Được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Th.S Ng
Trang 1VƯƠNG THỊ ANH
Tên đề tài:
“ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG BẢO TỒN CỦA GIỐNG CHÈ TRUNG
DU TẠI MỘT SỐ XÃ PHÍA TÂY THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Hữu Thọ
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2Trong quá trình học tập lý thuyết tại trường và thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy cô, bạn
bè, tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này Được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là sự giúp đỡ tận
tình của thầy giáo Th.S Nguyễn Hữu Thọ tôi tiến hành nghiên cứu chuyên
đề “ Đánh giá khả năng bảo tồn của giống chè Trung du tại một số xã phía Tây thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế & Phát triển nông thôn, cùng tất cả các thầy - cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của
thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Hữu Thọ đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn
để tôi hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo, cán bộ UBND xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên đã nhiệt tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu phục vụ cho bản khóa luận này
Do còn thiếu kinh nghiệm nên mặc dù đó cố gắng hết sức nhưng không tránh khái những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn! Ngày…tháng…năm 2014
Sinh viên
Vương Thị Anh
Trang 3
BQC Bình quân chung
ĐVT Đơn vị tính
FAO Tổ chức nông lương liên hợp Quốc tế
FAOSTAT Số liệu thống kê của Tổ chức nông lương liên hợp Quốc tế NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
3.1.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
3.1.2 Ý nghĩa của thực tiễn của đề tài 3
1.4 Cấu trúc của khóa luận 3
PHẦN II:TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1 Cơ sở lí luận của đề tài 4
1.1 Một số đặc điểm chung của sản xuất chè 4
1.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè 4
1.1.2 Khái niệm một số loại giống chè 5
1.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè 6
2 Cơ sở thực tiễn 13
2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 13
2.1.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới 13
2.1.2 Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới 15
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè của Việt Nam 16
2.2.1 Tình hình sản xuất chè của Việt Nam 16
2.2.2 Tình hình tiêu thụ chè của Việt Nam 18
2.3 Tình hình sản xuất chè tại tỉnh Thái Nguyên 20
2.3.1 Tiềm năng thế mạnh về sản xuất cây chè của Thái Nguyên 20
2.3.2 Tình hình sản xuất 21
2.3.3 Chế biến, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên 22
PHẦN III : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 51.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2 Nội dung nghiên cứu 24
3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Phương pháp chọn mẫu 24
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 24
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
3.4 Phương pháp phân tích thông tin 26
4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 27
4.1 Các chỉ tiêu phân tích: 27
4.2 Các chỉ tiêu so sánh hiệu quả kinh tế sản xuất chè 28
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Thái Nguyên 30
1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên 30
1.1.1 Vị trí địa lý 30
2.1.3 Điều kiện khí hậu, thời tiết, thuỷ văn 31
2.1.4 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai: 32
2.1.5 Tài nguyên - thiên nhiên 32
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên 33
1.2.1 Tình hình kinh tế của thành phố Thái Nguyên 33
1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất chè tại xã 35
1.3.1 Thuận lợi 35
1.3.2 Khó khăn 36
2.1 Tình hình sản xuất chè của vùng chè Tân Cương 38
2.2 Tình hình tiêu thụ chè của vùng chè Tân Cương 40
3 Đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế của cây chè cành và cây chè Trung du trên địa bàn xã Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu 41
3.1 Tình hình chung của hộ nghiên cứu 41
Trang 63.2 Chi phí sản xuất của cây chè Trung du và cây chè cành của hộ điều tra 45
3.3 Chi phí lao động trong sản xuất chè của hộ 48
3.4 So sánh hiệu quả kinh tế của cây chè Trung du và cây chè cành của hộ 50
4 Hiệu quả xã hội của việc bảo tồn và phát triển chè trung du đối với xã hội 51
5 Thực trạng khó khăn thuận lợi trong phát triển sản xuất chè của hộ tại xã Tân Cương, Phúc trìu, Phúc xuân 52
5.1 Thuận lợi 55
5.2 Khó khăn 56
6 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình bảo tồn chè trung du 57
6.1 Thuận lợi 57
6.2.Những mặt còn hạn chế 57
6.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển sản xuất chè ở thành phố Thái Nguyên 58
7 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển chè trung du 58
7.1 Phương hướng 58
7.2 Giải pháp phát triển chè trung du 59
PHẦN VI: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
6.1 Kết luận 63
6.2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7Bảng 2.1: Diện tích, năng suất chè năm 2013 của một số nước trên thế giới 14
Bảng 2.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm từ 2008 - 2012 15
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất của chè Việt Nam từ năm 2008 - 2012 18
Bảng 2.4 : Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam 2009 – 2013 19
Bảng 3.1: Tình hình sản xuất chè của vùng chè Tân Cương qua 3 năm 2011 – 2013 38
Bảng 3.2 : Một số thông tin chung về các hộ điều tra 42
Bảng 3.3: Diện tích chè Trung du và chè cành của các hộ điều tra 43
Bảng 3.4 :Tình hình sản xuất chè cành và chè Trung du của hộ điều tra 44
Bảng 3.5: So sánh chi phí đầu vào bình quân 1 sào chè cành so với 1 sào chè Trung du của hộ điều tra 46
Bảng 3.6 : So sánh chi phí lao động bình quân cho 1 sào chè cành với 1 sào chè Trung du của hộ điều tra 48
Bảng 3.7: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất 1 sào chè Trung du và chè cành hộ 50
Bảng 3.8: Những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất chè của hộ 53
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ Hình 2.1: Tỉ lệ cơ cấu giống của tỉnh Thái Nguyên năm 2010 21
Hình 3.1: Sơ đồ các kênh tiêu thụ chè của vùng chè Tân Cương 41
Trang 8PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chè là cây công nghiệp dài ngày được trồng lâu đời trên đất nước ta và ngày càng có vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước
Đã từ lâu chè có vị trí không thể thay thế ở một số vùng của đất nước trong quá trình phát triển Sản phẩm chè được tiêu dùng phổ biến ở đất nước
ta bởi tác dụng của chè được kiểm chứng qua chiều dài lịch sử Ngành chè nước ta hiện nay vừa có lợi thế vừa có khả năng to lớn để phát triển không những nội lực trong ngành được phát huy mạnh mẽ mà còn có các điều kiện bên ngoài cũng rất thuận lợi để phát triển chè Mặt khác cây chè phát triển còn tạo công ăn việc làm cho một lượng lao động rất lớn ở các vùng nông thôn, đem lại thu nhập cho họ góp phần xoá đói giảm nghèo, giúp nông thôn rút ngắn khoảng cách về kinh tế với thành thị, thiết lập công bằng xã hội
Tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (17.660 ha),
cả 9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao Người sản xuất chè của nói riêng tại một số xã phía Tây của thành phố Thái Nguyên và người làm nghề chè tỉnh Thái Nguyên nói chung đã có những kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã tạo nên những sản phẩm chè cánh đẹp, thơm hương chè, hương cốm, có vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên, với chất lượng và giá trị cao; 100% sản phẩm chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu (1) Thành phố Thái Nguyên được biết đến với danh trà Tân Cương Vùng chè đặc sản Tân Cương cách trung tâm T.P Thái Nguyên từ
5 đến 10km về phía Tây, tập trung chủ yếu ở 3 xã Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu, với diện tích chè trên 1.300ha Nơi đây không những nổi tiếng vì có sản phẩm chè ngon mà còn có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, có núi, sông và
Trang 9rất gần khu du lịch Hồ Núi Cốc Năm 2013, ước tính có hơn 10.000 lượt du khách đến tham quan vùng chè đặc sản Tân Cương (2).
Vùng chè đặc sản Tân Cương là vùng sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp vùng chè Tân Cương đang từng bước có chính sách, kế hoạch, định hướng giúp nông dân làm giàu trên chính đất quê hương của mình Hình thức sản xuất chủ yếu của xã là kinh tế hộ gia đình Do đó việc tìm ra hướng đi đúng đắn cho kinh tế hộ là việc làm cần thiết
Chè Trung du là chè đặc sản của vùng chè Tân Cương nhưng trên thực
tế diện tích trồng chè Trung du của vùng chè Tân Cương giờ còn rất ít (gần 40%) và đang đứng trước nguy cơ bị mất dần và được trồng thay thế bằng chè cành Do đó, vấn đề đặt ra là bảo vệ và phát triển giống chè Trung du một cách cụ thể từ đó giúp người sản xuất chè tại xã đưa ra hướng phát triển cho mình để đem lại hiệu quả cao nhất, và phát huy được thế mạnh của địa phương Là một sinh viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, tôi muốn góp một phần nhỏ kiến thức của bản thân vào trong công cuộc xây dựng và phát
triển kinh tế của vùng Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá khả năng bảo tồn của giống chè Trung du tại một số xã phía Tây thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được đầy đủ, chính xác thực trạng sản xuất và phân tích, so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè Trung du và cây cành tại xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân thành phố Thái Nguyên Từ kết luận để đưa ra các giải pháp bảo tồn giống chè Trung du đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh và thị trường tiêu thụ chè để nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người nông dân
Trang 10- Đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển giống chè Trung du tại vùng chè Tân Cương, thành phố Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
3.1.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản
và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế
- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vân dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học
3.1.2 Ý nghĩa của thực tiễn của đề tài
- So sánh hiệu quả kinh tế của loại chè này giúp cho người nông dân biết được hiệu quả của các loại chè và những khó khăn thuận lợi cũng như cơ hội và thách thức của họ khi sản xuất các loại chè này
- Góp phần phát triển cây chè tại địa phương một cách bền vững và hiệu quả nhờ việc nghiên cứu so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế cũng như vấn
đề xoay quanh việc phát triển cây chè.Tận dụng quỹ đất hiện có và chưa khai thác hoặc thay thế một số cây trồng kém hiệu quả tại địa phương
- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà đầu tư đưa ra những quyết định mới, hướng đi mới để phát triển giống chè phù hợp với địa phương phát triển lâu dài và bền vững
1.4 Cấu trúc của khóa luận
- Phần I: Mở đầu
- Phần II: Tổng quan đề tài nghiên cứu
- Phần III: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
- Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Phần V: Kết luận và kiến nghị
Trang 11PHẦN II:TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1 Một số đặc điểm chung của sản xuất chè
1.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao Chè đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội, văn hóa của con người Cây chè được trồng khắp mọi nơi trên thế giới Với nhiều giống chè khác nhau, chè mang đến cho thế giới những sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của hầu hết người tiêu dùng trên thế giới Ngoài tác dụng là nước giải khát chè còn được coi như một loại thần dược phòng và chữa bệnh cho con người, là lớp thực vật bảo vệ đất và môi trường
Sản phẩm chè của nước ta không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng nội địa mà còn được xuất khẩu nhiều nơi trên thế giới Góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông sản trong nước, đồng thời thu về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho đất nước
Đối với người nông dân sản xuất chè, ngoài việc tạo công ăn việc làm
ổn định và đem lại thu nhập cho gia đình góp phần dùy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ Hầu hết người nông dân làm chè họ ít bị thấp nghiệp
và có thu nhập cao và ổn định hơn hầu hết cây trồng khác trong vùng
Ngoài giá trị về kinh tế, cây chè đã góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Vì là cây công nghiệp dài ngày và phát triển tương đối ổn định (chè Trung du chu kì sống khoảng 30 – 40 năm, chè giống mới 15 – 20 năm) đã góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững cho 1 đất nước còn đang phát triển như nước ta (Lê Tất Khương, Đỗ Ngọc Quý, 2000)[5]
Như vậy, việc phát triển sản xuất chè không những góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cho xã hội mà góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân, cải thiện đời sống ở nông thôn, làm giảm khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn Không những vậy việc sản xuất chè còn góp phần thúc đẩy nhanh hơn
Trang 12quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, giảm bớt khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền khác nhau trong cả nước[1]
1.1.2 Khái niệm một số loại giống chè
+ Giống chè Trung du (hay còn gọi là chè ta) đây thực chất là giống
chè Trung Quốc, được du nhập vào nước ta từ rất lâu đời, ở vùng Trung du Bắc Bộ Giống có khả năng thích ứng với vùng đất khô cằn, khả năng chịu sâu bệnh tốt và thích hợp ở mức trung bình cho cả sản xuất chè đen và chè
xanh Hiện này, giống này chiếm khoảng 60% tổng diện tích chè của cả nước
+ Giống chè lai: Có các loại giống lai phổ biến như LDP1, LDP2
Chè lai có đặc điểm chung là năng suất cao hơn vì búp to hơn, dậy mùi thơm hơn nhưng vị thường nhạt hơn
+ Giống chè TRI777: Thuộc biến chủng chè Shan, cây sinh trưởng khá,
búp to có lông tuyết, mật độ búp thấp, góc độ phân cành hẹp, tán tương đối rộng Đây là giống thích hợp chế biến chè xanh và chè đen chất lượng cao Dễ giâm cành, cây sinh trưởng khoẻ, khi trồng có tỷ lệ sống cao Khả năng chống chịu đối với sâu bệnh hại kém: bị bọ xít muỗi và rệp phảy phá hại nặng
+ Giống mới: Các giống chè mới thường được nhập từ nước ngoài như:
Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc Các giống này thường có mùi thơm đặc trưng, hoàn toàn khác mùi hương chè thông thường
+ Giống Kim Tuyên (Kim Huyên, A17 hoặc dòng 27) có nguồn gốc là giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm
1975 Nhập nội vào Việt Nam từ 1994 Trồng ở các tỉnh Lâm Đồng, Yên Bái, Phú Thọ, Lạng Sơn, Thái Nguyên
+ Giống chè Phúc Vân Tiên: Có nguồn gốc là giống vô tính của Trung Quốc, chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Phúc Đỉnh Đại Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to từ 1957-1971 bởi Viện Nghiên cứu chè tỉnh Phúc Kiến nhập nội vào Việt Nam năm 2000 [12]
Còn nhiều giống chè khác, nhưng trên đây là giống chè phổ biến được trồng tại Việt Nam Cách phân biệt của nông dân thì người ta thường gọi giống chè Trung du (chè ta) là giống chè truyền thống vì nó được đưa vào Việt Nam
Trang 13khá lâu đời (trồng bằng hạt) Giống chè lai (LDP1, LDP2 ) + giống chè mới (Giống chè TRI777, Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc ) người
ta gọi chung là chè cành mới xuất hiện vài chục năm trở lại đây và có đặc điểm phân biệt là khi trồng người ta dùng cành giâm ươm sau đó mang đi trồng
Nhìn chung các giống chè có những đặc điểm và quy trình chăm sóc tương đối giống nhau Tuy nhiên, mỗi loại giống chè có những đặc điểm riêng nhất định Sau đây chúng ta xét nhưng đặc điểm chung của cây chè
1.1.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè
Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì thế
để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại
bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu
tư sản xuất trong và ngoài nước Cây chè là cây trồng mũi nhọn của địa phương vì thế cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè
Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè
a Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Yêu cầu tổng hợp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt, sâu, chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm
Dưới đây, chúng ta xét một số điều kiện sinh thái chủ yếu:
+ Điều kiện đất đai và địa hình:
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ
pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là
80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường
- Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung Du phần lớn là feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần
Trang 14lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ
pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn 1 mét và thoát nước
- Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè không trồng trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng Kinh nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vực thấp
Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 m Vùng chè ngon có tiếng ở Ấn
Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 m Ở độ vĩ càng cao phẩm chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp Do độ nhiệt thấp, độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và tích lũy vật chất trong cây chè [8]
+ Điều kiện độ ẩm và lượng mưa:
Chè là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng quan trọng hơn Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng
100 mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85%
Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thời gian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng cao hay thấp Vùng chè Doomđome ở Bắc Ấn Độ lượng mưa phân bố nhiều vào tháng 5 tới tháng 8 cho nên sản lượng chè thu hoạch được trong năm cũng tập trung vào thời kỳ đó Vùng chè Mlanji (Nam Phi) lượng mưa tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 nên sản lượng chè cao nhất trong năm
Trang 15cũng tập trung vào thời kỳ này Ở ta phân bố sản lượng chè trong năm cũng có quan hệ rõ rệt với tình hình phân bố lượng mưa trong các tháng [8]
Bảng 1.1: Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chè
vụ thu hoạch chè chủ yếu 50
(Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ)
Tổng lượng mưa bình quân hàng năm ở các vùng trồng chè của nước ta tương đối thỏa mãn cho nhu cầu về nước của cây chè
+ Điều kiện độ nhiệt không khí:
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt nhất định Theo nghiên cứu của Kvaraxkhêlia (1950) và Trang Vãn Phương (1956) thì cây chè bắt đầu sinh trưởng khi độ nhiệt trên 10oC Độ nhiệt bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5oC và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 23oC Giới hạn độ nhiệt thấp đối với sinh trưởng của chè biểu hiện rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưởng trong mùa đông và sinh trưởng trở lại khi có độ nhiệt ấm áp của mùa xuân trong những vùng khí hậu á nhiệt đới Đối với sinh trưởng của cây trong thời kỳ này thì độ nhiệt không khí trở thành nhân
tố sinh thái chủ yếu Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 - 4.000oC
Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đổi tùy theo giống, có thể từ -5oC đến -25oC hoặc thấp hơn[8]
+ Điều kiện ánh sáng:
Cây chè ở vùng nguyên sản sinh sống dưới tán rừng rậm, do vậy có tính chịu bóng rất lớn, nó tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng tán xạ ánh sáng trực xạ trong điều kiện độ nhiệt không khí cao, không có lợi cho quang hợp và sinh trưởng của chè Trong thực tế sản xuất, ở một số nước
Trang 16như Ấn Độ, Xrilanca thường áp dụng biện pháp trồng cây bóng mát cho chè
để hạn chế độ nhiệt cao và ánh sáng quá mạnh
Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây
và giống Chè ở thời kỳ cây con yêu cầu ánh sáng ít hơn, cho nên ở vườn ươm, người ta thường che râm để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng nhanh
Giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn giống chè nhỏ [8]
+ Không khí:
Không khí rất cần cho sự sống của thực vật Hàm lượng CO2 trong không khí khoảng 0,03%, song chỉ cần có một biến động nhỏ cũng ảnh hưởng rất lớn đến quang hợp Chè là một cây ưa bóng râm, cường độ quang hợp cũng thay đổi theo hàn lượng CO2 có trong không khí Nói chung hàm lượng
CO2 trong không khí tăng lên đến 0,1 - 0,2% thì cường độ quang hợp tăng lên rất rõ rệt [8]
b Nhóm nhân tố về kỹ thuật
+ Ảnh hưởng của giống chè: Chè là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất
dài, giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm
Lựa chọn thế hệ sau được tiến hành theo các đặc tính của tính trạng bên ngoài của cây như: Thân, cành, lá, búp, hoa, quả Giống chè ảnh hưởng tới năng suất búp, chất lượng nguyên liệu do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm chè, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường Mỗi sản phẩm chè đòi hỏi một nguyên liệu nhất định, mỗi vùng, mỗi điều kiện sinh thái lại thích hợp cho một hoặc một số giống chè Vì vậy, để góp phần đa dạng hóa sản phẩm chè và tận dụng lợi thế so sánh của mỗi vùng sinh thái cần đòi hỏi một tập đoàn giống thích hợp với điều kiện mỗi vùng
Để đáp ứng yêu cầu kế hoạch sản xuất chè ở Việt Nam và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường của sản xuất chè cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, trong đó nghiên cứu và triển khai giống chè mới là giải pháp rất quan trọng, cần thiết cho việc phát triển cây chè cả về trước mắt và lâu dài
Trang 17+ Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong búp chè có hàm lượng
nước lớn, song chè rất sợ úng và không chịu úng Chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm chí còn chết Do đó, việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ ẩm cho đất để cây sinh trưởng phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao
+ Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng
chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc ,điều kiện cơ giới hóa Nhìn chung tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật độ quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại, vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý
+ Đốn chè: Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng
đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy, kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu
Kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam đã được đề cập từ lâu, đầu tiền từ những kinh nghiệm của thực tiến sản xuất Trước năm 1945 nhân dân vùng Thanh
Ba -Phú Thọ đã có kinh nghiệm đốn chè kinh doanh: "Năm đốn - năm lưu".Những công trình nghiên cứu về đốn chè ở Trại Thí nghiệm chè Phú Hộ
- Phú Thọ từ năm 1946 - 1967 đã đi đến kết luận hàng năm đốn chè tốt nhất vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đã đề ra các mức đốn hợp lý cho từng loại hình đốn:
- Đốn Phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết đốn cũ 3 - 5cm, khi cây chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đốn cũ 1 - 2cm
Trang 18kích thích hình thành búp non, tạo cho cây chè có bộ lá, bộ khung tán thích hợp, vừa tầm hái
+ Bón phân: Bón phân cho chè là một biện pháp kỹ thuật quan trọng
nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, cây chè đã lấy đi một lượng phân rất cao ở trong đất, trong khi đó chè lại thường được trồng trên sườn đồi, núi cao, dốc, nghèo dinh dưỡng Cho nên, lượng dinh dưỡng trong đất trồng chè ngày càng bị thiếu hụt
Chính vì vậy, để đảm bảo cho cây chè sinh trưởng tốt và cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo được mục đích canh tác lâu dài, bảo vệ môi trường và duy trì thu nhập thì bón phân cho chè là một biện pháp không thể thiếu được Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy hiệu quả của bón phân cho chè chiếm từ 50 - 60% Hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè, kết quả nghiên cứu trong 10 năm cho (1988-1997) ở Phú Hộ cho thấy:
Đạm và Lân có ảnh hưởng lớn hơn đối với cây chè nhỏ tuổi, lớn hơn vai trò của tổ hợp Đạm và Kali Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất chè ở các giai đoạn khác nhau, tác giả Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức 1998 cho thấy: phân lân có vai trò với sinh trưởng cả về đường kính thân, chiều cao cây, độ rộng tán của cây con Bón phân cân đối giữa N, P, K cho năng suất cao hơn hẳn so với chỉ bón đạm và kali hoặc chỉ bón mỗi đạm Thời kỳ đầu của giai đoạn kinh doanh sự sinh trưởng tán chè tiếp tục đòi hỏi đủ phân P, K nên cơ sở bón đủ đạm Như vậy, cây chè cần được cung cấp N, P, K với lượng cân đối hợp lý và thường xuyên Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cây cần với liều lượng khác nhau với nguyên tắc: từ không đến có, từ
ít đến nhiều, bón đúng lúc đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời.Nếu bón phân hợp lý sẽ giúp cho cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất
+ Hái chè: Thời điểm, thời gian và phương thức hái có ảnh hưởng đến
chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho
Trang 19chế biến chè, vì trong đó chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè
+ Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu hái
có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá lâu chất lượng chè sẽ giảm và có thể bị ôi Do vậy khi thu hái không để dập nát búp chè và để trong túi quá lâu
+ Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản
phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gồm hai giai đoạn sơ chế và tinh chế thành phẩm
Chế biến chè đen gồm các công đoạn: Hái búp chè - Làm héo - Vò -Lên men - Sấy khô - Vò nhẹ - Phơi khô Chè đen thường được sơ chế bằng máy móc hiện đại với năng suất chất lượng cao, trong các khâu này đòi hỏi quy trình kỹ thuật phải nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các phản
ứng hóa học trong búp chè
Chế biến chè xanh: Là phương pháp chế biến được người dân áp dụng
rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình gồm các công đoạn: từ chè búp xanh (1 tôm 2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt độ 1000 C với thời gian nhất định rồi đưa ra máy vò để cho búp chè săn lại, đồng thời giảm bớt tỷ
lệ nước trong chè Sau khi vò xong lại đưa chè vào quay xử lý ở nhiệt độ cho đến khi chè khô hẳn (chú ý nhiệt độ phải giảm dần) Sau khi chè khô ta có thể đóng bao bán ngay hoặc sát lấy hương rồi mới bán, khâu này tùy thuộc vào khách hàng Đặc điểm của chè xanh là có màu nước xanh óng ánh, vị chát đậm, hương vị tự nhiên, vật chất khô ít bị biến đổi
Chế biến chè vàng: Yêu cầu của việc chế biến khác với chè xanh và chè
đen, chè vàng là sản phẩm của một số dân tộc ít người trên các vùng núi cao, được chế biến theo phương pháp thủ công [4]
c Nhóm nhân tố về kinh tế
+ Thị trường và giá cả: Kinh tế học đã chỉ ra 3 vấn đề kinh tế cơ bản:
sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất
Trang 20cái gì được đặt lên hàng đầu, buộc người sản xuất phải trả lời cho được, để trả lời câu hỏi này người sản xuất tìm kiếm thị trường, tức là xác định được nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất
ra được người tiêu dùng chấp nhận ở mức độ nào, giá cả có phù hợp hay không, từ đó hình thành mối quan hệ giữa cung và cầu một cách toàn diện
Nhu cầu trên thế giới ngày càng tăng và tập trung vào hai loại chè chính
là chè đen và chè xanh Chè đen được bán ở thị trường Châu Âu và Châu Mỹ, còn chè xanh được tiêu thụ ở thị trường Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc ) Chính vì vậy, nghiên cứu thị trường chè cần lưu ý tới độ co giãn cung cầu về chè là vấn đề sản xuất cho ai? ở đây muốn đề cập tới khâu phân phối Hàng hoá sản xuất ra được tiêu thụ như thế nào? ai là người được hưởng lợi ích từ việc sản xuất đó, cụ thể là bao nhiêu? Có như vậy mới kích thích được sự phát triển sản xuất có hiệu quả.Thực tế cho thấy rằng, thực hiện cơ chế thị trường, sự biến động của cơ chế thị trường ảnh hưởng lớn đến đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng Do
đó, việc ổn định giá cả và mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho ngành chè góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp
+ Cơ cấu sản xuất sản phẩm: Đa dạng hoá sản phẩm là quan điểm có
ý nghĩa thực tiễn cao, vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội Đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của thị trường và tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá nhưng đồng thời phải phát huy những mặt hàng truyềnthống đã có kinh nghiệm sản xuất, chế biến, được thị trường chấp nhận
2 Cơ sở thực tiễn
2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
2.1.1 Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Hiện nay, hàng tỷ người trên thế giới đã sử dụng chè làm thứ nước uống hàng ngày Ngay cả ở các nước Tây Âu thì số người chuyển từ uống cafe sang uống chè ngày càng nhiều Đến nay, trên thế giới có trên 50 quốc gia trồng chè từ 42 độ Bắc (Gruzia) đến 27 độ Nam (Achentina) với lịch sử có
từ rất lâu đời khoảng 4000 năm, cây chè được phân bố từ 30 vĩ độ Nam đến
Trang 2145 vĩ độ Bắc Chè được trồng tập trung nhiều nhất ở châu Á , sau đó đến châu Phi và ít nhất Châu Đại Dương Chè được trồng ở độ cao khá lớn , phân bổ từ 0m đến 220m so với mặt nước biển (Lê Tất Khường, 2006) [3] Theo FAO ( 2013) thì tình hình sản xuất chè trên thế giới tính đến năm 2011 như sau:
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất chè năm 2013 của một số nước trên thế giới
STT Tên nước Diện tích (1000 ha) Năng suất (tạ khô/ha)
(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)
Về năng suất chè của thế giới Nhật Bản là nước có năng suất chè cao nhất đạt 20,57 tạ chè khô/ha, vượt hơn năng suất bình quân của thế giới là 14,35 tạ chè khô/ha Việt Nam tính đến năm 2013 đạt năng suất 18,00 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất của thế giới
Trung Quốc là nước có diện tích lớn nhất thế giới, tuy nhiên về năng suất chè thấp hơn năng suất chè thế giới Cụ thể: năm 2013 năng suất chè Trung Quốc đạt 10,83 tạ chè khô/ha thấp hơn thế giới 3,52 tạ chè khô/ha Điều này cho chúng ta thấy năng suất chè phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau không những điều kiện tự nhiên mà còn bị tác động bởi yếu tố con người
+ Về sản lượng chè thế giới
Sản lượng chè toàn thế giới năm 2011 là 4.668,99 tấn tăng 689,85 tấn tương đương 17,33% so với năm 2007 Châu Á là khu vực có sản lượng chè cao nhất thế giới đạt 3.973,58 tấn chiếm 85,1% sản lượng chè của thế giới
Trang 22(năm 2011) Châu Mỹ là khu vực có sản lượng chè thấp nhất thế giới 107,84 tấn chiếm 2,3% sản lượng chè thế giới Trung Quốc là nước có sản lượng chè lớn nhất thế giới đạt 1.640,31 tấn chiếm 35,13% tổng sản lượng chè toàn thế giới Việt Nam đạt sản lượng 206,6 tấn chiếm 4,42 % tổng sản lượng chè toàn thế giới
Bảng 2.2: Sản lượng chè thế giới qua các năm từ 2008 - 2012
Ấn Độ 973,00 987,00 972,70 991,18 966,73 Kenya 369,60 345,80 314,20 399,01 377,91 Sri lanka 305,22 318,70 290,00 331,40 327,50 Việt Nam 164,00 173,50 185,70 198,47 206,60
(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)
2.1.2 Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới
Theo thống kê của Tổ chức môi giới chè toàn cầu, sản lượng chè đen thế giới đã giảm 7% (tương đương 57,82 triệu kg) trong nửa đầu năm 2013, xuống còn 766,72 triệu kg so với mức 824,54 triệu kg của năm trước
Trong đó, sản lượng giảm mạnh nhất là tại Kenya (nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới), sản lượng chè đen của nước này hiện đã giảm 20,29 triệu kg so với nửa đầu năm 2011, đạt 158,17 triệu kg Sản xuất chè đen của
Ấn Độ cũng giảm mạnh 20,24 triệu kg so với cùng kỳ năm trước, đạt 338,08 triệu kg; tại Uganda sản xuất giảm 8,86 triệu kg (đạt 12,65 triệu kg); Srilanka giảm 7,4 triệu kg (đạt 163,26 triệu kg Trong khi đó, Zimbabwe, Malawi và
Trang 23Tanzania cũng thông báo sản lượng chè trong 6 tháng đầu năm 2013 đều đạt thấp hơn so với nửa đầu năm 2012 Ngược lại, Bangladesh và Indonesia là 2 quốc gia duy nhất báo cáo sản lượng có sự gia tăng
Nhu cầu tiêu thụ ổn định ở mức cao trong khi nguồn cung lại sụt giảm mạnh đang là nguyên nhân chính đẩy giá chè thế giới tăng cao
Giá chè tại thị trường Kenya trong tháng 7/2012 đã tăng 1,35% so với tháng trước, lên mức 345,59 Uscent/kg Tại thị trường Ấn Độ, kết thúc tháng 8/2012 giá chè chính thống tiếp tục tăng 9,4 Rs/kg so với 1 tháng trước, lên mức 246,10 Rs/kg Giá chè bụi CTC cũng tăng 6,2%, đạt 161 Rs/kg
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè của Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất chè của Việt Nam
Với 3/4 diện tích là đồi núi, lại thêm khí hậu nhiệt độ nóng ẩm, Việt Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên ở nước ta sản xuất chè chỉ thực sự bắt đầu từ sau những năm 1925 Lịch sử phát triển cây chè ở Việt Nam được chia ra làm các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1890-1945:
Vào các năm 1890,1891 người pháp tiếp tục điều tra và thành lập những đồn điền chè đầu tiên ở Việt Nam: Ở Tĩnh Cương (Phú Thọ) với diện tích 60 ha, ở Đức Phổ (Quảng Nam) với diện tích 250 ha, ở giai đoạn này 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi có 1990 ha chè Các trạm nghiên cứu chè cũng được thành lập ở Phú Hộ ( Phú Thọ) năm 1918, ở Plâycu năm 1927 và ở Bảo Lộc( Lâm Đồng) năm 1931 (theo Nguyễn Hanh Khôi 1983)
Trong những năm 1925-1940 người pháp đã mở thêm các đồn điền chè
ở cao nguyên Trung Bộ với diện tích 2750 ha
Đến năm 1938 Việt Nam có 13.405ha chè với sản lượng 6100 tấn chè khô Diện tích chè phân bố chủ yếu ở vùng núi Bắc bộ và cao nguyên Trung
Bộ, trong đó trên 75% diện tích là do người Việt quản lý
Đến năm 1939 Việt Nam đạt diện tích 13.408 ha với sản lượng 10.900 tấn búp khô đứng thứ 6 trên thế giới sau Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanka, Nhật Bản và Indonexia
Trang 24Ở giai đoạn này, diện tích chè vẫn còn phân tán lẻ tẻ mang tính chất tự cung
tự cấp, kỹ thuật canh tác còn thô sơ với phương thức quảng canh là chính
+ Giai đoạn 1945-1954:
Trong giai đoạn này do ảnh hưởng của chiến tranh nên các vườn chè bị bỏ
hoang, ít được đầu tư chăm sóc, diện tích và sản lượng chè đều bị giảm sút rất nhiều
+ Giai đoạn 1954-1990:
Ở giai đoạn này các chương trình phát triển nông nghiệp đã được hoạch định Cây chè được xác định là cây có giá trị kinh tế cao có tầm quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là ở vùng Trung Du Miền Núi
Trong giai đoạn này, công nghiệp chế biến phát triển mạnh, nhiều nhà máy chè xanh, chè đen được xây dựng ở nghĩa Lộ, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên Với sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật, vật chất của Liên Xô, Trung Quốc, phần lớn sản phẩm chè được xuất khẩu sang Liên Xô và các nước Đông Âu
Trong giai đoạn này còn đánh dấu sự ra đời của 1 số tổ chức sản xuất, kinh doanh chè như: Tổng công ty chè Việt Nam (VinaTea) vào năm 1987, hiệp hội chè Việt Nam (ViTas) năm 1988 Các tổ chức này ra đời đã quản lý
và lãnh đạo ngành chè, giúp ngành chè từng bước ổn định và phát triển
+ Giai đoạn 1990 đến nay:
Trong những năm 1990 do có sự biến động lớn về thị trường tiêu thụ (thị trường chủ yếu ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ) nên sản xuất chè gặp nhiều khó khăn, công nghệ chế biến chưa theo kịp được yêu cầu về chất lượng và chủng loại chè của thị trường Châu Á, Châu Mỹ và Tây Âu Sự chồng chéo về quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương đã phần nào làm ngành chè chững lại
Trước thực trạng đó việc thành lập Tổng công ty chè Việt Nam, thống nhất quản lý ngành chè được tiến hành, một số liên doanh liên kết với nước ngoài được thành lập, công nghệ chế biến bước đầu được chú trọng, đổi mới thị trường xuất khẩu
mở rộng sang Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản Đã củng cố và tạo được niềm tin cho người trồng chè và làm chè [4]
Trang 25Trong những năm gần đây, nhà nước ta có nhiều cơ chế, chính sách đầu tư cho phát triển cây chè, Do vậy diện tích năng suất và sản lượng chè không ngừng tăng lên:
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất của chè Việt Nam từ năm 2008 - 2012
(1000 ha)
Năng suất (tạ khô/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2013)
Theo số liệu ở bảng cho ta thấy: Từ năm 2008 đến 2012 diện tích năng suất sản lượng và xuất khẩu chè tăng nhanh Năm 2008 diện tích chè là 107,4
ha thì đến năm 2012 tăng lên 114,8 ha Năng suất bình quân năm 2012 là 18
tạ khô/ha, tăng 2,73 tạ khô/ha tương ứng tăng 15,17% so với năm 2008 Sản lượng chè theo đó cũng tăng mạnh đạt 206,6 tấn búp khô vào năm 2012 tăng 42,6 tấn tương ứng 25,59% so với năm 2008
2.2.2 Tình hình tiêu thụ chè của Việt Nam
Hiện ngành Chè Việt đã xuất khẩu các sản phẩm chè đến hơn 100 quốc gia và khu vực trên thế giới Thế mạnh nhất mà mặt hàng chè đang nắm giữ
đó là có tỷ lệ nội địa 100%, trong khi nhiều ngành, nhiều mặt hàng khác có tỷ
lệ nội địa thấp, nguồn nguyên liệu phụ thuộc nhiều vào thế giới cùng với nhu cầu tiêu dùng chè trên thế giới ngày càng tăng Do vậy, trong thời gian tới tiềm năng phát triển của ngành Chè còn rất lớn
Việt Nam là nước xuất khẩu chè đứng thứ năm thế giới (sau Kenya, Ấn
Độ, Trung Quốc và Sri Lanca), đứng thứ hai về sản xuất chè xanh (sau Trung Quốc) Thị trường xuất khẩu chủ yếu của chè Việt là Pakistan, Đài Loan, Indonesia, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ
a Thị trường trong nước
Mặc dù sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chè năm 2013 của Việt
Nam tăng so với năm 2012, nhưng hiện ngành chè vẫn phải đối mặt với tình
Trang 26trạng sản phẩm chè có tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) Vấn đề này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín chè Việt và nếu không giải quyết triệt để
sẽ dẫn tới nguy cơ mất thị trường xuất khẩu chè
Nguyên nhân của tình trạng này là khó kiểm soát được quá trình sản xuất từ trồng đến chăm sóc, thu hái, chế biến và bảo quản chè Theo thống kê, hiện cả nước có trên 300 cơ sở chế biến chè lớn nhỏ thì chỉ có 5% số nhà máy
có vùng nguyên liệu riêng để phục vụ chế biến
Một số thị trường nhập khẩu chè lớn của Việt Nam như Pakistan, Đài Loan, Indonesia, Malaysia hiện đều không có yêu cầu cao về chất lượng và dư lượng thuốc BVTV Tuy nhiên, một số thị trường khác như Ba Lan, Nga đã chuẩn bị kế hoạch kiểm soát chất lượng và dư lượng thuốc BVTV đối với chè nhập khẩu theo các quy định hiện hành của EU Đây là thách thức lớn cho các doanh nghiệp chè Việt Nam, vì 90% sản lượng chè nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến hiện nay thuộc sở hữu của nông dân, và nông dân tự quyết định việc phun thuốc BVTV như thế nào
b Tình hình xuất khẩu
+ Kim ngạch xuất khẩu
Bảng 2.4 : Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam 2009 – 2013
(ĐVT: Triệu USD)
Chè 2009 2010 2011 2012 3 tháng/2013 Giá trị xuất khẩu 179,5 200 204 224,6 43,6
Tăng trưởng so với cùng kỳ
năm trước (%) 28,4 11,4 2,0 10,1 4,3
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Theo số liệu của tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 3/2014 Pakistan vẫn là thị trường lớn nhất nhập khẩu chè của Việt Nam, trị giá 43,63 triệu USD, tăng 4,3%
về trị giá so với cùng kỳ năm trước xuất khẩu Pakistan chiểm thị phần 14,4 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam Đài Loan là thị trường lớn thứ 2, với
tỷ trọng 12,8% và Nga xếp thứ 3 (10,7%)[11]
Mặt hàng chè đã đóng góp một phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản Tuy nhiên, lượng xuất lớn nhưng giá trị thu về vẫn ở mức khiêm tốn, do chè Việt không có những thương hiệu riêng biệt, đa phần là xuất thô
Trang 27+ Về giá xuất khẩu
Giá xuất khẩu chè của nước ta trong tháng 12/2012 tăng 39 USD/tấn (tương đương tăng 2,54%) so với tháng 11/2012, đạt mức 1.576 USD/tấn và tăng 1,9% so với tháng 12/2011 Tính chung cả năm 2012, giá xuất khẩu chè của nước ta đạt 1.531 USD/tấn, tăng nhẹ 0,5% so với năm 2011
Hiện giá chè xuất khẩu của Việt đang xếp cuối bảng trong số các nước xuất khẩu chè lớn, chỉ bằng 60% giá bình quân của thế giới Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc chè bị xếp “đội sổ” trong nhóm các nước xuất khẩu chè lớn như Chè Việt Nam không có thương hiệu trên thị trường quốc tế; phương thức quản lý nương chè và thu hái không hợp lý; cạnh tranh không lành mạnh Do đó, chè xuất khẩu của Việt luôn bị ép giá bởi khách hàng trung gian nước ngoài
2.3 Tình hình sản xuất chè tại tỉnh Thái Nguyên
2.3.1 Tiềm năng thế mạnh về sản xuất cây chè của Thái Nguyên
Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (17.660 ha), cả 9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao Theo phân tích của Viện Khoa học Kỹ thuật NLN miền Núi phía Bắc, chất lượng nguyên liệu chè Thái Nguyên có ưu điểm khác biệt với chất lượng nguyên liệu của các vùng chè khác Từ những đặc điểm phẩm chất trên, nguyên liệu chè Thái Nguyên có nội chất đáp ứng được yêu cầu của nguyên liệu để sản xuất chè
xanh chất lượng cao
Bên cạnh thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí hậu thích hợp với sản xuất chè Người làm nghề chè tỉnh Thái Nguyên có kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã tạo nên những sản phẩm chè cánh đẹp, thơm hương chè, hương cốm, uống
“có hậu” với vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên, với chất lượng và giá trị cao; 100% sản phẩm của làng nghề chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu
Trang 28Những hộ làm nghề chè đã hình thành lên những làng nghề truyền thống Từ năm 2008 đến năm 2012 đã có 59 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh quyết định công nhận trên địa bàn 5 huyện, 1 thành phố Thái Nguyên Những làng nghề này từ lâu đã gắn liền với văn hoá mang đậm bản sắc của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên [6]
2.3.2 Tình hình sản xuất
Sản xuất chè ở Thái Nguyên còn chủ yếu là sản xuất quy mô hộ Tuy vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, tăng đầu tư thâm canh chè mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm vừa qua, diện tích, năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên không ngừng tăng:
+ Năm 2010, diện tích chè toàn tỉnh có 17,660 ha Năng suất chè búp tươi năm 2010 đạt 107 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 171,900 tấn
+ Năm 2011: 18,199 ha, sản lượng chè búp tươi đạt 18,100 tấn
+ Đến năm 2012 diện tích chè toàn tỉnh khoảng 18,600 ha, năng suất đạt
109 tạ/ha, sản lượng đạt 18,500 tấn chè búp tươi tăng 2,5% so với năm 2011
+ Tỉnh Thái Nguyên đang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng giảm giống chè Trung du tăng các giống chè nhập nội và các giống chè trong nước chọn tạo, lai tạo:
Hình 2.1: Tỉ lệ cơ cấu giống của tỉnh Thái Nguyên năm 2010
(Theo báo cáo :Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè Thái Nguyên Ủy ban nhân
dân tỉnh Thái Nguyên năm 2011)
Trang 29Năm 2010, cơ cấu giống mới là 34,22% Năm 2011, cả tỉnh trồng mới và trồng thay thế 1.000 ha chè bằng các giống mới có năng suất và chất lượng cao Đến năm 2015, cơ cấu giống mới đạt 60%, giống chè Trung du còn 40%
- Xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi:
Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè xanh, chè xanh cao cấp gồm các giống: Trung du, LDP1, TRI 777, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát tiên, Keo
Âm Tích, phân bố chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, Phổ Yên, chiếm tỷ lê 80 - 85% nguyên liệu chè chè búp tươi
Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè đen gồm các giống: Trung du, LDP2, TRI 777, chủ yếu phân bố ở các huyện Định Hoá, một phần ở huyện Đại
Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, chiếm tỷ lệ 10 - 15% lượng nguyên liệu chè búp tươi
- Sản xuất chè an toàn ở tỉnh Thái Nguyên: Hiện nay tỉnh Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn toàn tỉnh làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè hàng hóa chất lượng, giá trị cao; xây dụng vùng sản xuất nguyên liệu chè an toàn theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến thành phẩm cuối cùng gắn quy trình sản xuất với việc ược chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận trong nước và quốc tế (VietGAP, GlobalGAP, Uzt Certified…) Chương trình chuyển đổi giống mới và ứng dụng các biện pháp canh tác tiên tiến sản xuất chè theo hướng an toàn, đã nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên [6]
2.3.3 Chế biến, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên
∗ Chế biến
Chế biến chè ở Thái Nguyên theo 2 phương thức chủ yếu:
- Chủ yếu là chế biến theo phương pháp thủ công, truyền thống theo quy mô hộ Sản xuất chế biến chè từ lâu đã gắn liền với đời sống xã hội và bản sắc văn hoá các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Phương pháp chế biến này chiếm khoảng trên 80% sản phẩm chè Thái Nguyên Chế biến chè theo phương pháp truyền thống hiện đang mang lại giá trị, hiệu quả kinh tế rất cao
Trang 30- Chế biến chè theo dây truyền công nghiệp: đối với sản phẩm chè đen theo công nghệ CTC và OTD; đối với các sản phẩm chè xanh
∗ Tiêu thụ
Sản phẩm chè Thái Nguyên hiện chủ yếu là tiêu thụ nội địa
Sản lượng chè xuất khẩu chiếm tỷ lệ thấp, giá trị xuất khẩu không cao Thị trường xuất khẩu chủ yếu sang các nước Trung Quốc, Anh, Pakistan, Liên bang Nga, Đài Loan [6]
Trang 31PHẦN III : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Thực trạng sản xuất chè và hiệu
quả kinh tế của chè trung du so với chè cành tại 3 xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân
1.2 Phạm vi nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tại xóm Hồng Thái I, xã Tân Cương Xóm Khuôn II, xã Phúc Trìu Xóm Cây Thị, xã Phúc Xuân
* Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện từ tháng 1/ 2014 đến tháng 4/ 2014 Số liệu nghiên cứu
là số liệu của 3 năm 2011- 2013, số liệu điều tra là số liệu hộ thể hiện năm 2014
2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và thực trạng sản xuất chè của vùng chè Tân Cương tại tại 3 xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên
- Đánh giá, so sánh hiệu quả kinh tế của việc sản xuất chè cành và chè Trung du
- Đánh giá và đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn, nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế của giống chè Trung du và các loại chè có hiệu quả được
nhân rộng tại vùng chè Tân Cương, thành phố Thái Nguyên
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp chọn mẫu
Căn cứ vào nội dung đề tài và đối tượng điều tra tiến hành chọn mẫu như sau:
- Trong địa bàn nghiên cứu chọn 03 xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân , mỗi xã chọn ngẫu nhiên 25 hộ nông dân đại diện để tiến hành phỏng vấn theo phiếu điều tra Tổng số hộ điều tra là 75 hộ
3.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
+ Phỏng vấn chính thức: Căn cứ vào mục tiêu, nội dung nghiên cứu để lập phiếu điều tra, chọn mẫu điều tra Đối tượng phỏng vấn ở đây là các hộ dân trồng chè trong xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân
Trang 32* Chọn mẫu điều tra
Áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên (chọn điểm, chọn hộ) tiến hành lựa chọn các vùng T ừ 3 xã, mỗi xã chọn 25 hộ để điều tra
* Nội dung phiếu điều tra
Phiếu điều tra có các thông tin chủ yếu như: nhân khẩu, lao động, tuổi, trình độ văn hoá của các chủ hộ; các nguồn lực của nông hộ như ruộng đất, tư liệu sản xuất, vốn; tình hình sản xuất chè; chi phí sản xuất chè; thu nhập của người sản xuất chè; tình hình thu, chi phục vụ sản xuất, đời sống của người sản xuất chè; các thông tin khác có liên quan đến toàn bộ hoạt động sản xuất, đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần, các kiến nghị và nhu cầu của hộ sản xuất chè… Những thông tin này được thể hiện bằng những câu hỏi cụ thể
để họ hiểu và trả lời chính xác và đầy đủ
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp linh hoạt với hộ nông dân, đàm thoại với họ thông qua một loạt các câu hỏi mở và phù hợp với tình hình thực tế, sử dụng linh hoạt và thành thạo các câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Tại sao? Như thế nào và bao nhiêu?… Phỏng vấn số hộ đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp
- Phỏng vấn bán chính thức: Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của đề tài
để lập bảng kiểm các nội dung chính cần điều tra, chọn mẫu điều tra Đối tượng phỏng vấn ở đây là các cán bộ UBND phụ trách các vấn đề kinh tế
và nông nghiệp, các cơ sở thu mua chế biến, các chủ nhiệm hợp tác xã trồng chè
* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Là thu thập số liệu thông qua các văn bản báo cáo hàng năm của UBND
xã, báo cáo tổng kết của các cán bộ khuyến nông xã, các tạp chí sách báo các nghị định, các đề tài nghiên cứu trước có cùng vấn đề, tài liệu khoa học, tài liệu khoa học
Thu thập và tính toán từ những số liệu đã công bố của các cơ quan thống kê cơ sở, các trường đại học, các tạp chí, báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công bố, các nghiên cứu ở trong và ngoài nước, các tài liệu do các cơ quan của tỉnh, huyện, của UBND xã, các tổ chức, dự án chương trình đã có các hoạt động sản xuất chè trong phạm vi của xã 3 xã Tân Cương, Phúc trìu, Phúc Xuân
Trang 33- Phương pháp so sánh (so theo thời gian, theo vùng sinh thái, theo cơ cấu kinh tế): Để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung phát triển sản xuất chè cần nghiên cứu
- Phương pháp tính toán thông thường và xử lý số liệu bằng phần mềm
Excel để xử lý số liệu thu thập được
Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp được sử dụng một cách tổng hợp để phát huy hết lợi thế của các phương pháp
3.4 Phương pháp phân tích thông tin
- Phương pháp thống kê mô tả: các thông tin được tổng hợp thông kê lên các bảng biểu từ đó rút ra các nhận xét, so sánh các số liệu đã thông kê…
- Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối,
số tương đối
- Số tuyệt đối: là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khối lượng cụ thế của đối
tượng nghiên cứu trong điều kiện thời gian và đặc điểm cụ thể
Công thức: So sánh tuyệt đối = Y 1 – Y 0
Trong đó:
Y1 : mức độ thực tế kỳ nghiên cứu (năm sau)
Y0 : mức độ thực hiện kỳ gốc (năm trước)
Dùng để so sánh hiệu quả kinh tế của sản xuất chè cành và việc sản xuất chè trung du tại xã Phúc Trìu Ngoài ra còn dùng để so sánh 1 số chỉ tiêu khác
Trang 344 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
4.1 Các chỉ tiêu phân tích:
+ Giá trị sản xuất: Được xác định là giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm chè được sản xuất ra (thường là một năm) trên một đơn vị diện tích (Lê Tất Khương, Đỗ Ngọc Quỹ, 2000)[5]
GO = ∑P i Q i
Trong đó:
Pi là đơn giá sản phẩm thứ i
Qi là khối lượng sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất
thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như: giống, phân bón, thuốc BVTV, dụng cụ rẻ tiền mau hỏng trong một vụ sản xuất
IC = ∑C i
Trong đó: Ci là khoản chi phí thứ i
+ Giá trị gia tăng: VA (Value Added) là phần giá trị tăng thêm của
người tính theo công thức:
VA = GO – IC
Những trường hợp đi thuê lao động thì phải trừ khoản thuê mướn đó
+ Thu nhập hỗn hợp: MI (Mixed Income) là phần thu nhập thuần tuý
của người sản xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất một đơn vị diện tích trong một năm thu hoạch chè
MI = VA – (A + T+W)
Trong đó :
VA là giá trị tăng thêm (gia tăng); T là thuế nông nghiệp
A là phần giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ
W lao động thuê ngoài
+ Lợi nhuận:
TP r = GO – TC
Trong đó: GO là giá trị sản xuất
TC là tổng chi phí trong sản xuất
+Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích: là tỷ lệ giữa tổng khối lượng sản
phẩm thu được chia cho một đơn vị diện tích (sào, ha) GO/sào hoặc GO/ha
Trang 354.2 Các chỉ tiêu so sánh hiệu quả kinh tế sản xuất chè
1 Một số công thức tính hiệu quả kinh tế:
+ Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa giá trị
kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được/Chi phí sản xuất ; Hay: H = Q/C Trong đó:
H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả thu được
C là chi phí sản xuất
+ Công thức 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng hiệu số giữa giá
trị kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được – Chi phí sản xuất ; Hay :H = Q/C
+ Công thức 3: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa phần
tăng thêm của kết quả đạt được so với phần tăng thêm của chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó hay là mối quan hệ tỷ số giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung Nó được so sánh cả về số tương đối và số tuyệt đối (Trần Xuân Đức, Lương Xuân Chính, 2006) [1]
Do thời gian và kiến thức có hạn nên trong đề tài tôi chỉ sử dụng công thức 2 để tính toán hiệu quả kinh tế đây cũng là công thức thông dụng mà mọi người thường sử dụng
- Các tiêu chí thể hiện hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp người ta dùng nhiều phương pháp đánh giá và chỉ tiêu khác nhau, trong phương pháp thường dùng là:
+ Hiệu quả theo chi phí trung gian:
- Tỷ suất giá trị theo tổng chi phí : GO / TC
- Tỷ xuất của giá trị tăng theo tổng chi phí ( TVA ): Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí trung gian là chỉ tiêu đánh giá chất lượng của đầu tư trong sản xuất kinh doanh, TVA được thể hiện bằng công thức:
T VA = VA / TC ( Lần )
+ Tính hiệu quả kinh tế theo công lao động
Trang 36Năng suất lao động: Là chỉ tiêu phản ánh giá trị sản xuất được tạo ra do một lao động trong một năm
Năng suất lao động = GO /CLĐ
Về phương pháp tính toán: Đáng lưu ý khi tính toán chỉ tiêu này là việc xác định chính xác lượng hao phí sức lao động Thông thường, để tính toán chính xác được công lao động người ta phải quy đổi từ giờ công ra ngày công theo quy định 8 giờ làm việc bằng một công lao động
∗ Tỷ suất giá trị gia tăng theo công lao động: MI / CLĐ
∗ Về giá cả sử dụng trong tính toán: Tôi sử dụng giá trị bình quân trên thị trường trong thời gian nghiên cứu
Trang 37PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Thái Nguyên
1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên
1.1.1 Vị trí địa lý
-Thành phố Thái Nguyên có diện tích đất tự nhiên là 177,07km2 Toàn thành phố được chia thành 28 đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc (18 phường 10 xã) Trong đó, đơn vị có diện tích lớn nhất là xã Phúc Xuân (18,53
km2), đơn vị có diện tích nhỏ nhất là phường Trưng Vương 1,03 km2 Quốc
lộ 3 từ Hà Nội chạy qua Thành phố nối với các tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng Các quốc lộ 1b, 37, 279,… cùng hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên phường
là những tuyến đường giao thông quan trọng nối thành phố Thái Nguyên với những vùng lân cận Bên cạnh hệ thống đường bộ Thành phố còn có hệ thống đường sắt từ Hà Nội chạy qua các trung tâm công nghiệp của tỉnh như: Khu công nghiệp Gang Thép, Sông Công rồi qua trung tâm Thành phố Với vị trí
và điều kiện như vậy đã ảnh hưởng lớn đến việc chuyển tiếp hệ sinh thái của Thành phố, giữa đồng bằng và trung du, giữa thành thị và nông thôn.Mặt khác cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá với các huyện trong tỉnh, các vùng lân cận và cả nước Trước hết là với các trung tâm kinh tế cận kề như thị xã Sông Công, các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn… nhất là với thủ đô Hà Nội
Sống trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên là đồng bào của nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có 4 dân tộc chính là kinh (91,85%), Tày (4,2%), Nùng (2,07%) Sán Dìu (1,34%), còn lại là đồng bào các dân tộc Dao, Cao Lan, Sán Chí, Mường, Hoa Dân số toàn Thành phố là 53.343 hộ dân với 294.759 người, trong đó dân số thường trú là 236.992 người
Điều kiện địa hình, thổ nhưỡng
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm hành chính của tỉnh Thái Nguyên
có đặc điểm về thổ nhưỡng cơ bản khá phức tạp, địa hình thoải dần về phía Nam và Đông Nam, với độ dốc trung bình là 70, tương đối bằng phẳng, xen
Trang 38kẽ những gò, đồi Theo điều tra thổ nhưỡng của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên cơ bản có các loại đất như:
- Đất Feralit màu nâu nhạt được phân bố ở phía Bắc và phía Tây thành phố, đất này phù hợp với cây công nghiệp trồng lâu năm
- Đất phù sa sông Cầu có thành phần cơ giới đất cát pha phù hợp với với cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất phù sa trên nền Feralit là sản phẩm bồi tụ của hai con sông: Sông Cầu và sông Công phù hợp cho cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất đồi chủ yếu hình thành trên cát bột kết phiến sét và một phần phù
sa cổ, ở độ cao 150- 200m có độ dốc 50 - 200 phù hợp với các loại cây ăn quả
và cây công nghiệp lâu năm, đặc biệt là cây chè, nhãn, vải, hồng Với những đặc điểm thổ nhưỡng như trên đã hình thành những vùng cây trồng khác nhau
và tạo ra những nông sản phẩm đặc trưng cho Thành phố
2.1.3 Điều kiện khí hậu, thời tiết, thuỷ văn
Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một năm
có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Đặc điểm này đã tạo cho các vùng trong Thành phố sự đa dạng và phong phú về các loại cây trồng, đặc biệt là cây nhiệt đới Bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng thì sự khác biệt về thời tiết ở đây cũng gây những bất lợi không nhỏ ảnh hưởng đến sự phát triển của nông nghiệp Vào mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, tập trung vào các tháng 6,7,8,9 thường xuyên gây úng lụt trên diện rộng đã tác động không tốt cho việc chăn nuôi và trồng trọt Mùa đông lạnh và khô, nhiều năm giá rét và sương muối kéo dài làm ảnh hưởng không tốt đến sản xuất chè, gây nên những khó khăn cho sản xuất chè
Thành phố Thái Nguyên lấy nước từ ba nguồn chính: Sông Công có lưu vực 951 km2 bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá, huyện Định Hoá chạy dọc theo chân núi Tam Đảo Dòng sông được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ Núi Cốc
có mặt nước rộng khoảng 25 km2, chứa 175 triệu m3 nước, dùng làm thuỷ lợi
và nước sinh hoạt cho người dân thành phố; Sông Cầu nằm trong hệ thống song Thái Bình có lưu vực 3.480 km2, bắt nguồn từ chợ Đồn (Bắc Kạn) chảy
Trang 39theo hướng Bắc – Đông Nam; ngoài ra thành phố còn có lượng nước ngầm khá lớn nhưng việc khai thác sử dụng còn hạn chế
2.1.4 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai:
Tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Thái Nguyên có 17.702,52
ha Với diện tích đất nông nghiệp là 8.694,09 ha, chiếm 49.10% tổng diện tích đất tự nhiên; diện tích đất lâm nghiệp là 2.997,80 ha, chiếm 16,93% tổng diện tích đất tự nhiên Quỹ đất nông nghiệp của thành phố còn khá lớn, đây là thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, bởi vậy đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế của người nông dân Tuy nhiên về thực trạng đất nông nghiệp vẫn tập trung phần ngoại thị, ven Thành phố, còn gần trung tâm thì đất nông nghiệp lại ít hơn, vì vậy việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn của ttành phố cần phân chia theo khu vực, từ
đó để tìm hướng phát triển cho các loại cây, con, đặc biệt là phát triển sản xuất chè để phát triển bền vững
Trong thời gian tới xu hướng đất nông nghiệp giảm, đất chuyên dùng sẽ tăng lên do tốc độ đô thị hoá của thành phố Ngược lại xu hướng đất lâm nghiệp sẽ tăng do diện tích đất chưa sử dụng có khả năng sử dụng vào mục đích trồng mới
2.1.5 Tài nguyên - thiên nhiên
Thành phố Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và
phong phú
2.1.5.1 Tài nguyên đất
So với diện tích đất tự nhiên thì tổng diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 3.125,35 ha, chiếm 17,65% so với tổng diện tích tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua, glây yếu
có 100,19 ha, chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bổ chủ yếu
ở phường Phú Xá; đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua có 379,84 ha, chiếm 2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ có 271,3ha, chiếm
Trang 401,53%; đất bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nặng có 545,6 ha, chiếm 3,08% (số liệu năm 2004)
2.1.5.2 Tài nguyên rừng
Rừng ở Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM, vùng chè Tân Cương cùng với các loại cây trồng của nhân dân như cây nhãn, vải, quýt, chanh Cây lương thực chủ yếu là cây lúa nước, ngô, đậu thích hợp và phát triển ở những vùng đất bằng trên các loại đất phù sa, đất mới phát triển, đất glây trung tính ít chua
Tài nguyên khoáng sản: 2 tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và sông Công), do đó cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố Thành phố nằm trong vùng sinh khoáng đông bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rất lớn Nguồn nước: hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên có lượng nước ngầm phong phú
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên
1.2.1 Tình hình kinh tế của thành phố Thái Nguyên
1.2.1.1 Tình hình nhân khẩu và lao động
Tổng số nhân khẩu thành phố Thái Nguyên năm 2013 với số dân hơn
290 nghìn người, lao động có 235.000 người Nhân khẩu và lao động ở khối phi nông nghiệp lớn hơn rất nhiều so với nhân khẩu và lao động trong khối nông nghiệp của thành phố Nhân khẩu khối phi nông nghiệp chiếm 72,91% so với nhân khẩu ở Thành phố và số lao động chiếm 83,03% số lao động trong Thành phố Dân số và lao động nông nghiệp chiếm rất ít so với tổng dân số và lao động toàn Thành phố, do vậy Thành phố Thái nguyên là nơi thu hút và tiêu thụ khối lượng hàng hoá, nông sản rất lớn, việc đẩy nhanh sản xuất hàng hoá ở nông hộ là thuận lợi, bởi vì nó sẽ thu hồi vốn nhanh, thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra mà không cần phải mất nhiều thời gian vận chuyển từ nơi khác đến, giảm chi phí vận chuyển và khấu hao tiêu thụ
Thành phố Thái Nguyên có 26 đơn vị hành chính (phường, xã), trong đó có
18 phường và 8 xã, với số dân hơn 290 nghìn người Trên địa bàn thành phố có đông đảo đội ngũ sinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường Đại học , Cao đẳng,