Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Xuân Mai - huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013” để đưa r
Trang 1- -
HÀ THỊ THUỶ NGÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA KHUYẾN NÔNG TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ XUÂN MAI
HUYỆN VĂN QUAN - TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2011 - 2013
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khuyến nông Khoa : Kinh tế & PTNT Khoá học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
HÀ THỊ THUỶ NGÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA KHUYẾN NÔNG TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ XUÂN MAI
HUYỆN VĂN QUAN - TỈNH LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2011 - 2013
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khuyến nông Khoa : Kinh tế & PTNT Lớp : 42 - Khuyến nông Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS Bùi Thị Minh Hà
Thái Nguyên, 2014
Trang 3tôi đã chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh mọi nội quy, quy định của cơ quan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài: “Đánh
giá vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng Nông thôn mới tại xã Xuân Mai - huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013” là
trung thực và chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc
Lạng Sơn, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Hà Thị Thủy Ngân
Trang 4tận tình của các Cơ quan, Đơn vị, Nhà trường, các thầy, cô giáo cùng bạn bè
và người thân Đến nay, tôi đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và
đặc biệt là cô giáo ThS Bùi Thị Minh Hà người đã trực tiếp, tận tình hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bác, các cô, các chú, các anh và các chị đang công tác tại UBND xã Xuân Mai đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc hướng dẫn, cung cấp các thông tin, tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài của mình trong thời gian qua
Trong quá trình thực tập, bản thân tôi đã cố gắng hết sức nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chỉ bảo của các thầy, cô giáo, của bạn bè và người thân để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Hà Thị Thủy Ngân
Trang 5Bảng 2.1 Các tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới tại các xãTrung du
miền núi phía Bắc 15
Bảng 2.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới tại xã Xuân Mai giai đoạn 2011 - 2013 28
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Xuân Mai năm 2013 33
Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động xã Xuân Mai năm 2013 34
Bảng 4.3 Số lượng các ấn phẩm khuyến nông được sử dụng qua 3 năm 2011 - 2013 45
Bảng 4.4 Kết quả hoạt động đào tạo - tập huấn qua 3 năm 2011 - 2013 46
Bảng 4.5 Các mô hình trình diễn qua 3 năm 2011 - 2013 48
Bảng 4.6 Kết quả tham quan - hội thảo qua 3 năm 2011 - 2013 49
Bảng 4.7 Kết quả sản suất một số sản phẩm nông nghiệp 3 năm 2011 – 2013 50
Bảng 4.8 Thu nhập bình quân đầu người/năm qua 3 năm 2011 - 2013 51
Bảng 4.9 Tình hình lao động xã Xuân Mai qua 3 năm 2011 - 2013 53
Bảng 4.10 Phân loại hộ nông dân theo mức thu nhập trong 3 năm 2011 - 2013 55
Bảng 4.11 Số lượng hợp tác xã hoạt động trên địa bàn xã qua 3 năm 2011 - 2013 57
Bảng 4.12 Đánh giá của người dân về hoạt động thông tin tuyên truyền 59
Bảng 4.13 Đánh giá của người dân về hoạt động đào tạo tập huấn 61
Bảng 4.14 Đánh giá của người dân về hoạt động xây dựng mô hình trình diễn 62
Bảng 4.15 Đánh giá của người dân về hoạt động tham quan - hội thảo 63
Bảng 4.16 Một số kiến nghị của người dân đối với khuyến nông cơ sở 64
Trang 6NTM Nông thôn mới
PTNT Phát triển nông thôn
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TTKN Trung tâm khuyến nông
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
VH - TT - DL Văn hóa - Thể thao - Du lịch
Trang 7PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tế 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Khái niệm về khuyến nông 4
2.1.2 Nội dung và vai trò của hoạt động khuyến nông 4
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khuyến nông 6
2.1.4 Vài nét về xây dựng mô hình nông thôn mới 7
2.1.5 Bộ tiêu chí xây dựng Nông thôn mới 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Vấn đề xây dựng nông thôn mới trên thế giới 18
2.2.2 Vấn đề xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 21
2.2.3 Vấn đề xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Lạng Sơn 25
2.2.4 Vấn đề xây dựng nông thôn mới tại xã Xuân Mai 27
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 29
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 29
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 29
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Xuân Mai 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
Trang 84.3 Vai trò của khuyến nông trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới 42
4.3.1 Vai trò khuyến nông đối với việc tăng thu nhập 43
4.3.2 Vai trò của khuyến nông đối với việc nâng cao tỷ lệ có việc làm thường xuyên 52
4.3.3 Vai trò của khuyến nông đối với việc giảm tỷ lệ hộ nghèo 54
4.3.4 Vai trò khuyến nông đối với việc đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả 56
4.3.5 Đánh giá của người dân đối với khuyến nông trong quá trình xây dựng NTM 58
4.3.6 Một số kiến nghị của người dân đối với khuyến nông cơ sở 64
4.4 Một số giải pháp về khuyến nông trong xây dựng NTM 65
4.4.1 Giải pháp đối với công tác tổ chức 65
4.4.2 Giải pháp đối với phát triển nguồn nhân lực 65
4.4.3 Giải pháp đối với hoạt động khuyến nông 66
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 9PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn, có tầm chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước Trong thời gian qua, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp
và huy động tối đa các nguồn lực Sau hơn 3 năm thực hiện bước đầu đã thu được kết quả mong đợi Cùng chung tay vào xây dựng NTM khuyến nông có vai trò không nhỏ Khuyến nông hỗ trợ đào tạo nghề, phát triển làng nghề, các chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý và các chương trình trình diễn
kỹ thuật, chuyển giao các tiến bộ KHKT, tư vấn sản xuất cho người dân trong xây dựng NTM từng bước nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân
Với hệ thống khuyến nông rộng khắp cả nước, trong những năm trở lại đây khuyến nông có những đóng góp lớn cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn Với vai trò là kết nối người sản xuất với ứng dụng công nghệ mới; người sản xuất với đào tạo; người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, công tác khuyến nông góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông thôn Đặc biệt trong 3 năm gần đây khuyến nông cùng đồng hành xây dựng NTM của cả nước đã tạo ra những thành quả cao Thông qua các hoạt động khuyến nông trình độ sản xuất của người dân được tăng lên, giúp người dân tiếp cận được với những tiến bộ KHKT, nâng cao năng suất, sản lượng, đào tạo nghề cho người dân, giúp cho họ có khả năng tiếp cận với những cái mới Mặt khác công tác khuyến nông không đơn thuần chỉ là hoạt động chuyên môn kỹ thuật nông nghiệp, mà còn là công tác chính trị, xã hội góp phần thay đổi nhận thức và tăng thu nhập cho nông dân, đào tạo nông dân nâng cao kỹ năng sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, tạo lập sinh kế cho người dân
Xuân Mai là một xã nằm ở trung tâm huyện Văn Quan, gần Quốc lộ
279 Những năm gần đây, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên Là xã thuần nông phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, nhân dân trong xã đã thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng tăng năng suất,
Trang 10chất lượng, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi Ngoài cây lúa nhân dân trong xã còn chú trọng sản xuất vụ đông phát triển ngành nghề, dịch
vụ do đó mang lại hiệu quả kinh tế khá cao Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2013 giảm còn 28,8% theo tiêu chí mới
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Xã Xuân Mai đạt 6/19 tiêu chí đó là: Quy hoạch, thủy lợi, bưu điện, nhà ở dân cư, hệ thống chính trị và an ninh trật tự
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng NTM xã Xuân Mai vẫn còn khó khăn trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và việc đổi mới phát triển các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả tại địa phương Cụ thể như tiêu chí: Thu nhập, hộ nghèo, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên và hình thức tổ chức sản xuất Để giúp địa phương nhanh chóng đạt chuẩn các tiêu chí trên cần tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình
Câu hỏi được đặt ra là công tác khuyến nông của xã đã có vai trò gì trong quá trình xây dựng Nông thôn mới? Cụ thể, các tiêu chí trong nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất Và trên thực tế, khuyến nông đã làm được gì
và chưa làm được gì trong 4 tiêu chí này
Xuất phát từ tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu Tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Đánh giá vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng Nông
thôn mới tại xã Xuân Mai - huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013” để đưa ra các hoạt động khuyến nông phù hợp nhằm xây dựng và phát triển
xã nông thôn mới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Xuân Mai - huyện Văn Quan Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đầy mạnh nâng cao hiệu quả các hoạt động khuyến nông trong quá trình thực hiện
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên củng cố lại kiến thức lý thuyết đã được học trên lớp
Trang 11- Giúp sinh viên có phương pháp làm việc và nghiên cứu khoa học, tiếp thu thực tế để thấy rõ được những việc mà một cán bộ khuyến nông phải làm
- Bổ sung thêm kiến thức về các hoạt động khuyến nông cho sinh viên
- Bổ sung thêm tài liệu cho khoa, trường, cán bộ khuyến nông và các cơ quan trong ngành
1.3.2 Ý nghĩa thực tế
Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho cán bộ khuyến nông, cơ quan trong ngành có thêm căn cứ để lựa chọn phương án hoạt động khuyến nông phù hợp nhất để nâng cao hiệu quả các chương trình góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông hiểu theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung
để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn
Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ
Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi Khuyến nông là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng Đây
là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nói cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân.[4]
2.1.2 Nội dung và vai trò của hoạt động khuyến nông
2.1.2.1 Nội dung hoạt động khuyến nông
Nghị định 56/2005/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 26/4/2005 về công tác khuyến nông, khuyến ngư cũng nêu rõ 5 nội dung bao gồm:
(1) Thông tin, tuyên truyền;
(2) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo;
(3) Xây dựng mô hình và chuyển giao KHCN;
(4) Tư vấn và dịch vụ;
(5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông, khuyến ngư
Nghị định 02/2010/NĐ-CP của chính phủ ra ngày 08/01/2010 về công tác khuyến nông thay cho Nghị định 56 cũng nêu rõ 5 nội dung như sau:
(1) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo;
Trang 13(2) Thông tin, tuyên truyền;
(3) Trình diễn và nhân rộng mô hình;
(4) Tư vấn và dịch vụ khuyến nông;
(5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông
2.1.2.2 Vai trò của hoạt động khuyến nông
* Vai trò trong chuyển giao công nghệ
Các tiến bộ kỹ thuật thường được phát minh bởi các nhà khoa học thuộc các trung tâm, các viện nghiên cứu, các trường Người nông dân rất muốn nắm bắt kịp thời những tiến bộ đó Nhờ có có cán bộ khuyến nông mà tiến bộ đó được chuyển dần đến nông dân qua nhiều cách khác nhau
Trong thực tiễn đời sống cho thấy nghiên cứu chỉ có hiệu quả khi nó có tính khả thi cao và được áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn đời sống, do đó khuyến nông là yếu tố trung gian để khâu nối các mối quan hệ đó Nhờ có các hoạt động khuyến nông mà tiến bộ khoa học kỹ thuật được chuyển giao tới bà con nông dân và nhờ có khuyến nông nhà khoa học hiểu được nhu cầu của nông dân
* Vai trò đối với nhà nước
Khuyến nông, khuyến lâm là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển Nông lâm nghiệp, Nông thôn và Nông dân
Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông lâm nghiệp Trực tiếp hoặc góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định, cải tiến đề ra được những chính sách phù hợp
* Vai trò trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Trong sự nghiệp phát triển nông thôn, có thể coi khuyến nông là đòn bẩy cho sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và là một mắt xích không thể thiếu để tạo nên sự phát triển bền vững cho nông thôn Việt Nam
* Khuyến nông góp phần giúp nông dân “xóa đói, giảm nghèo tiến lên khá và giàu”
Phần lớn hộ nông dân nghèo là do thiếu kiến thức kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất mà khuyến nông có nhiệm vụ truyền bá, kiến thức, kỹ thuật, kinh
Trang 14nghiệm vào sản xuất, nâng cao dân trí từ đó thúc đẩy sản xuất
* Góp phần liên kết nông dân, thúc đẩy hợp tác nông dân với nông dân Việc đổi mới quản lý trong nông nghiệp, giao đất, giao rừng cho từng
hộ nông dân có ưu điểm cơ bản là khắc phục được sự ỉ lại, dựa dẫm vào nhau, hạn chế được tiêu cực khác phát sinh ở nông thôn.[7]
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động khuyến nông
Trong hoạt động khuyến nông có nhiều yếu tố ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau:
- Người CBKN: Trình độ CBKN có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác khuyến nông Trình độ chuyên môn có nắm chắc thì CBKN mới có thể đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật trong công việc Tuy nhiên khi tuyển chọn cán bộ không chỉ chọn những người có năng lực mà còn phải có một thái độ nhiệt tình, lòng yêu nghề với công việc khuyến nông thì mới trở thành một CBKN giỏi
- Phong tục tập quán địa phương: Phong tục tập quán tồn tại lâu đời, ẩn sâu vào tiềm thức của người dân trong vùng Vì thế trong công tác khuyến nông phải đặc biệt chú ý đến vấn đề này vì nếu một chương trình dự án khuyến nông được triển khai mà không phù hợp với phong tục tập quán và điều kiện sản xuất của địa phương thì sẽ bị thất bại vì vậy trước khi triển khai một hoạt động dự án khuyến nông cần phải tìm hiểu nghiên cứu và xem xét thật kỹ phong tục tập quán và điều kiện sản xuất ở địa phương đó để hiệu quả công việc cao hơn
- Nguồn vốn cho hoạt động khuyến nông: Đó là nhân tố quan trọng và cần thiết cho sản xuất Các chương trình, dự án muốn triển khai cần phải có
đủ nguồn vốn để nông dân sản xuất Đó là yếu tố quyết định để đưa TBKT vào sản xuất vì muốn đưa cái mới vào thay thế cái cũ thì phải có vốn
- Thời tiết khí hậu: Đó là yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động khuyến nông Hoạt động sản xuất nông nghiệp đều chịu ảnh hưởng rất lớn của thời tiết, khí hậu Vì vậy CBKN và nông dân phải nắm rõ tình hình khí hậu trong vùng để sản xuất hợp lý và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, tránh được những rủi ro trong sản xuất
Trang 15Ngoài các yếu tố trên thì hoạt động khuyến nông còn chịu một số nhân
tố sau:
- Trình độ của người sản xuất
- Chất lượng đầu vào của các chương trình dự án khuyến nông
- Chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến khuyến nông
2.1.4 Vài nét về xây dựng mô hình nông thôn mới
2.1.4.1 Khái niệm về nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới
là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;
cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 của Thủ tướng chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 4/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới
2.1.4.2 Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới
Có thể nói, xây dựng nông thôn cũng đã có từ lâu tại Việt Nam Trước đây, có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây dựng nông thôn mới ở cấp xã Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm sau:
Trang 16- Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả nước được định trước
- Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng
- Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn
2.1.4.3 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta
Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở…đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xóa đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đã và đang đưa nền nông nghiệp tự túc tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa
Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp nông thôn thời
kì đổi mới là rất to lớn, tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm
ẩn những mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ như:
Thứ nhất: Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát
- Hiện nay nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, có khoảng 23% xã
có quy hoạch nhưng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn, chất lượng chưa cao
- Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu
- Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn, nhiều nét văn hóa truyền thống bị mai một
Thứ hai: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài
Trang 17Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới đạt 25% Giao thông chất lượng thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt chuẩn quy định Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp, quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao (22 - 25%), nông dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần Nhà nước quy định Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đạt chuẩn về cơ sở vật chất thấp (32,7%) còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; Mức đạt chuẩn của nhà văn hóa và khu thể thao xã mới đạt 29,6%, hầu hết khác thôn không có khu thể thao theo quy định Tỷ lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp, có 77,6% số xã có điểm bưu điện văn hóa theo tiêu chuẩn, 22,5%
số thôn có điểm truy cập internet Cả nước hiện còn hơn hàng nghìn nhà ở tạm bợ (tranh, tre, nứa lá), hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn
Thứ ba: Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức thấp
- Kinh tế hộ phổ biến quy mô nhỏ (36% số hộ có dưới 0,2 ha đất)
- Kinh tế trang trại chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông - lâm - ngư nghiệp trong cả nước
- Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã đã có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác nhưng hoạt động còn hình thức, có trên 54% số hợp tác xã ở mức trung bình và yếu
- Đời sống cư dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng cao, thu thập bình quân đạt 16 triệu đồng/hộ (năm 2008) nhưng chênh lệch thu nhập giữa 10% nhóm người giàu và 10% nhóm người nghèo nhất là 13,5 lần
- Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn cao (16,2%)
Thứ tư: Các vấn đề về văn hóa - môi trường - giáo dục - y tế
- Giáo dục mầm non: Còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp,
- Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển
Trang 18- Môi trường sống ô nhiễm
- Số trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia thấp, vai trò y tế dự phòng của trạm y tế còn hạn chế
Thứ năm: Hệ thống chính trị còn yếu (nhất là trình độ và năng lực điều hành)
- Trong hơn 81 nghìn công chức xã: 0,1% chưa biết chữ; 2,4% tiểu học; 21,5% trung học cơ sở; 75,5% trung học phổ thông
- Về trình độ chuyên môn: Chỉ có 9% có trình độ đại học, cao đẳng; 32,4% trung cấp; 9,8% sơ cấp; 48,7% chưa qua đào tạo
- Về trình độ quản lý nhà nước: Chưa qua đào tạo là 44%, chưa qua đào tạo tin học là 87%
Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của Đảng về nông thôn đi vào cuộc sống, một trong những việc cần làm trong giai đoạn này là xây dựng mô hình nông thôn mới đáp ứng nhu cầu CNH - HĐH và hội nhập nền kinh tế thế giới
Xây dựng nông thôn mới là chính sách về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, duy ý chí.[17]
2.1.4.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới không phải chỉ nhằm xây dựng con đường, kênh mương, trường học, hội trường…mà cái chính là qua cách làm này sẽ tạo cho người nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin,
tự quyết, đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một nông thôn mới năng động hơn Phải xác định rằng, đây không phải đề án đầu tư của Nhà nước mà là việc người dân cần làm, để cuộc sống tốt hơn, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, năng lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân…hướng dẫn để người dân bàn bạc đề xuất các nhu cầu và nội dung hoạt động của đề án Xét trên khía cạnh tổng thể, những nội dung sau đây cần được xem xét trong xây dựng mô hình nông thôn mới
Trang 19* Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng
- Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triển khai thực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án trên địa bàn thôn
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp về phát triển nông thôn bền vững
- Nâng cao trình độ dân trí của người dân
- Phát triển mô hình câu lạc bộ khuyến nông để giúp nhau ứng dụng TBKT vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao động nông nghiệp
* Tăng cường và nâng cao mức sống cho người dân
- Quy hoạch lại các khu dân cư nông thôn, với phương châm: Giữ gìn tính truyền thống, bản sắc của thôn, đồng thời đảm bảo tính văn minh, hiện đại, đảm bảo môi trường bền vững
- Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cư: Ưu tiên những nhu cầu cấp thiết nhất của cộng đồng dân cư để triển khai thực hiện xây dựng: Đường làng, nhà văn hóa, hệ thống tiêu thoát nước
- Cải thiện nhà ở cho các hộ dân: Tăng cường thực hiện xóa nhà tạm, nhà tranh tre nứa, hỗ trợ người dân cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi, hầm biogas cho khu chăn nuôi…
* Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hóa, dịch vụ nâng cao thu nhập Căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi thôn để xác định một cơ cấu kinh
tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó:
- Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi là lợi thế, có khối lượng hàng hóa lớn và có thị trường, đồng thời đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồn nước và nhân lực tại địa phương
- Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: Cung ứng vật tư, hàng hóa nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kỹ thuật chuyển giao tiến bộ khoa học, tín dụng…
- Hỗ trợ trang bị kiến thức và kỹ năng bố trí sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý
- Củng cố, tăng cường quan hệ sản xuất, tư vấn hỗ trợ việc hình thành
và hoạt động của các tổ chức: Tổ hợp tác, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư…tạo mối liên kết bốn nhà trong sản xuất, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm
Trang 20* Xây dựng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp
- Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: Để phát triển được ngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương còn
“trắng” nghề
- Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghề cho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý môi trường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững
* Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
- Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng, chuyển đổi ruộng đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình thích hợp
- Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, chế biến thu hoạch, giao thông, thủy lợi nội đồng
* Xây dựng nông thôn gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn
Vấn đề bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấp nước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải ở nông thôn cũng đã trở lên đáng báo động Đã đến lúc cơ quan địa phương mình như: Xây dựng hệ thống
xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, xây dựng hệ thống quản lý môi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ
* Phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở nông thôn
Thông qua các hoạt động ở nhà văn hóa làng, những giá trị mang đậm nét quê đã được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên những phong trào đặc sắc mang hồn quê Việt Nam riêng biệt, mộc mạc - chân chất - thắm đượm tình quê hương
Xã hội hóa các hoạt động văn hóa ở nông thôn, trước hết xuất phát từ xây dựng làng văn hóa, nhà văn hóa và các hoạt động trong làng văn hóa Phong trào này được phát triển trên diện rộng và chiều sâu
Căn cứ vào từng điều kiện cụ thể mà vai trò của từng nội dung đối với mỗi địa phương là khác nhau, tuy nhiên những nội dung trên cần được song
Trang 21song thực hiện, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ, toàn diện trong một
số mô hình nông thôn mới
2.1.4.5 Vai trò của mô hình nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội
* Về kinh tế
Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán
- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị
- Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác
xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn
- Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch
* Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã
Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới
* Về văn hóa - xã hội
Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
Trang 22* Về con người
Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu
có, kết tinh các tư cách: Công dân, thể nhân, dân của làng, con người của các dòng họ, gia đình
* Về môi trường
Xây dựng và củng cố, bảo vệ môi trường, sinh thái Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí vì chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp
lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách Trên tinh thần
đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng
mô hình nông thôn mới
2.1.5 Bộ tiêu chí xây dựng Nông thôn mới
Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 của Thủ tướng chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Căn cứ Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới và Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 4/10/2013 của
Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia
về Nông thôn mới
Trang 23Bảng 2.1 Các tiêu chí xây dựng mô hình nông thôn mới tại các xã
Trung du miền núi phía Bắc
STT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí
Chỉ tiêu phải đạt
Các bản vẽ quy hoạch được niêm yết công khai
để người dân biết và thực hiện; hoàn thành việc cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng theo quy hoạch được duyệt
Có Quy chế quản lý quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt
2 Giao thông
Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa
Tỷ lệ đường trục thôn, xóm được cứng hóa 50%
Tỷ lệ Km đường ngõ, xóm được cứng hóa và
Tỷ lệ Km đường trục chính nội đồng được cứng
3 Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản
Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương theo quy định (trừ các vùng không áp dụng kiên cố hóa) 50%
5 Trường học Tỷ lệ trường học các cấp có cơ sở vật chất đạt
Trang 24Có sử dụng cân đối chứng, thiết bị đo lường để người tiêu dùng tự kiểm tra về số lượng, khối lượng hàng hóa
Các hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại chợ không thuộc danh mục cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật
8 Bưu điện
Có ít nhất 1 điểm cung cấp được 2 dịch vụ bưu chính và viễn thông đạt tiêu chuẩn ngành theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông
Đạt
Có phủ sóng hoặc mạng để truy cập internet Đạt
Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt chuẩn Bộ Xây dựng 75%
10 Thu nhập Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức
11 Hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo của xã ở dưới mức tối thiểu 10%
Có
14 Giáo dục
Phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đạt
Tỷ lệ học sinh tôt nghiệp THCS được tiếp tục
Tỷ lệ lao động qua đào tạo >20%
Trang 2515 Y tế Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm Y tế 70%
16 Văn hóa
Xã có từ 70% số thôn trở lên được công nhận và giữ danh hiệu “Thôn văn hóa” liên tục từ 5 năm trở lên
Đạt
17 Môi trường
Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh 70% Các cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn đạt
Đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh sạch - đẹp không có các hoạt động gây suy giảm môi trường
Trang 26Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà cả sự thất bại Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm, kể từ 1979 - 1999, phong trào OVOP "Mỗi làng, một sản phẩm" của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre được sản xuất với chất lượng và giá bán rất cao
Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở châu Á và châu Phi tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Phi-lip-pin tận dụng được nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào OVOP của Nhật Bản.[18]
* Đài Loan
Là một trong những nước giải quyết tốt các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Đài Loan đã cơ bản đảm bảo tự cung cấp lương thực và có dư Sau khi giải quyết được vấn đề
Trang 27lương thực, từ những năm 1963 Đài Loan đã bắt đầu dồn sức cho phát triển công nghiệp nên chính quyền đã coi nhẹ nông nghiệp Bởi vậy, từ những năm
1969, sản xuất nông nghiệp trở nên tiêu điều kéo theo cảnh tiêu điều trong sản xuất công nghiệp Trong hoàn cảnh đó, chính quyền Đài Loan buộc phải điều chỉnh chính sách, chuyển từ phương châm "Nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp" sang "Công nghiệp để bồi dưỡng nông nghiệp" Cụ thể là từ năm
1974 bắt đầu thiết lập một quỹ bình chuẩn lương thực, tăng cường đầu tư vào nghiên cứu nhằm tăng năng suất nông nghiệp, đầu tư vào các hạng mục công cộng nông thôn bao gồm thuỷ lợi, rừng chắn gió, đường và nước máy, mở rộng cơ giới hoá nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp, Kinh nghiệm của Đài Loan chứng minh, khi đất đai có hạn cần thiết phải gia tăng sức lao động và đầu tư tiền bạc để nâng cao hiệu quả sản xuất đất đai Cùng với sự phát triển của công nghiệp, sức lao động nông nghiệp bắt đầu có sự chuyển biến lớn cùng với sự đầu tư ngày càng nhiều vào nông nghiệp, khả năng sản xuất của đất đai và lao động cũng gia tăng đáng kể giúp nông nghiệp hiện đại tiếp tục phát triển.[18]
* Phong trào Saemaul Undong (phong trào Làng mới) của Hàn Quốc Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệp lực cộng đồng)
Mục tiêu của phong trào này là "Nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn
cũ thành cộng đồng nông thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn"
Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông
Trang 28dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau
8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có.[18]
Có thể thấy rằng, kinh nghiệm cơ bản của phong trào xây dựng nông thôn mới ở các nước không nằm ngoài công thức: chính phủ kết hợp nông dân điều tiết quá trình thực thi, trong đó chính phủ đóng vai trò chỉ đạo và nông dân là chủ thể của các chương trình này Đồng thời, phải dựa vào tình hình,
Trang 29bối cảnh cụ thể của từng địa phương để có những chính sách, kế hoạch, bước
đi thích hợp
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc CNH - HĐH thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình CNH - HĐH đất nước.[18]
2.2.2 Vấn đề xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Xây dựng mô hình thực tế về nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Nghị quyết Trung ương đã đề ra Trên cơ sở tổng kết chương trình thí điểm, xác định rõ nội dung, phương pháp, cách làm,
cơ chế, chính sách xây dựng nông thôn mới để nhân rộng sau này
Ngày 30/12/2008, Ban Bí thư đã ban hành Quyết định số 205-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới Ban Chỉ đạo đã xây dựng đề án 11 xã được chọn thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới Tính đến cuối năm 2012, đã có 2 xã (Tân Hội - Lâm Đồng; Tân Thông Hội - TP Hồ Chí Minh) công bố đạt đủ 19 tiêu chí nông thôn mới Nếu căn cứ trên các tiêu chí sửa đổi ban hành theo Quyết định 342/QĐ-TTg thì số
xã đạt 19/19 tiêu chí đạt khoảng 6/11 xã Các xã còn lại đều đạt từ 16 đến 18 tiêu chí Riêng 2 xã khó khăn là Hải Đường - Nam Định và Thanh Chăn - Điện Biên đạt 11 - 14 tiêu chí
Từ thực tiễn triển khai ở 11 xã điểm đã giúp cho Ban chỉ đạo Trung ương, các Bộ, Ngành, địa phương rút ra những bài học về mô hình, phương thức, cách thức triển khai thực hiện Từ đó, tiến hành điều chỉnh Bộ tiêu chí Quốc gia Nông thôn mới, ban hành thông tư hướng dẫn sử dụng ngân sách cấp xã, quy chế quản lý và lồng ghép các nguồn vốn, cơ chế đặc thù về quản
lý nguồn vốn đầu tư phát triển… làm cơ sở để thực hiện trên toàn quốc Bản thân các xã điểm cũng trở thành địa chỉ để các địa phương trên cả nước đến thăm quan, khảo sát, học hỏi mô hình
Bên cạnh những kết quả nổi bật nêu trên, tại 11 xã điểm vẫn còn hạn chế về cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, chưa thực sự bền vững, kết quả về sản
Trang 30xuất, thu nhập, văn hóa, xã hội, môi trường còn chưa thật vững chắc Sản xuất vẫn chủ yếu là sản xuất nhỏ, lao động nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng lớn, đời sống nhân dân được nâng lên nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, đời sống văn hóa còn thấp
Sau hơn 4 năm thực hiện, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng Mô hình nông thôn mới theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí nông thôn mới là phù hợp
Đến cuối năm 2013, cả nước có tỷ lệ các xã hoàn thành quy hoạch nông thôn mới đạt 93% và có 79,2% xã phê duyệt xong đề án xây dựng nông thôn mới
Trong năm 2013 đã huy động nguồn vốn xã hội cho chương trình được trên 41.360 tỷ đồng, nhiều địa phương đã có các cách làm hay, chính sách tốt trong việc lồng ghép và huy động nguồn lực thực hiện chương trình
Đến nay, số tiêu chí đạt chuẩn bình quân là 7,87 tiêu chí/xã; số xã đạt
19 tiêu chí là 67 xã (chiếm 0,75 số xã); số xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí là 463 xã (chiếm 5,16%); số xã đạt 10 - 14 tiêu chí là 2.401 xã, chiếm 26,76% Hầu hết các địa phương đã quan tâm phát triển cơ sở vật chất văn hóa, giáo dục, thúc đẩy các hoạt động thể dục thể thao quần chúng ở các xã, tăng cường công tác xử lý ô nhiễm và phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp
Ngoài ra, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015, Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường cũng được tập trung triển khai và đạt được những kết quả hết sức tích cực.[20]
* Xây dựng nông thôn mới ở An Giang
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng thôn mới là một chương trình trọng điểm được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhằm hướng đến phát triển toàn diện nền nông nghiệp, nông thôn và nông dân An Giang được xem là “Vựa lúa” của cả nước với đa số người dân sống ở địa bàn nông thôn,
do đó chương trình này càng đặc biệt có ý nghĩa
Trang 31Ngày 11/11/2011 trở thành một ngày đặc biệt khó quên đối với người dân
xã biên giới Vĩnh Gia (huyện Tri Tôn) Sau lễ ra quân thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, từng đoàn xe của các ban ngành, đoàn thể xã diễu hành khắp các tuyến đường, xuống tận các ấp, địa bàn dân cư
để tuyên truyền cho người dân hiểu về chương trình Vĩnh Gia là 1 trong 4 xã được tỉnh chọn làm điểm xây dựng xã nông thôn mới với mục tiêu tạo sức bật cho vùng biên giới Tri Tôn
- Những con đường ven biển:
Nằm cặp theo bờ kênh Vĩnh Tế, con đường chính đến xã Vĩnh Gia giờ đây đã được nhựa hóa Từ trung tâm huyện Tri Tôn, xe ôtô có thể bon bon theo Tỉnh lộ 955 lên thị trấn Ba Chúc về Vĩnh Gia, hoặc xuất phát từ Cửa khẩu Quốc tế Tịnh Biên đi theo tuyến lộ 55A qua Vĩnh Gia rồi xuống thẳng
Hà Tiên (Kiên Giang) và ngược lại
Đối diện với con đường huyết mạch về trung tâm xã, phía bắc bờ kênh Vĩnh Tế là những cánh đồng lúa mênh mông đang phát triển xanh rì, kéo dài
ra đến tận biên giới giáp Campuchia Để tạo thuận lợi cho nông dân qua lại sản xuất nông nghiệp, chính quyền xã Vĩnh Gia cùng với Ban quý tế Đình thần Cầu Dài tổ chức vận động các Mạnh Thường Quân đóng góp 259 triệu đồng xây dựng cầu treo bắc qua kênh Vĩnh Tế Được sự hỗ trợ của Đội thi công từ thiện Mỹ Đức, cây cầu mang theo ước mơ của người dân đã hoàn thành với bề ngang 1,5 m, dài 56,5 m Từ khi cầu hoàn thành, mọi việc đi lại, vận chuyển lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu, lúa hàng hóa… của người dân đều dễ dàng hơn, không phải lệ thuộc vào xuồng, ghe như trước Tính đến nay, Vĩnh Gia đã thực hiện đạt 34/59 chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới, 8 chỉ tiêu đạt trên 50% và chỉ còn 17 chỉ tiêu đạt dưới 50%
- Huy động sức dân phát triển nông nghiệp:
Nhằm phát huy tiềm năng biên giới sau khi mở cửa khẩu phụ Vĩnh Gia
- Tà Ô, huyện Tri Tôn đang đầu tư xây dựng hơn 800 m đường ra biên giới Đồng thời, kêu gọi các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư xây dựng Khu thương mại cửa khẩu Vĩnh Gia với diện tích rộng 60 hec-ta, nằm cách cột mốc biên giới 285 khoảng 350 m Riêng UBND xã Vĩnh Gia đang có kế hoạch xây dựng tuyến đường bê tông nông thôn rộng 4 m, dài khoảng 700 m
Trang 32ở bờ bắc kênh Vĩnh Tế, kinh phí thực hiện khoảng 740 triệu đồng từ nguồn vốn xây dựng nông thôn mới Hiện nhiều hộ dân ở ấp Vĩnh Hòa đã đồng ý hiến đất làm đường với trị giá đất hơn 223 triệu đồng Bên cạnh đó, từ nguồn
hỗ trợ 2 triệu đồng/hec-ta của tỉnh để xây dựng các tuyến đê bao mới, chính quyền xã Vĩnh Gia đã vận động người dân ấp Vĩnh Lạc đóng góp đối ứng 2 triệu đồng/hec-ta để xây dựng đường ra cánh đồng ở vùng đê bao Vĩnh Lạc (dự kiến sẽ đưa vào sản xuất từ vụ 3 năm 2012 với diện tích 670 hec-ta) Trước đó, vùng đê bao Mương Đồn (ấp Vĩnh Hiệp) với diện tích 502 hec-ta cũng đã sản xuất thử nghiệm thành công trong vụ 3 năm nay
* Xây dựng nông thôn mới tại Bắc Giang
Trong khi nhiều địa phương đang gặp khó khăn khi triển khai xây dựng
đề án thực hiện các tiêu chí của mô hình nông thôn mới thì chính quyền và nhân dân xã Tân Thịnh (Lạng Giang - Bắc Giang) lại gặt hái được những kết quả khả quan
Kết quả bước đầu, Tân Thịnh là một trong 11 xã điểm thực hiện mô hình xây dựng nông thôn mới của Chính phủ Tân Thịnh đã đổi thay rất nhiều Không chỉ đường làng, ngõ xóm kiên cố, mở rộng hơn, nhiều ngôi nhà khang trang mọc lên, mừng hơn cả là đời sống của người dân đã được cải thiện rõ rệt Xã có 3 ngôi trường và trạm y tế đã đạt chuẩn Đáng nói hơn là việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng được thực hiện hiệu quả, bà con nông dân phấn khởi vì đồng ruộng đã được tận dụng tối đa diện tích, mang lại hiệu quả kinh
tế cao, ngày càng xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới
Cách làm hay ở Tân Thịnh là chính quyền địa phương đặc biệt chú trọng phát triển sản xuất nông nghiệp bên cạnh việc đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng 2 trạm bơm tại thôn Tân và Non Than đã được cải tạo, nâng cấp với chiều dài 2 km và đang trong quá trình hoàn thiện một số tuyến kênh mương, đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Tân Thịnh cũng phối hợp với các hội, đoàn thể tổ chức 6 lớp tập huấn về nông thôn mới, 12 lớp về cây lúa lai SYN6 cho hơn 600 lượt người; thí điểm thành công việc gieo trồng 4 ha cà chua bi HT - 144 theo đề án của Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ (Sở Khoa học - Công nghệ Bắc Giang) phối hợp với Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội Ngoài ra, bà con còn trồng 17 ha dưa chuột bao tử, 20 ha bí xanh
Trang 33Ngay trong vụ chiêm xuân 2010, xã đã chỉ đạo nhân dân đưa 56,4 ha lúa lai SYN6, 291 ha lúa thuần, 4 ha cà chua bi HT - 144, 16 ha dưa bao tử, 40 ha thuốc lá, 6 ha lạc, 6 ha đậu đỗ và 20 ha rau màu các loại vào sản xuất
Hiện xã có nhiều mô hình chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao như nuôi lợn thương phẩm ở thôn Tân, đến nay đã có 20 hộ nuôi từ 50 - 70 con/lứa, tăng 7 hộ so với trước khi thực hiện đề án; nuôi gia cầm ở thôn Dinh quy mô
700 - 1.000 con/lứa; nuôi thuỷ sản ở thôn Hạ, thôn Đồng 3 nâng tổng đàn trâu - bò của xã lên 1.000 con, đàn lợn 6.000 con, đàn gia cầm 50.000 con Các mô hình này đã góp phần thúc đẩy chăn nuôi của xã phát triển, nâng cao thu nhập cho bà con
Trong tổng số 19 tiêu chí của mô hình xây dựng nông thôn mới, xã đã đạt được 11 tiêu chí sau một năm triển khai Giá trị sản xuất đạt 113,1 tỷ đồng, nâng mức thu nhập bình quân lên 11,8 triệu đồng/người/năm Ngoài việc phát triển hệ thống hạ tầng như cứng hoá 3 km đường trục xã, 3 km đường liên thôn, xã còn củng cố hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp để làm tốt 3 dịch vụ là chuyển giao công nghệ, thuỷ nông và bao tiêu sản phẩm; triển khai thành lập hợp tác xã vệ sinh môi trường và quản lý chợ BQL xây dựng
mô hình nông thôn mới xã Tân Thịnh cũng sử dụng nguồn vốn hết sức hiệu quả bằng việc hỗ trợ trực tiếp cho các gia đình làm mới nhà vệ sinh (800.000 đồng/hộ), xây hầm biogas (1,2 triệu đồng/hộ), nâng cấp, sửa chữa nhà ở (10 -
15 triệu đồng/hộ), trong đó ưu tiên hộ nghèo và cận nghèo; hỗ trợ hàng trăm lao động chuyển từ làm nông nghiệp sang học nghề thủ công nghiệp, dịch vụ; triển khai cho các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, mỗi đoàn thể xây dựng một mô hình điểm trong sản xuất, kinh doanh, chăn nuôi, trồng trọt, từ đó nhân rộng ra toàn xã
Thời gian tới, các tiểu BQL các thôn trực tiếp đến từng hộ dân đăng ký việc tự chỉnh trang nhà ở, công trình vệ sinh, tường bao; phát động toàn dân tham gia bảo vệ các tuyến đường đã được cứng hoá và trồng cây xanh khu trung tâm văn hoá thôn cũng như các tuyến đường chính
2.2.3 Vấn đề xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Lạng Sơn
Do đặc thù là tỉnh miền núi với địa hình phức tạp, địa bàn rộng, tài liệu
hồ sơ hiện trạng liên quan đến quy hoạch không có, nên công tác lập kế hoạch
Trang 34gặp nhiều trở ngại Kinh phí bố trí cho công tác quy hoạch hiện nay thấp và quy định chưa cụ thể nên gây khó khăn cho quá trình thực hiện Công tác lựa chọn tư vấn quy hoạch còn nhiều vướng mắc Bên cạnh đó, bộ máy thực hiện
từ cấp tỉnh đến huyện đều là kiêm nhiệm, chưa chủ động trong việc chỉ đạo điều hành thực hiện; cùng với đó, năng lực của cán bộ cấp xã còn hạn chế; chế độ chính sách cho người thực hiện chương trình chưa có, nên chưa khuyến khích được mọi người tham gia thực hiện
Sau hơn 3 năm triển khai, Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh đã thực sự trở thành cuộc vận động của toàn
xã hội Công cuộc xây dựng bắt đầu vào guồng, nhưng cũng phải nói trong guồng hoạt động ấy có thời điểm chưa ăn khớp Năm 2013, tỉnh đã có rất nhiều quyết sách quan trọng, được coi như những điều chỉnh cần thiết để nông thôn mới đi đúng hướng
Tính đến thời điểm này, tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới đến tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh Các hội nghị tập huấn đã tổ chức đến cấp huyện, cấp xã Công tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh để mọi tầng lớp nhân dân hiểu, tạo nên một cuộc vận động xã hội sâu rộng Các mô hình, điển hình tiên tiến, các sáng kiến và kinh nghiệm hay về xây dựng nông thôn mới được cập nhật và đưa tin trên các phương tiện truyền thông góp phần phổ biến và nhân rộng các mô hình trong toàn tỉnh Nguồn tài liệu phục vụ Chương trình như sổ tay hướng dẫn về xây dựng nông thôn mới đã được phát đủ cho các đơn vị (21 cuốn/huyện; 10 cuốn/xã), đồng thời việc thiết kế tờ rơi cũng đang được khẩn trương hoàn thành Các cuộc vận động, tuyên truyền được thực hiện với nhiều hình thức
đa dạng, phong phú như sân khấu hóa, in đĩa CD, đặt pa nô, áp phích tại các điểm dân cư, phát tờ rơi đồng thời các cơ quan thông tin đại chúng như Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh đã xây dựng các chuyên mục định kỳ Đồng thời với tăng thời lượng tuyên truyền, Hội Nhà báo tỉnh đã phối hợp với Văn phòng điều phối phát động cuộc thi sáng tác về nông thôn mới Từ năm 2011 đến nay, toàn tỉnh đã phát 160.000 tờ rơi; hơn 2.700 bảng tiêu chuẩn, tiêu chí; 8.500 tài liệu hỏi đáp về nông thôn mới và phát triển sản xuất đến từng hộ gia đình, từng thôn bản Báo Lạng Sơn, Đài Phát thanh -
Trang 35Truyền hình thực hiện hơn 1.000 tin, bài, phóng sự về phong trào xây dựng nông thôn mới, kinh nghiệm hay ở các địa phương trong toàn tỉnh
Ngoài ra, công tác tuyên truyền còn được tổ chức thông qua hội nghị lồng ghép tại các cuộc họp thôn, biểu diễn văn nghệ quần chúng, phổ biến pháp luật Đến nay, các cấp, ngành đã tổ chức được trên 460 hội nghị lồng ghép tuyên truyền nông thôn mới với hơn 26.500 lượt người tham gia Đối với các cấp hội, đoàn thể như nông dân, phụ nữ, đoàn thanh niên, nội dung tuyên truyền gắn với các phong trào cụ thể của mỗi đơn vị Trong 3 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, các đoàn thể đã tổ chức được trên 1.300 cuộc tuyên truyền về nông thôn mới cho hơn 80 nghìn lượt đoàn viên, hội viên tham dự
Có thể khẳng định công tác tuyên truyền, vận động đã góp phần quan trọng đưa phong trào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh thành cuộc vận động có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội Từ khi Lạng Sơn triển khai chương trình đến nay đã có hơn 2.500 hộ gia đình tình nguyện hiến trên
300 nghìn m2 đất Đồng thời nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh cũng huy động được 300 tỷ đồng góp sức xây dựng nông thôn mới
Lạng Sơn đến nay đã có 207/207 xã phê duyệt quy hoạch chung, 24 xã phê duyệt quy hoạch chi tiết; có 15 xã đạt từ 10 tiêu chí trở lên, 71 xã đạt từ 5
- 9 tiêu chí, 121 xã đạt dưới 5 tiêu chí
2.2.4 Vấn đề xây dựng nông thôn mới tại xã Xuân Mai
Sau hơn ba năm thực hiện triển khai xây dựng mô hình Nông thôn mới
từ năm 2011, được sự quan tâm chỉ đạo của UBND huyện Văn Quan, sự chỉ đạo của BQL xây dựng NTM kết hợp sự nhiệt tình tham gia ủng hộ của nhân dân trong xã công tác xây dựng NTM trên địa bàn xã đã có nhiều đổi mới với nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước, tuy nhiên mới đáp ứng một phần chủ yếu là
sự đóng góp của nhân dân với tinh thần chỉ đạo quyết liệt của Ban chỉ đạo Xã
đã tuyên truyền vận động nhân dân hiến đất, tham gia vào các hoạt động xây dựng NTM Cho đến nay xã đã hoàn thành 6/19 tiêu chí xây dựng Nông thôn mới Bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã, thủy lợi, bưu điện, nhà ở dân cư, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, an ninh trật tự xã hội được giữ vững
Trang 36Bảng 2.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia
về xây dựng Nông thôn mới tại xã Xuân Mai giai đoạn 2011 - 2013
Ghi chú
Đạt Chưa đạt
- Đường trục xã, liên xã hiện đang thi công
- Đường ngõ xóm được cứng hóa 63,43%
- Đường trục chính nội đồng chưa cứng hóa
4 Điện Chưa đạt Hệ thống dây điện về thôn xuống cấp không đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
- Xã và thôn chưa có khu thể thao
có 2 điểm chợ cách 4 – 5 km
sóng và mạng internet tới các thôn
Trên 75% hộ có nhà đạt chuẩn của bộ xây dựng
với mức bình quân chung của tỉnh là 0,69 lần
5 năm liên tục
- Chất thải, nước thải chưa được thu gom, xử lý
(Nguồn: UBND xã Xuân Mai)
Trang 37PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Những hoạt động khuyến nông liên quan đến chương trình xây dựng NTM tại xã Xuân Mai - huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá các hoạt động khuyến nông trong lĩnh vực xây dựng NTM Các hoạt động khuyến nông đã và đang được triển khai thực hiện tại xã Xuân Mai giai đoạn năm 2011 - 2013
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Xuân Mai - huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu từ ngày 15 tháng 01 năm 2014 đến ngày 20 tháng 05 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Xuân Mai
- Công tác xây dựng NTM tại xã Xuân Mai
- Vai trò của khuyến nông trong lĩnh vực xây dựng NTM
- Giải pháp về khuyến nông trong xây dựng NTM
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
* Thông tin thứ cấp: Thu nhập từ UBND xã Xuân Mai
- Báo cáo điều kiện tự nhiên xã Xuân Mai
- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
- Đề án xây dựng NTM xã Xuân Mai
- Các tài liệu khác có liên quan
- Sách báo, tài liệu qua mạng internet
Trang 38* Thông tin sơ cấp:
- Phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ chính quyền xã, cán bộ trong ban xây dựng NTM, CBKN và những người am hiểu trong Hội phụ nữ, Hội nông dân
- Điều tra nông hộ: Tiến hành điều tra ngẫu nhiên phân tầng 60 hộ nông dân trên địa bàn xã Xuân Mai Với hệ thống các câu hỏi đã được định sẵn trong bảng hỏi
Cách chọn mẫu đơn vị điều tra gồm 3 thôn:
+ Thôn Bản Coóng là thôn có hộ buôn bán, dịch vụ nhỏ Cây trồng, vật nuôi chính là lúa, ngô, trâu, gà
+ Thôn Khòn Khẻ là thôn chủ yếu là các hộ thuần nông làm nông nghiệp Thôn có tập trung phát triển cây vụ đông và phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Cây trồng, vật nuôi chính là lúa, ngô, trâu, lợn, gà
+ Thôn Bản Dạ là thôn chủ yếu là các hộ thuần nông Cây trồng chính
là lúa, ngô, ngoài ra còn phát triển cây lâm nghiệp như hồi, keo, bạch đàn
Cách chọn mẫu các hộ điều tra gồm 60 hộ:
Lập danh sách các hộ khá, cận nghèo và nghèo, chọn ngẫu nhiên 30%
số hộ trong danh sách này cụ thể như sau:
+ Danh sách hộ nghèo chọn ngẫu nhiên 10/32 hộ với khoảng cách 3 hộ chọn ra 1 hộ để điều tra bảng hỏi
+ Danh sách hộ cận nghèo chọn ngẫu nhiên 8/26 hộ với khoảng cách 3
hộ chọn ra 1 hộ để điều tra bảng hỏi
+ Danh sách hộ khá chọn ngẫu nhiên 42/139 hộ với khoảng cách 3 hộ chọn ra 1 hộ để điều tra bảng hỏi
3.3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Từ các số liệu thu thập được qua quá trình điều tra tôi tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu, biểu diễn số liệu trên các bảng biểu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: sử dụng phương pháp này
để tổng hợp các số liệu thu thập được sau đó xử lý trên bảng excel, phân tích
Trang 39PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Xuân Mai
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Xuân Mai nằm ở phía nam huyện Văn Quan:
- Phía Bắc giáp với thị trấn Văn Quan
- Phía Đông giáp với 2 xã Đại An và xã Tràng Sơn
- Phía Nam giáp với 2 xã Yên Phúc, Bình Phúc
- Phía Tây giáp với xã Tú Xuyên
4.1.1.2 Địa hình
Xuân Mai là xã nằm ở trung tâm huyện Văn Quan gần đường quốc lộ
279, là xã có địa hình phức tạp bị chia cắt mạnh bởi các núi đất, núi đá xen kẽ các thung lũng và các khe ruộng nhỏ, địa hình có chiều hướng cao dần từ phía Tây Bắc sang phía Đông Nam
Phía Tây Bắc của xã ngoài các dãy núi còn có các thung lũng tương đối bằng phẳng thích hợp trồng lúa nước, các loại cây màu hàng năm khác như ngô, khoai tây
Phía Đông Nam là vùng núi cao thích hợp sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng sản xuất, cây công nghiệp lâu năm như cây hồi và đồng cỏ chăn thả
Do đặc điểm địa hình của xã Xuân Mai như vậy nên việc khai thác tiềm năng đất đai và bố trí sản xuất gặp nhiều khó khăn
4.1.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu
Xuân Mai là xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 nắng nóng, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình tháng có nhiệt độ cao nhất khoảng 28,4oC
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa ít, nhiệt
độ trung bình tháng có nhiệt độ thấp nhất là 15o
C.Lượng mưa trung bình năm
từ 1.500 - 1.600 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa chiếm 75 - 80% Độ ẩm trung bình năm là 85%