Hiệu quả môi trường còn thể hiện là mô hình không có tác động gây ô nhiễm môi trường vừa ít hoặc không sử dụng các loại thuốc kích thích cũng như các loại thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thự
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Châu
Thái Nguyên, 2014
Trang 31
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lược
phát triển nền kinh tế của đất nước Trong những năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Bên cạnh nhiều ngành hàng có giá trị sản xuất cao như: lúa gạo, cà phê, cao su…thì chăn nuôi là ngành sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Ngành chăn nuôi đang từng bước vươn lên cải tiến cách thức sản xuất, nâng cao chất lượng và tăng sức cạnh tranh
Các sản phẩm từ chăn nuôi như thịt, trứng, sữa có vị trí quan trọng trong bữa
ăn hàng ngày của con người Thịt cung cấp cho con người nhiều chất dinh dưỡng
như: Vitamin, khoáng chất, axit hữu cơ và nhiều chất bổ khác… Ngoài ra, phát triển chăn nuôi còn có ý nghĩa trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm và là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị
Chăn nuôi đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ có khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành chăn nuôi theo hướng chuyên môn hóa
kỹ thuật cao
Trong bối cảnh đại dịch cúm đang lan rộng và gây nhiều ảnh hưởng tới nền kinh tế nhiều nới ở nước ta Trong đó, xã Hòa Sơn là một xã của huyện Hiệp Hòa- tỉnh Bắc Giang cũng bị ảnh hưởng và chịu nhiều thiệt hại
Ngành chăn nuôi gia cầm của xã Hòa Sơn được phát triển với quy mô tương
đối rộng, nhất là đối với chăn nuôi gà Số lượng đàn gà ngày càng được tăng cao
trên các thôn Trong những năm qua, chăn nuôi gà đã có những thuận lợi, nhưng cũng không thể tránh khỏi những khó khăn, thách thức Trong đó, việc mâu thuẫn giữa việc chi phí giữa các yếu tố đầu vào thì cao tương đối so với thu nhập đem lại cho người chăn nuôi.Có rất nhiều nguyên nhân khiến tình trạng này luôn tồn tại, song nguyên nhân có tác động không nhỏ tới vấn đề này là do thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa vững chắc Nó không chỉ gây nhiều ảnh hưởng trực tiếp đến ngành chăn nuôi gia cầm mà còn đem lại nhiều hậu quả không nhỏ tới các lĩnh vực liên quan
Nhận thấy được những khó khăn trước mắt của ngành chăn nuôi gà, việc nghiên cứu về những giải pháp để giữ vững nâng cao hiệu quả sản xuất và mở rộng thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm gà là vấn đề thiết thực nhất Chính vì vậy tôi
Trang 42
đi nghiên cứu vấn đề “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
và mở rộng thị trường của việc chăn nuôi gà thả vườn tại xã Hòa Sơn - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng của việc chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn
xã và so sánh hiệu quả kinh tế của chăn nuôi gà ta thả vườn với gà công nghiệp làm Khẳng định hiệu quả chăn nuôi gà thả vườn rồi đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thả vườn
Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu thị trường đầu vào đầu ra trong chăn nuôi
gà thả vườn, từ đó đưa ra các giả pháp phát triển mở rộng thị trường thị trường Góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của xã và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn toàn xã
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Điều tra được thực trạng sản xuất và tiêu thụ gà trên địa bãn xã
Hạch toán chi phí và doanh thu của chăn nuôi gà thả vườn Đồng thời so sánh hiệu quả chăn nuôi với gà công nghiệp
Từ thực trạng và những khó khăn trên địa bàn, đề tài sẽ đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và mở rộng thị trường tiêu thụ của việc chăn nuôi gà thả vườn Đồng thời phát huy những thế mạnh sẵn có của địa phương
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo
điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế
Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức
đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến
thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này
Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế
Trang 53
Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vân dụng
kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này
1.3.2 Ý nghĩa của thực tiễn
Qua đề tài giúp cho người chăn nuôi hiểu biết thêm những hiệu quả kinh tế
và những hiệu quả khác từ việc chăn nuôi gà, từ đó họ có thể mạnh dạn đầu tư chăn thả trên quy mô rộng hơn trên khắp địa bàn ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà
đầu tư đưa ra những quyết định mới, hướng đi mới để xây dựng kế hoạch phát triển
hơn nữa quy mô chăn nuôi gà thả vườn,định hướng xây dựng thương hiệu cho địa bàn Bên cạnh đó, còn giúp mở rộng thị trường tiêu thụ cho việc chăn nuôi gà thả vườn
Kết quả của đề tài cũng giúp cho các hộ gia đình nông dân hiểu hơn nữa hiệu quả của chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà thả vườn ở xã, để họ có thể mạnh dạn đầu tư phát triển tốt hơn thu được nhiều lợi nhận hơn
Trang 64
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm về hình thức chăn nuôi và nghề nuôi gà
1.1.1.1 Các hình thức chăn nuôi
Đối với gà, hiện nay xã Hòa Sơn đang tồn tại 3 phương thực chăn nuôi chủ
yếu đó là: Chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ (chăn nuôi quan cảnh), chăn nuôi bán công nghiệp (quy mô vừa, thả vườn), chăn nuôi công nghiệp (quy mô lớn, tập trung)
a, Chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ
Đây là phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ có từ lâu đời Đặc điểm là gia cầm được nuôi thả rông, gia cầm tự ấp và nuôi con, tự tìm kiếm thức ăn là chính [7] Do
vậy môi trường chăn nuôi không đảm bảo nên gia cầm dễ mắc bệnh, dễ lây lan mỗi khi có dịch xảy ra, tỷ lệ nuôi sống thấp (chỉ đạt khoảng 55 % - 60 %) và hiệu quả chăn nuôi không cao Tuy vậy, phương thức chăn nuôi này không đầu tư lớn, phù hợp với các giống gia cầm địa phương và chất lượng thịt ngon
b, Phương thức chăn nuôi bán công nghiệp
Đây là phương thức chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệp chăn nuôi
truyền thống và kỹ thuật nuôi dưỡng tiên tiến [7] Đặc biệt của của phương thức này
là quy mô đàn gia cầm từ 100 - 300 con, vừa kết hợp với chăn nuôi thả vườn, vừa
bổ sung thức ăn công nghiệp, đồng thời áp dụng các quy trình phòng bệnh nên tỷ lệ nuôi sống và hiệu quả chăn nuôi cao hơn phương thức trên Thời gian nuôi rút ngắn hơn so vơi chăn nuôi nhỏ lẻ
c, Phương thức chăn nuôi công nghiệp
Trên địa bàn xã Hòa Sơn có 3 trại nuôi gia cầm giống, được nuôi theo hình thức công nghiệp Nhìn chung chăn nuôi gia cầm theo phương thức công nghiệp là một hình thức chăn nuôi mới lạ với người dân, xuất hiện từ vài năm trở lại đây
1.1.1.2 Nghề nuôi gà
Do đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài gà, nghề nuôi gà ngày nay mang những nét đặc thù cơ bản sau:
- Chu kỳ sinh sản ngắn, vòng quay của vốn nhanh Do vậy nhịp điệu sản xuất
là khẩn trương, mọi sai sót hầu như không có thời gian khắc phục [4]
- Quy trình công nghệ chính xác và nghiêm ngặt (đặc trưng của sản xuất công nghiệp)
Trang 75
- Sự phân hóa chuyên môn sâu Nếu trước đây người ta nuôi gà vừa để lấy thịt vừa để lấy trứng, vừa để lấy gà giống… trong cùng một đàn thì ngày nay, gà công nghiệp
đã có sự phân hoá cụ thể cho từng lứa gà, đàn gà
Thịt và trứng là hai sản phẩm từ gà, nhưng hai tính năng này hình như có sự
“tương kỵ” trên cùng một cơ thể: gà thịt tốt (chóng lớn nặng cân) thì thường để kém
và ngược lại Vì vậy di truyền - giống, đã phải tạo ra những giống gà chuyên dụng
để chỉ dùng vào mục đích nhất định: lấy thịt hoặc lấy trứng Ngoài ra, để phục vụ
cho tái sản xuất thì việc nuôi dưỡng, chăn sóc các đàn giống lại phải theo một cách thức riêng biệt Vì vậy, trên đại thể, nuôi gà lúc này chia ra làm 3 hình thức chính:
a,Nuôi lấy thịt:
Là hình thức phổ biến nhất vì dễ làm (quy trình kỹ thuật đỡ phức tạp nhất) chu
kì sản xuất ngắn thích hợp với mọi quy mô: từ vài con cho đến hàng nghìn con [3]
Khác với nếp nghĩ trước đây: “gà nào chả để ăn thịt” và gà thịt phải càng to càng quý… Hiện nay nuôi gà thịt là nuôi gà từ lúc mới nở đến khoảng 2 tháng tuổi (thường là 56 hoặc 49, thậm chí chỉ 42 ngày tuổi) gà nặng khoảng 1,5-2,0 kg Để
đáp ứng yêu cầu đó, phải có các giống gà chuyên dụng thịt (gọi tắt là gà giống thịt)
Các giống này có đặc điểm chung là tầm vóc to (gà mái 2,5-3 kg, gà trống 3,5-4,0 kg) và lớn nhanh (đạt khối lượng 1.5 kg thịt trong lúc 56-45 ngày tuổi), hiệu xuất sử dụng thức ăn cao tốn 2,0-2,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng) nhưng năng suất trứng kém (140-170 trứng/gà mái/ năm) và để sản xuất ra 1 quả trứng gà cần đến 350 gram thức ăn bình quân
Ngày nay để nuôi lấy thịt người ta thường dùng những con giống lai theo các công thức nhất định gồm từ 3-4 máu (dòng), gọi là gà Broiler Đây là biện pháp tiên tiến nhất được áp dụng phổ cập ở các nước có nền sản xuất gà công nghiệp phát triển và đang được phổ biến ở Việt Nam
Trong việc nuôi gà thịt, thì về mặt quản lý - việc tính toán thời điểm xuất chuồng thích hợp rất là quan trọng Sau thời điểm này gà thường ăn rất khoẻ nhưng lớn rất chậm Tốt nhất là phải sắp xếp làm sao để gà vừa đủ tiêu chuẩn (thể trọng) là xuất chuồng được ngay, nếu kéo dài chi phí rất lớn
b, Nuôi lấy trứng:
Tương tự nuôi lấy thịt, sản phẩm của đàn gà này là trứng thực phẩm (trứng thương phẩm- khác với trứng để ấp: trứng thương phẩm là trứng không có trống Gà nuôi ở đây là các giống - chuyên dụng trứng (gọi tắt là gà giống trứng) Đặc điểm chung của gà giống trứng là đẻ rất sai: 230-270 trứng, thậm chí 310 trứng/gà mái/1 năm
Trang 86
Nhưng tầm vóc bé (gà mái 1,7-1,8 kg, gà trống 2,5-3,5 kg) Vì vậy gà ăn ít và hiệu xuất
sử dụng thức ăn cho việc sản xuất trứng rất cao, thường chỉ tốn 170-190g có khi chỉ 150g thức ăn cho 1 quả trứng [3]
Vì mục đích chỉ để lấy trứng thực phẩm nên các đàn gà này không bao giờ có trống Làm như thế có hai điều lợi: Một là: tiết kiệm được một khoản chi phí lớn về chuồng trại, công cụ, sức lao động và đặc biệt là thức ăn cho gà trống, và hai là: trứng của gà không trống thì bảo quản dễ hơn và thời gian bảo quản lâu hơn (so với trứng có trống, trứng được thụ tinh)
Cũng như gà thịt, gà trứng cũng có thể nuôi với quy mô khác nhau: từ vài con đến vài nghìn con và hơn nữa - tuỳ theo khả năng và cơ sở vật chất (chuồng trại)
và vốn ban đầu [3] Vì sản phẩm không tập trung vào một thời điểm mà giải đều đặn, thường xuyên trong cả một thời gian dài nên việc tiêu thụ (đầu ra) không bị căng thẳng, dồn nén mà hoàn toàn có thể chủ động về kế hoạch
c, Nuôi sinh sản:
Khác với “nuôi lấy thịt” và “nuôi lấy trứng”, sản phẩm của việc nuôi gà sinh sản là quả trứng giống, nghĩa là quả trứng để đưa vào ấp ra những con gà giống, có thể là giống thịt, giống gà cảnh… Do vậy hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn việc nuôi gà thương phẩm (giá trứng giống thường bằng 2,5 đến 4 lần giá trứng thương phẩm)
Chu kỳ sản xuất của gà sinh sản thường là 18 tháng gồm 6 tháng nuôi gà con,
gà hậu bị và 12 tháng nuôi gà đẻ lấy trứng ấp giống
Khác với nuôi láy thịt và lấy trứng, quy mô đàn của “nuôi sinh sản” không thể nhớ, phải tính bằng trăm, bằng nghìn gà mái Ngoài ra còn phải nuôi cả gà trống, yêu cầu kỹ thuật (ăn, ở, chăn sóc, phòng bệnh…) đều phải cao hơn hẳn do vậy
đương nhiên là phải có một số vốn ban đầu đủ lớn (kể cả chuồng trại) so với quy mô định nuôi thì hãy tính đến chuyện nuôi sinh sản [3]
Vậy đặc điểm nổi bật của ngành chăn nuôi gà là:
Gà cung cấp một số lượng lớn sản phẩm thịt, trứng giàu chất dinh dưỡng đáp
ứng cho nhu cầu ngày càng cao của con người
Phát triển chăn nuôi gà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở những lơi có điều kiện thuận lợi để phát triển
Mức lợi nhuận còn phụ thuộc nhiều yếu tố nhưng nếu có biện pháp chăn nuôi thích hợp (giống,thức ăn, thuốc thú y, cách và thời gian chăm sóc… thì khả năng lợi nhuận sẽ cao hơn
Gà tận dụng thức ăn sẵn có trong thiên nhiên, thực phẩm dư thừa trong sinh hoạt
Trang 91.1.1.3 Một số khái niệm cơ bản
* Hiệu quả
Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự vật, hiện tượng bao gồm: hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường [6]
a, Hiệu quả kinh tế
Một số lý luận chung về hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người để phục vụ cho lợi ích của con người [6]
Các nhà sản xuất và nhà quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu là với khối lượng tài nguyên nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa có giá trị lớn nhất Nói cách khác là ở một mức độ khối lượng và giá trị sản phẩm nhất định thì phải làm thế nào
để chi phí sản xuất là thấp nhất
Như vậy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn lực
đầu vào và khối lượng sản phẩm đầu ra, kết quả cuối cùng của mối liên hệ này là
thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất, với cách xem xét này, có nhiều ý kiến thống nhất với nhau về hiệu quả kinh tế, có thể khái quát hiệu quả kinh tế như sau:
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt
được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các yếu tố nguồn
lực đầu vào [6] Mối tương quan này cần xét cả về tương đối và tuyệt đối, cũng như xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế kỹ thuật, hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối (thương số) giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó [6] Với cách biểu hiện này đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sản xuất
Trang 108
khác nhau Từ đó so sánh được hiệu quả kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau, nhưng nhược điểm của cách đánh gia này không thể hiện được quy mô của hiệu quả nói chung
Như vậy hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản xuất xã hội, quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau sẽ không giống nhau Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mục đích và yêu cầu của một đất nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể và được đánh giá theo những góc độ khác nhau
b, Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, của bất kỳ
mô hình nào thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo cơ hội để mọi người dân trong vùng đều có việc làm và từ đó tăng nguồn thu nhập, không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần trên cơ sở đó thực hiện công bằng dân chủ, công bằng xã hội [6]
c, Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi trường sinh thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện, phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng phát triển bền vững Có nghĩa là phát triển liên tục trên cơ sở khai thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho các thế
hệ tương lai [7]
Hiệu quả môi trường còn thể hiện là mô hình không có tác động gây ô nhiễm môi trường vừa ít hoặc không sử dụng các loại thuốc kích thích cũng như các loại thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thực vật vì đây là nguyên nhân chính gây nên sự ô nhiễm đối với môi trường sống hiện nay
* Khái niệm về thị trường
Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá và được hình thành trong lĩnh vực lưu thông người có hàng hoá đem ra trao đổi gọi là bên bán, người có nhu cầu chưa được thoả mãn và có khả năng thanh toán gọi là bên mua Trong quá trình trao đổi đã hình thành các mối quan hệ nhất
định, đó là quan hệ giữa bên bán và bên mua với nhau Vì vậy theo các nhà
Marketing thì thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó [2]
Trang 11- Vai trò của thị trường với hoạt động sản xuất kinh doanh
Thị trường có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và sự phát triển kinh tế xã hội:
+ Thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hoá Thị trường chính là nơi hình thành và giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp, doanh nghiệp với Nhà nước, doanh nghiệp với người tiêu dùng
+ Thị trường là đối tượng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
+ Thị trường là khâu tất yếu là quan trọng nhất của sản xuất hàng hoá, thị trường là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng
+ Thông qua thị trường có thể nhận biết được sự phân phối của các nguồn lực sản xuất, thông qua hệ thống giá cả
+ Thị trường là môi trường kinh doanh, nó giúp các nhà sản xuất nhận biết nhu cầu xã hội về thế mạnh kinh doanh của mình để có các phương án sản xuất kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường [7]
+ Thị trường là nơi cung cấp thông tin quan trọng trên cơ sở đó nhà sản xuất kinh doanh đưa ra các quyết định riêng cho doanh nghiệp mình [7]
+ Thị trường có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế, đó là đối tượng căn
cứ để kế hoạch hóa Thị trường là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước [8]
- Chức năng của thị trường
Thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua bán do đó nó có các chức năng nhất
định và tầm quan trọng của từng chức năng được thể hiện như sau:
Trang 1210
+ Chức năng thừa nhận: Thị trường là nơi gặp gỡ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong quá trình trao đổi hàng hoá, thị trường với mong muốn chủ quan bán được nhiều hàng hoá với giá cả sao cho bù đắp được mọi chi phí bỏ ra và có lợi nhuận, còn người tiêu dùng tìm đến thị trường để mua những hàng hoá đúng công dụng, hợp thị hiếu và có khả năng thanh toán theo mong muốn của mình Trong quá trình diễn ra sự trao đổi, mặc cả trên thị trường giữa đôi bên về một mặt nào đó sẽ có 2 khả năng xẩy ra là thừa nhận hoặc không thừa nhận, tức là có thể loại hàng hoá đó không phù hợp với quá trình tái sản xuất sẽ bị ách tắc, không thực hiện
được Ngược lại trong trường hợp thị trường thực hiện chức năng chấp nhận tức là đôi bên đã thuận mua vừa bán thì quá trình tái sản xuất được giải quyết [7]
+ Chức năng thực hiện: Khi mà thị trường đã thừa nhân sự có mặt của hàng hoá nào đó trên thị trường thì chức năng thực hiện được hình thành và hàng hoá đó sẽ được lưu thông (bán) như mọi hàng hoá khác trên thị trường [7]
+ Chức năng điều tiết, kích thích: Như chúng ta đã biết lợi nhuận là mục đích cao nhất của quá trình sản xuất, trong khi đó lợi nhuận lại chỉ hình thành khi thông qua hoạt động của thị trường Do vậy thị trường vừa là mục tiêu, vừa tạo ra động lực điều tiết kích thích được thể hiện ở chỗ thông qua nhu cầu thị trường các doanh nghiệp chủ động điều chỉnh hoặc di chuyển các yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác, hoặc sản phẩm này sang sản phẩm khác nhằm mục đích kiếm lợi nhuận cao hơn Thông qua quy luật hoạt động của thị trường, các doanh nghiệp mạnh
mẽ tận dụng khả năng, lợi thế của mình trong cạnh tranh để đẩy nhanh quá trình sản xuất Ngược lại, các doanh nghiệp không có lợi thế cũng tìm cách vươn lên để tránh khỏi bị phá sản Đó chính là động lực do thị trường tạo ra.Giá cả sản phẩm ngoài thị trường là thước đo hiệu quả sản xuất và mức độ chi tiêu trong tiêu dùng của người mua, nó chỉ chấp nhận chi phí ở mức thấp hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết Do đó thị trường có vai trò quan trọng đối với kích thích, tiết kiệm chi phí và tiết kiệm sức lao động [7]
+ Chức năng thông tin: Chức năng thông tin của thị trường sẽ góp phần đắc lực cho sự hiểu biết giữa người mua và người bán, giữa người sản xuất và người tiêu dùng Thông tin thị trường cho biết tổng số cung, tổng số cầu, cơ cấu cung cầu, quan hệ cung cầu giá cả, chất lượng sản phẩm Do vậy thông tin thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với quản lý kinh tế, nhiều khi nó quyết định cả quá trình sản xuất.Trong công tác quản lý nền kinh tế thị trường, vai trò tiếp nhận thông tin
từ thị trường đã quan trọng, song việc chọn lọc và xử lý thông tin lại là công
Trang 1311
việc quan trọng hơn nhiều Để đưa ra những quyết định chính xác nhằm thúc
đẩy sự vạn hành mọi hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, tuỳ thuộc vào
sự chính xác của việc sàng lọc và xử lý thông tin [7]
Tóm lại: 4 chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Thực tế một hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện đầy đủ và đan xen lẫn nhau giữa 4 chức năng Tuy nhiên, cũng phải thấy rõ là chỉ khi thực hiện chức năng thừa nhận thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng
- Phân khúc thị trường
Khi quyết định tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhà sản xuất kinh doanh phải xác định được thị trường Cụ thể là xác định nhu cầu của khách hàng mà mình có khả năng cung ứng Hướng vào thị trường là hướng vào khách hàng chính, đó là mục tiêu hàng đầu của các nhà sản xuất kinh doanh Do vậy
mà trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường phân thị trường thành những khúc, những đoạn riêng biệt nhằm có những biện pháp, chính sách cụ thể đối với những khúc thị trường đó [2]
+ Căn cứ và thu nhập của người tiêu dùng chia thành thị trường dành cho những người có thu nhập cao, thị trường dành cho những người có thu nhập trung bình, và thị trường dành cho những người có thu nhập thấp [2]
+ Căn cứ vào khu vực có thể chia thành, thị trường thành thị, thị trường nông thôn, thị trường vùng đồng bằng, thị trường vùng cao[2]
+Căn cứ vào số lượng dân cư có thể chia thành thị trường dành cho những vùng đông dân, thị trường dành cho những vùng ít dân[2]
+ Căn cứ vào trình độ văn hoá có thể chia thành thị trường dành cho những người có trình độ văn hoá cao và thị trường cho những có trình độ văn hoá thấp.Tuỳ theo loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau mà các phương thức phân khúc thị trường khác nhau [2]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vai trò của ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng
+ Đối với nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế và góp một lượng hàng hoá cho xuất khẩu Tuỳ theo lợi thế so sánh của mình, mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu ngoại tệ hay trao đổi
để lấy các sản phẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành nông nghiệp và các ngành
Trang 1412
kinh tế khác [8] Vì thế sự phát triển của ngành chăn nuôi sẽ ảnh hưởng tới phân bổ
và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp Chăn nuôi không những cung cấp nguồn sản phẩm hàng hoá cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu mà nó còn giúp sử dụng một cách đầy đủ và hợp lí lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong nông nghiệp lại chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng số lao
động của nước ta và các nước đang phát triển khác Lực lượng lao động này có một
thời gian nhàn rỗi quá lớn do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra Do đó việc phát triển ngành chăn nuôi đã giúp tạo công ăn việc làm cho nông dân và giúp họ tăng thu nhập
+ Đối với ngành nông nghiệp
Đối với sản xuất nông nghiệp chăn nuôi có một vai trò rất quan trọng
Trong sản xuất nông nghiệp thì hai ngành chính cấu thành nên nó là ngành trồng trọt và chăn nuôi Hai ngành này có sự liên hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Một nền nông nghiệp muốn phát triển được một cách bền vững
và ổn định thì cần phải có sự phát triển một cách cân đối giữa hai ngành trồng trọt
và chăn nuôi Trồng trọt cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển, mặt khác chăn nuôi cung cấp phân bón, sức kéo cho ngành trồng trọt Nguồn phân hữu cơ mà chăn nuôi cung cấp cho ngành trồng trọt có vai trò hết sức quan trọng Vì thế để
có một nền nông nghiệp bền vững thì không bao giờ được phép coi nhẹ vai trò của ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp
+ Đối với hộ nông dân
Ở nước ta hiện nay trong nền kinh tế thị trường, hộ nông dân đã được coi là
một đơn vị kinh tế tự chủ thì vai trò của ngành chăn nuôi càng được coi trọng Một thực tế không thể chối cãi được đó là ngành chăn nuôi chiếm một vai trò quan trọng trong thu nhập của người nông dân, sản phẩm hàng hoá của nông hộ chủ yếu
là sản phẩm thu được từ quá trình chăn nuôi Chăn nuôi đã gắn bó mật thiết đối với
đời sống của người dân, giúp tận dụng những sản phẩm dư thừa trong sinh hoạt
hàng ngày, tận dụng lao động nhàn rỗi và làm tăng thu nhập, cải thiện bữa ăn hàng ngày của nông hộ Từ những phân tích trên cho thấy chăn nuôi có một vai trò rất to lớn không chỉ trong nông nghiệp mà còn kể cả trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong đời sống xã hội Nó không ngừng đóng góp một phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân mà nó còn sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 1513
và nhân lực, từ đó làm tăng thu nhập cho người lao động góp phần ổn định và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân nói riêng và xã hội nói chung
1.2.2 Vai trò của chăn nuôi gà trong phát triển kinh tế
Ngành chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính của sản xuất nông nghiệp Phát triển mạnh ngành chăn nuôi gà có ý nghĩa quan trọng:
+ Chăn nuôi gà cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, rất cần thiết cho nhu cầu của con người, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Chăn nuôi phát triển tạo điều kiện cho trồng trọt phát triển cân đối và toàn diện, có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, và cải thiện đời sống cho nhân dân
+ Gà là giống gia cầm tương đối dễ nuôi so với các loại gia cầm vòng đời ngắn, quay vòng nhanh nên có thể áp dụng nuôi ở các hộ gia đình, các trang trại
và cả các xí nghiệp doanh nghiệp, nhằm góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời phát triển nền kinh tế quốc dân
1.2.3 Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới
Chăn nuôi gia cầm tên thế giới được phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt từ thập kỷ 40 trở lại đây Tính đến nay tổng đàn gia cầm trên thế giới đã lên tới 40 tỷ con, trong đó trên 95% là gà
Do đặc điển địa lý, khí hậu, truyền thống dân tộc, khả năng đầu tư và trình
độ công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong chăn nuôi gia cầm cùng với thói quen tiêu
dùng… mà đàn gà phân bố không đều Hơn 50% đàn gà được nuôi ở châu Mỹ, Hoa Kỳ
là nước nuôi nhiều gà công nghiệp nhất (trên 40%), rồi đến một số nước Tây Âu, trong khi đó gà lông màu, gà địa phương nuôi trang trại và chăn thả lại tập trung nhiều nhất ở Trung Quốc và một số nước ở Châu Á
1.2.3.1 Phương thức nuôi trên thế giới
Phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới vẫn có ba hình thức cơ bản đó là:
Chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công nghệ cao
Chăn nuôi trang trại bán thâm canh
Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ và quảng canh
Phương thức chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc
và một số nước ở Châu Á, Phi và Mỹ La Tinh Chăn nuôi công nghiệp thâm canh các công nghệ cao về cơ giới và tin học được áp dụng trong chuồng trại, cho ăn,
vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường và quản lý đàn Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn nuôi như nhân giống, lai tạo nâng cao khả năng sinh sản và điều khiển giới tính [6]
Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh gia súc gia cầm tại phần lớn các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung Đông
Trang 16mở rộng quy mô và phổ cập chăn nuôi hữu cơ
1.2.3.2 Số lượng gà trên thế giới
Tổng đàn gà trên thế giới tăng nhanh với quy mô và số lượng này càng lớn, năm 2012 tổng đàn gà là 59.860.826 nghìn con
Bảng 1.1: Phân bố số lượng gà trên thế giới năm 2012
(Nguồn: Tình hình chăn nuôi thế giới theo FAO- 2012)
(Nguồn: Tình hình chăn nuôi thế giới theo FAO- 2012)
Hình 1.1: Cơ cấu số lượng gà trên thế giới năm 2012
Theo bảng phân bố số lượng gà trên thế giới năm 2012 ta thấy số lượng gà tại các châu lục rất nhiều, nhiều nhất là số lượng gà tại Châu Á có số lượng gà nhiều nhất thế giới chiếm 41 % số lượng gà trên thế giới, Đứng thứ hai là châu Mỹ chiếm 35% Châu Úc là nước có số lượng gà ít nhất chỉ chiếm 1 % số lượng gà trên thế giới
Trang 17(Nguồn: Tình hình chăn nuôi thế giới theo FAO- 2012)
Nước có số lượng gà nhiều nhất thế giới là Trung Quốc một nước nằm trong khu vực Châu Á, với số lượng gà lên đến 9178430 nghìn con, và cũng là một nước
có nhiều thành tựu trong việc tạo ra nhiều giống gà có năng xuất cao Trung Quốc là một quốc gia có nhiều thành tựu trong việc tạo ra nhiều giống gà có năng xuất cao,
là một nước láng giềng Việt Nam cũng nhập được nhiều giống gà và phương thức chăn nuôi của Trung Quốc kết hợp với truyền thống nuôi gà của cha ông Việt Nam cũng có số lượng gà và các sản phẩm trong chăn nuôi gà lớn Số lượng gà hàng đầu thế giới còn có Chủng quốc Hoa Kỳ, Brazin, Indonesia, Liên bang Nga
1.2.3.3 Tình hình tiêu thụ gà trên thế giới
Theo tổ chức nông lương thế giới FAO nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi như thịt , trứng, sữa tăng lên hằng năm do dân số tăng, thu nhập tăng và mức sống tăng cao Trong đó thịt gà rất giàu dinh dưỡng và được rất nhiều người ưa chuộng, nên thịt gà được sử dụng rất nhiều ở hầu hết các nước trên thế giới, và tình hình tiêu thụ ngày càng tăng, theo số liệu thống kê của FAO ta thấy: Sản lượng thịt gà trên thế giới 79,5 triệu tấn chiến 28,5% tổng sản lượng thịt trên thế giới vào năm 2009 Sản lượng thịt tiêu thụ gà năm 2009 của Châu Á là 27.2 triệu tấn, đến năm 2010 sản lượng tiêu thụ là 28,6 triệu tấn tăng 5,1% so với sản lượng tiêu thụ năm 2009 Còn Châu Mỹ sản lượng tiêu thụ năm 2009 là 36,7 triệu tấn đến năm 2010 sản lượng
Trang 1816
tiêu thụ là 38,3 triệu tấn tăng 4,3% Châu Phi năm 2009 tiêu thụ 4,1 triệu tấn năm
2010 là 4,3 triệu tấn tăng 4,8% Tình hình tiêu thụ thịt gà ở hầu hết các châu lục đều tăng lên, ở một số nước nuôi nhiều gà trên thế như Trung Quốc tình hình tiêu thụ cũng tăng nên năm 2009 sản lượng tiêu thụ là 11,4 triệu tấn, năm 2010 là 11,8 triệu tấn tăng 3,5%, Indonesia sản lượng tiêu thụ năm 2009 là 1,4 triệu năm 2010 là 1,6 triệu tăng 14.2 % Vậy tình hình tiêu thụ thịt gà ở các nước hầu hết đều tăng nên
1.2.4 Tình hình chăn nuôi gà ở Việt Nam
1.2.4.1 Tình hình chung
Chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai (sau chăn nuôi lợn) trong toàn ngành chăn nuôi của Việt Nam Hàng năm, chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng Tuy nhiên, chăn nuôi gà ở nước ta vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hoá còn nhỏ bé
Sản xuất chưa tương ứng với tiềm năng, sản phẩm chưa đáp ứng đủ nhu cầu
xã hội Một lượng sản phẩm chăn nuôi gà nhập khẩu từ nước ngoài về rất lớn dù thuế suất cao nhưng các sản phẩm nhập khẩu vẫn từng bước chiếm lĩnh một phần thị trường Việt Nam Như vậy, chăn nuôi gà sẽ là thị trường rộng lớn ở trong nước trong nhiều năm tới mà chúng ta cần chủ động chiếm lĩnh, nhất là hiện nay Việt Nam đã gia nhập tổ chức WTO
Việc phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm được xã hội quan tâm bởi loài vật nuôi này có nhiều ưu thế hơn các loài vật nuôi khác: vòng đời nhanh, vốn đầu tư ban đầu thấp Hơn nữa, Việt Nam là một trong những cái nôi đầu tiên thuần hóa gà, có sự đa dạng rất lớn về các giống gà Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức: dịch bệnh,thiếu thức ăn( ngô, đỗ tương) và việc nhập khẩu thịt trứng gia cầm từ các nước như Mỹ, Brasil…với giá rẻ hơn so với thị trường trong nước, đã và đang làm cho ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn
Hiện nay 80% chăn nuôi gà ở nước ta là sử dụng các giống địa phương Chăn nuôi gà chăn thả với các giống truyền thống địa phương cũng không ngừng phát triển và hiệu quả ngày càng tăng bởi các giống địa phương đã được đầu tư để bảo tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng xuất [7] Nhiều giống gà thả vườn, lông màu, dễ nuôi, khả năng cho thịt cao, khả năng sinh sản tốt thịt thơm ngon đã
được nhập vào nước ta và được người chăn nuôi ưa chuộng như gà Tam Hoàng 882
Trang 1917
nhập năm 1993 từ Quảng Đông (Trung Quốc), gà Jiăng Cun vàng nhập năm 1995
từ Hồng Kông, gà Tam Hoàng (lông vàng, da vàng, chân vàng) rất được ưa chuộng
ở nước ta [4] Ngoài ra còn một số loại gà khác cũng rất được ưa chuộng như: gà
Lương Phượng, gà Sasa, gà Kabir…
Hình 1.2: Biểu đồ sản lượng thịt gà ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2010
(Nguồn: cucchannuoi.gov.vn và gso.gov.vn)
Trong năm 2010, sản lượng thịt gà của Việt Nam đứng thứ 15 trên tổng số 47 nước ở châu Á, tuy nhiên, tỉ lệ tăng trưởng trong thập niên 2000 - 2010 chỉ ở mức vừa phải (tăng trung bình 28.4%)
Chăn nuôi Việt Nam triển vọng tăng trưởng 37% trong khoảng thời gian
2010 - 2020 Sản lượng thịt gà trong nước có xu hướng tăng qua các năm từ 292,9 nghìn tấn năm 2000 tăng lên 621,2 nghìn tấn trong năm 2010 Theo báo cáo Triển vọng tương lai của tổ chức Nông nghiệp OECD-FAO, sản lượng thịt gia cầm sản xuất của Việt Nam có nhiều triển vọng
Tổng số gà trên cả nước năm 2011 là gần 7,9 triệu hộ nuôi gà, số lượng các hộ chăn nuôi gà tập trung đền 73 % miền bắc và miền trung: BTBDHMT(28,5%)
ĐBSH(22,7%), TDMNPB (21,09%), 3 vùng còn lại ĐBSCL, ĐNB, và Tây Nguyên
lần lượt chiếm 15%, 6,7% và 5,1 % [8]
Các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ từ 1 đến 20 còn còn chiếm phần rất lớn 4,3 triệu hộ, trong khí sô hộ nuôi với quy mô lớn hơn 100 con chỉ có 255 nghìn hộ
Trang 20Cơ cấu của hộ theo quy
mô nuôi trong từng nhóm(%) Chia theo quy mô số con gà
Dưới
20 con
20-49 con
50-99 con
Từ
100 con trở lên
Dưới
20 con
20-49 con
50 -99 con
Từ
100 con trở lên
Cả nước 7864,7 4301,9 2745,0 562,9 255,0 100 100 100 100
ĐBSH 1785,9 830,1 721,8 150,2 83,8 19,3 26,3 26,7 32,9 TDMNPB 1726,1 852,1 644,1 18,5 71,4 19,8 23,5 28,2 28,0 BTBDHMT 2243,1 1288,7 763,1 143,0 48,3 30 27,8 25,4 18,9
TN 527,4 327,8 115,2 31,4 13,0 7,6 5,7 5,6 5,1
ĐNB 399,0 206,7 145,6 33,2 13,5 4,8 5,3 5,9 5,3
ĐBSCL 1183,2 796,5 315,2 46,5 25,0 18,5 11,5 8,3 9,8
(Nguồn: Tổng cục thông kê)
Như hình 1.3 mô tả cơ cấu các nhóm chăn thả gà theo vùng Tính chung cả nước nhóm nuôi lẻ (1- 19 con) chiếm 54,7% tổng số hộ nuôi gà Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) cũng chiếm đến gần 34,9% Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 7,16 và 3,2%
ĐBSH đứng thứ hai về số lượng chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con)
chiếm 46,48% tổng số hộ nuôi gà Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) cũng chiếm đến gần 40,42% Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 8,41% và 4,69% Là vùng có số lượng các hộ nuôi gà lớn hơn 100 nghìn con trên cả nước
TDMNPB đứng thứ ba về số lượng chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con) chiếm 49,37% tổng số hộ nuôi gà Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) chiếm đến gần 37,32% Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 1,07% và 4,14%
BTBDHM dẫn đầu về số lượng chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con) chiếm 57,45 tổng số hộ nuôi gà Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) chiếm đến gần 34,02% Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 6,38%
và 2,15%
Trang 2119
TN chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con) chiếm 62,15 tổng số hộ nuôi gà Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) chiếm đến gần 21,84% Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 8,32% và 2,46%
Hình 1.3: Cơ cấu hộ nuôi gà theo quy mô trong từng vùng KT – XH thời
điểm 01/10/2011
ĐNB có số lượng gà thấp nhất cả nước, chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19
con) chiếm 51,80% tổng số hộ nuôi gà Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) chiếm
đến gần 36,49% Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là
8,32% và 3,38%
ĐBSCL chiếm đứng thứ tư về số hộ nuôi gà trong cả nước lại là vùng có tỷ
lệ hộ nuôi nhỏ lẻ lớn nhất 67% Hai vùng ĐBSCL và TN có số hộ nuôi gà ít nhất cả nước song lại có nhóm hộ nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ lớn lần lượt là 57,45% và 62% đối với quy mô vừa xu hướng ngược lại ĐBSH và BTBDHMT có tỷ lệ cao hơn các vùng khác lần lượt là 40,4% và 37,%, ĐBSCL thấp nhất so với các vùng khác chỉ đạt 26,6% Xu hướng này cũng diễn ra với 2 nhóm có quy mô lớn
Ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đang phát triển, tuy vậy sản phẩm chăn nuôi gia cầm bình quân/ đầu người/ năm còn thấp Năm 1995 có 17,75kg tổng số thịt hơi các loại chiếm 100%, trong đó có thịt gia cầm hơi 2,64kg chiếm 14,8%; trứng 37,9 quả Năm 1997 có 19,59kg tổng số thịt hơi các loại chiếm 100%, trong
đó có thịt gia cầm hơi 2,95kg chiếm 15,1%; trứng 37,9 quả Năm 2003, sản lượng
trứng gia cầm bình quân/ đầu người/ năm là 45,0 quả, còn thịt gia cầm 3,36kg chiếm 15,0% trong tổng số thịt hơi các loại là 22,40kg [2]
Trang 2220
Ngành chăn nuôi gia cầm trong những năm gần đây đạt được những thành tựu to lớn, tuy vậy còn gặp không ít khó khăn Ngành chăn nuôi gia cầm nước ta chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán, chăn nuôi hộ gia đình, tận dụng phụ phế phẩm nông nghiệp Các trang trại chăn nuôi gia cầm với quy mô vừa và lớn mặc dù đã hình thành tại một số vùng sinh thái, song chiếm tỷ lệ chưa cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi gia cầm còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và dịch vụ chăn nuôi nhìn chung còn thấp kém, hầu hết chưa đảm bảo quy trình kỹ thuật Nguy cơ dịch bệnh
đối với đàn gia cầm và an toàn thực phẩm cho người ngày càng nghiêm trọng Năm
2013, một năm thật sự khó khăn, người chăn nuôi phải đối phó với dịch cúm gia cầm, nhưng mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 rất cao, đặt ra đối với ngành chăn nuôi gà đạt mức tăng trưởng 5%/năm đạt khoảng 260 triệu con, trong đó đàn gà
nuôi công nghiệp chiếm khoảng 30%
1.2.4.2 Tình hình tiêu thụ gà ở Việt Nam
Với dân số khoảng 90 triệu người, và tốc độ tăng dân số nhanh, Việt Nam
đang thực sự đối mặt với sự thiếu hụt về lương thực, thực phẩm, và có thể xem là
thiếu hụt nghiêm trọng nếu so với mức tăng trưởng của thế giới và tiêu chí nâng cao
đời sống cho người dân mà Chính phủ Việt Nam đặt ra
Thịt gà là thực phẩm không thể thiếu.Tại Việt Nam trong các bữa ăn, vào thời điểm không có dịch, mỗi ngày có hàng trăm tấn gia cầm được tiêu thụ Tuy nhiên kể từ khi dịch cúm bùng phát đã tác động không nhỏ tới giá cả và thị trường tiêu thụ Trước đây, bình quân mỗi ngày có khoảng 50 tấn gia cầm được chuyển đến chợ, nhưng khi có dịch số lượng đã giảm đi một nửa
Trước tình trạng người tiêu dùng “quay lưng” với thịt gà, kể cả ở những vùng không có dịch, nhiều chuyên gia nông nghiệp đã lên tiếng kêu gọi người tiêu dùng nên cân nhắc lựa chọn thịt gia cầm ở các cơ sở lớn và yên tâm sử dụng khi gia cầm có nguồn gốc rõ ràng, được cơ quan kiểm dịch đóng dấu xác nhận
Nhiều người lo ngại, sau đại dịch, nguồn thịt gà sẽ khan hiếm do nhu cầu tăng, giá cả cũng tăng, nếu không kiểm soát tốt, sẽ dẫn đến tình trạng nhập khẩu lậu
và tiêu thụ những sản phẩm không rõ nguồn gốc từ ngoài vào, lúc đó thị trường thịt
gà sẽ càng khó kiểm soát hơn và phần thiệt thòi vẫn tiếp tục đến với những hộ chăn nuôi gà trong nước
Sang đến hết quý 1 năm 2014, thị trường tiêu thụ thịt gà đã có những biến chuyển theo hướng tích cực hơn Ghi nhận tại một số chợ đầu mối và các địa
Trang 23(Báo cáo: Thị trường thực phẩm 2013 và Tiêu thụ sản phẩm gia cầm Việt
Báo - Việt nam)
Sau chỉ 3 tháng, giá các loại thịt gà đã tăng lên đáng kể Đáng chú ý nhất là thịt gà ta đà tăng 45.000 đến 60.000 đồng /kg so với thời điểm tháng 12, và giá đạt cao nhất là 110.000 Thịt gà công nghiệp và thịt gà đẻ tăng 12.000 - đến 15.000
đồng/kg Giá gà có xu hướng tăng nên như niềm tin thúc đẩy các hộ chăn nuôi gia
cầm Nguyên nhân sâu xa khiến giá gà tăng trở lại trong khoảng thời gian này là thông tin về tình hình dịch cúm gia cầm đã được kiểm soát trên địa bàn cả nước,
đồng thời nguồn cung thịt gà đã trong nước đã trở nên khan hiếm hơn bao giờ hết đã
khiến lượng tiêu thụ mạnh hơn, giá bán tăng lên, người dân cũng không còn tâm lý
dè dặt khi chọn mua thịt, trứng gà Giá sản phẩm thịt tăng khiến giá trứng gia cũng tăng theo
Vì vậy, để chăn nuôi gia cầm ổn định và hiệu quả, cần tăng cường công tác tuyên truyền hơn nữa để người dân chủ động phòng, chống dịch bệnh Bên cạnh đó,
để giúp các doanh nghiệp, các trang trại yên tâm phát triển sản xuất, cần có chính
sách khuyến khích, cơ chế hỗ trợ động viên các doanh nghiệp, chủ trang trại quy mô lớn tham gia chương trình bình ổn giá, tăng cường thu mua các mặt hàng thịt và trứng gia cầm sạch, không bị bệnh, đảm bảo cung - cầu ổn định thị trường
Trang 2422
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân chăn nuôi gà trên địa bàn xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
2.1.2.1 Phạm vi về thời gian
Đề tài được thực hiện từ 1/1/2014 đến 20/05/ 2014 Số liệu nghiên cứu là số liệu
của 3 năm 2011- 2013, số liệu điều tra là số liệu hộ thể hiện năm 2014
2.1.2.2 Phạm vi về không gian
Địa bàn xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
2.1.2.3 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu
Trên địa bàn xã có nhiều phương thức chăn nuôi gả thả vườn, hầu hết là gà
ta Do điều kiện hạn hẹp về thời gian nên tôi xin chỉ nghiên cứu gà thả vườn thương phẩm (gà thịt)
2.1.2.4 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc
Giang
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Sơ lược về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Hòa Sơn, huyện Hiệp
Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu thị trường sản phẩm gà thả vườn trên địa bàn xã
- Điều tra thực trạng và hiệu quả kinh tế của của việc chăn nuôi gà thả vườn tại địa bàn xã
- So sánh hiệu quả chăn nuôi với gà công nghiệp
- Đề xuất số giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà thả vườn, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân
- Đề xuất một số giải pháp để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm gà thả vườn
Trang 25phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung
Hình thức điều tra chọn mẫu nghiên cứu dựa trên 2 tiêu chí:
Tiêu chí phân theo khu vực, tiêu chí này nhằm chọn ra 3 thôn đại diện cho 3 khu vực vùng cao, vùng trũng và vùng trung du Đó lần lượt là các thôn Trung Hòa, thôn Tăng Sơn, Thôn Quyết Tiến
Tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên theo bước nhảy, cứ 5 hộ gia đình chọn lấy 1 hộ gia đình Số lượng mẫu là 60 (n=60) hộ gia đình (Phụ lục 1)
Theo quy mô đàn thì chia ra theo 3 nhóm:
+ Nhóm hộ quy mô nhỏ: Hộ nuôi từ 50 đến < 100 con
+ Nhóm hộ quy mô trung bình: Hộ nuôi từ 100 đến < 500 con
+ Nhóm hộ quy mô lớn: Hộ nuôi ≥ 500 con
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất kì tài liệu nào, người thu thập có được thông tin qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát thực tế, đánh giá nông thôn, phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn bán cấu trúc, phân tích SWOT
Trong phạm vi đề tài này, để thu thập được các thông tin sơ cấp phục vụ cho kết quả nghiên cứu, tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp nông dân nuôi gà thả vườn bằng bảng hỏi, với bộ câu hỏi này, số liệu thu thập trong quá trình điều tra được
tổng hợp bằng bảng biểu
2.3.2.2 Thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin,
số liệu có sẵn hoặc từ các số liệu đã được công bố Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng, dự án, các tài liệu trên Internet…
Trong phạm vi đề tài này, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp sử dụng để
có được các số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Hòa Sơn, tình
Trang 2624
hình sản xuất chăn nuôi gia cầm của xã Hòa Sơn qua các năm, dựa trên các báo cáo thường kỳ của quý, của năm
2.3.2.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia
* Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Đi thực tế, quan sát đánh giá thực trạng và thu thập những thông tin về tình hình sản xuất rau qua người sản xuất ở vùng nghiên cứu
* Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): PRA là viết tắt của cụm từ tiếng anh Participatory Rural appraisal - đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân PRA bao gồm một loạt cách tiếp cận giao lưu và phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân cùng tham gia điều tra, trao đổi, chia sẻ, thảo luận, phân tích những khó khăn, thuận lợi của cộng đồng những kiến thức kinh nghiệm của đời sống và điều kiện trong nông thôn để họ xây dựng kế hoạch, thực hiện trong hiện tại và tương lai [4]
Đề tài này sử dụng phương pháp PRA để phỏng vấn chính thức người sản
xuất chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn xã Hòa Sơn trên cơ sở bộ câu hỏi đã được xây dựng sẵn để thu thập thông tin liên quan đến sản xuất trồng rau của nông hộ
* Phương pháp phân tích SWOT: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của việc chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn xã Hòa Sơn
* Tham vấn chuyên gia: Tiến hành tham vấn, trao đổi thảo luận với các cán
bộ khuyến nông, các cán bộ chỉ đạo sản xuất trên địa bàn từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu cũng như kiểm chứng kết quả nghiên cứu.2
2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin
- Phương pháp so sánh: Khi xem xét mức độ biến động của các chỉ tiêu giúp phản ánh vấn đề nghiên cứu, điều này giúp cho việc nghiên cứu khách quan và khoa học
- Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp: Sau khi thu thập được số liệu cần thiết cho các khía cạnh nghiên cứu của đề tài, tiến hành phân tích đánh giá tổng hợp để thấy được bản chất của những biến động Tìm ra các nguyên nhân dẫn đến những biến động đó để đưa ra các giải pháp khắc phục
- Phương pháp dự báo thống kê: Dự báo đây là việc xác định các thông tin chưa biết có thể xảy ra trong tương lai của hiện tượng được nghiên cứu dựa trên số liệu thống kê, trong các giai đoạn nghiên cứu đặt ra
- Trong việc phân tích thông tin, tôi sử dụng cách quy đổi đơn vị để đồng nhất đơn vị tính trong chi phí trong chăn nuôi gà thả vườn Cụ thể, đó là quy đổi chi
Trang 2725
phí của thức ăn chăn nuôi gà thả vườn, từ các đơn vị thức ăn như cám, ngô, rau…
được quy đổi ra thóc
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra được tổng hợp, xử lý và tính toán trên Microsoft Word và Microsoft Excel
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu dùng trong đề tài
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình chăn nuôi của hộ
- Chi phí chăn nuôi của hộ(Cp)
Cp bao gồm: Chi phí trung gian chi phí thức ăn, con giống chi phí thuốc thú
y, chi phí lao động, các chi phí khác
- Doanh thu (DT)
Doanh thu được tính bằng tổng KLXC của sản phẩm gà bán ra nhân với giá bán bình quân
- Lợi nhuận(Pr)
Lợi nhuận được tính bằng công thức: Pr = DT – Cp
Trong đó: Pr: lợi nhuận (tính trên lứa)
DT: Doanh thu
Cp: Chi phí
Trang 2826
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Hòa Sơn - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hòa Sơn là một xã miền núi nằm ở phía tây của huyện Hiệp Hòa, cách trung tâm huyện 7 km Địa bàn xã trải dài hơn 3 km dọc theo trục đường đê song cầu rất thuận lợi cho việc giao thông vận tải và lưu thông hàng hải của nhân dân Xã Hòa Sơn có phía bắc giáp với xã Đông Cao, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, phía nam giáp xã Hùng Sơn, phía đông các xã Thái Sơn, phía Tây giáp xã Quang Minh của huyện Hiệp Hòa [1]
Hòa Sơn có vị trí thuận lợi cho quá trình giao lưu và phát triển hàng hóa nông nghiệp Toàn bộ từ bắc xuống nam là hệ thống sông cầu, đây là hệ thống
đường thủy phục vụ tốt cho việc khai thác sỏi đá và giao lưu hàng hóa với các xã
bên và vùng lân cận
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình của xã Hòa Sơn có địa hình không bằng phẳng, thấp dần từ hướng
Tây Bắc xuống Đông Nam Về mùa mưa khu vực phía nam của xã thường xảy ra úng lụt, tiêu úng chậm, gây ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tăng vụ Tuy nhiên
xã có bố trí cây trồng hợp lý, ở những nơi có địa hình vàn và trũng thích hợp với trồng lúa và nuôi trồng thủy sản, cong những nơi co địa hình cao hơn thích hợp với trồng hoa màu [1]
3.1.1.3 Đặc điểm thời tiết khí hậu
Thời tiết khí hậu của xã Hòa Sơn mang đặc điểm chung của vùng trung du miền núi phía đông bắc Việt Nam Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn của tỉnh Bắc Giang, vùng nay có đặc điểm như sau:
Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm là 23oC Nhiệt độ cao nhất là 35oC
và nhiệt độ thấp nhất là 9oC
Lượng mưa: Trung bình hằng năm là 1800mm/năm Cao nhất là 2700 mm/năm và thấp nhất là 1300 mm/năm
Ở vùng này, phân bổ lượng mưa trong năm không đồng đều, từ tháng 4 đến
tháng 9 lượng mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm
Trang 2927
Độ ẩm không khí: Trung bình hằng năm là 85%, trung bình tối cao là 95%,
và trung bình tối thấp là 74%
3.1.1.4 Đặc điểm đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể thay thế, trong nông
nghiệp không thể sản xuất được nếu không có đất, đất đai là môi trường sống cho cây sinh trưởng và phát triển Nó là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định
đến năng suất chất lượng cây trồng, mỗi loại cây trồng có những đặc tính sinh học
khác nhau, phù hợp với từng loại đất khác nhau, ở mỗi vùng miền khác nhau Vì vậy muốn ngành trồng trọt đạt hiệu quả thì phải hiểu biết chất đất của từng vùng để
bố trí cây trồng hợp lý, sử dụng đất, tổ chức sản xuất đạt hiệu quả cao nhất
Từ những năm từ 2000- 2005, thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy HĐND - UBND tỉnh Bắc Giang về việc chuyển đổi một phần diện tích hai vụ kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản Do vậy các hộ nông dân trong xã đã lập dự án “ Dồn ô đổi thửa” thực hiện việc chuyển đổi ruộng từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, như vậy trong các năm 2002 - 2005, địa phương đã vận động nhân dân chuyển đổi từ diện tích hai vụ kém hiệu quả sang đào ao lập vườn trồng cây thả cá, được 28,8 ha đạt 100% kế hoạch [5]
Năm 2013, xã Hòa Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 497,15 ha với 371,33 ha đất nông nghiệp Trong đó đất trồng cây hằng năm là 40,84 ha, đất trồng cây lâu năm là 24,07 ha, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 5,51 ha Đất phi nông nghiệp là 121,86 ha Trong đó diện tích đất thổ cư là 42,7 ha, đất chuyên dùng là 57,2 ha, đất tôn giáo tín ngưỡng là 0,18ha, đất nghĩa trang nghĩa địa là 6,44ha, đất sông suối và ,mặt nước chuyên dùng là 15,34ha
Trong những năm gần đây Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị tường, hội nhập kinh tế thế giới, đất đai tư liệu sản xuất chủ yếu càng trở nên quan trọng, trong 3 năm đất nông nghiệp giảm đi 0,4 ha, chuyển sang đất chuyên dùng và
đất thổ cư (đất ở) [13] Cụ thể:
Đất trồng lúa từ 204,46 ha năm 2011 giảm xuống còn 204,06 năm 2013 Đất chuyên dùng 2011 trên địa bàn xã là 57,14 ha, chiếm 11,49 % tổng diện
tích đất tự nhiên, tăng lên 57,2 ha, chiếm 11,51 %
Đất thổ cư tăng từ 42,36 ha năm 2011 đến 42,7 ha năm 2013 Do địa
phương mở rộng diện tích đất làm đường giao thông, đất ở, phát triển giao thông dịch vụ thương mại, đất dùng cho văn hóa thể thao… Diện tích đất chưa sử dụng
được triển khai sử dụng trong các năm tới
Trang 3028
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã Hòa Sơn giai đoạn 2011 - 2013
II Đất phi nông nghiệp Ha 121.46 24.43 121,46 24.43 121,86 24.51 100 100.33 100.16
Đất sông suối và ,mặt nước chuyên
(Nguồn : UBND xã Hòa Sơn)
28
Trang 3129
3.1.1.4 Dân số lao động
Dân số và lao động trong độ tuổi bất cứ quốc gia nào cũng ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam Vùng nông thôn và miền núi trình độ dân trí thấp có nguy
cơ bùng nổ dân số, đây là vấn đề rất lan giải Vì vậy Đảng và nhà nước ta cần có những chính sách, bước đi phù hợp để giải quyết tốt vấn đề dân số, giúp các hộ nông dân phát triển kinh tế ở vùng nông thôn, chúng ta cần phải quan tâm giải quyết tốt nguồn lao động trong độ tuổi và sử dụng lao động một hợp lý có hiệu quả
Về lực lượng lao động phần lớn tập trung vào sản xuất nông nghiệp, một số lao động làm nghề thủ công nghiệp, dịch vụ như: Sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến gỗ, xay sát chế biến lương thực thực phẩm và buôn bán nhỏ Song về quy mô sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ và phân tán, chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ và phân tán, chủ yếu còn mang tính tự cung tự cấp, một số lao động đi làm ăn xa ở trong và ngoài tỉnh, đi làm việc ở nước ngoài theo hướng xuất khẩu lao động
Tình hình dân số và lao động của xã được thể hiện qua bảng 2 cho thấy, đến ngày 31/12/2013 dân số trong toàn xã có 1332 hộ, 5.522 nhân khẩu và 3.140 lao
động [13] Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức chính
trị xã hội ở địa phương đã làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân, mà chủ trì là Hội Liên hiệp Phụ nữ và các ban trong ngành, Ban dân số kế hoạch hóa gia
đình và trẻ em kết hợp với ngành y tế thực hiện nhịp nhàng trong tổ chức triển khai
tuyên truyền vận động các chị em trong độ tuổi sinh đẻ, thực hiện nhịp nhàng trong
tổ chức triển khai tuyên truyền vận động các chị em trong độ tuổi sinh đẻ, thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình đạt hiệu quả, vì vậy tình hình dân số của xã Hòa Sơn những năm qua luôn giữ ở mức ổn định, dân số tăng trung bình 0,9%/năm
Hiện nay, lao động ở xã Hòa Sơn tham gia lao động ở mức 75% tổng số lao
động trong độ tuổi, số lao động này có xu hướng giảm dần vì: Hằng năm số con em đến độ tuổi lao động, sau khi tốt nghiệp THCS hoặc THPT không thi đầu vào các
trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp thì hầu hết xin đi làm công nhân
ở các xí nghiệp, công ty như: May mặc, giày da, xây dựng, sản xuất vật liệu xây
dựng điều này làm ảnh hưởng lớn đến nguồn lao động sản xuất nông nghiệp phát triển kinh tế ở địa phương
Trang 322 Hộ phi nông nghiệp Hộ 276 21,2 323 24,66 452 33,9 117,0 139,9 128,4
1 Khẩu nông nghiệp Khẩu 4.958 91,2 4.829 88,1 4.633 83,9 97,3 95,9 96,6
2 Khẩu phi nông nghiệp Khẩu 477 8,8 654 11,9 889 16,1 137,1 135,9 136,5
1 Lao động nông nghiệp LĐ 2.592 87,7 2.534 81,4 2.347 75,0 97,8 93,0 95,4
2 Lao động phi nông nghiệp LĐ 365 12,3 578 18,6 783 25,0 158,4 135,5 146,9
Trang 33Từ tình hình trên vấn đề lao động và giải quyết việc làm tại địa phương là một vấn đề mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Hòa Sơn đang trăn trở Trong
điều kiện hiện nay chúng ta đang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thay đổi cách nhìn hộ nông dân trước đây mà thay vào đó mỗi hộ nông dân là một đơn vị
kinh tế tự chủ Năng suất lao động tăng lên, những tiến bộ KHKT được áp dụng vào sản xuất giảm chi phí đáng kể về vật chất, nguyên nhiên vật liệu và lao động Như vậy, tình trạng thiếu lao động có trình độ KHKT, dư thừa lao động lão hóa về độ tuổi, người lao động sắp đến tuổi nghỉ chiếm tỷ lệ cao Một bài toán khó đáng tìm lời giải cho Đảng ủy – HĐND – UBND xã Hòa Sơn cùng các cấp các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và toàn thể nhân dân, phải có biện pháp gì để phân bổ lại nguồn lao động trong độ tuổi phù hợp với quy hoạch, bố trí cây trồng một cách hợp
lý theo hướng chuyên canh tập trung, đưa các loại giống cây trồng, con vật nuôi có năng suất chất lượng, giá trị kinh tế cao váo sản xuất, khai thác tốt hơn nguồn lao
động trong nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình kinh tế của xã Hòa Sơn
Giá trị sản xuất của toàn xã ước tính đạt 70,3 tỷ đồng năm 2013, thu nhập bình quân đầu người khoảng 11,96 triệu đồng/ người/ năm (1.000.000
đồng/người/tháng) [10] Cụ thể trên các lĩnh vực sau
3.1.2.1.1 Về trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng năm 2013 là 524,3 ha, sản lượng lương thực đạt 2.111,5 tấn, bình quân lương thực đầu người là 359 kg/ người/ năm,trong đó:
Cây lúa, diện tích là 345 ha, năng suất bình quân đặt 49,7 tạ/ ha, sản lượng
đạt 1.714,6 tấn Trong đó, diện tích lúa lai là 40,3 ha, năng suất trung bình đạt 60,5
Trang 34đồng, duy trì tốt việc kiểm tra, thăm đồng phát hiện, dự báo tình hình sâu bệnh, kịp
thời có biện pháp bảo vệ cây trồng đạt năng suất cao
3.1.2.1.2 Về chăn nuôi
Tổng đàn trâu bò ngựa 930 con
Tổng đàn lợn là 6.834 con, trong đó lợn nái là 916 con, lợn thịt là 5918 con
Tổng đàn gia cầm là 60.300 con Trên địa bàn xã có 3 lò ấp trứng gà, công suất đạt 15.000 - 20.000 con/lò/tháng Một số hộ gia đình duy trì và phát triển mô hình chăn nuôi gà, lợn theo hướng gia trại cho thu nhập khá cao
Toàn xã có tổng số 6,8 ha diện tích nuôi trồng thủy sản, sản lượng ước tính khoảng 36 tấn
Trong năm 2013, trên địa bàn xã cũng đã tổ chức tiêm phòng đại trà, bệnh tai xanh ( 4 đợt), đã tiêm được 3.824 lượt con cho đàn gia súc UBND xã hỗ trợ 100% kinh phí tiêm phòng cho đàn lợn nái Tăng cường triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm, chủ động tuyên truyền để nhân dân tự giác thực hiện các biện pháp phòng trừ dịch bênh trên địa bàn [10]
3.1.2.1.3 Cây lâm nghiệp và cây ăn quả
Diện tích cây lâm nghiệp được quan tâm chăm sóc, được duy trì và bảo vệ và phát triển tốt
Diện tích cây ăn quả khoảng 28,6 ha như vải, nhãn, bưởi được xen kẽ nhau cho thu nhập khoảng 350 triệu đồng [10]
3.1.2.1.4 Sản xuất ngành nghề dịch vụ
Các loại ngành nghề dịch vụ như: Nghề mộc, nghề nề, vận tải, vật liệu xây dựng, các loại hình kinh doanh dịch vụ… tiếp tục được duy trì và phát triển Hiện nay, trên địa bàn có 1 doanh nghiệp xăng dầu, 04 lò gạch nung xử lý có công nghệ,
có 22 ô tô vận tải, chỏ khách có 130 hàng quán, cửa hàng buôn bán, dịch vụ thu hút
380 lao động với nguồn thu nhập khá, tổng thu ước đạt 21,3 tỷ đồng [10]
3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng
Trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, để bước vào thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung, CNH – HĐH nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới nói riêng, Đảng và nhà nước ta dã đề ra vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng được đặt lên hàng đầu và là một yêu cầu cấp bách đối với nước ta [10]
Trang 35• Về hệ thống giao thông
Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, xã Hòa Sơn được đặt là một xã
điểm của chương trình nông thôn mới cấp huyện.Trong toàn xã năm 2013 tổng toàn
xã đã cứng hóa bê tông được 584m đường liên thôn, cụ thể ở thôn An Khánh,khối lượng 278m3, tổng kinh phí là 150 triệu đồng Bên cạnh đó, các hoạt động san lấp ổ
gà được tiến hành trên các địa bàn thôn Sở, Yêm, Giếng với tổng chiều dài 432,5 m3
đất, Giải phóng mặt bằng, bàn giao diện tích của các hộ hiến đất cho ban quản lý dự án
huyện đầu tư cứng hóa tuyến đường giao thông liên xã Hòa Sơn - Quang Minh [10]
• Về công tác thủy lợi
Hòa Sơn là một xã có diện tích nông nghiệp chiếm 74,7 % tổng diện tích đất
tự nhiên thì hệ thống thủy nông, thủy lợi đóng vai trò quan trọng đặc biệt, hiện tại trên toàn xã có hệ thống kênh mương cấp 1 (kênh C1) với chiều dài hơn 4km, đến nay đã được Bộ CNH – HĐH đầu tư kiên cố hóa 100%.Năm qua, xã chỉ đạo tu sửa, nạo vét kênh mương được 444,8 m3, chỉ đạo thôn Quyết Tiến cứng hóa tuyến mương Đồng Thuyền với chiều dài 134 m với tổng kinh phí 60 triệu đồng Để đánh giá một cách toàn diện đầy đủ thì hệ thống kênh mương của xã vẫn chưa hoàn chỉnh, đến nay mới có 6,8 km đạt 28% thực hiện theo đề án kiên cố hóa kênh mương của tỉnh Bắc Giang [10]
• Hệ thống trường học
Trường mầm non của xã được xây dựng phòng học ở các địa bàn khu vực thôn, có tổng số 9 phòng học, giá trị xây dựng 1,2 tỷ đồng Hằng năm huy động các cháu ra lớp nhà trẻ đạt 45 %, mẫu giáo đạt 90 %, riêng cháu 5 tuổi đạt 100%
Trường tiểu học có 2 dãy nhà xây kiên cố 2 tầng với tổng số 14 phòng học,
và một dã nhà cấp bốn với 3 phòng học, tổng giá trị xây dựng lên tới 3 tỷ đồng Hằng năm huy động trên 380 em học sinh theo học, cơ sở vật chất tương đối hoàn thiện, nhà trường được công nhận là trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ I năm 2006
Trường THCS có một dãy nhà đã xây dựng kiên cố 2 tầng với 8 phòng học,
được xây dựng từ năm 2000 với trị giá 470 triệu đồng và một dãy nhà cấp bốn đang
lập hồ sơ dự toán nâng cấp Hàng năm nhà trường huy động được khoảng 350 học sinh vào học, trường đang phấn đấu là trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ I vào năm
2015 [10]
Trang 36Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng xã Hòa Sơn năm 2013
1 Đường giao thông
Đường liên xã km 5,8 Nhựa + VLC
Đường liên thôn km 6,65 Bê tông
Đường thôn km 17,7 Bê tông +
VLC
2 Công trình thủy lợi
5 Tài sản cố định
6 Trường học
Trường tiểu học Phòng 17 Lớp 15 Trung tâm xã
(Nguồn: UBND xã Hòa Sơn 2013)
• Về y tế
Xã có 1 trạm y tế được nâng cấp năm 2002, năm tại trung tâm của xã Với 8 phòng và 12 giường bệnh, tổng trị giá 1,4 triệu đồng, trạm xá được trang bị tương
đối đầy đủ về trang thiết bị và phương tiện khám chữa bệnh, đội ngũ cán bộ y tế có
1 bác sỹ, 2 y tá, 1 dược sỹ, 2 y sỹ, 1 hộ lý và 15 y tế mạng lưới, trạm đã được nhận chuẩn quốc gia vào năm 2005 [10]
• Nhà văn hóa và công trình tín ngưỡng
Trong xã có 8 nhà văn hóa thôn, tổng trị giá đầu tư 3,2 tỷ đồng
Hai thôn có đình làng là thôn Yêm và thôn Quyết Tiến Xã có một ngôi đền
đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1994, có 2 ngôi chùa cổ
là chùa Y Sơn và chùa Tường Vân đều đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2006 [10]
Trang 37Tóm lại, các điều kiện tự nhiên của xã Hòa Sơn cơ bản là thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, trong những năm vừa qua, với truyền thống của nhân dân địa phương, tình hình kinh tế đã mang lại nhiều thành tựu kết quả
đáng khích lệ, năng suất sản lượng cây trồng ngày một tăng,đời sống của nhân dân
ngày càng được nâng cao Song trong điều kiện hiện nay, cơ chế nền kinh tế thị trường đã và đang phát triển mạnh trên cả nước, kết quả có được nhu trên ở xã Hòa Sơn mới chỉ là bước đầu, còn rất nhiều khiêm tốn và thực sự chưa bền vững trước những “khắc nghiệt” của thị trường trong những năm tiếp theo vì vậy : Đảng bộ và nhân dân xã Hòa Sơn cần hết sức đổi mới về mọi mặt trước hết là đổi mới về nhận thức, phương pháp lãnh đạo chỉ đạo nói chung, công tác cán bộ nói riêng, đặc biệt là công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng và sử dụng cán bộ đảm bảo hợp lý hiệu quả Nhằm giải quyết tốt công việc làm cho người lao động, đưa địa phương vững bước
đi lên từ trong sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, có thương hiệu đem lại hiệu quả kinh tế cao
3.2 Tìm hiểu thực trạng chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn xã Hòa Sơn
3.2.1 Khái quát tình hình chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn xã Hòa Sơn
Vốn lã xã trung du miền núi của có nhiều điều kiện phát triển chăn nuôi gà,
đặc biệt là diện tích vườn đồi lớn Người dân trong xã đã phát triển chăn nuôi theo
hình thức bán công nghiệp, đó là tận dụng đặc điểm địa hình vườn, đồi núi vườn cây được che phủ bởi nhiều tán cây rộng nên không gian mát mẻ và dưới đất có nhiều thức ăn có sẵn như côn trùng, cỏ dại, mùn lá cây nên các hộ gia đình trong xã
đã áp dụng phương thức nuôi gà thả vườn với nhiều giống gà ta, gà nuôi được thả tự
nhiên trong vườn hoặc trên đồi, gà tự do chạy nhảy tìm kiếm nguồn thức ăn bổ sung sẵn có trong thiên nhiên, tiết kiệm được lượng thức ăn bổ xung Gà lại có chất lượng thịt thơm ngon, ngoại hình đẹp nên giá bán trên thị trường cao, đặc biệt chất thải trong quá trình nuôi gà được sử dụng để bón cây rất tốt nên dù nuôi với số lượng rất đông nhưng không gây ô nhiễm môi trường Vậy nuôi gà theo hình thức bán công nghiệp hiện nay là hình thức nuôi phổ biến ở xã nhiều hộ gia đình đã tập trung nuôi với số lượng lớn lên tới hàng nghìn con trên lứa
Trang 38Bảng 3.4: Tình hình chăn nuôi của xã năm 2011 - 2013
ĐVT: Con
(Nguồn: UBND xã Hòa Sơn 2014)
Nhìn chung, đàn gia súc gia cầm trên địa bàn xã giảm về số lượng trong giai
đoạn 2011 - 2013 Trong đó, số lượng trâu giảm bình quân 6 con/năm, chỉ số phát
triển bình quân là 94,43%, số lượng bò có chỉ số phát triển bình quân là 101,49%, chỉ số phát triển bình quân của ngựa là 114,68 %, còn chỉ số BQ của lợn thấp nhất
là 97,1% Đàn gia cầm tăng hàng nghìn con trên một năm chỉ số BQ là 102,62 % Nguyên nhân cụ thể khiến tổng đàn gia cầm tăng lên do đàn gà toàn xã tăng mạnh, tăng hơn 700 đầu con/năm Số lượng đàn ngan, vịt tăng lần lượt là 227,27 và 161,92 Tuy nhiên, số con ngan vịt không đáng kể nên không có nhiều tác động để tăng cao tổng đàn gia cầm Vai trò của vật nuôi gà trong tổng đàn gia cầm trên toàn
xã được thể hiện rõ hơn ở dưới bảng sau:
Trang 39Bảng 3.5: Cơ cấu đàn gia cầm toàn xã năm 2014, quý 1
(Báo cáo thống kê số lượng gia súc gia cầm UBND xã Hòa Sơn)
Từ bảng 3.5 cho ta thấy chăn nuôi gia cầm trên địa bàn xã có sự chênh lệch rất lớn về số lượng các loại gia cầm trong tổng đàn gia cầm Chủ đạo chính trong chăn nuôi gia cầm là chăn nuôi gà với tổng số con là 41.884 con, chiếm 98,1 % Chăn nuôi ngan chiếm 1,23 %, chăn nuôi vịt chiếm 0,67% trong tổng số đàn gia cầm
Trên địa bàn xã có tổng số 1312 hộ chăn nuôi gà Đàn gà được thống kê vào quý I nên số lượng tương đối thấp, do nhu cầu tiêu dùng gà trong dịp trong tết Nguyên Đán rất lớn, nên số lượng thấp tương đối so với những thời điểm khác trong năm Số gà phân bổ trên các thôn có sự không đồng đều Nhiều nhất là thôn Trung Hòa có 9965 con Thấp nhất là thôn Chùa có 905 con gà
Chăn nuôi vịt, ngan trên địa bàn xã với số lượng thấp, hình thức chăn nuôi chủ yếu
là chăn thả, phục vụ mục đích tự cung tự cấp cho các hộ gia đình
Số lượng đàn gà trên toàn xã giảm nhanh chóng qua 3 năm Nguyên nhân sâu
xa do người chăn nuôi nhận biết được những khó khăn và rủi ro trong chăn nuôi gà
Mà tác động trực tiếp tới vấn đề này đó là giá gà bán ra có xu hướng giảm, mà các chi phí đầu vào cao, khiến cho thu nhập của hộ từ chăn nuôi gà giảm Số lượng đàn
Trang 40gà năm 2012 giảm 5,77 % so với năm 2011 Số lượng đàn gà năm 2013 giảm 13,55% so với năm 2012
Theo như điều tra, các hộ chăn nuôi ở đây cho biết 3 năm trước chăn nuôi gà
đạt hiệu quả rất cao, thời điểm người chăn nuôi có lãi nhất là thời điểm giá một quả
trứng gà lên đến 6000đ/quả, và giá gà thịt lên đến 170.000 đ/kg Và đó là thời điểm
mà quy mô chăn nuôi gà của xã đạt cao nhất, lên đến khoảng 62.000 con Tuy nhiên giá gà thời điểm chỉ giữ ở mức cao một khoảng thời gian rất ngắn, sau đó giá gà ổn
định ở mức 110.000 - 120.000 đồng/kg kéo dài trong năm 2012 Chăn nuôi gà năm
2013 có nhiều diễn biến phức tạp về nhiều mặt, giá cả giảm nhanh, dịch bênh khó kiểm soát và thị trường tiêu thụ thịt gà chậm
Theo ông Thành thôn Trung Hòa, một hộ chăn nuôi gà cho biết “ Cho đến khoảng quý cuối năm 2013, do thông tin về dịch cúm gia cầm khiến thị trường chăn
nuôi gà rơi vào trạng thái “đóng băng” , “chăn nuôi gà không có lãi mà còn bị lỗ nặng” Hiện tại gia đình nhà ông có 500 con gà trứng và 200 con gà thịt, mỗi ngày
nhặt 400 trứng thì ít nhất nhà ông cũng phải lỗ 500 nghìn vì giá trứng chỉ còn 1700
đồng/quả, giảm đi 1000 đồng/quả Còn chưa tính chi phí thức ăn gà thịt đến ngày
xuất chuồng rồi mà không được giá nên gia đình không thể bán Đó là những nhức nhối chưa thể giải quyết ngay đối với việc chăn nuôi gà trên toàn xã
Ông Ngọ Văn Bình (Thôn Quyết Tiến) cho biết:
“Gia đình nuôi được 400 gà, lúc ban đầu chưa công bố dịch bán 80 ngàn/kg,
từ khi công bố dịch rồi gà còn 50 - 60 nghìn mà không có ai mua, không ai mua nhưng cũng phải cho gà ăn, tính bình quân 1 con, ngày ăn 2 nghìn, thậm chí gà đẻ trứng rồi mà cũng không ai tới mua Đó là thiệt hại rất lớn cho người nông dân, sống ở nhà quê nhờ ruộng nhờ chăn nuôi mà từ ngày công bố là như vậy thôi, ở thôn 4 - 5
hộ nuôi hàng trăm con bây giờ cũng phải bó tay chịu thua”
Tình hình chăn nuôi trên địa bàn xã có nhiều diễn biến phức tạp Và ngành chăn nuôi gà thường xuyên bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi thông tin dịch cúm gia cầm Số lượng đàn gà tăng rất chậm qua các năm Do vậy các cấp chính quyên cần có những biên pháp tuyên truyền cho người dân giúp có thể chủ động phòng chống dịch bệnh để nhanh chóng đưa chăn nuôi về trạng thái ổn định
3.2.2 Một số giống gà nuôi chủ yếu trên địa bàn xã Hòa Sơn
Những giống gà nuôi phổ biến ở xã Hòa Sơn là những giống gà có có năng xuất trung bình, nhưng chất lượng thịt vàng, chắc Đặc biệt những giống gà này sức chống chịu rất cao, khoẻ mạnh vận động nhiều, rất phù hợp với nuôi chăn thả ở vườn đồi