững, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp nông thôn, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn
Nhằm khắc phục tình trạng trên, Đảng và Nhà Nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách nhằm phát triển kinh tế nông thôn Vấn đề quan trong đặt ra là cần phải tìm ra mô hình phát triển nông thôn phù hợp với bối cảnh nông thôn Việt Nam hiện tại và tương lai, trên cơ sở phát huy nội lực của cộng đồng nông thôn Vì vậy, để có thể thay đổi được toàn diện bộ mặt nông thôn Việt Nam thì vấn đề phát triển con người cần được quan tâm hàng đầu, trong tổ chức cộng đồng nông thôn lấy người dân làm trọng tâm, định hướng phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2010 của Đảng ta, tại đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X đã xác định: “ Hiện nay và nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp,
nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng”, là vấn đề chiến
lược trong phát triển kinh tế - xã hội góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh
tế, là cơ sở ổn định chính trị và an ninh quốc phòng, là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước trong quá trình CNH - HĐH theo hướng
xã hội chủ nghĩa
Trang 10Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai rất nhiều chương trình, dự
án nhằm thay đổi bộ mặt của người dân nông thôn như: Chương trình 135, chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chương trình nước sạch và nhiều dự
án phát triển sản xuất,… Tuy nhiên, những chương trình, dự án này chỉ mới giải quyết một số vấn đề riêng rẽ, chưa được triển khai đồng bộ trên tất cả các xã trong cả nước
Để giải quyết vấn đề trên và thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành “Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới” (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009) và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng Nông thôn mới trên cả nước Tuy thời gian triển khai thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới chưa lâu nhưng các địa phương đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đời sống của người dân ở các xã được nâng lên rõ rệt
Bản Ngoại là một xã miền núi xã nằm ở phía tây bắc huyện Đại Từ, có tuyến đường giao thông quan trọng của tỉnh là quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi Tuyên Quang chạy qua trung tâm xã cùng tuyến đường sắt Quán Triều- Núi Hồng đi qua địa bàn, xã gồm có 19 xóm, số hộ 2045 hộ, 7024 nhân khẩu, trình độ dân trí không đồng đều, hộ nghèo còn 454 hộ chiếm 25% Có đất đai thổ nhưỡng tương đối tốt, song địa hình khá phức tạp đồi núi xen kẽ với đồng bằng, và do đó cũng ảnh hưởng đến công tác xây dựng xã, nhiều năm qua đã
có những chủ trương, những dự án về nông thôn ở xã và đã đạt được những kết quả đáng kể, nhưng qua đó cũng có nhiều bất cập xảy ra Hạ tầng cơ sở trong xã đã được tu sửa khang trang song không đạt tiêu chuẩn, có 2 nhà máy sản xuất nhưng chưa có quy hoạch, sản xuất gần khu dân cư, trường học Tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn là vấn đề lớn của xã Văn hóa xã hội còn chưa thực sự ổn định, sản xuất nông nghiệp còn chưa thực sự ổn định, sản xuất nông nghiệp còn nhiều bất cập, khó khăn, còn chưa phù hợp với hướng phát triển theo CNH – HĐH Người dân còn chưa nhiệt tình tham gia vào chương trình dự án của xã, người dân chưa thấy được lợi ích của mình từ các
dự án đó Cuộc sống người dân gặp nhiều khó khăn Chương trình xây dựng
Trang 11nông thôn mới hiện nay là việc làm cấp thiết đối với mỗi địa phương trên cả nước nói chung cũng như xã Bản Ngoại nói riêng, nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cũng như mức sống cho người dân trên địa bàn xã Xuất phát từ thực
trạng trên, em xin nghiên cứu đề tài: “Sự tham gia của người dân và các tổ
chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bản Ngoại, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân và các tổ chức trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Đưa ra được những khó khăn ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân
và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân
và các tổ chức trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
- Vận dụng và phát huy kiến thức đã học tập và nghiên cứu
- Góp phần toàn diện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn hiện nay
- Đề tài được coi là một tài liệu tham khảo cho trường, khoa, các cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo
Trang 121.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đánh giám sát thực hơn thực trạng xây dựng nông thôn mởi xã Bản Ngoại, huyện Đại Tư, tỉnh Thái Nguyên
- Qua đó giúp người dân nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của xây dựng nông thôn mới, đưa ra những giả pháp để tăng cường sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới nói riêng và phát triển nông thôn nói chung
- Kết quả của đề tài là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà đầu tư đưa ra quyết định mới, hướng đi mới để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học lý luận
2.1.1 Khái niệm nông dân
Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời
kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình
thành nên giai cấp nông dân, có vị trí vai trò nhất định trong xã hội
Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác
2.1.2 Các tổ chức xã hội
Khái niệm tổ chức xã hội được dùng với nhiều nghĩa khác nhau trong các ngành khoa học khác nhau và trong tư duy đời thường Tổ chức xã hội có thể được hiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội, hoặc là một dạng hoạt động, hay là mức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành phần của một chỉnh thể Khái niệm tổ chức xã hội được xem như một thành tố của cơ cấu xã hội; với ý nghĩa này, tổ chức xã hội chính là một hệ thống của quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định Như vậy định nghĩa này nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong tổ chức và các mối quan hệ ở đây
là các mối quan hệ xã hội Nếu như giữa tập hợp các cá nhân không có những quan hệ xã hội thì họ chưa được coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào
đó Những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt được những lợi ích nhất định Tóm lại, có thể hiểu tổ chức xã hội là một nhóm người có mối quan hệ với nhau, giúp đỡ lẫn nhau và hoạt động cùng mục tiêu và cùng lợi ích như nhau
Các tổ chức ở xã như: hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, …
Trang 142.1.3 Khái niệm phát triển nông thôn
Nông thôn là vùng khác với đô thị ở đó có một số cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn
Phát triển nông thôn là phạm trù rộng được nhận thức với nhiều quan điểm khác nhau
Theo ngân hàng thế giới (1975): “ Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong nhưng người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển
” (Mai Thanh Cúc, 2005).[3]
Phát triển nông thôn có tác động theo chiều khác nhau Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất nước (Mai Thị Cúc, 2005).[3]
2.1.4 Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí
Trang 15Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tự KHKT hiện đại mà vẫn giữ được những nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung, mô hình nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng hợp các đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng những yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có)
ở tính tiên tiến về mọi mặt”
* Những đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới từ đề án của bộ NN&PTNT
- Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng - xã
- Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của nông dân
- Người dân chủ động trong việc xây dựng kế hạch phát triển, thu hút sự tham gia đầy đủ của các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được mục tiêu
đề ra có tính hiệu quả cao
- Việc thực hiện kế hoạch dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của bản thân người dân, thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài là chính
- Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao
- Nguồn vốn từ bên ngoài được phân bổ và quản lý sử dụng có hiệu quả Trên đây là những đặc điểm tạo nên nét riêng biệt của mô hình nông thôn mới chưa từng có trước kia
2.1.4.1 Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới theo đề án của
Bộ NN&PTNT
- Về kinh tế, nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị
trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất và giao lưu buôn bán
- Về chính trị, phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn
lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã
Trang 16- Về văn hóa xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp
nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
- Về con người, chú trọng nâng cao trình độ dân trí, nhằm phát huy nội
lực của người dân, tiếp thu những tiến độ khoa học kỹ thuật vận dụng vào sản xuất Mặt khác cần khuyến khích người dân tích cực tham gia các hoạt động lập kế hoạch, giám sát, điều chỉnh và đánh giá các công trình phát triển nông thôn, xóm Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất giỏi
- Về môi trường, xây dựng củng cố bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái
Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
2.1.4.2 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới theo đề án của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
* Cấp tỉnh
UBND tỉnh xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể như sau:
- Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm > 30%
- Tỉnh Nông - công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 10- 30%
- Tỉnh công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm < 10%
Ngoài các tiêu chí trên, để đạt chuẩn nông thôn tỉnh phải có 80%
số huyện trong tỉnh đạt tiêu chí huyện nông thôn mới
* Cấp huyện
UBND huyện chịu trách nhiệm chính trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới ở huyện Huyện cử các cán bộ có trình độ am hiểu nông dân, nông dân phối hợp với tư vấn kế hoạch phát triển của bộ tham gia xây dựng phát triển xã Bên cạnh đó còn thẩm định kỹ thuật các công trình xây dựng cơ bản trong kế hoạch của xã cố vấn lớn theo quy định hiện hành
Tiêu chí nông thôn mới phụ thuộc đặc điểm, điều kiện tự nhiên của từng vùng: Trung du, miền núi hay các huyện đồng bằng, hải đảo Ngoài
ra huyện phải có 75% số xã trong huyện đạt tiêu chí xã nông thôn mới
* Cấp xã
Chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp xây dựng nông thôn mới ở các thôn, xã kết hợp với tư vấn của bộ, tham gia xây dựng kế hoạch tổng thể của
Trang 17thôn và giúp cho cộng đồng thôn lựa chọn kế hoạch nhằm phù hợp quy hoạch lớn của xã
Thẩm định các kế hoạch phát triển và kỹ thuật các công trình xây dựng cơ bản của thôn, tiêu chí xã nông thôn mới phụ thuộc vào đặc điểm
tự nhiên của môi xã: Xã ven đô, đồng bằng, miền núi hải đảo
Ngoài ra, xã phải có 90% số thôn, bản trong xã đạt tiêu chí nông thôn mới
* Cấp thôn bản
Xây dựng kế hoạch phát triển thôn dưới sự tư vấn của cán bộ tư vấn Bộ, tỉnh, huyện và xã
Thôn, bản đạt tiêu chí nông thôn mới khi đạt 90% các tiêu chí đề
ra do nhân dân tự xác định và đã kiểm tra theo từng giai đoạn cụ thể
Một số chỉ tiêu để xây dựng mô hình nông thôn mới, được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 491/ QĐ-TTg(16/4/2009) ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí như: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện nhà ở dân cư, thu nhập hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị hội vững mạnh, an ninh, trật tự xã hội; và được chia thành 5 nhóm cụ thể:
Bổ sung nghị định 342 sửa đổi các tiêu chí NTM – theo điều kiện 1:
Sửa đổi 5 tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại quyết định số 491/QD – TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của thủ tướng chính phủ như sau
(1) Tiêu chí 07 về chợ nông thôn được sử chữa như sau:
“ Chợ theo quy hoạch đạt tiêu chuẩn quy định”
(2) Tiêu chí số 10 về thu nhập như sau:
Trang 18(a) Nội dung tiêu chí: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn (triệu đồng/người)
(b) Tiêu chí chung cho cả nước
- Năm 2012: đạt 18 triệu đồng/ người
- Đến năm 2015: Đạt 26 triệu đồng / người
- Đến năm 2020: Đạt 44 triệu đồng/người
c) Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng (theo phụ lục đính kèm) Chỉ tiêu cụ thể đạt chuẩn theo từng năm giữa các giai đoạn do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp theo bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn chi tiết
d) Các xã thuộc nghị quyêt 30a/2008/NQ – CP được áp dụng mức của vùng trung du và miền núi phía bắc
e) Các xã đạt tiêu chuẩn phải có thu nhậm bình quân đầu người của xã không thấp hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người tối thiểu khu vực nông thôn của vùng do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp cùng với bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn chi tiết và công bố
(3) Tiêu chí số 12 về cơ cấu lao động được sửa đổi bổ sung như sau: a) Tiêu chí: Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên
b) Nội dung tiêu chí: Tỷ lệ người dân làm việc trên dân số trong độ tuổi lao động
c) Chỉ tiêu chung và từng vùng: Đạt từ 90% trở lên
(4) Tiêu chí số 14 về giáo dục được sửa đổi như sau:
“ 14.1 Phổ cập giáo dục trung học cơ sở”
5 Tiêu chí số 15 về y tế được sửa đổi như sau:
a) Nội dung: “ 15.1 tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế”
b) Chỉ tiêu chung cho cả nước Đạt từ 70% trở lên
c) Chỉ tiêu cụ thể cho các vùng: Đạt.[23]
2.1.5 Sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình nông thôn mới
2.1.5.1 Lý luận của sự tham gia
Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng mô hình nông thôn mới được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ
Trang 19trong thí điểm mô hình các nội dung trong vai trò của người dân vào việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu là:
- Dân biết: Là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân
về những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; người dân lắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như mục đích xây dựng công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi
- Dân bàn: Bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế
hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính… Trong nội bộ dân cư hưởng lợi
- Dân đóng góp: Là một yếu tố không chỉ là phạm trù vật chất, tiền bạc
mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng hình thức đóng góp bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
- Dân làm: Chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào
các hoạt động phát triển nông thôn như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm
và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy trì bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân
- Dân kiểm tra: Có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có
sự giám sát đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của đảng và nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình
Trang 20Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính
- Dân quản lý: Đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã
tham gia; Các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia tu sửa, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình
- Dân hưởng lợi: Đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân
đã tham gia, tuy nhiên cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng tăng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính tín dụng ,… nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức
độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập,…
2.1.5.2 Những đặc điểm nâng cao vai trò của người dân
Phát triển nông thôn mới được thực hiện trên cơ sở động viên toàn thể nhân dân phát huy nội lực theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi thành quả Bên cạnh
đó, cần được hỗ trợ tích cực, có hiệu quả từ các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương về vốn, kỹ thuật và cơ chế chính sách
Nâng cao vai trò của người dân là nâng cao thể chế quản lý, tự quản của cộng đồng người dân như xây dựng các hương ước, quy ước, nội quy,… phát huy vai trò của trưởng làng, trưởng bản, trưởng dòng họ và các tổ chức tôn giáo tại địa phương; thực hiện đoàn kết trong toàn dân, xây dựng các mối quan hệ tốt trong thôn, xóm, làng, bản Phát huy tinh thần thương yêu đùm
Trang 21bọc, giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, phòng chống và đấu tranh chống lại các tệ nạn xã hội; đào tạo việc lập và thực hiện các dự án phát triển, cùng những việc vận hành và bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ; đào tạo quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thiết lập các tổ, nhóm quản lý, vận hành và tu sửa, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn quy mô nhỏ, hình thành các tổ nhóm tiết kiệm, tín dụng nông thôn
- Được cùng quyết định, lựa chọn các giải pháp hay xác định các vấn đề
ưu tiên của cộng đồng
- Có trách nhiệm cùng mọi người đóng góp công sức, tiền của để thực hiện các lợi ích mang tính lợi ích chung
Trang 22- Người dân tự lập kế hoạch dự án và quản lý điều hành, kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tăng cường sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong phát triển nông thôn
2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nền nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của nền kinh
tế toàn cầu đang tăng trưởng như vũ bão Vì vậy, việc học tập những kinh nghiệm phát triển nông thôn các nước là một yếu tố rất quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế nước ta hiện nay
a Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Năm 1997, Trung Quốc chính Thức có văn kiện quy định cụ thể về hệ thống chính sách với vấn đề “tam nông”, mặc dù vậy vấn đề tam nông đã tồn tại và phát triển ở Trung Quốc từ năm 1949, khi nhà nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời Giai đoạn trước đấy, do thực hiện “cơ chế khoán” nên người dân phải đóng góp quá nhiều Do vậy chính phủ Trung Quốc đã có những chính sách mới từ năm 1977 để giảm nhẹ đóng góp của nhân dân và ổn định tình hình, hạn chế hiện tượng lao động thất nghiệp bỏ đồng ruộng đi ra thành thị
Xây dựng “NTM xã hội chủ nghĩa” được trung ương đảng cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc nêu ra năm 2006, với phương châm “cho nhiều, lấy
ít, nuôi sống” Cũng giống như Việt Nam, nông nghiệp Trung Quốc chưa đảm bảo mức sống của người dân, khoảng cách đô thị và nông thôn ngày càng xa, nông dân thiếu đất sản xuất Do vậy mục tiêu của xây dựng NTM ở Trung Quốc là: Tăng năng suất sản xuất ở nông thôn, xây dựng CSHT nông thôn,
Trang 23phát triển xã hội và mức sống Trong kế hoạch 5 năm (2006-2010), Trung Quốc đề ra 7 nhiệm vụ chính để tăng lợi nhuận cho nông dân và 32 biện pháp
có lợi cho nông dân để phát triển nông nghiệp hiện đại
(htt://nongthonmoi.gov.vn) [7].
Trung Quốc không xây dựng Bộ tiêu chí NTM cụ thể như Việt Nam mà chỉ đặt ra 5 tiêu chí chung: Sản xuất phát triển, cuộc sống sung túc, diện mạo sạch sẽ, thôn xóm văn minh, quản lý dân chủ Vấn đề đất đai được đặc biệt quan tâm trong xây dựng NTM ở Trung Quốc Ruộng đất ở các thôn do doanh nghiệp đứng ra tổ chức sản xuất tập chung một hoặc nhiều loại sản phẩm Người nông dân cho doanh nghiệp thuê đất rồi vào làm công nhân, được doanh nghiệp hướng dẫn, tập huấn nghề Nông dân vừa có thu nhập từ tiền lương, và vừa có thu nhập từ tiền cho thuê đất Công tác quy hoạch trong xây dựng NTM ở Trung Quốc cũng rất bài bản, đồng bộ Cấp thôn được chọn làm đơn vị quy hoạch Việc công khai quy hoạch với dân được coi trọng đặc biệt, tại bất cứ mô hình NTM nào được triển khai cũng đều có đầy đủ sơ đồ, bản vẽ thiết kế được treo nơi công cộng Khi thu hồi đất, cách làm cũng dân chủ, công khai, bàn bạc với dân trên nguyên tắc “không để cho dân thiệt”
Song song với nguyên tắc quy hoạch, nhà nước Trung Quốc cũng rất chăm lo và có bước đi hợp lý trên 2 lĩnh vực: áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ khí hóa vào sản xuất nông nghiệp Điều quan trọng nữa là giải quyết công ăn việc làm được coi trọng, chính sách xã hội với người nông dân đặc biệt quan tâm, gắn trách nhiệm của các đơn vị sử dụng đất của nông dân với quyền lợi lâu dài của nông dân Làm như vậy, trong trường hợp bị thu hồi đất, người nông dân vẫn không bị giảm quyền lợi
Bên cạnh đó, khi xây dựng NTM, Trung Quốc xây dựng một đội ngũ cán bộ thôn có năng lực, có trình độ quản lý, hiểu biết khoa học kỹ thuật Đây
là vấn đề quan trong mà xây dựng NTM ở Việt Nam cần phải học hỏi để tăng cường cho cán bộ cơ sở, có như vậy mới vận động được quần chúng nhân dân
tham gia xây dựng NTM (htt://nongthonmoi.gov.vn)[7].
b Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Phòng trào Saemaul Undong của Hàn Quốc: Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ I
Trang 24(1962 - 1966) và thứ II (1966 - 1967) với chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, chính phủ Hàn Quốc phát động phong trào
Saemaul Undong Mục tiêu của phong trào này là “ nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng
là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn” Theo đó, chính phủ
vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tạo trong đại bộ phận dân cư nông thôn Điểm đặc biệt của phong trào ở Hàn Quốc là nhà nước chỉ hỗ trợ một phần nguyên, vật liệu còn nông dân mới chính là người ra quyết định và thực thi mọi việc Saemaul undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ trong xây dựng với việc ban bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong trào Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp làng xã tham dự cuộc họp của hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ các đại diện này Nhằm tăng thu nhập của nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc cho nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông Nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư từ nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác… năm 2005, Nhà nước ban hàn đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ, ngành, chính quyền phải hướng
về nông dân Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia giàu có,
hiện đại bậc nhất châu Á (htt://nongthonmoi.gov.vn) [13]
c Xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Trang 25Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau 4 năm thực hiện, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng, khẳng định việc
Trang 26lấy xã là địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo bộ tiêu chí nông thôn mới là phù hợp
Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn nông thôn mới được thực hiện trên 11 xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thụy Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hòa (kiên Giang) Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm các nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách, xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ đạo giữa các cấp trong việc xâu dựng nông thôn mới; Hình thành các mô hình trên thực tiễn về nông thôn mới để rút ra kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên diện rộng
Theo kết quả đánh giá của các địa phương, hầu hết các xã thí điểm đã thực hiện được trên 50% số lượng tiêu chí đề ra (trong đó, một số tiêu chí đã lượng hóa được thông qua các chỉ tiêu cụ thể, như: xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; huy động và sử dụng các nguồn lực; phát triển sản xuất; chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn; phát triển sự nghiệp y tế, văn hoá giáo dục,…), mô hình nông thôn mới xây dựng phù hợp với điều kiện địa phương Trong 19 tiêu chí thì việc lấy tiêu chí quy hoạch đặt lên hàng đầu là phù hợp vì đó là điều kiện tiên quyết Hạ tầng là khâu đột phá nên đặt ở vị trí thứ 2 là cần thiết bởi có tác động trực tiếp đến phát triển Kinh tế - Xã hội nông thôn Các tiêu chí khác như văn hóa, y tế, giáo dục môi trường, thu nhập
đời sống của dân cư nông thôn, xóa đói giảm nghèo, an ninh thôn xóm, Bố
trí ở các tiêu chí sau cũng khá hợp lý vì đó vừa là mục tiêu vừa là kết quả của phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới Như quy hoạch và thực hiện quy hoạch tốt ở Hải Dương; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ Long Nam; huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và Định Hòa; phát triển sản xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng ở Tan Thước; phong trào cải thiện điều kiện sống ở các hộ dân cư ở Tân Thịnh; liên kết sản xuất ở nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập… hiện các mô hình này là những
điểm thực tiễn được các địa phương khác đến tham quan và học tập Phát
Trang 27triển sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ môi trường được xác định là nội dung trọng tâm đặc biệt quan trọng của chương trình và được đẩy mạnh triển khai trong năm 2010 Đến nay, mỗi xã có ít nhất 4 đến 7 dự án, điểm trình diễn về sản xuất nông nghiệp
được thực hiện Ngoài sản xuất tập trung theo các dự án , hầu hết các xóm đã
tăng nguồn vốn hỗ trợ nông dân thông qua chương trình khuyến nông, khuyến công, đặc biệt là vốn tín dụng để hình thành các mô hình, dự án sản xuất có hiệu quả kinh tế Việc thực hiện kinh tế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới đã có hình thức đa dạng hơn, thu hút người dân tham gia nhiều hơn Xây dựng nông thôn mới được nhiều cán bộ, nhân dân ở cơ sở phấn khởi đón nhận, các xã điểm đã tổ chức để người dân đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế hoạch xây dựng nông thôn mới của xã, tham gia bàn bạc, lựa chọn công trình xây dựng hoặc các công việc nào cần làm trước, làm sau
* Tình hình xây dựng nông thôn mới ở một xã địa phương trong nước
a, Tình hình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hòa Bình
Trong những năm gần đây, tỉnh Hòa Bình đã đầu tư cho các lĩnh vực:
điện; thủy lợi; giao thông; giáo dục và đào tạo; y tế; văn hóa, thể thao; lao động, việc làm, giảm nghèo; đào tạo, nâng cao, bồi dưỡng kiến thức cho nông
dân; sinh hoạt và vệ sinh môi trường… Đến nay, diện mạo nông thôn tỉnh Hòa Bình đã có nhiều thay đổi, đời sống văn hóa tinh thần của người dân
được nâng lên Tuy nhiên, thực trang nông thôn tỉnh Hòa Bình có điểm xuất
phát thấp so với Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới theo Quyết định 491/QD-TTg ngày 16-4-2009 của Thủ tướng Chính phủ Để nông thôn của tỉnh Hòa Bình phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi sự
cố gắng, nỗ lực của tất cả các cấp, các ngành của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân Và để có tính pháp lý cũng như tính khả thi cao, ngày 6/8/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định 1285/2010/QĐ-UBND về xây dựng nông thôn mới tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2010-2020, trong
đó chọn làm điểm 11 xã (mỗi huyện, thành phố 01 xã) trong 3 năm
(2011-2013) để rút kinh nghiệm về phương pháp tổ chức triển khai, cách thức quản
lý, hình thức huy động các nguồn lực, đặc biệt là sự đóng góp của người dân trước khi tiến hành trên diện rộng
Trang 28Xây dựng văn hóa nông thôn mới được xác định trên hai mặt cơ bản: xây dựng cơ sở vật chất và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, đó cũng chính là nội dung của 2/19 tiêu chí (số 6 và số 16) về lĩnh vực văn hóa Hiệu quả của các chương trình mục tiêu và đặc biệt là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong 10 năm qua tạo tiền đề rất lớn để thực hiện các tiêu chí này
Việc lồng ghép thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội gắn với phong trào xây dựng gia đình văn hóa- Làng văn hóa.v.v… ngày càng đa dạng, phong phú Đến hết năm 2011, toàn tỉnh có 65% số làng được công nhận Làng văn hóa; 78% gia đình đạt tiểu chuẩn gia đình văn hóa; 100% số thôn, bản đã xây dựng được hương ước
Bên cạnh những thành tựu đạt được, tỉnh Hòa Bình còn một số hạn chế nhu mức hưởng thụ đời sống văng hóa tinh thần của nhân dân, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch với khu đô thị, vẫn còn một
số hủ tục dị đoan đốt vàng mã.v.v… tràn lan ở một số lễ hội đã ảnh hưởng
đến thuần phong mỹ tục và đời sóng tinh thần của người dân (http:// sovanha.hoabinh.gov.vn) [27]
Trong những năm tới cần tiếp tuc đổi mới và nâng cao chất lượng phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã tạo nền tảng vững chắc cùng với cơ chế, chính sách hỗ trợ các giải pháp cụ thể phù hợp với tình hình thực tiễn Có như vậy, tỉnh Hòa Bình mới hoàn thành các mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2015 góp phần vào thành tích xây dựng nông thôn mới của cả nước
b, Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thái Bình:
Triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới được 4 năm, thời gian không phải là dài đối với một chủ trương lớn, liên quan đến tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội nhưng tỉnh Thái Bình đã thu được những kết quả khá tốt, trở thành một trong những điểm sáng trong cả nước về xây dựng nông thôn mới
Là một tỉnh đồng bằng ven biển, Thái Bình có trên 100 nghìn ha đất nông nghiệp, dân số gần 1,8 triệu người Trong đó, có gần 90% số dân sống ở nông thôn và hơn 70% lao động làm nông nghiệp
Trang 29Thực tế cho thấy, khu vực nông thôn Thái Bình nhiều năm qua mặc dù
đã có những bước phát triển khá toàn diện, đời sống nông dân không ngừng được nâng cao, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với khu vực đô thị Cơ sở vật chất hạ tầng được quan tâm đầu tư, nhưng chưa đồng bộ và chưa đạt chuẩn về quy mô, chất lượng, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thúc đẩy phát triển sản xuất, đời sống
Xác định rõ điều đó, trong những năm qua, tỉnh Thái Bình đã có nhiều giải pháp để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Do đó, kinh
tế nông thôn có sự thay đổi khá mạnh trên từng lĩnh vực: nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện cả về trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá; văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ
Xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng Kinh tế -
Xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức xã hội hợp
lý, gắn với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, gắn với phát triển nông nghiệp với phát triển đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững, đời sống vật chất tinh thần của người dân được đảm bảo, nâng cao, các huyện đã đề ra kế hoạch xây dựng nông thôn mới ở địa phương
Về cơ chế phát huy vốn, huyện đã đưa ra và đa dạng hóa các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn, vốn của các cấp tỉnh, huyện, xã trực tiếp đầu tư vào ngân sách, vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, vốn đóng góp tự nguyện của dân theo pháp lệnh dân chủ cơ sở Mặt khác huyện tiếp nhận, quản lý, tập huấn kiến thức xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ hợp tác xã và cán bộ thôn, khối
Đảng bộ và chính quyền các cấp trong huyện cũng đã thực hiện tốt việc phân cấp đầu tư Chủ đầu tư xây dựng các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã là ban quản lý xây dựng nông thôn mới của xã do UBND các
xã thành lập Trong quá trình chuẩn bị đầu tư, các cáp chính quyền đã lấy ý kiến từ công đồng dân cư về báo cáo kinh tế - kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán các công trình cơ sở hạ tầng Ban giám sát công trình gồm đại diện HĐND, mặt trận, các đoàn thể đại diện cộng đồng dân cư hưởng lợi công trình do dân bầu, thực hiện giám sát các công trình cơ sở hạ tầng theo quy định hiện hành về giám sát đầu tư cộng đồng
Trang 30Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Tại xã Bản Ngoại - Đại Từ - Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ 15/1/2014 đến 27/4/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội xã Bản Ngoại, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội vào chương trình xây dựng nông thôn mới ở xã Bản Ngoại
- Đưa ra được những khó khăn ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân
và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 313.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.4.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Các thông tin thu thập từ nhiều nguồn khác nhau: Từ UBND xã và các
bộ phận liên quan như: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ phận địa chính Tổng hợp từ các văn bản, tài liệu, số liệu thống kê liên quan đến các chương trình xây dựng NTM, trong đó tập trung vào nội dung đến sự tham gia của người dân và các tổ chức cho thực hiện chương trình; tập hợp, phân tích
rõ sự tham gia của người dân, các cơ chế chính sách huy động, khó khăn, trở ngại đến sự tham gia của người dân và các tổ chức; Tổng hợp tài liệu từ các chương trình nông thôn trong nước và quốc tế để rút ra một số bài học kinh nghiệm về sự tham gia của của người dân và các tổ chức có thể áp dụng phù hợp cho xây dựng NTM ở Việt Nam
3.4.1.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập qua quá trình điều tra thực tế các hộ tại địa bàn nghiên cứu
Chọn mẫu:
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên: Trong 19 thôn trong
xã chọn ngẫu nhiên 3 thôn, 3 thôn đó là: thôn Ba Giăng, thôn Quang Trung,
và thôn Rừng Vần Và chọn ngẫu nhiên trong mỗi thôn 20 hộ để điều tra phỏng vấn Tổng số hộ điều tra là 60 hộ
Trong mỗi thôn chọn đại diện của 3 tổ chức đó là: hội phụ nữ, hội nông dân và chi đoàn thanh niên để tiến hành phỏng vấn Sở dĩ tôi chọn 3 tổ chức này là do trong xã hội tôi thấy 3 tổ chức này có sự tham gia nhiều nhất của người dân, hầu như mỗi hộ đều có thành viên tham gia vào 3 tổ chức này
và trong các công trình thi công xây dựng mô hình nông thôn mới tổ chức tham gia nhiều nhất là hội phụ nữ và hội nông dân và chi đoàn thanh niên Mỗi tổ chức ở một thôn sẽ phỏng vấn 3 cán bộ đại diện: Tổng số cán bộ của các tổ chức phỏng vấn ở một thôn là 9 cán bộ và của 3 thôn là 27 cán bộ
3.4.1.3 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
PRA là một phương pháp nghiên cứu phát triển nông thôn, là một tập hợp hệ thống các công cụ nghiên cứu, thông qua các công cụ này, cán bộ
Trang 32nghiên cứu và người dân cùng phát hiện vấn đề, nghiên cứu và đề xuất hướng giải quyết, phối hợp thực hiện cùng rút ra bài học kinh nghiệm Các công cụ PRA chủ yếu mà đề tài sủ dụng là phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận có sự tham gia Quá trình thảo luận có thể diễn ra giữa những người dân với nhau, quá trình này có thể diễn ra tại buổi họp thôn, các địa điểm tụ tập đông người, các cuộc nói chuyện nhỏ giữa các điều tra viên và người dân Thảo luận nhóm còn diễn ra với các cán bộ xã, thôn và giữa cán bộ với người dân Địa điểm diễn ra các cuộc thảo luận này chủ yếu là UBND xã, nơi họp thôn
3.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích thống kê mô tả để phân
tích thực trạng quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã
- Số liệu được tổng hợp và sử lý bằng chương trình Microsft Office Excel
Trang 33
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ranh giới hành chính của xã như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Phú Lạc;
+ Phía Tây Nam giáp xã Hoàng Nông;
+ Phía Nam giáp xã Tiên Hội;
+ Phía Tây giáp xã Phú Xuyên và La Bằng;
+ Phía tây Bắc giáp xã Phú Thịnh;
4.1.1.2 Địa hình diện mạo của xã
Bản Ngoại là một xã thuộc vùng miền núi với nhiều đồi cao và hệ thống ao đầm, mặt khác xã có sông Công và suối La Bằng chảy qua nên diện tích đất bằng phẳng cũng khá lớn Nhìn chung địa hình xã Bản Ngoại khá phức tạp đồi núi xen kẽ với đồng bằng
4.1.1.3 Khí hậu thời tiết
Cùng chung với chế độ kí hậu của tỉnh Thái Nguyên một năm chia thành 2 mùa rõ rệt:
- Chế độ nhiệt: Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ cao nhất trung bình 380C, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ thấp nhất trung bình 90C, số giờ nắng trung bình năm 1637 giờ
- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1750 mm Trong năm lượng mưa phổ biến không đều chủ yếu tập trung vào 3 tháng 8,9,10
Trang 34Lượng mưa thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 3 chỉ chiếm khoảng 15% lượng mưa hàng năm
- Chế độ gió: Có 2 hướng thịnh hành
+ Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió về thường mang theo rét
+ Gió Phơn (gió Lào ) thổi từ tháng 4 đến tháng 9 gây khô hạn
- Độ ẩm không khí bình quân năm 80% cao nhất trong năm trên 90% thấp nhất trong năm dưới 70%
* Đặc trưng của khí hậu là: Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm lớn, chế độ mưa tập trùng với bão, mùa nắng nóng có gió phơn Tây Nam khô nóng, mùa lạnh có gió Đông Bắc giá Hanh biểu hiện rõ đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa với những đặc điểm của thời tiết nêu trên, cần bố trí cơ cấu cây trồng, cơ cấu thời vụ thích hợp, né tránh các yếu tố bất lợi, tăng cường sử dụng đất kết hợp với sử dụng nhiều biện pháp phù hợp để nâng cao độ phì nhiêu cho đất
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Theo tài liệu thổ nhưỡng Thái Nguyên, kết hợp với điều tra khảo sát cho thấy: Trong tổng diện tích tự nhiên 1246,62 ha, ngoại trừ hệ thống kênh tưới, tiêu đất mặt nước chuyên dụng, ao hồ, phần diện tích còn lại chủ yếu là đất Feralit phát triển trên phù sa cổ, Đất xám mùn trên núi, Đất pha cát
* Nguồn nước
Nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp chủ yếu từ dòng Sông Công và suối La Bằng chảy qua địa bàn xã nên về mùa mưa lũ tình trạng ngập lụt xảy ra khá phổ biến, tuy nhiên xã có hệ thống kênh mương nội đồng, các
ao hồ trong khu dân cư nên tình trạng ngập úng không kéo dài
* Tài nguyên khoáng sản
- Bản Ngoại có tiềm năng khai thác cát, sỏi trên sông Công và suối La
Bằng chảy qua địa bàn xã
- Bản Ngoại có tiềm năng về khai thác quặng sắt mangan Đầm Bằng, với hai dự án khai thác tổng quy mô khoảng 100ha Hiện nay dự án đang trong quá trình nghiên cứu thăm dò và triển khai Đây là một trong những
Trang 35nguồn lực, động cơ tác động mạnh đến sự gia tăng cơ học của xã, công việc này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng
* Tài nguyên nhân văn
Xã Bản Ngoại có dân số 7103 người, chia làm 19 xóm dân cư tương đối đồng đều mang đậm nét phong tục tập quán vùng lúa nước, trình độ dân trí so với mặt bằng chung của huyện là cao, giàu truyền thống cách mạng, cần
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
2 Đất phi nông nghiệp 329,74 26,45 320,43 25,7 318,9 25,58
2.1 Đất ở tại nông thôn 35,2 2,82 38,45 3,08 41,09 3,296
2.3 Đất tôn giá, di tích tín
2.4 Đất nghĩa trang nghĩa địa 8,57 0,69 8,57 0,687 8,57 0,687
2.5 Đất kênh mương thủy lợi,
2.6 Đất có nước mặt chuyên dùng 41,37 3,32 38,9 3,12 32,81 2,63
3 Đất chưa sử dụng 11,34 0.91 12,47 1,0 9,09 0,73
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 10,45 0,84 11,77 0,94 8,42 0,675
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 0,98 0,079 0,7 0,06 0,67 0,054
(Nguồn: Thống kê UBND xã Bản Ngoại)
Trang 36Qua bảng 4.1 cho ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên từ năm 2011 đến năm 2013 của toàn xã là không đổi 1.246,62 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 918,63 ha (chiếm 73,69%) và đất phi nông nghiệp là 318,9ha (chiếm 25,58%) và đất chưa sử dụng là 9,09ha (chiếm 0,73% )
- Đất sản xuất nông nghiệp hầu hết là loại đất màu mỡ, độ phì nhiêu ổn định, nhưng do quá trình sản xuất của người dân mang tính truyền thống nên quá trình sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả chưa cao
- Do địa hình của xã nên diện tích đất lâm nghiệp phân bố đều các xóm, nhưng chủ yếu là các loại cây ăn quả và cây chè và một số it các loại cây vườn tạp
- Diện tích đất chưa sử dụng ở đây phân bố không đều, chỉ rải rác ở một số xóm vì diện tích đất này chưa có khả năng khai thác sử dụng nên để hoang
Tóm lại, qua phân tích tình hình sử dụng đất ở xã Bản Ngoại, có thể thấy
xã Bản Ngoại là một xã thuần nông có vị trí đại lý, địa hình phức tạp đồng bằng xen kẽ đồi núi, đất đồi núi dễ bị xói mòn, rửa trôi khi có mưa bão, gây hiện tượng bạc mầu của đất nên hiệu quả và năng suất cây trồng chưa cao
4.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm qua ngành trồng trọt đã từng phá thế độc canh,
chuyển đổi mạnh cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển đổi thích hợp theo hướng sản xuất hàng hóa Các loại giống cũ có năng suất thấp, chống chịu sâu bệnh kém đã từng bước được thay thế bằng các loại giống mới
có năng suất cao, nhưng đầu ra cho sản phẩm gặp nhiều khó khăn, bị thương lái ép giá nên các mặt hàng nông nghiệp thay đổi theo từng năm
Đến năm 2013 diện tích gieo cấy lúa cả năm là 374,45 giảm 10,05 ha so với năm 2011 Tình hình sản xuất được thể qua bảng sau :
Trang 37
Bảng 4.2: Bảng tình hình sản xuất một số cây trồng chính tại xã Bản
Ngoại qua 3 năm 2011 - 2013
(Nguồn: Thống kê UBND xã Bản Ngoại)
Tổng diện tích gieo trồng lúa 2 vụ cả năm 2011 là 384,50 ha, năng suất lúa tăng lên, từ 56,3 ta/ha năm 2011 lên 65,55 ta/ha năm 2013, tương ứng với sản lượng 2164,74 tấn năm 2011 lên 2117,51 tấn năm 2013, năng suất lúa tăng nhưng diện tích gieo trồng lúa bị thu hẹp làm cho sản lượng lúa bị giảm
Trang 38xuống Diện tích ngô của xã có xu hướng tăng mạnh, là do lượng thiếu hụt ngô cho các nhà máy chế biến của huyện Đại Từ và thu mua ngô của người dân phục vụ cho chăn nuôi Diện tích gieo trồng các nông sản như dưa hấu, đậu và lạc có sự biến đổi tăng giảm theo các năm Diện tích dưa hấu từ 16.3
ha năm 2011 lên 26 ha và giảm xuống 21,7 ha năm 2013,nguyên nhân là do tâm lý chạy theo đám đông của người dân gieo trồng nhiều năm 2012 nhưng không có đầu ra tiêu thụ chậm dẫn tới thua lỗ cho người dân, và gây mất lòng tin đối với người dân, vì vậy năm 2013 một số hộ dân đã chuyển dịch cơ cấu cây trồng khác Riêng diện tích trồng chè vẫn ở mức ổn đinh năm 2011 và
2012 diện tích chè của xã là 243,04 ha và năm 2013 diên tích tăng lên 247 ha, nguyên nhân la do mặt hàng nông sản này có thị trường ổn đinh nhờ vào việc thành lập các hợp tác xã chè, và cung cấp các loại chè có chất lượng cho thị trường, được người tiêu dùng tin tưởng
- Chăn nuôi:
Chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia súc, gia cầm, và thủy sản có sự phát triển cả về chất và lượng, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong ngành nông nghiệp ngành chăn nuôi đã chuyển dần sang hình thức sản xuất hàng hóa, tốc độ phát triển nhanh về quy mô lẫn cơ cấu đàn Mặc dù hình thức chăn nuôi mới ở mức hộ gia đình nhưng do nắm bắt được yêu cầu thị trường, có thị trường tiêu thụ do giá cả tăng cao, tạo tâm lý tốt cho người dân yên tâm sản xuất, sản phẩm từ chăn nuôi được tiêu thụ kịp thời, người dân đã chủ động lựa chọn được loại vật nuôi và hình thức phù hợp
Bên cạnh đó người dân đã chủ động nắm bắt và đáp ứng được kỹ thuật chăn nuôi, chọn lựa được các giống tốt nên dù tình hình dịch bệnh diễn ra khá phức tạp nhưng xã đã tổ chức công tác thú y, phòng trừ dịch bệnh tốt, sản phẩm chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học Đây là một điểm mạnh trong phát triển sản xuất nông nghiệp của xã
Tình hình cụ thể chăn nuôi được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Trang 39Bảng 4.3: Bảng tình hình chăn nuôi ở xã Bản Ngoại qua 3
năm 2011- 2013 STT Khoản mục Đơn vị 2011 2012 2013
(Nguồn: Thống kê UBND xã Bản Ngoại 2013)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình chăn nuôi của xã Bản Ngoại qua
3 năm đã có nhiều biến động, đàn gia cầm tăng chậm, nhưng thủy sản tăng mạnh vào năm 2012 và giảm nhẹ vào năm 2013, đàn trâu, và đàn lợn có xu hướng giảm xuống là do xã bắt đầu sử dụng nhiều loại máy phục vụ cho nông nghiệp thay sức kéo của trâu làm cho số lượng trâu giảm mạnh
*Lâm nghiệp:
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn xã là 414,29 ha được trồng: cây
keo, bạch đàn, hàng năm thu lại cho dân hàng trăm triệu đồng Diện tích đất nông nghiệp tuy có xu hướng giảm nhưng do người dân đã đầu tư và chăm bón nên năng suất vẫn cao, hàng năm góp phần thu nhập cao cho người dân Các nghành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã chưa phát triển mạnh ngành nghề công nghiệp chủ yếu là cơ sở chế biến gỗ, nông sản, chè, chế biến, xay xát theo hình thức hộ gia đình, xã chưa có điểm sản xuất hàng hóa lớn Do đó nguồn thu nhập và đóng góp giá trị của các ngành này cho xã chưa tạo ra bước chuyển mới cho cơ cấu ngành kinh tế của xã trên địa bàn xã có một nhà máy dệt may tư nhân lớn, và 3 doanh nghiệp chè hoạt động về lĩnh chế biến và sản xuất ,… tạo thêm được nhiều công ăn việc làm cho người dân trong xã
Năm 2012 xã đã mở các lớp tập huấn về dạy nghề truyền thống cho những xóm có tiềm năng về nghê như xóm: Ba Giăng, Quang Trung, Lê Lợi Các nghề truyền thống như nghề thổ cẩm, nghề đan lát
Trang 404.1.2.2 Đặc điểm về xã hội
- Tình hình dân số và lao động
Tổng số nhân khẩu toàn xã là 7103 người, với 2117 hộ, trong đó có
1902 hộ làm nông nghiệp, 215 hộ phi nông nghiệp, tỉ lệ hộ nghèo của xã chiếm 25%
- Tỷ lệ tăng dân số chung của toàn xã là 1,1%
- Tổng số lao động trong các nghàn kinh tế của xã là 5266 người, trong đó: + Lao động nông nghiệp 4394 người chiếm (83,45%)
+ Lao động phi nông nghiệp 872 người chiếm (16,55%)
Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động xã Bản Ngoại qua 3
Nhân khẩu nn Người 6730 95,815 6739 95,54 6747 94,99 100,13 100,25 100,19 Nhân khẩu phi nn Người 294 4,185 315 4,46 356 5,01 107,14 113,02 110,08